Ngày 18/11 vừa qua, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) vừa công bố danh sách các nhà khoa bảng Việt Nam mới được phong hàm giáo sư (65 người) và phó giáo sư (641 người). Đây là đợt xét phong cho cả 2 năm 2008 và 2009. Tôi tò mò làm một vài phân tích dựa vào số liệu trên trang web của HĐCDGSNN và số liệu tôi thu thập từ mấy năm trước thì thấy vài xu hướng thú vị.
Thứ nhất là số lượng GS, PGS được phong tăng đáng kể trong vòng 5 năm qua. Nhìn qua Bảng 1 dưới đây, chúng ta thấy so với năm 2005, số GS được xét phong tăng nhanh trong 2 năm 2007 (tăng 32%) và 2008-2009 (tăng 58%). Số PGS được xét phong vào năm 2008-2009 tăng vọt, hơn 2 lần so với năm 2005.
Thứ hai là số GS, PGS ngành y chiếm đa số. Trong số 706 GS và PGS được phong năm 2008-2009, có đến 21% (n = 148) là những người làm việc ngành y sinh học. Những ngành khác cũng có nhiều GS và PGS được xét phong là: kinh tế (n=87 người, 12%), khoa học tự nhiên (n=81, 11%), hóa học (n=35, 5%), nông học (n=27, 4%), vật lí (n=24, 3.4%), thủy lợi (n=21, 3%), triết học (n=20, 2.8%), và chính trị học (n=14, 2%).
Có lẽ điều hơi ngạc nhiên là ngành thủy lợi có khá nhiều giáo sư. Trong số 21 người được phong GS và PGS ngành thủy lợi, có gần 1/3 là GS, tỉ lệ này cao nhất trong các ngành. Qua những tai tiếng về những đập thủy lợi “chết người” gần đây, điều này cũng làm tôi ngạc nhiên, nhưng không loại trừ khả năng đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Thứ ba là độ tuổi. Tuổi trung bình của GS Việt Nam (trong đợt phong năm 2008-2009) là 57 (thấp nhất là 45 và cao nhất là 69). Các PGS có độ tuổi tương đối trẻ hơn: trung bình 50 (thấp nhất 32 và cao nhất 71). Ở Mĩ theo thống kê thì tuổi trung bình của giáo sư (full professor) là 55; rất ít ai được đề bạt chức danh này trước độ tuổi 40. Một thống kê ở Úc cho thấy năm 1982, tuổi trung bình của giáo sư là 52, phó giáo sư và “reader” là 48, senior lecturer 43, và lecturer 37. Như vậy, so với các nước tiên tiến, tuổi trung bình của GS và PGS Việt Nam tương đối cao hơn.
Thứ tư là chức danh GS/PGS ở Việt Nam vẫn là một loại phẩm hàm. Ở các nước trong vùng hay phương Tây, chức danh GS/PGS thường gắn liền với một trường đại học. Chẳng hạn như ở Viện Garvan chúng tôi, có nhiều người với chức danh GS hay PGS nhưng đó là những chức danh do trường UNSW cấp, vì họ có đóng góp cho trường. Còn ở VN, có nhiều người mang hàm này không có liên quan đến một trường nào, vì chức danh này là một phẩm hàm. Như những năm trước, một số lớn những người được tiến phong chức danh GS/PGS là những người làm việc hành chính, quản lí, không liên quan gì đến giảng dạy đại học hay làm nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như năm nay, trong số 148 người được phong hàm GS, PGS thuộc ngành y sinh học, có ít nhất là 3 người làm việc trong Bộ Y tế. Vấn đề này đã được đề cập đến nhiều lần trong quá khứ như là một điểm "không giống ai" nhằm cải cách hệ thống đề bạt chức danh GS, nhưng hình như cho đến nay vẫn chưa có gì thay đổi. Hệ quả là chỉ có 330 GS và PGS (tức chỉ 4.7% tổng số GS/PGS trên cả nước) đang làm nhiệm vụ giảng dạy trong 376 trường đại học và cao đẳng. Đó là một điều bất bình thường!
Thứ năm là cách tính điểm. HĐCDGSNN công nhận 56 tạp chí khoa học trong nước (liên quan đến lĩnh vực y khoa, xem danh sách dưới đây). Bài báo trên các tạp chí này được tính điểm từ 0 đến 1. Các tập chí được chia thành 3 nhóm dựa vào điểm mỗi bài báo: 0 đến 0.5 điểm, 0 đến 0.75, và 0 đến 1 điểm. Không rõ cách xác định điểm như thế nào mà lại dao động từ 0 (tức là có bài báo không có điểm gì cả). Còn các tạp chí nước ngoài, HĐCDGSNN chia thành 2 nhóm: nhóm có impact factor trên 2 có điểm từ 0 đến 2; nhóm có impact factor 2 hay thấp hơn có điểm từ 0 đến 1. Nói cách khác, một bài báo trên tập san như Science, Nature, New England Journal of Medicine, JAMA, hay Lancet chỉ cao hơn 1 điểm so với một bài báo trên Nghiên cứu Y học hay Y học TP. Hồ Chí Minh! Tôi e rằng chẳng những cách tính điểm như thế thật là vô lí và không công bằng, mà còn làm nản lòng những ai phấn đấu công bố quốc tế.
Với cách tính điểm như trên, nhiều người vẫn lo ngại về “chất lượng” của giáo sư Việt Nam, bởi vì làm GS/PGS mà thiếu những công trình công bố quốc tế (hay có mà quá "mỏng") thì không mấy hợp lí. Theo báo chí thì tính đến năm 2007, VN đã có trên 6600 GS và PGS. Như vậy, hiện nay, VN chắc có trên 7000 GS và PGS (khấu trừ một số qua đời và số mới được phong). Đã có người đặt câu hỏi trong số này có bao nhiêu xứng đáng với chức danh đó. Cách đây không lâu, GS Hoàng Tụy có phát biểu rằng chỉ có 20% giáo sư VN là xứng đáng với chức danh đó (VN có bao nhiêu GS, PGS trình độ quốc tế? ).
Nói tóm lại, qui trình và tiêu chuẩn đề bạt chức danh GS/PGS ở Việt Nam đã có cải tiến đáng kể trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều chuẩn còn bất hợp lí và chưa theo kịp xu hướng phát triển khoa học trên thế giới.
NVT
Tham khảo:
Over R. Career prospects for academics in Australian universities. Higher Education 1985;14: 497-512.
Có thể xem thêm tỉ lệ thành bại trong đề bạt chức danh GS/PGS ở đây.
Ghi thêm: Báo Nhân Dân số ra ngày hôm nay cho biết từ năm 1980 đến nay, VN đã công nhận 1336 GS và 7062 PGS.
Danh sách các tập chí khoa học được tính điểm cho năm 2009 (Y học):
Điểm từ 0 đến 0.5
Thông tin Y học (trước 2001)
Đông y (trước 2009)
Công trình nghiên cứu Y học Quân sự (trước 2001)
Vệ sinh phòng dịch (trước 2001)
Châm cứu Việt Nam
Dược học
Dược liệu
Hậu môn-Trực tràng
Khoa học
Khoa học và Công nghệ
Kiểm nghiệm thuốc
Nội tiết và các rối loạn chuyển hóa
Nội khoa
Ngoại khoa
Thông tin Y – Dược học
Y học thm họa và bỏng
Nghiên cứu Y học cổ truyền Việt Nam
Nhãn khoa Việt Nam
Khoa học
Ung thư học Việt Nam
Phụ sản
Nhi khoa
Bảo hộ lao động
Gia đình và Trẻ em
Hóa học
Hóa học và ứng dụng
Khoa học và Công nghệ
Khoa học
Khoa học
Dân số và Phát triển
Khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp
Khoa học kỹ thuật Thú y
Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trờng
Khoa học Thể thao
Nghiên cứu con ngời
Y sinh hóa
Hình thái học (trước 2009)
Tâm thần học (trước 2009)
Da liễu (trước 2009)
Phẫu thuật thần kinh (trước 2009)
Sinh học
Khoa học và phát triển (cũ: Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp)
Khoa học Tiêu hóa Việt Nam
Gan Mật Việt Nam
Điểm từ 0 đến 0.75
Phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Revue Medicale
Sinh lý học
Y học lâm sàng
Y học Quân sự
Y tế công cộng
Y học thực hành
Tim mạch học
Điểm từ 0 đến 1
Nghiên cứu Y học
Y học TP. Hồ Chí Minh
Y học Việt Nam
Y dược học Quân sự
Y học dự phòng
Y dược học lâm sàng 108
Tạp chí Công nghệ Sinh học
Tạp chí nước ngoài
Các chỉ số y học ngoài nước có chỉ số IF (impact factor) ≥ 3: từ 0 đến 2 điểm.
Các chỉ số y học ngoài nước có chỉ số IF (impact factor) < 3: từ 0 đến 1 điểm.
