Tiếp theo bài giới thiệu trước,
tôi hân hạnh cung cấp thêm thông tin về cách mua sách đến các bạn.
Ngoài ra, tôi cũng muốn giới thiệu đến các bạn bản điện tử của cuốn sách
Từ nghiên cứu đến công bố: kĩ năng mềm cho nhà khoa học đã có mặt trên thị trường. Bạn đọc có thể đặt mua bản điện tử qua trang sachweb của Nhà xuất bản. Giá bản điện tử chỉ 25,000 đồng.
Tôi rất hân hạnh giới thiệu đến các bạn cuốn sách “Từ nghiên cứu đến công bố: kĩ năng mềm cho nhà khoa học”
do Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM mới xuất bản trong tuần này. Đây là một
trong những cuốn sách tâm đắc nhất của tôi; một công trình tôi xem quan
trọng hơn những bài báo khoa học của tôi. Tôi hi vọng rằng cuốn sách
cũng đáp ứng một phần sự mong đợi của các bạn và đồng nghiệp trong khoa
học.
Một phóng viên có nhã ý giới thiệu bài viết “Đi tìm sự thật thông tin ‘9.000 Giáo sư sao không có bằng sáng chế’” đến tôi, và hỏi có ý kiến
gì để bàn thêm. Dĩ nhiên là tôi có ý kiến, bởi vì một mặt tôi quan tâm đến vấn
đề, mặt khác những phát biểu trong bài có trực tiếp hay gián tiếp bàn đến những
vấn đề và thông tin tôi đã từng phát biểu trước đây. Theo tôi, bài báo có vài
sai sót, nếu không muốn nói là sai lầm, về chuyện bằng sáng chế, về vấn đề xếp
hạng tạp chí, và so sánh Úc với Hàn Quốc.
Tôi hân hạnh giới thiệu một cuốn sách mới của tôi có tựa đề là Tự sự của một người làm khoa học.
Sách do Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh mới xuất bản tuần vừa qua.
Đây là cuốn sách có phần cá nhân trong đó, viết về những gì mình đã
trải nghiệm qua, những gì mình đã nghe và thấy, những cảm nhận và tâm tư
cá nhân.
Giới
khoa học thường hay bị chỉ trích là sống trong tháp ngà, chẳng biết hay
quan tâm gì đến thế giới bên ngoài. Nhưng điều này thì có lẽ chỉ đúng
với thời xưa, thời mà giới học thuật ngự trị trong các đại học, tự do
theo đuổi những ý tưởng có khi chẳng liên quan gì đến thực tế. Họ cũng
không chịu sự ảnh hưởng của chính quyền. Nhưng thời nay thì khác, vì
các đại học khuyến khích (hay yêu cầu thì đúng hơn) các nhà khoa học nên
tiếp xúc với giới truyền thông đại chúng thường xuyên. “Tiếp xúc” ở đây
có nghĩa là nói chuyện trong các tổ chức cộng đồng, nói chuyện (như
“truyền lửa”) cho học sinh trung/tiểu học, viết bài cho báo chí, trả lời
phỏng vấn của giới truyền thông, viết sách khoa học phổ thông, v.v. Tất
cả những hoạt động đó được xem là đóng góp cho cộng đồng. Bài đã đăng trên Đất Việt Online.
Nguyên tắc số 3 trong trình bày biểu đồ là tối đa hoá mật độ dữ liệu (data density index). Hai bài trước đã bàn về tỉ số dữ liệu trên mực in và chỉ số dối.
Trong bài này tôi sẽ bàn về mật độ dữ liệu và sự nhất quán trong cách
trình bày. Ngoài ra, tôi cũng chia sẻ một loại biểu đồ mà Edward Tufte
đặt tên là junk chart (biểu đồ rác rưởi) rất phổ biến trong báo chí. Đây
là bài cuối cùng trong loạt bài viết về cách trình bày dữ liệu bằng
bảng đồ.
Chỉ số dối (lie factor)
phản ảnh mức độ ảnh hưởng thể hiện trên biểu đồ so với mức độ ảnh hưởng
thể hiện qua dữ liệu. Dĩ nhiên, đó chỉ là hiệu ứng thị giác, chứ trong
thực tế thì con số vẫn là … con số, không thể thay đổi được. Một khía
cạnh khác trong việc trình bày biểu đồ là lượng dữ liệu và lượng mực in.
