Friday, November 6, 2009
Chìm trong biển lũ: Trách nhiệm thuộc về ai?
Sáng nay, nhận được email của một đứa cháu báo tin bà con tôi ở ngoài Bình Định (Tuy Phước) đang đang rất khổ sở với cơn bão số 11 vừa qua. Nó viết “Nhà dì hai bị ngập rất cao, nha anh M, nha anh B cũng chìm trong biển lũ. Cuộc sống rất khó khăn. Mất mác rất nhiều. Hiện dì hai phải đi ở nơi tập trung của Nhà nước và ăn uống thì bữa có bữa không.” Những khó khăn và mất mát đó tuy lớn, nhưng có thấm gì so với hơn 100 mạng sống con người bị bão lụt cướp đi một cách đột ngột.
Thoạt đầu tôi cứ tưởng thảm họa vừa qua ở quê nội ngoại tôi là do trận bão vừa qua, nhưng đọc kĩ tin trên báo thì không phải vậy. Thật vậy, bài báo trên Tuổi Trẻ, với lời phát biểu của ông Võ Văn Tri, tổng giám đốc Công ty cổ phần thủy điện Sông Ba Hạ, thì mới thấy thảm họa vừa qua là do con người, cụ thể hơn là do quan chức Nhà nước thiếu trách nhiệm. Xin trích một câu:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/PrintView.aspx?ArticleID=346129&ChannelID=3
“Nhiều chuyên gia cho rằng công trình thủy điện Sông Ba Hạ không hoàn thành nhiệm vụ là điều tiết lũ, cắt lũ đối với hạ lưu?
- Nhận định đó là đúng. Chúng tôi cũng biết rõ điều đó ngay từ khi xây dựng công trình này. Làm sao cắt lũ, điều tiết lũ được khi dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Ba Hạ chỉ 349,7 triệu m3. Ngay từ lúc khảo sát, bên tư vấn đã đặt vấn đề dung tích hồ phải chứa được 1 tỉ m3 nước, ít nhất phải 800-850 triệu m3. Nhưng vấp phải sự phản ứng từ tỉnh Gia Lai ở phía trên. Để tích được 1 tỉ m3 nước thì thêm một phần lớn diện tích đất sản xuất của huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai ngập trong lòng hồ.
Nói thẳng ra, ngay từ đầu chúng ta thiếu một nhạc trưởng để điều hành thủy điện bậc thang trên sông Ba. Nhà máy nằm trên đất Phú Yên mà lòng hồ chiếm quá nhiều diện tích trên đất Gia Lai. Họ phản đối và giải pháp xây hồ chứa nước quá nhỏ như hiện tại là sự lựa chọn cuối cùng. Đó là giải pháp bất đắc dĩ. Tôi thừa nhận thủy điện Sông Ba Hạ không thể làm được nhiệm vụ cắt lũ, điều tiết lũ đối với hạ lưu.
Hơn nữa, ngay cả các nhà máy thủy điện trên sông Ba hiện vẫn chưa có sự phối hợp với nhau. Trên sông Ba hiện có chín công trình thủy điện, đã có năm nhà máy chính thức hoạt động. Chưa bao giờ chúng tôi nhận được thông báo về kế hoạch xả lũ của họ. Hồ chứa nước của thủy điện Sông Ba Hạ là hồ chứa nước cuối cùng của các công trình bậc thang, trong khi nó quá nhỏ để tích nước cắt lũ mà phía trên thì họ có thể xả bất cứ lúc nào.
* Như vậy, chuyện xả lũ khủng khiếp của thủy điện Sông Ba Hạ trong hai ngày 2 và 3-11 đã làm Phú Yên chìm trong biển nước là tất yếu?
- Sáng 3-11, lũ đổ về quá nhanh, chúng tôi xả lũ 8.000m3/giây, đến trưa đã xả 10.000m3/giây. 18g ngày 3-11, lũ đổ về lòng hồ quá lớn và nhà máy quyết định xả 14.450m3/giây, kéo dài suốt tám giờ. Đến chiều 4-11, vẫn đang xả 9.000m3/giây. Việc xả lũ trong tình hình những ngày vừa qua là giải pháp buộc lựa chọn, bởi đó là cách duy nhất để đảm bảo an toàn, nếu không làm thế chắc chắn thảm họa sẽ khủng khiếp hơn nhiều đối với hàng vạn người dân ở hạ lưu. Nhìn hàng ngàn bà con bị ngập lụt tôi cũng xót xa lắm chứ, nhưng không còn cách nào khác.