Friday, November 20, 2009
Thursday, November 19, 2009
Nhớ thầy cô
Việt Nam chúng ta có Ngày Nhà giáo. Nhiều nước trên thế giới (như Úc chẳng hạn cũng có Ngày Nhà giáo hay Teachers’ Day), nhưng hình như không rầm rộ như ở Việt Nam. Tôi thấy Ngày Nhà giáo ở Việt Nam là một truyền thống hay. Hồi xưa, trước 1975, người ta thường ví thầy cô là kĩ sư tâm hồn, và cách ví von đó chẳng sai chút nào. Không thầy đố mày làm nên. Đó là câu mà ông bà mình vẫn hay nói. Trong đời mình, ai cũng có một người thầy hay một người cô đáng nhớ.
Tôi đã nói qua về những người thầy của tôi: đó là thầy P và anh Hai tôi. Hôm nay, chợt nhớ một chuyện xưa cũng cảm động, nên tôi lại nhân cơ hội này nói qua về một người thầy và cô mà tôi theo học năm đệ ngũ. Câu chuyện của hai người cũng là một "chứng từ" cho một thời dao động lịch sử ở nước ta mà có lẽ ít người trẻ bây giờ biết được.
Thầy tôi tên B, dạy văn chương. Nghe nói Thầy được biệt phái hay giải ngũ từ quân đội. Thầy B người thấp, không đẹp trai mấy nhưng không xấu tướng, ăn nói hoạt bát, miệng lúc nào cũng cười, áo chemise trong quần tây, trông rất lịch sự, Thầy có chiếc vespa rất oách (thưở đó, chỉ có Thầy và hiệu trưởng có vespa). Thầy dạy văn tuyệt vời. Tôi mê thơ Nguyễn Bính cũng là từ Thầy.
Còn Cô tên là H, dạy toán. Hình như lúc đó, Cô chỉ mới tốt nghiệp đại học sư phạm vài năm. Lúc đó, dù còn nhỏ nhưng đám học trò chúng tôi đã cảm nhận được cô H đẹp lộng lẩy, y như câu nói "mặt hoa da phấn". Tôi vẫn còn nhớ Cô thường đến trường tên chiếc xe Honda Dame màu trắng, áo dài thước tha, tóc dài, đeo kính mát đen (thời trang thời đó), và mặt lúc nào cũng tươi như hoa nhưng rất nghiêm trang. Cô dạy toán cực kì thú vị, và tôi phải thú nhận rằng tôi ham mê toán thời đó cũng một phần là từ cách dạy của cô. Sau này tôi vẫn sử dụng cách dạy đại số của Cô là phải làm từng bước một, hay dấu = phải ngay hàng thẳng lối, hay dấu phân số phải nằm giữa dấu =, dấu căn số phải viết đâu ra đó, vân vân. Tôi là học trò cưng của cả hai người, vì nói cho ngay, lúc đó tôi học cũng kha khá, nên được nhiều thầy cô quí mến.
Các phòng học của trường được thiết kế theo kiểu bốn dãy phòng hình thành theo mô hình hình vuông, chính giữa là một sân cỏ rộng. Chẳng hiểu ngẫu nhiên hay có sắp xếp, cứ đến giờ học của cô H thì phòng đối diện là giờ của thầy B. Những khi có giờ của cô H, thầy B cho mở cửa toang, dạy rất hăng và … hay. Thầy giảng thao thao bất tuyệt. Sau này, nghĩ lại tôi mới biết là những lời giảng của Thầy đều nhắm vào cô như là một cách tỏ tình. Thật ra, lúc đó thầy B thương cô H (còn Cô có thương Thầy B hay không thì chẳng ai chưa biết). Thầy oang oang giảng bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn / Hai người sống giữa cô đơn / Hình như nàng có nỗi buồn giống tôi … thỉnh thoảng còn đem thơ Xuân Diệu ra đọc: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu / Có nghĩa gì đâu một buồi chiều / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu. Có vài lần, Thầy nhờ tôi trao thư cho cô H, nhưng thú thật lúc đó tôi chưa biết điều đó có ý nghĩa gì. Được Thầy giao cho “trọng trách” như thế là hãnh diện lắm rồi! Còn phần cô, tôi nhớ chỉ có 2 lần cô nhờ tôi trao thư cho Thầy.
Bẵng đi một thời gian dài cũng trên 10 năm gì đó, đến đầu năm 1981, tôi tình cờ gặp lại Thầy và Cô, lúc này đã là vợ chồng. Cả Thầy và Cô đều … “mất dạy”. Nhìn Thầy da xậm nắng, dáng dấp phong trần, tôi hỏi qua Thầy làm nghề gì. Thầy cho biết sau 1975 đi học cải tạo 2 năm, ra khỏi trại không còn dạy học, làm đủ thứ nghề khuân vác, đạp xe lôi, buôn bán ... để sống qua ngày. Nay thì Thầy có việc làm tương đối ổn định hơn: bán vé xe đò! Còn Cô thì tôi không biết làm gì. Tôi hỏi dạo này người ta vượt biên nhiều quá, sao Thầy Cô còn ở đây, thì Thầy méo miệng cười buồn nói: tiền đâu, nghèo rớt mồng tơi mà. Nhìn hai người, tôi chợt ngậm ngùi cho khó khăn mà hai người phải trải qua. Tôi không còn nhận ra một Thầy B sang trọng ngày nào, không còn nhận ra cô H thước tha, đài các của ngày xưa. Ôi, thời thế làm cho Thầy và Cô tôi nghèo khó và tiều tụy như bây giờ. Thế nhưng Thầy vẫn tươi cười, thậm chí còn mời tôi đi uống cà phê! Hôm đó là ngày tôi gặp hai Thầy Cô lần cuối, vì chỉ vài tháng sau là tôi rời Việt Nam. Cho đến nay, gần 30 năm sau, tôi vẫn chưa gặp lại Thầy B và cô H. Nhưng hình bóng của Thầy và Cô vẫn in đậm trong tôi, mãi mãi không thể xóa mờ được. Người mình có câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Hiểu theo nghĩa đó, thầy B và cô H đều là người kĩ sư tâm hồn lớn trong đời tôi.
Sau này, tôi thỉnh thoảng trở thành … thầy. Thật ra, nói “thầy” cho oai, chứ tôi ít khi nào lên lớp. Ấy thế mà lâu lâu tôi nhận vài lá thư chúc mừng nhân ngày Nhà giáo Việt Nam từ những bạn mà tôi chỉ có dịp giảng một vài bài trong các lớp học ngắn hạn (gọi là summer course). Điều đáng nói là có những bạn tôi chưa từng giảng một bài nào, thậm chí có bạn tôi còn chưa gặp mặt ngoài đời, nhưng cũng có gửi thư chức mừng, và nghĩa cử đó quả thật làm tôi xúc động như sáng nay mở hộp thư thấy vài thư sau đây.
Một thư từ Hà Nội:
Từ Hà Nội, em xin gửi tới thầy những lời chúc tốt đẹp nhất nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam. Mong thầy luôn mạnh khỏe, thành công trong công việc nghiên cứu và đào tạo thêm thật nhiều nhân tài cho thế giới cũng như cho quê hương Việt Nam.
Chỉ là người đọc blog của thầy và lại làm khác chuyên ngành với thầy, nhưng em, và chắc là cả rất nhiều trí thức khác nữa ở Việt Nam và hải ngoại, luôn cảm nhận được tình cảm trong sáng, nồng hậu của thầy dành cho các vấn đề của đất nước, không riêng gì giáo dục. Với chúng em, đây là những bài giảng đầy tâm huyết về những mục đích và phương pháp nghiên cứu cũng như về lương tâm và bản lĩnh của người làm khoa học.
Xin được kính thầy làm thầy.
Trò
Một thư khác từ Hải Phòng:
Kính chào thầy Tuấn
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, Em muốn gửi đến thầy lời kính chúc tốt đẹp nhất, mong thầy luôn nhiều sức khỏe và đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong nghiên cứu khoa học.
Một năm qua em không liên lạc với thầy, nhưng hàng ngày em vẫn đọc block của thầy và học được nhiều điều từ đó.
Đầu năm 2009, MOET thay đổi chính sách về điều kiện du học (yêu cầu phải có bằng cao học nếu muốn học tiến sĩ). Em rất thất vọng và quay về làm việc ( tranh thủ sinh cháu thứ 2 và chờ thời cơ khác, cháu gái thứ 2 của em đã được 3 tháng)
Bởi vì em là học trò của thầy, em sẽ không bao giờ bỏ cuộc. May thay em liên lạc được với một GS đại học K Nhật bản, ông ấy nói em đủ điều kiện học thẳng tiến sĩ tại Nhật Bản và hứa sẽ giúp đỡ em về thủ tục, học bổng hỗ trợ. Em đã thuyết phục được MOET đồng ý với điều kiện KU giảm học phí để tiết kiệm ngân sách. Dù chưa có kết quả cuối cùng, điều này mang lại một chút hi vong cho em.