Một biểu đồ có quá nhiều mực in mà quá ít dữ liệu không chỉ là một sự
phí phạm mà còn là một biểu đồ tồi. Để đo sự tương quan giữa lượng mực
in và lượng mực dành cho biểu đồ, Edward Tufte đề nghị dùng chỉ số dữ
liệu trên mực in (data – ink ratio).
Trong bài trước tôi đã mô tả triết lí và 4 nguyên tắc trong việc soạn biểu đồ khoa học. Tiếp theo bài đó, bài này sẽ bàn về lie factor mà tôi tạm dịch là yếu tố dối hay đúng hơn là chỉ số dối. Khái
niệm chỉ số dối cũng là một phát kiến quan trọng của Gs Edward Tufte,
nhưng rất ít người biết đến. Chỉ số dối cho phép chúng ta đánh giá một
biểu đồ có "gian dối" hay không. Chỉ số dối cũng là một kim chỉ nam để
chúng ta có thể thiết kế một biểu đồ đạt chuẩn mà không bị chỉ trích là
thiếu thành thật.
Một
trong những vấn đề hay thấy trong các bài báo khoa học ở Việt Nam là
cách trình bày dữ liệu bằng biểu đồ. Những biểu đồ được thiết kế quá đơn
giản (phần lớn là cắt và dán từ các phần mềm máy tính) và vi phạm hầu
như bất cứ nguyên tắc nào của trình bày dữ liệu mà có lẽ tác giả chưa
làm quen. Trong loạt bài này, tôi sẽ bàn qua những nguyên tắc trình bày
dữ liệu trong biểu đồ.
Những
tháng cuối năm 2012 có những thông tin làm chúng ta phải suy nghĩ về
hiện tình của đất nước. Bản tương trình về năng lực cạnh tranh toàn cầu
(2012-2013) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho thấy Việt Nam tụt 10
hạng so với năm ngoái. Hiện nay, trong số 144 nền kinh tế trên thế
giới, Việt Nam xếp ở hạng 75, vị trí thấp nhất kể từ khi tham gia xếp
hạng. Cho dù bảng xếp hạng của WEF còn vài vấn đề cần bàn thêm về mặt
phương pháp, kết quả trên cũng đáng báo động, nhất là trong mục tiêu
công nghiệp hoá đất nước vào năm 2020.
Đối
với người không quen với tiếng Anh, một trong những khó khăn khi bắt
đầu viết bài báo bằng tiếng Anh là cách sắp xếp chữ sao cho hợp lí. Cách
viết hay sắp xếp chữ theo thói quen của chúng ta (người Việt) có khi
không thích hợp cho người phương Tây. Thành ra, đôi khi chúng ta thấy
câu văn mình viết chẳng có gì sai, nhưng đối với phương Tây thì họ lại
thấy … kì cục. Bài này sẽ bàn qua vài cách sắp xếp từ sao cho hợp lí.
Trong
khoa học, có những công trình dù không được giải thưởng gì quan trọng,
nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn. “Ảnh hưởng” ở đây hiểu theo nghĩa được
nhiều đồng nghiệp trích dẫn. Do đó, một thước đo quan trọng để đánh giá
tầm ảnh hưởng của công trình khoa học là qua chỉ số trích dẫn. Trong một
phân tích mà tôi điểm qua dưới đây cho thấy trong số hàng triệu công
trình nghiên cứu, chỉ có khoảng 0.017% được xem là có ảnh hưởng lớn.
Phần lớn những công trình này xuất phát từ Mĩ.
Câu
chuyện tấm biển trước cửa một nhà hàng Beijing Snacks (không phục vụ
người Nhật, Phi Luật Tân, Việt Nam, và Chó) đã gây nên một làn sóng câm
phẫn và phản đối. Xin giới thiệu một bài viết về tấm biển kì thị đó. Tác
giả bài viết là Ngọc Long, một nghiên cứu sinh ở China. Xin có lời hoan
hô và cám ơn tác giả đã chia sẻ bài viết.
Một
trong những khó khăn và hơi tế nhị của người mới bắt đầu việc công bố
quốc tế hay xuất bản khoa học là viết thư. Có hai loại thư để viết: thư
đệ trình (cover letter) và thư xin tài liệu. Rất nhiều lần giảng ở trong
nước, nhiều bạn hỏi tôi làm sao viết thư xin bài báo khoa học từ tác
giả, và viết thư đệ trình bài báo cho tập san khoa học như thế nào. Tôi
hứa sẽ giúp các bạn, và hôm nay tôi thực hiện lời hứa đó.