Trong khả năng của mình, chúng tôi luôn phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, kịp thời thông báo về diễn biến xả lũ để chính quyền di dời dân trong các trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, hàng ngàn nhà dân chìm trong lũ như những ngày qua là bất khả kháng.”
Đáng lẽ ông phải nói thêm là “hàng trăm người chết” mới đầy đủ hơn, chứ “hàng ngàn nhà dân chìm trong lũ” thì đâu có đủ!
Tôi không thể tin vào mắt tin khi đọc những dòng chữ trên. (Tiếng Anh gọi là “speechless” -- không thể nói thành lời).
Hóa ra, tình trạng ngập lụt gây cho hàng trăm con người chết là do mấy cái đập thủy điện xả nước, tại con người. Cứ như lời của ông giám đốc thì nguyên nhân sâu xa hơn có lẽ là từ lúc thiết kế và xây dựng mấy cái đậo thủy chết người đó. Như vậy là yếu tố trình độ kĩ thuật và nhận thức. Mà, hai yếu tố này là sản phẩm của giáo dục và tinh thần trách nhiệm. Cũng tại nền giáo dục chúng ta sản xuất ra những chuyên gia như thế và với tinh thần vô hay thiếu trách nhiệm mới ra nông nỗi này. Gây ra cái chết cho một người đã là tội nghiệm trọng, đi tù như bỡn. Gây ra cái chết cho hàng trăm người dân là tội gì? Tôi không biết ở Việt Nam gọi tội đó là gì, nhưng ở bên này người ta có một tội danh rất nặng có chữ “mass”. Nhưng ở Việt Nam thì chẳng thấy ai nhận lãnh trách nhiệm này, chỉ thấy nói đến “khắc phục” mà chẳng biết khắc phục ra sao. Sự việc theo thời gian rồi chắc cũng qua đi như bao vụ việc nghiêm trọng khác, nhưng đối với hàng trăm gia đình có thân nhân chết thì khó mà quên được.
NVT
Thursday, November 5, 2009
Suy luận theo qui tắc tam suất
Đọc trên bauxitevn.net thấy có bài “Đại học về làng” của Hà Văn Thịnh, trong đó tác giả có đề cập đến câu nói của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng 377 trường ĐH, CĐ là quá nhiều nên nếu muốn kiểm tra, mỗi trường mất 2 tuần thì phải mất đến 20 năm mới kiểm tra hết.” Tôi ngạc nhiên khi thấy ông bộ trưởng làm cách tính này! Khó mà tưởng tượng nổi đây là cách nói của một ngài bộ trưởng với trình độ tiến sĩ và [hình như có] mang hàm giáo sư.
Cách tính toán của ông Bộ trưởng còn có tên là “qui tắc tam suất” mà tôi nghĩ ai học toán thời tiểu học cũng đều biết qua. Dù chỉ là phương pháp cấp tiểu học, nhưng nó được sử dụng rất phổ biến trên mặt báo để gây ấn tượng. Cách đây vài tháng, một nhà kinh tế (người Hàn Quốc) tính toán rằng với đà phát triển kinh tế hiện nay Việt Nam cần đến 197 năm để bắt kịp Singapore. Ước tính dễ gây sốc này quả thật thu hút sự chú ý của giới báo chí (*).
Nhưng ít ai biết rằng đó là cách tính trẻ con, một cách ngụy biện cho vui, chứ những ai làm khoa học nghiêm chỉnh (hay chỉ cần chịu khó suy nghĩ một chút) thì cách suy luận theo qui tắc tam suất đó rất sai lầm. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: cách suy luận đó sai ở chỗ nào? Có ít nhất là 3 sai lầm hiển nhiên:
Sai lầm thứ nhất là cách tính đó giả định rằng có một mối liên hệ tuyến tính (đường thẳng) giữa hai biến, như biến thời gian kiểm tra chất lượng (gọi tắt là T) và số trường đại học (gọi tắt là N). Khi nói cần đến 2 tuần để kiểm tra một trường, thì cũng có nghĩa là cái thông số gradient của phương trình này là 14 ngày. Nói cách khác, phương trình của mối liên hệ giữa T và N là:
T = 14N.