Kể cả trong trường hợp đi học ở Nhật, Em rất mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của thầy nhất là trong NCKH.
Trân trọng cám ơn thầy!
Thư từ Sài Gòn. Đọc thư này tôi chợt nhớ tôi còn phải giúp chị bác sĩ này làm một vài chuyện. Nhờ thư mà nhớ bổn phận mình :-)
Kinh goi Thay, Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, em xin kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và đạt những thành tựu viên mãn nhất.
Một thư chẳng biết từ đâu, nhưng chắc chắn là từ trong nước:
Dear Thầy,
Chắc Thầy không nhớ em đâu. Em là đứa hỏi Thầy về bệnh còi xương đó. Nhưng Thầy không nhớ cũng chẳng sao vì em biết Thầy rất bận.
Nhân ngày Nhà giáo, em kính chúc Thầy mạnh khỏe, lúc nào cũng đầy nhiệt huyết cho quê hương. Ở bên này bọn em phải có hoa cho Thầy nhưng ở xa quá em chỉ cho hoa ảo J. Mong Thầy thông cảm!
Một bạn từ miền Tây sông nước quê tôi.
Em là bác sĩ M đã theo học mấy khóa học do Thầy và cô Kh tổ chức. Em cũng là người viết thơ hỏi Thầy về cái nghiên cứu corticoid năm qua. Nhờ hướng dẫn của Thầy em sắp làm xong đề cương đó rồi. Mai mốt chắc em lại hỏi Thầy nữa quá.
Nhân ngày Nhà giáo VN em kính chúc Thầy có nhiều thành công trong năm tới và nhiều nghị lực cho bọn em.
Kính Thầy
Tb: Khi nào Thầy về miền tây thăm nhà, Thầy nói cho em biết trước để em dẫn Thầy đi ăn mấy món mắm rất ngon mà bảo đảm ít ai biết được. J Em xin lỗi Thầy nếu em nói chuyện mắm muối làm Thầy mất vui, nhưng em biết Thầy thích món này.
Và cũng có thư từ các bạn đang theo học ở nước ngoài. Đây là một thư từ Paris:
Xin chào Thầy,
Hy vọng là Thầy vẫn chưa quên em. Dạo này em vẫn thường xuyên cập nhật kiến thức qua trang web của Thầy. Hiện tại em đã bắt đầu đề tài nghiên cứu sinh, và cũng đang tập tễnh viết bài báo. Vì vậy em đọc rất kỹ những bài Thầy viết liên quan đến những kỹ năng cần thiết khi viết bài báo khoa học cũng như những lỗi sai phạm trong Tiếng Anh cần lưu ý. Cám ơn thầy nhiều lắm về những kiến thức bổ ích em có được từ những bài viết của Thầy.Sắp tới ngày Nhà Giáo Việt Nam, em nghĩ chắc ngày này cũng rất có ý nghĩa với Thầy, vì dù sao Thầy cũng là người Việt Nam, cũng là Thầy của không biết bao người Việt Nam như em, không bằng cách này thì cũng bằng cách kia như câu nói 'Nhất tự vi SƯ, bán tự vi Sư'. Vì vậy, em rất muốn gởi đến Thầy những lời chúc tốt đẹp nhất, chân thành nhất nhân ngày 20.11. Chúc Thầy sẽ nhận được thật nhiều lời chúc ý nghĩa, và chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, thật nhiều niềm vui trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Chuyển cách xưng hô từ Giáo Sư sang từ '' Thầy'', tự nhiên em cảm giác khoảng cách vô hình được rút ngắn lại. Tiếng Việt mình thật hay và đầy tình cảm, không phải như tiếng Anh, trước sau củng chỉ là YOU.
Và một thư từ Nga:
Thầy kính mến!Em rất vui khi nhận được hồi âm của thầy ngày 16-11-2009. Em sẽ cố gắng học tập và hi vọng sẽ đạt được một kết quả nào đó.Hôm nay, ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Em chúc thầy luôn mạnh khỏe, luôn yêu nghề, luôn thành công và hạnh phúc. Em chúc thầy sẽ có thêm nhiều học trò yêu quý. Em mong nhiều sinh viên Việt Nam biết đến thầy và cùng học tập tấm gương của thầy trong nghiên cứu khoa học, cũng như trong cuộc sống.
===
Sáng ra mà đọc được những dòng chữ đó cũng làm cho tôi ấm lòng suốt ngày, thậm chỉ cả năm. Thời đại thực dụng bây giờ và trong bối cảnh đạo đức xã hội xuống cấp như hiện nay mà còn có người biết tình thầy trò, còn nhớ đến câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, thì chẳng là một niềm an ủi sao. Những lá thư này cũng là một minh chứng cho thấy trong xã hội, ở những người trẻ, vẫn còn có nhiều người sống đàng hoàng và tử tế.
Xin thành thật cám ơn các bạn đã có những lời chúc mừng tôi nhân Ngày Nhà giáo. Tôi cũng nhân dịp này mà chúc các bạn gặt hái được nhiều thành công trong học tập và nhiều may mắn.
NVT
Tôi đã nói qua về những người thầy của tôi: đó là thầy P và anh Hai tôi. Hôm nay, chợt nhớ một chuyện xưa cũng cảm động, nên tôi lại nhân cơ hội này nói qua về một người thầy và cô mà tôi theo học năm đệ ngũ. Câu chuyện của hai người cũng là một "chứng từ" cho một thời dao động lịch sử ở nước ta mà có lẽ ít người trẻ bây giờ biết được.
Thầy tôi tên B, dạy văn chương. Nghe nói Thầy được biệt phái hay giải ngũ từ quân đội. Thầy B người thấp, không đẹp trai mấy nhưng không xấu tướng, ăn nói hoạt bát, miệng lúc nào cũng cười, áo chemise trong quần tây, trông rất lịch sự, Thầy có chiếc vespa rất oách (thưở đó, chỉ có Thầy và hiệu trưởng có vespa). Thầy dạy văn tuyệt vời. Tôi mê thơ Nguyễn Bính cũng là từ Thầy.
Còn Cô tên là H, dạy toán. Hình như lúc đó, Cô chỉ mới tốt nghiệp đại học sư phạm vài năm. Lúc đó, dù còn nhỏ nhưng đám học trò chúng tôi đã cảm nhận được cô H đẹp lộng lẩy, y như câu nói "mặt hoa da phấn". Tôi vẫn còn nhớ Cô thường đến trường tên chiếc xe Honda Dame màu trắng, áo dài thước tha, tóc dài, đeo kính mát đen (thời trang thời đó), và mặt lúc nào cũng tươi như hoa nhưng rất nghiêm trang. Cô dạy toán cực kì thú vị, và tôi phải thú nhận rằng tôi ham mê toán thời đó cũng một phần là từ cách dạy của cô. Sau này tôi vẫn sử dụng cách dạy đại số của Cô là phải làm từng bước một, hay dấu = phải ngay hàng thẳng lối, hay dấu phân số phải nằm giữa dấu =, dấu căn số phải viết đâu ra đó, vân vân. Tôi là học trò cưng của cả hai người, vì nói cho ngay, lúc đó tôi học cũng kha khá, nên được nhiều thầy cô quí mến.
Các phòng học của trường được thiết kế theo kiểu bốn dãy phòng hình thành theo mô hình hình vuông, chính giữa là một sân cỏ rộng. Chẳng hiểu ngẫu nhiên hay có sắp xếp, cứ đến giờ học của cô H thì phòng đối diện là giờ của thầy B. Những khi có giờ của cô H, thầy B cho mở cửa toang, dạy rất hăng và … hay. Thầy giảng thao thao bất tuyệt. Sau này, nghĩ lại tôi mới biết là những lời giảng của Thầy đều nhắm vào cô như là một cách tỏ tình. Thật ra, lúc đó thầy B thương cô H (còn Cô có thương Thầy B hay không thì chẳng ai chưa biết). Thầy oang oang giảng bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn / Hai người sống giữa cô đơn / Hình như nàng có nỗi buồn giống tôi … thỉnh thoảng còn đem thơ Xuân Diệu ra đọc: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu / Có nghĩa gì đâu một buồi chiều / Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt / Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu. Có vài lần, Thầy nhờ tôi trao thư cho cô H, nhưng thú thật lúc đó tôi chưa biết điều đó có ý nghĩa gì. Được Thầy giao cho “trọng trách” như thế là hãnh diện lắm rồi! Còn phần cô, tôi nhớ chỉ có 2 lần cô nhờ tôi trao thư cho Thầy.