Y
học có phải là một bộ môn khoa học huyền bí, kì lạ không? Tất nhiên
rồi. Các vị bác sĩ và khoa học gia đáng kính lúc nào cũng cố tình cho
chúng ta một ấn tượng rằng y học chẳng có gì là bí ẩn. Họ hối hả, xoay
xở, mổ xẻ, làm thí nghiệm, thu thập dữ kiện, phân tích, lập danh mục,
phân loại, viết lách, lấy hẹn, v.v. và tưởng tượng như họ đang tiến về
một thế giới mà nơi đó mọi sự kiện và hiện tượng đều được xếp đặt thứ
tự, đâu ra đó.
Thông
thường những dịp lễ hay kỉ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại
những thành tựu chuyên môn qua nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng
đồng. Thế nhưng Ngày Thầy thuốc ở Việt Nam lại là ngày người ta bận rộn
với vấn đề rất cơ bản: y đức. Hai vấn đề liên quan đến y đức mà công
chúng đang quan tâm hiện nay là vấn nạn “phong bì” và quyền của bệnh
nhân. Bài đã gửi cho Người lao động, nhưng chắc báo không đủ "đất" để đi
cho đủ, nên tôi gửi lên đây để gọi là chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ
cá nhân.
Thế
là tôi đã ở trên xứ chùa tháp 4 ngày. Tuy thời gian quá ngắn, nhưng
chuyến đi thật sự là một kỉ niệm khó quên trong đời. Nếu có một nơi nào
đi qua mà tôi muốn quay lại thì đó chính là Siem Reap và Phnom Penh.
Chắc chắn tôi sẽ quay lại xứ chùa tháp một ngày không xa để cảm nhận
nhiều hơn nữa văn hoá và con người ở đây. Những trải nghiệm trong thời
gian ngắn ngủi vừa qua đã để lại trong tôi vài cảm nghĩ mà tôi muốn ghi
lại dưới đây như là một cách chia sẻ cùng các bạn.
Sau
hai ngày rong ruổi ở Siem Reap, chúng tôi đi Phnom Penh. Đây cũng là
một trong những điểm đến mà tôi đã có dự tính rất lâu. Do đó, chuyến đi
Phnom Penh cũng là một hành trình hào hứng. Chỉ hai ngày ở Phnom Penh
không đủ để tôi chiêm nghiệm, nhưng tôi vẫn viết ra đây những cảm nhận
ban đầu (cứ tạm gọi là … pilot perception). Đến đây và nghe qua truyền
thuyết về thành phố Phnom Penh tôi mới biết hai chữ “Nam Vang” mà mình
dùng bấy lâu nay để chỉ thủ đô của CPC là chẳng có một căn cứ nào cả!
Angkor
Thom hay Đế Thích theo cách gọi của người Việt Nam quả là một bí tích.
Những pho tượng đá khổng lồ bốn mặt với nụ cười rất bí ẩn. Bí ẩn chẳng
khác gì nụ cười của Mona Lisa. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết những
khuôn mặt này là của ai, những lời giải thích cũng chỉ là giả thuyết,
và do đó chủ nhân của những khuôn mặt vẫn là một bí ẩn. Có lẽ chúng ta
không bao giờ biết được ý nghĩa của những pho tượng này, nhưng có thể
xem Angkor Thom là một vũ trụ vi mô …
Ngày
đầu năm mới (10/2/2013) đã có niềm vui: website của tôi đã được phục
hồi! Xin chân thành cám ơn H (Cần Thơ) và các bạn kĩ thuật. Đế Thiên –
là đền thờ Ấn Độ Giáo lớn nhất thế giới, và cũng là biểu tượng của đất
nước Campuchea hay Cambodia (theo tiếng Anh). Bất cứ du khách nào đến
Siem Reap cũng đều ghé thăm Angkor Wat, và tôi cũng không phải là một
ngoại lệ. Vì là lần đầu tiên ghé đây, nên tôi phải tìm hiểu một chút về
lịch sử, nhưng rất khó. Buổi sáng hôm 1/1/2013 tôi vớ được cuốn sách từ
một em bé bán sách dạo, nên có trong tay một tài liệu chỉ dẫn rất đầy
đủ. Dưới đây là một vài cảm nhận của tôi khi ghé qua Đế Thiên lần đầu
tiên trong đời …