Nhưng trong thực tế thì làm gì có mối liên hệ tuyến tính đơn giản như thế! Có thể lần đầu kiểm tra một trường, thời gian cần thiết là 14 ngày, nhưng dần dần với kinh nghiệm tích lũy, cách làm chỉnh chu hơn, qui trình thuần thục hơn, thì thời gian để kiểm tra một trường sẽ giảm dần, đến một mức “plateau” nào đó (chẳng hạn như 1 tuần). Nói cách khác, mối liên hệ giữa T và N chắc chắn không tuân theo qui luật đường thẳng, và do đó, cách ước tính đơn giản như qui tắc tam suất cũng sai.
Sai lầm thứ hai là giả định bắt đầu bằng 0. Phương trình trên có nghĩa là T = a + bN, (a là hằng số intercept) và trong phát biểu trên hàm ý cho rằng a = 0 và b = 14 . Nói cách khác, nếu không có trường nào thì thời gian kiểm tra T là 0. Nhưng điều này không đúng, vì trong thực tế thì Việt Nam có nhiều trường, hay nói cho chính xác hơn là, quá nhiều trường. Do đó, a không thể là 0 được. Và, vì a khác với 0, nên lấy T/N không thể là một cách tính đúng được (vì loại bỏ a).
Sai lầm thứ ba là không xem đến những sai số và dao động chung quanh hai thông số a và b. Bởi vì b chắc chắn khác nhau giữa các trường (như trường lớn thì cần nhiều thời gian hơn trường nhỏ) và thay đổi theo thời gian (càng làm càng học hỏi thêm), cho nên giả định rằng b = 14 là không thể đứng vững được.
Nói chung, rất nhiều vấn đề trong thực tế không thể mô hình hóa bằng những cách tính cấp tiểu học, và càng không thể qui chiếu bằng chủ nghĩa trung bình. Do đó, những suy luận như cách nói của ngài bộ trưởng và ông kinh tế gia Hàn Quốc kia không thể xem là chuẩn mực khoa học được. Đã không chuẩn mực khoa học thì có lẽ cũng nên xem đó là những lời nói “mua vui cũng được một vài trống canh” (y như entry này vậy).
NVT
(*) Một cách dễ gây sốc khác là phát biểu kiểu “mỗi phút có 10 người chết vì tai nạn xe cộ”. Phát biểu này dựa vào con số tử vong tai nạn xe cộ mỗi năm là 5,256,000 (chỉ ví dụ thôi). Bởi vì mỗi năm có 365 x 24 x 60 = 52,600 phút, cho nên mỗi phút có 10 người chết. Cách tính thì chẳng có gì sai, nhưng giả định thì có vấn đề. Cái giả định đằng sau cách tính này là con số tử vong tai nạn xảy ra một cách đồng bộ (uniform) từng phút. Nhưng trong thực tế thì con số tai nạn giao thông và tử vong tuân theo luật phân phối Poisson, cho nên cách lấy tổng số chia cho thời gian, đứng trên mặt khoa học, là sai lầm.
Cách tính toán của ông Bộ trưởng còn có tên là “qui tắc tam suất” mà tôi nghĩ ai học toán thời tiểu học cũng đều biết qua. Dù chỉ là phương pháp cấp tiểu học, nhưng nó được sử dụng rất phổ biến trên mặt báo để gây ấn tượng. Cách đây vài tháng, một nhà kinh tế (người Hàn Quốc) tính toán rằng với đà phát triển kinh tế hiện nay Việt Nam cần đến 197 năm để bắt kịp Singapore. Ước tính dễ gây sốc này quả thật thu hút sự chú ý của giới báo chí (*).