Bẵng đi một thời gian dài cũng trên 10 năm gì đó, đến đầu năm 1981, tôi tình cờ gặp lại Thầy và Cô, lúc này đã là vợ chồng. Cả Thầy và Cô đều … “mất dạy”. Nhìn Thầy da xậm nắng, dáng dấp phong trần, tôi hỏi qua Thầy làm nghề gì. Thầy cho biết sau 1975 đi học cải tạo 2 năm, ra khỏi trại không còn dạy học, làm đủ thứ nghề khuân vác, đạp xe lôi, buôn bán ... để sống qua ngày. Nay thì Thầy có việc làm tương đối ổn định hơn: bán vé xe đò! Còn Cô thì tôi không biết làm gì. Tôi hỏi dạo này người ta vượt biên nhiều quá, sao Thầy Cô còn ở đây, thì Thầy méo miệng cười buồn nói: tiền đâu, nghèo rớt mồng tơi mà. Nhìn hai người, tôi chợt ngậm ngùi cho khó khăn mà hai người phải trải qua. Tôi không còn nhận ra một Thầy B sang trọng ngày nào, không còn nhận ra cô H thước tha, đài các của ngày xưa. Ôi, thời thế làm cho Thầy và Cô tôi nghèo khó và tiều tụy như bây giờ. Thế nhưng Thầy vẫn tươi cười, thậm chí còn mời tôi đi uống cà phê! Hôm đó là ngày tôi gặp hai Thầy Cô lần cuối, vì chỉ vài tháng sau là tôi rời Việt Nam. Cho đến nay, gần 30 năm sau, tôi vẫn chưa gặp lại Thầy B và cô H. Nhưng hình bóng của Thầy và Cô vẫn in đậm trong tôi, mãi mãi không thể xóa mờ được. Người mình có câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Hiểu theo nghĩa đó, thầy B và cô H đều là người kĩ sư tâm hồn lớn trong đời tôi.
Sau này, tôi thỉnh thoảng trở thành … thầy. Thật ra, nói “thầy” cho oai, chứ tôi ít khi nào lên lớp. Ấy thế mà lâu lâu tôi nhận vài lá thư chúc mừng nhân ngày Nhà giáo Việt Nam từ những bạn mà tôi chỉ có dịp giảng một vài bài trong các lớp học ngắn hạn (gọi là summer course). Điều đáng nói là có những bạn tôi chưa từng giảng một bài nào, thậm chí có bạn tôi còn chưa gặp mặt ngoài đời, nhưng cũng có gửi thư chức mừng, và nghĩa cử đó quả thật làm tôi xúc động như sáng nay mở hộp thư thấy vài thư sau đây.
Một thư từ Hà Nội:
Từ Hà Nội, em xin gửi tới thầy những lời chúc tốt đẹp nhất nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam. Mong thầy luôn mạnh khỏe, thành công trong công việc nghiên cứu và đào tạo thêm thật nhiều nhân tài cho thế giới cũng như cho quê hương Việt Nam.
Chỉ là người đọc blog của thầy và lại làm khác chuyên ngành với thầy, nhưng em, và chắc là cả rất nhiều trí thức khác nữa ở Việt Nam và hải ngoại, luôn cảm nhận được tình cảm trong sáng, nồng hậu của thầy dành cho các vấn đề của đất nước, không riêng gì giáo dục. Với chúng em, đây là những bài giảng đầy tâm huyết về những mục đích và phương pháp nghiên cứu cũng như về lương tâm và bản lĩnh của người làm khoa học.
Xin được kính thầy làm thầy.
Trò
Một thư khác từ Hải Phòng:
Kính chào thầy Tuấn
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, Em muốn gửi đến thầy lời kính chúc tốt đẹp nhất, mong thầy luôn nhiều sức khỏe và đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong nghiên cứu khoa học.
Một năm qua em không liên lạc với thầy, nhưng hàng ngày em vẫn đọc block của thầy và học được nhiều điều từ đó.
Đầu năm 2009, MOET thay đổi chính sách về điều kiện du học (yêu cầu phải có bằng cao học nếu muốn học tiến sĩ). Em rất thất vọng và quay về làm việc ( tranh thủ sinh cháu thứ 2 và chờ thời cơ khác, cháu gái thứ 2 của em đã được 3 tháng)
Bởi vì em là học trò của thầy, em sẽ không bao giờ bỏ cuộc. May thay em liên lạc được với một GS đại học K Nhật bản, ông ấy nói em đủ điều kiện học thẳng tiến sĩ tại Nhật Bản và hứa sẽ giúp đỡ em về thủ tục, học bổng hỗ trợ. Em đã thuyết phục được MOET đồng ý với điều kiện KU giảm học phí để tiết kiệm ngân sách. Dù chưa có kết quả cuối cùng, điều này mang lại một chút hi vong cho em.
Kể cả trong trường hợp đi học ở Nhật, Em rất mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của thầy nhất là trong NCKH.
Trân trọng cám ơn thầy!
Thư từ Sài Gòn. Đọc thư này tôi chợt nhớ tôi còn phải giúp chị bác sĩ này làm một vài chuyện. Nhờ thư mà nhớ bổn phận mình :-)
Kinh goi Thay, Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, em xin kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và đạt những thành tựu viên mãn nhất.
Một thư chẳng biết từ đâu, nhưng chắc chắn là từ trong nước:
Dear Thầy,
Chắc Thầy không nhớ em đâu. Em là đứa hỏi Thầy về bệnh còi xương đó. Nhưng Thầy không nhớ cũng chẳng sao vì em biết Thầy rất bận.
Nhân ngày Nhà giáo, em kính chúc Thầy mạnh khỏe, lúc nào cũng đầy nhiệt huyết cho quê hương. Ở bên này bọn em phải có hoa cho Thầy nhưng ở xa quá em chỉ cho hoa ảo J. Mong Thầy thông cảm!
Một bạn từ miền Tây sông nước quê tôi.
Em là bác sĩ M đã theo học mấy khóa học do Thầy và cô Kh tổ chức. Em cũng là người viết thơ hỏi Thầy về cái nghiên cứu corticoid năm qua. Nhờ hướng dẫn của Thầy em sắp làm xong đề cương đó rồi. Mai mốt chắc em lại hỏi Thầy nữa quá.
Nhân ngày Nhà giáo VN em kính chúc Thầy có nhiều thành công trong năm tới và nhiều nghị lực cho bọn em.
Kính Thầy
Tb: Khi nào Thầy về miền tây thăm nhà, Thầy nói cho em biết trước để em dẫn Thầy đi ăn mấy món mắm rất ngon mà bảo đảm ít ai biết được. J Em xin lỗi Thầy nếu em nói chuyện mắm muối làm Thầy mất vui, nhưng em biết Thầy thích món này.
Và cũng có thư từ các bạn đang theo học ở nước ngoài. Đây là một thư từ Paris:
Xin chào Thầy,
Hy vọng là Thầy vẫn chưa quên em. Dạo này em vẫn thường xuyên cập nhật kiến thức qua trang web của Thầy. Hiện tại em đã bắt đầu đề tài nghiên cứu sinh, và cũng đang tập tễnh viết bài báo. Vì vậy em đọc rất kỹ những bài Thầy viết liên quan đến những kỹ năng cần thiết khi viết bài báo khoa học cũng như những lỗi sai phạm trong Tiếng Anh cần lưu ý. Cám ơn thầy nhiều lắm về những kiến thức bổ ích em có được từ những bài viết của Thầy.Sắp tới ngày Nhà Giáo Việt Nam, em nghĩ chắc ngày này cũng rất có ý nghĩa với Thầy, vì dù sao Thầy cũng là người Việt Nam, cũng là Thầy của không biết bao người Việt Nam như em, không bằng cách này thì cũng bằng cách kia như câu nói 'Nhất tự vi SƯ, bán tự vi Sư'. Vì vậy, em rất muốn gởi đến Thầy những lời chúc tốt đẹp nhất, chân thành nhất nhân ngày 20.11. Chúc Thầy sẽ nhận được thật nhiều lời chúc ý nghĩa, và chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, thật nhiều niềm vui trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Chuyển cách xưng hô từ Giáo Sư sang từ '' Thầy'', tự nhiên em cảm giác khoảng cách vô hình được rút ngắn lại. Tiếng Việt mình thật hay và đầy tình cảm, không phải như tiếng Anh, trước sau củng chỉ là YOU.
Và một thư từ Nga:
Thầy kính mến!Em rất vui khi nhận được hồi âm của thầy ngày 16-11-2009. Em sẽ cố gắng học tập và hi vọng sẽ đạt được một kết quả nào đó.Hôm nay, ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Em chúc thầy luôn mạnh khỏe, luôn yêu nghề, luôn thành công và hạnh phúc. Em chúc thầy sẽ có thêm nhiều học trò yêu quý. Em mong nhiều sinh viên Việt Nam biết đến thầy và cùng học tập tấm gương của thầy trong nghiên cứu khoa học, cũng như trong cuộc sống.
===
Sáng ra mà đọc được những dòng chữ đó cũng làm cho tôi ấm lòng suốt ngày, thậm chỉ cả năm. Thời đại thực dụng bây giờ và trong bối cảnh đạo đức xã hội xuống cấp như hiện nay mà còn có người biết tình thầy trò, còn nhớ đến câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, thì chẳng là một niềm an ủi sao. Những lá thư này cũng là một minh chứng cho thấy trong xã hội, ở những người trẻ, vẫn còn có nhiều người sống đàng hoàng và tử tế.
Xin thành thật cám ơn các bạn đã có những lời chúc mừng tôi nhân Ngày Nhà giáo. Tôi cũng nhân dịp này mà chúc các bạn gặt hái được nhiều thành công trong học tập và nhiều may mắn.
NVT
Wednesday, November 18, 2009
Chung quanh vấn đề xét phong chức danh GS/PGS
Theo bản tin dưới đây thì năm nay Việt Nam có thêm 65 giáo sư và 604 phó giáo sư. Bài này cung cấp vài con số thú vị về các hàng rào cản mà một ứng viên phải “nhảy” qua. Trước hết là xét duyệt ở cấp cơ sở (chắc là ở đại học hay cơ quan), và sau đó là đến Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN, tên dài ghê!)
Năm nay có 164 hồ sơ xin xét duyệt chức dang GS và 1003 hồ sơ xin xét phong chức danh PGS. Đến cơ sở thì có 116 (hay 71%) hồ sơ GS và 762 (76%) hồ sơ PGS được tín nhiệm và thông qua. Đến khi ra HĐCDGSNN thì tỉ lệ thành công giảm xuống còn 40% (n=65) đối với chức danh GS, và 60% (n=604) đối với chức danh PGS.
Nói chung qui trình xét phong GS ở Việt Nam, như tôi nói trước đây, không giống ở các nước phương Tây. Cố nhiên, VN không cần phải làm giống các nước này, nhưng nếu chúng ta bàn về giáo dục hội nhập quốc tế, thì cũng nên xem xét và tham khảo cách làm và tiêu chuẩn của các nước tiên tiến. Khía cạnh khác thường là xét duyệt ở cấp cơ sở. Ở cấp này, rất khó mà có được một xét duyệt khách quan, bởi vì những người ngồi trong hội đồng xét duyệt chắc chắn, không ít thì nhiều, cũng có liên hệ với ứng viên. Cũng không loại trừ khả năng mâu thuẫn với ứng viên, mà người ta bỏ phiếu không công nhận.
Một anh bạn viết email nhận xét như sau: “Các nhà khoa học giỏi thường có cá tính và khó mà được lòng đầy đủ các đồng nghiêp để đạt đủ các số phiếu 2/3 (cơ sở) và 3/4 (ngành) theo yêu cầu, nhất là khi số đông ở ta hiện nay vẫn đang sống trong quán tính lạc hậu. Họ cũng không cố xoay sở để chỉ đạt mấy cái tiêu chuẩn chu đủ hình thức như bao kẻ cơ hội. Ở Hội đồng ngành Tin học có 2 người đi công tác vắng mặt bị coi luôn là 2 phiếu chống và chỉ cần thêm 1-2 phiếu chống nữa là ứng viên bị lọai vì không đạt tiêu chuẩn 3/4 ủng hộ.
Trong ngành C, có 2 người có kết quả ISI 5 năm và năng lực khoa học nổi trội hơn nhưng bị loại là anh ĐHC và HNH. Riêng anh ĐHC không chỉ có thành tích công bố quốc tế nổi trội trên lĩnh vực C, mà còn có thâm niên tham gia đào tạo hơn nhiều ứng viên được thông qua, nhưng vẫn bị coi là thíếu tiêu chuẩn cứng! Trong ngành S, anh NNC dù đạt mọi tiêu chuẩn cứng cho chức danh GS và có thành tích nổi bật về công bố quốc tế nhưng vẫn bị hội đồng cơ sở bỏ phiếu không chấp thuận (chưa đủ uy tín ?!).
Những đấu tranh của các anh NNC và DHC thời gian qua cho cải cách KHVN rõ ràng khiến nhiều người không ưa. Để thóat khỏi tình trạng này chỉ có cách đề cao các chuẩn mực quốc tế để người ta thóat khỏi căn bệnh hình thức, để các cơ sở phải cạnh tranh để thu hút người tài thực, chứ không phải bất cần như hiện nay.”
Cái khác biệt thứ 2 là HĐCDGSNN chưa xem trọng thành tích công bố quốc tế trong việc xét duyệt phong chức danh GS / PGS. Anh bạn trên trong một email viết như sau: "Thật đáng tiếc là trong khi các Viện và Đại học bắt đầu đề cao công bố quốc tế, chương trình NCCB đòi hỏi phải có công bố quốc tế ISI, thì các văn bản cho đợt xét GS lần này kể cả có một quyển sách dầy đề cập rất chi tiết mọi tiêu chuẩn và khía cạnh (hẳn được chuẩn bị từ HĐCDGSNH cũ) không hề nhắc một chỗ nào tới công bố quốc tế dù chỉ để tham khảo khuyến khích, GD&ĐT ở VN vẫn còn lảng tránh hội nhập. Thất vọng với thực tế này và điểm mới “chỉ phát giấy chứng nhận”, anh NBA – nhà Vật lý công bố quốc tế xuất sắc lần này đã từ chối không đăng ký xét phong GS nữa."
Về trang web của HĐCDGSNN
Sẵn đây xin nói thêm vài nhận xét về trang web của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước. Qua email của một anh bạn tôi tò mò vào xem cho biết, nhưng hoàn toàn thất vọng. Trang web chẳng có thông tin gì cả. Mà, có khi thông tin được trưng bày nhưng chẳng có nội dung, hay có nội dung nhưng chẳng ai đọc được.
Chẳng hạn như mục “Hoạt động của các HĐCD”, hay mục “Chân dung nhà khoa học” thì “Không có tin mới”! Còn nếu bấm vào bản tin “Danh sách các nhà giáo được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2009” thì được dẫn đến một đường link “Download File đính kèm”, nhưng cái file đó nếu download xuống thì chẳng biết nó thuộc dạng nào, chẳng có phần mềm nào đọc được. Có rất nhiều file như thế. Tôi không hiểu tại sao người làm web là lười biếng đến nỗi không thèm post lên trang web một file dạng html để khách ghé thăm đọc. Nếu làm biếng quá thì cũng để trong một file dạng Microsoft Word (hay gì đó) để người ta tải xuống máy đọc. Chứ còn cái kiểu file nào cũng có một tên “Copy” thì chẳng khác gì đánh đố người ta. Thật là hết biết! Nó chẳng khác gì treo đầu dê mà chẳng có dê để bán! Mấy đường link cứ lòng vòng, làm mất thì giờ khách ghé thăm.
Còn phần “Liên kết” thì chỉ có 2 nơi: Bộ Giáo dục và Đào tạo, và VNexpress. Hình như người làm trang web thích đọc VNexpress, hay là quan chức của Bộ GDĐT, hay trang web được VNexpress tài trợ.
Trước đây, khi trang web này mới ra đời, tôi đã có góp ý để họ thay đổi về tiếng Anh và tính bảo mật cho các thành viên. Người phụ trách trang web có liên lạc tôi, tiếp thu ý kiến, và hứa sẽ sửa đổi. Nhưng theo tôi, những thay đổi vẫn chưa làm cho trang web tốt hơn. Điển hình là qua “điều tra bỏ túi” của chính trang web thì tính đến ngày hôm nay, có 87 người trả lời câu hỏi “Bạn nhận xét thế nào về website của hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước?”, kết quả cho thấy 65% (n = 57) cho là trang web xấu. Chỉ có 16% cho rằng trang web đẹp, và 18% cho rằng trang web bình thường. Tôi thì nghĩ trang web thiếu tính năng. Đã không làm thì thôi, còn làm thì phải làm cho ra hồn và nghiêm chỉnh, nhất là đây là một trang web của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước. Nhưng tiếc thay, trang web này chẳng có hồn mà cũng chẳng nghiêm chỉnh.
NVT
===
http://www.nld.com.vn/20091118042444594P0C1017/viet-nam-co-them-65-giao-su.htm
Việt Nam có thêm 65 giáo sư
nld.com.vn - 20 giờ trước
(NLĐO) - GS-TS Nguyễn Thiện Nhân - Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT kiêm Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước - đã ký quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư (GS) cho 65 nhà giáo và chức danh phó giáo sư (PGS) cho 641 nhà giáo.
Trong số các ứng viên xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm nay có nhiều người trẻ hơn các năm trước. Đặc biệt, có ba GS, PGS đã được bổ nhiệm tại các cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài (Mỹ và Nhật Bản) nộp hồ sơ để được xét bổ nhiệm chức danh GS, PGS tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Dẫn đầu về số lượng người được công nhận đợt này là ngành y với 16 GS và 132 PGS, tiếp đến là ngành kinh tế, nông nghiệp, hóa học... Người ít tuổi nhất được công nhận GS là ông Võ Văn Hoàng, 45 tuổi (sinh ngày 5-11-1964), giảng viên khoa vật lý Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM). PGS trẻ nhất là ông Bùi Thế Duy, 31 tuổi (sinh ngày 9-5-1978), giảng viên tin học Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội).
Theo Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước, đợt xét công nhận chức danh GS, PGS năm 2009 là đợt xét dồn của cả hai năm 2008 và 2009, vì vậy số hồ sơ của ứng viên năm nay nhiều hơn những năm trước, với 1.167 hồ sơ; trong đó có 164 hồ sơ xin xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS và 1.003 hồ sơ xin xét đạt tiêu chuẩn chức danh PGS.
Kết quả xét ở 85 Hội đồng chức danh giáo sư cơ sở đã có 116 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS và 762 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh PGS đạt đủ số phiếu tín nhiệm theo quy định.
Lễ công bố quyết định và trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cho các GS, PGS sẽ được tổ chức vào sáng 20-11-2009 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).
NLĐ
Năm nay có 164 hồ sơ xin xét duyệt chức dang GS và 1003 hồ sơ xin xét phong chức danh PGS. Đến cơ sở thì có 116 (hay 71%) hồ sơ GS và 762 (76%) hồ sơ PGS được tín nhiệm và thông qua. Đến khi ra HĐCDGSNN thì tỉ lệ thành công giảm xuống còn 40% (n=65) đối với chức danh GS, và 60% (n=604) đối với chức danh PGS.
Nói chung qui trình xét phong GS ở Việt Nam, như tôi nói trước đây, không giống ở các nước phương Tây. Cố nhiên, VN không cần phải làm giống các nước này, nhưng nếu chúng ta bàn về giáo dục hội nhập quốc tế, thì cũng nên xem xét và tham khảo cách làm và tiêu chuẩn của các nước tiên tiến. Khía cạnh khác thường là xét duyệt ở cấp cơ sở. Ở cấp này, rất khó mà có được một xét duyệt khách quan, bởi vì những người ngồi trong hội đồng xét duyệt chắc chắn, không ít thì nhiều, cũng có liên hệ với ứng viên. Cũng không loại trừ khả năng mâu thuẫn với ứng viên, mà người ta bỏ phiếu không công nhận.
Một anh bạn viết email nhận xét như sau: “Các nhà khoa học giỏi thường có cá tính và khó mà được lòng đầy đủ các đồng nghiêp để đạt đủ các số phiếu 2/3 (cơ sở) và 3/4 (ngành) theo yêu cầu, nhất là khi số đông ở ta hiện nay vẫn đang sống trong quán tính lạc hậu. Họ cũng không cố xoay sở để chỉ đạt mấy cái tiêu chuẩn chu đủ hình thức như bao kẻ cơ hội. Ở Hội đồng ngành Tin học có 2 người đi công tác vắng mặt bị coi luôn là 2 phiếu chống và chỉ cần thêm 1-2 phiếu chống nữa là ứng viên bị lọai vì không đạt tiêu chuẩn 3/4 ủng hộ.
Trong ngành C, có 2 người có kết quả ISI 5 năm và năng lực khoa học nổi trội hơn nhưng bị loại là anh ĐHC và HNH. Riêng anh ĐHC không chỉ có thành tích công bố quốc tế nổi trội trên lĩnh vực C, mà còn có thâm niên tham gia đào tạo hơn nhiều ứng viên được thông qua, nhưng vẫn bị coi là thíếu tiêu chuẩn cứng! Trong ngành S, anh NNC dù đạt mọi tiêu chuẩn cứng cho chức danh GS và có thành tích nổi bật về công bố quốc tế nhưng vẫn bị hội đồng cơ sở bỏ phiếu không chấp thuận (chưa đủ uy tín ?!).
Những đấu tranh của các anh NNC và DHC thời gian qua cho cải cách KHVN rõ ràng khiến nhiều người không ưa. Để thóat khỏi tình trạng này chỉ có cách đề cao các chuẩn mực quốc tế để người ta thóat khỏi căn bệnh hình thức, để các cơ sở phải cạnh tranh để thu hút người tài thực, chứ không phải bất cần như hiện nay.”
Cái khác biệt thứ 2 là HĐCDGSNN chưa xem trọng thành tích công bố quốc tế trong việc xét duyệt phong chức danh GS / PGS. Anh bạn trên trong một email viết như sau: "Thật đáng tiếc là trong khi các Viện và Đại học bắt đầu đề cao công bố quốc tế, chương trình NCCB đòi hỏi phải có công bố quốc tế ISI, thì các văn bản cho đợt xét GS lần này kể cả có một quyển sách dầy đề cập rất chi tiết mọi tiêu chuẩn và khía cạnh (hẳn được chuẩn bị từ HĐCDGSNH cũ) không hề nhắc một chỗ nào tới công bố quốc tế dù chỉ để tham khảo khuyến khích, GD&ĐT ở VN vẫn còn lảng tránh hội nhập. Thất vọng với thực tế này và điểm mới “chỉ phát giấy chứng nhận”, anh NBA – nhà Vật lý công bố quốc tế xuất sắc lần này đã từ chối không đăng ký xét phong GS nữa."
Về trang web của HĐCDGSNN
Sẵn đây xin nói thêm vài nhận xét về trang web của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước. Qua email của một anh bạn tôi tò mò vào xem cho biết, nhưng hoàn toàn thất vọng. Trang web chẳng có thông tin gì cả. Mà, có khi thông tin được trưng bày nhưng chẳng có nội dung, hay có nội dung nhưng chẳng ai đọc được.
Chẳng hạn như mục “Hoạt động của các HĐCD”, hay mục “Chân dung nhà khoa học” thì “Không có tin mới”! Còn nếu bấm vào bản tin “Danh sách các nhà giáo được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2009” thì được dẫn đến một đường link “Download File đính kèm”, nhưng cái file đó nếu download xuống thì chẳng biết nó thuộc dạng nào, chẳng có phần mềm nào đọc được. Có rất nhiều file như thế. Tôi không hiểu tại sao người làm web là lười biếng đến nỗi không thèm post lên trang web một file dạng html để khách ghé thăm đọc. Nếu làm biếng quá thì cũng để trong một file dạng Microsoft Word (hay gì đó) để người ta tải xuống máy đọc. Chứ còn cái kiểu file nào cũng có một tên “Copy” thì chẳng khác gì đánh đố người ta. Thật là hết biết! Nó chẳng khác gì treo đầu dê mà chẳng có dê để bán! Mấy đường link cứ lòng vòng, làm mất thì giờ khách ghé thăm.
Còn phần “Liên kết” thì chỉ có 2 nơi: Bộ Giáo dục và Đào tạo, và VNexpress. Hình như người làm trang web thích đọc VNexpress, hay là quan chức của Bộ GDĐT, hay trang web được VNexpress tài trợ.
Trước đây, khi trang web này mới ra đời, tôi đã có góp ý để họ thay đổi về tiếng Anh và tính bảo mật cho các thành viên. Người phụ trách trang web có liên lạc tôi, tiếp thu ý kiến, và hứa sẽ sửa đổi. Nhưng theo tôi, những thay đổi vẫn chưa làm cho trang web tốt hơn. Điển hình là qua “điều tra bỏ túi” của chính trang web thì tính đến ngày hôm nay, có 87 người trả lời câu hỏi “Bạn nhận xét thế nào về website của hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước?”, kết quả cho thấy 65% (n = 57) cho là trang web xấu. Chỉ có 16% cho rằng trang web đẹp, và 18% cho rằng trang web bình thường. Tôi thì nghĩ trang web thiếu tính năng. Đã không làm thì thôi, còn làm thì phải làm cho ra hồn và nghiêm chỉnh, nhất là đây là một trang web của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước. Nhưng tiếc thay, trang web này chẳng có hồn mà cũng chẳng nghiêm chỉnh.
NVT
===
http://www.nld.com.vn/20091118042444594P0C1017/viet-nam-co-them-65-giao-su.htm
Việt Nam có thêm 65 giáo sư
nld.com.vn - 20 giờ trước
(NLĐO) - GS-TS Nguyễn Thiện Nhân - Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT kiêm Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước - đã ký quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư (GS) cho 65 nhà giáo và chức danh phó giáo sư (PGS) cho 641 nhà giáo.
Trong số các ứng viên xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm nay có nhiều người trẻ hơn các năm trước. Đặc biệt, có ba GS, PGS đã được bổ nhiệm tại các cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài (Mỹ và Nhật Bản) nộp hồ sơ để được xét bổ nhiệm chức danh GS, PGS tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Dẫn đầu về số lượng người được công nhận đợt này là ngành y với 16 GS và 132 PGS, tiếp đến là ngành kinh tế, nông nghiệp, hóa học... Người ít tuổi nhất được công nhận GS là ông Võ Văn Hoàng, 45 tuổi (sinh ngày 5-11-1964), giảng viên khoa vật lý Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM). PGS trẻ nhất là ông Bùi Thế Duy, 31 tuổi (sinh ngày 9-5-1978), giảng viên tin học Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội).
Theo Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước, đợt xét công nhận chức danh GS, PGS năm 2009 là đợt xét dồn của cả hai năm 2008 và 2009, vì vậy số hồ sơ của ứng viên năm nay nhiều hơn những năm trước, với 1.167 hồ sơ; trong đó có 164 hồ sơ xin xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS và 1.003 hồ sơ xin xét đạt tiêu chuẩn chức danh PGS.
Kết quả xét ở 85 Hội đồng chức danh giáo sư cơ sở đã có 116 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS và 762 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh PGS đạt đủ số phiếu tín nhiệm theo quy định.
Lễ công bố quyết định và trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cho các GS, PGS sẽ được tổ chức vào sáng 20-11-2009 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).
NLĐ
Tiếng Anh bài 9. Dùng dấu phẩy
Tưởng rằng chuyện dùng dấu phẩy là đề tài của học sinh tiểu học, nhưng trong thực tế thì cách dùng dấu phẩy không đơn giản như chúng ta tưởng. Chả thế mà sách dạy tiếng Anh cho các nhà chuyên môn vẫn có một chương hay phần dài của chương sách để chỉ dẫn cách dùng dấu phẩy cho đúng.
Chẳng nói đâu xa, trong cái concept paper mà tôi có dịp bàn trước đây, tác giả có viết một câu mà tôi nghĩ rằng thiếu dấu phẩy: “Developments in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific.”
Vậy thì dấu phẩy nên được dùng trong trường hợp nào? Sau đây là những trường hợp cần đến dấu phẩy.
1. Tách rời một danh sách sự việc hay đối tượng:
John, Fred, and Frank. (Chú ý: có khi người ta không dùng đến dấu phẩy cho đối tượng sau cùng, như “John, Fred and Frank”).
He wrote paper articles, books, and short stories.
He went across the sidewalk, down the street, and into the bar.
2. Tách rời các mệnh đề trong một câu văn phức tạp được nối bằng những liên từ:
The professor invited his students to lunch, and most of them accepted the invitation.
I have not completed my experiment, yet I plan to do another one.
3. Tách biệt những thán từ (interjection):
Oh, I thought so.
Hello, I am glad to see you here.
I try so hard, alas, to do it
Yes, I will be pleased to discuss with you.
4. Để khởi đầu một câu văn mang tính bổ nghĩa (modifier). Những từ mang tính bổ nghĩa thông dụng là however, nevertheless, moreover, furthermore, therefore, on the other hand.
However, the relationship did not exist.
On the other hand, we found that the CFG gene was associated with increased risk of hypertension.
5. Để khởi đầu một nhóm từ tuyệt đối (absolute phrase). Những nhóm từ tuyệt đối là thường được cấu trúc bằng động tính từ (participle) hay đại danh từ như the sun having risen:
The river being cold, we did not go swimming.
It seems sensible, the weather being warm, to pack a lunch.
6. Để bắt đầu một mệnh đề trước một chủ từ:
During the long winter of 1881, the King suffered a sever illness.
(Câu này cũng có thể viết: In 1818, the King suffered a severe illness).
7. Để bắt đầu một thán từ trong một thứ tự bình thường như:
The university, old and respected, went broke.
The year of his graduation, 1950, was an eventful one.
8. Để tách rời hai điều tương phản nhau:
I want to see a doctor, not a lawyer.
She longed to find happiness, but found misery instead.
9. Để khởi đầu những yếu tố không có giới hạn:
His father, Mr. Smith, was ill
My friend, who is an engineer, is coming for a visit
10. Để tránh hiểu lầm:
During the summer, days become longer
(nếu viết During the summer days become longer thì người ta có thể hiểu summer days là một danh-tính-từ)
Soon after, the meeting was adjourned
(nếu không có dấu phẩy, người đọc có thể hiểu after the meeting)
Với những hướng dẫn trên, chúng ta có thể quay lại với câu văn của Học viện Ngoại giao và viết lại như sau:“Developments in and related to the South China Sea have, by and large, been consistent to …”. Nhưng câu văn đó nhiều sai sót về cách dùng từ mà tôi đã bàn trước đây.
NVT
Chẳng nói đâu xa, trong cái concept paper mà tôi có dịp bàn trước đây, tác giả có viết một câu mà tôi nghĩ rằng thiếu dấu phẩy: “Developments in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific.”
Vậy thì dấu phẩy nên được dùng trong trường hợp nào? Sau đây là những trường hợp cần đến dấu phẩy.
1. Tách rời một danh sách sự việc hay đối tượng:
John, Fred, and Frank. (Chú ý: có khi người ta không dùng đến dấu phẩy cho đối tượng sau cùng, như “John, Fred and Frank”).
He wrote paper articles, books, and short stories.
He went across the sidewalk, down the street, and into the bar.
2. Tách rời các mệnh đề trong một câu văn phức tạp được nối bằng những liên từ:
The professor invited his students to lunch, and most of them accepted the invitation.
I have not completed my experiment, yet I plan to do another one.
3. Tách biệt những thán từ (interjection):
Oh, I thought so.
Hello, I am glad to see you here.
I try so hard, alas, to do it
Yes, I will be pleased to discuss with you.
4. Để khởi đầu một câu văn mang tính bổ nghĩa (modifier). Những từ mang tính bổ nghĩa thông dụng là however, nevertheless, moreover, furthermore, therefore, on the other hand.
However, the relationship did not exist.
On the other hand, we found that the CFG gene was associated with increased risk of hypertension.
5. Để khởi đầu một nhóm từ tuyệt đối (absolute phrase). Những nhóm từ tuyệt đối là thường được cấu trúc bằng động tính từ (participle) hay đại danh từ như the sun having risen:
The river being cold, we did not go swimming.
It seems sensible, the weather being warm, to pack a lunch.
6. Để bắt đầu một mệnh đề trước một chủ từ:
During the long winter of 1881, the King suffered a sever illness.
(Câu này cũng có thể viết: In 1818, the King suffered a severe illness).
7. Để bắt đầu một thán từ trong một thứ tự bình thường như:
The university, old and respected, went broke.
The year of his graduation, 1950, was an eventful one.
8. Để tách rời hai điều tương phản nhau:
I want to see a doctor, not a lawyer.
She longed to find happiness, but found misery instead.
9. Để khởi đầu những yếu tố không có giới hạn:
His father, Mr. Smith, was ill
My friend, who is an engineer, is coming for a visit
10. Để tránh hiểu lầm:
During the summer, days become longer
(nếu viết During the summer days become longer thì người ta có thể hiểu summer days là một danh-tính-từ)
Soon after, the meeting was adjourned
(nếu không có dấu phẩy, người đọc có thể hiểu after the meeting)
Với những hướng dẫn trên, chúng ta có thể quay lại với câu văn của Học viện Ngoại giao và viết lại như sau:“Developments in and related to the South China Sea have, by and large, been consistent to …”. Nhưng câu văn đó nhiều sai sót về cách dùng từ mà tôi đã bàn trước đây.
NVT
Tuesday, November 17, 2009
Kết trái đơm bông
Hôm nay thấy PLoS Medicine mới công bố một công trình về sốt xuất huyết Dengue ở Thái Lan, Puerto Rico, và Mexico. Bài báo kết luận rằng bằng chứng về những dao động tỉ lệ phát sinh SXH Dengue và thời tiết là rất yếu. Nhưng có lẽ điều đáng học trong công trình này là phương pháp phân tích rất công phu.
Nói đến ảnh hưởng của thời tiết đến bệnh nhiệt đới loại này tôi chợt nhớ đến một công trình của "phe ta" mà tôi quên quảng cáo. Đó là bài báo về bài báo về xu hướng phát sinh bệnh dịch hạch và biến đổi thời tiết trong năm ở vùng Tây Nguyên. Bài này đã được công bố online trên tập san International Journal of Epidemiology. Hiện nay, tập san IJE này đứng vào hàng số 1 trên thế giới về lâm sàng dịch tễ học, với impact factor cao hơn cả tập san American Journal of Epidemiology. Do đó, được công bố trên tập san IJE cũng là một vinh hạnh vậy. Trong bài này, chúng tôi kết luận rằng các chỉ số như bọ chét, chuột, và lượng mưa có liên quan đến tỉ lệ phát sinh bệnh dịch hạch ở Tây Nguyên.
Sự ra đời của công trình này trên IJE là một nỗ lực "trầy da tróc vẩy" chứ chẳng chơi, và là một bài học về chuyện đương đầu với các tập san y khoa quốc tế. Khi bắt tay vào việc giúp cho BS Hậu và đồng nghiệp thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, tôi hoàn toàn chẳng để ý gì đến tình trạng dịch hạch ở VN vì trước đó tôi nghĩ bệnh này đã giải quyết dứt điểm rồi. Cũng mấy tháng trời phân tích, trao đổi qua lại bằng email, thảo luận này nọ, rồi cũng đến ngày nộp cho tập san. Lúc đó, tôi định chọn AJE, nhưng sợ tập san này không ưa nghiên cứu từ Việt Nam, nên tôi chọn IJE vì trước đây tôi từng công bố một công trình về chất độc da cam ở đây.
Sau mấy tháng bình duyệt, họ gửi về báo cáo bình duyệt của 3 chuyên gia, dài 6 trang! Đọc qua những phê bình của 3 chuyên gia này, tôi và Nguyên nhìn nhau ... lắc đầu, vì cơ hội được công bố trên IJE coi như zero. Một trong những phê bình là chúng tôi không xem xét đến các nghiên cứu của giới quân y Mĩ về dịch hạch tại Việt Nam trong quá khứ. Thế là chúng tôi phải tất tả qua thư viện UNSW tìm những bài nghiên cứu từ thập niên 1960s và 1970s mà quân y Mĩ đã từng làm. Đọc qua những gì họ làm trước đây (mà tôi chưa bao giờ biết được vì không quan tâm) tôi phải ngả nón kính cẩn tôn họ làm bậc thầy. Vào những năm cuối thập niên 1960s, dịch hạch bùng phát ở Tây Nguyên gây bệnh cho lính Mĩ. Chính phủ Mĩ quyết định gửi một phái đoàn quân y thuộc Trung tâm Quân y Walter Reed sang Việt Nam nghiên cứu. Tuy kĩ thuật nghiên cứu thời đó của họ rất thô sơ, nhưng những ghi chép của họ rất chi tiết, dữ liệu thu thập hết sức cẩn thận, và nhận xét thì rất chính xác. Đó là một tinh thần làm khoa học đáng lấy làm tấm gương cho thế hệ trẻ thời nay. Đọc qua những gì họ làm, chúng tôi mới nhận ra là những gì mình đang làm chỉ là kế thừa từ những gì họ làm trước đây mà thôi. Chỉ có cái mới là dữ liệu mới và phương pháp thì hoàn chỉnh hơn.
Nhưng chúng tôi quyết chí trả lời và giải quyết những vấn đề họ nêu. Gần 3 tháng sau, chúng tôi cũng giải quyết tất cả những vấn đề, và gửi lại bản thảo với những sửa đổi và thêm bớt. Phản hồi của chúng tôi dài đến 14 trang! Tôi mất đâu 2 kg cho cái phản hồi này, và tóc có thêm vài cọng bạc :-). Lại chờ thêm một tháng mới có tin vui: được chấp nhận cho công bố, nhưng vẫn phải sửa thêm vài đoạn văn theo yêu cầu của chuyên gia bình duyệt. Mừng quá. Tôi nói đùa với Hậu là đáng lẽ phải mở tiệc ăn mừng, vì được công bố trên IJE là cũng "ngon lành" lắm.
Thật ra, công trình này là một "kết trái đơm hoa" từ những khóa học hè về research methodology mà tôi đã làm từ 5 năm qua. Khóa học đầu tiên năm 2005 tôi và Hậu gặp nhau lần đầu. Khóa học đó, có người – hình như là Hậu – nói với tôi đại khái rằng những gì tôi nói rất khó nghe thậm chí chối tai, nhưng có điều không có ý xấu. Chắc vì thấy không có ý xấu, nên sau này, Hậu còn tham dự một vài khóa học hè khác nữa, và khi đã đủ "võ công", Hậu mới nghĩ đến chuyện công bố quốc tế. Đây là công trình đầu tiên của Hậu và đồng nghiệp ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên trên một tập san số 1 về dịch tễ học trên thế giới. Ông bà mình hay nói "vạn sự khởi đầu nan", và hi vọng rằng đây là viên gạch đầu tiên cho những đóng góp sau này để nâng cao sự có mặt của y học VN trên trường quốc tế.
NVT
Nói đến ảnh hưởng của thời tiết đến bệnh nhiệt đới loại này tôi chợt nhớ đến một công trình của "phe ta" mà tôi quên quảng cáo. Đó là bài báo về bài báo về xu hướng phát sinh bệnh dịch hạch và biến đổi thời tiết trong năm ở vùng Tây Nguyên. Bài này đã được công bố online trên tập san International Journal of Epidemiology. Hiện nay, tập san IJE này đứng vào hàng số 1 trên thế giới về lâm sàng dịch tễ học, với impact factor cao hơn cả tập san American Journal of Epidemiology. Do đó, được công bố trên tập san IJE cũng là một vinh hạnh vậy. Trong bài này, chúng tôi kết luận rằng các chỉ số như bọ chét, chuột, và lượng mưa có liên quan đến tỉ lệ phát sinh bệnh dịch hạch ở Tây Nguyên.
Sự ra đời của công trình này trên IJE là một nỗ lực "trầy da tróc vẩy" chứ chẳng chơi, và là một bài học về chuyện đương đầu với các tập san y khoa quốc tế. Khi bắt tay vào việc giúp cho BS Hậu và đồng nghiệp thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, tôi hoàn toàn chẳng để ý gì đến tình trạng dịch hạch ở VN vì trước đó tôi nghĩ bệnh này đã giải quyết dứt điểm rồi. Cũng mấy tháng trời phân tích, trao đổi qua lại bằng email, thảo luận này nọ, rồi cũng đến ngày nộp cho tập san. Lúc đó, tôi định chọn AJE, nhưng sợ tập san này không ưa nghiên cứu từ Việt Nam, nên tôi chọn IJE vì trước đây tôi từng công bố một công trình về chất độc da cam ở đây.
Sau mấy tháng bình duyệt, họ gửi về báo cáo bình duyệt của 3 chuyên gia, dài 6 trang! Đọc qua những phê bình của 3 chuyên gia này, tôi và Nguyên nhìn nhau ... lắc đầu, vì cơ hội được công bố trên IJE coi như zero. Một trong những phê bình là chúng tôi không xem xét đến các nghiên cứu của giới quân y Mĩ về dịch hạch tại Việt Nam trong quá khứ. Thế là chúng tôi phải tất tả qua thư viện UNSW tìm những bài nghiên cứu từ thập niên 1960s và 1970s mà quân y Mĩ đã từng làm. Đọc qua những gì họ làm trước đây (mà tôi chưa bao giờ biết được vì không quan tâm) tôi phải ngả nón kính cẩn tôn họ làm bậc thầy. Vào những năm cuối thập niên 1960s, dịch hạch bùng phát ở Tây Nguyên gây bệnh cho lính Mĩ. Chính phủ Mĩ quyết định gửi một phái đoàn quân y thuộc Trung tâm Quân y Walter Reed sang Việt Nam nghiên cứu. Tuy kĩ thuật nghiên cứu thời đó của họ rất thô sơ, nhưng những ghi chép của họ rất chi tiết, dữ liệu thu thập hết sức cẩn thận, và nhận xét thì rất chính xác. Đó là một tinh thần làm khoa học đáng lấy làm tấm gương cho thế hệ trẻ thời nay. Đọc qua những gì họ làm, chúng tôi mới nhận ra là những gì mình đang làm chỉ là kế thừa từ những gì họ làm trước đây mà thôi. Chỉ có cái mới là dữ liệu mới và phương pháp thì hoàn chỉnh hơn.
Nhưng chúng tôi quyết chí trả lời và giải quyết những vấn đề họ nêu. Gần 3 tháng sau, chúng tôi cũng giải quyết tất cả những vấn đề, và gửi lại bản thảo với những sửa đổi và thêm bớt. Phản hồi của chúng tôi dài đến 14 trang! Tôi mất đâu 2 kg cho cái phản hồi này, và tóc có thêm vài cọng bạc :-). Lại chờ thêm một tháng mới có tin vui: được chấp nhận cho công bố, nhưng vẫn phải sửa thêm vài đoạn văn theo yêu cầu của chuyên gia bình duyệt. Mừng quá. Tôi nói đùa với Hậu là đáng lẽ phải mở tiệc ăn mừng, vì được công bố trên IJE là cũng "ngon lành" lắm.
Thật ra, công trình này là một "kết trái đơm hoa" từ những khóa học hè về research methodology mà tôi đã làm từ 5 năm qua. Khóa học đầu tiên năm 2005 tôi và Hậu gặp nhau lần đầu. Khóa học đó, có người – hình như là Hậu – nói với tôi đại khái rằng những gì tôi nói rất khó nghe thậm chí chối tai, nhưng có điều không có ý xấu. Chắc vì thấy không có ý xấu, nên sau này, Hậu còn tham dự một vài khóa học hè khác nữa, và khi đã đủ "võ công", Hậu mới nghĩ đến chuyện công bố quốc tế. Đây là công trình đầu tiên của Hậu và đồng nghiệp ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên trên một tập san số 1 về dịch tễ học trên thế giới. Ông bà mình hay nói "vạn sự khởi đầu nan", và hi vọng rằng đây là viên gạch đầu tiên cho những đóng góp sau này để nâng cao sự có mặt của y học VN trên trường quốc tế.
NVT
Subscribe to:
Posts (Atom)