Nhưng ít ai biết rằng đó là cách tính trẻ con, một cách ngụy biện cho vui, chứ những ai làm khoa học nghiêm chỉnh (hay chỉ cần chịu khó suy nghĩ một chút) thì cách suy luận theo qui tắc tam suất đó rất sai lầm. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: cách suy luận đó sai ở chỗ nào? Có ít nhất là 3 sai lầm hiển nhiên:
Sai lầm thứ nhất là cách tính đó giả định rằng có một mối liên hệ tuyến tính (đường thẳng) giữa hai biến, như biến thời gian kiểm tra chất lượng (gọi tắt là T) và số trường đại học (gọi tắt là N). Khi nói cần đến 2 tuần để kiểm tra một trường, thì cũng có nghĩa là cái thông số gradient của phương trình này là 14 ngày. Nói cách khác, phương trình của mối liên hệ giữa T và N là:
T = 14N.
Nhưng trong thực tế thì làm gì có mối liên hệ tuyến tính đơn giản như thế! Có thể lần đầu kiểm tra một trường, thời gian cần thiết là 14 ngày, nhưng dần dần với kinh nghiệm tích lũy, cách làm chỉnh chu hơn, qui trình thuần thục hơn, thì thời gian để kiểm tra một trường sẽ giảm dần, đến một mức “plateau” nào đó (chẳng hạn như 1 tuần). Nói cách khác, mối liên hệ giữa T và N chắc chắn không tuân theo qui luật đường thẳng, và do đó, cách ước tính đơn giản như qui tắc tam suất cũng sai.
Sai lầm thứ hai là giả định bắt đầu bằng 0. Phương trình trên có nghĩa là T = a + bN, (a là hằng số intercept) và trong phát biểu trên hàm ý cho rằng a = 0 và b = 14 . Nói cách khác, nếu không có trường nào thì thời gian kiểm tra T là 0. Nhưng điều này không đúng, vì trong thực tế thì Việt Nam có nhiều trường, hay nói cho chính xác hơn là, quá nhiều trường. Do đó, a không thể là 0 được. Và, vì a khác với 0, nên lấy T/N không thể là một cách tính đúng được (vì loại bỏ a).
Sai lầm thứ ba là không xem đến những sai số và dao động chung quanh hai thông số a và b. Bởi vì b chắc chắn khác nhau giữa các trường (như trường lớn thì cần nhiều thời gian hơn trường nhỏ) và thay đổi theo thời gian (càng làm càng học hỏi thêm), cho nên giả định rằng b = 14 là không thể đứng vững được.
Nói chung, rất nhiều vấn đề trong thực tế không thể mô hình hóa bằng những cách tính cấp tiểu học, và càng không thể qui chiếu bằng chủ nghĩa trung bình. Do đó, những suy luận như cách nói của ngài bộ trưởng và ông kinh tế gia Hàn Quốc kia không thể xem là chuẩn mực khoa học được. Đã không chuẩn mực khoa học thì có lẽ cũng nên xem đó là những lời nói “mua vui cũng được một vài trống canh” (y như entry này vậy).
NVT
(*) Một cách dễ gây sốc khác là phát biểu kiểu “mỗi phút có 10 người chết vì tai nạn xe cộ”. Phát biểu này dựa vào con số tử vong tai nạn xe cộ mỗi năm là 5,256,000 (chỉ ví dụ thôi). Bởi vì mỗi năm có 365 x 24 x 60 = 52,600 phút, cho nên mỗi phút có 10 người chết. Cách tính thì chẳng có gì sai, nhưng giả định thì có vấn đề. Cái giả định đằng sau cách tính này là con số tử vong tai nạn xảy ra một cách đồng bộ (uniform) từng phút. Nhưng trong thực tế thì con số tai nạn giao thông và tử vong tuân theo luật phân phối Poisson, cho nên cách lấy tổng số chia cho thời gian, đứng trên mặt khoa học, là sai lầm.
Wednesday, November 4, 2009
Vài hình ảnh kỉ niệm chuyến đi Saudi Arabia
Tôi đã soạn ra một số hình chụp nhân chuyến đi công tác bên Saudi Arabia qua Singapore. Hôm nay tôi tải lên vài hình để xem như là một vài kỉ niệm của một chuyến đi rất đáng nhớ. Tôi đã viết vài trang nhật kí và suy nghĩ về chuyến đi này, và đây chỉ là vài nhật kí ảnh để minh họa thêm.
Phi trường Changi. Đây là phi trường Singapore (Terminal 3) mới xây xong để cạnh tranh với phi trường Bangkok và Hồng Kông. Nhìn toàn cảnh rất khó nghĩ đây là phi trường mà như là một siêu thị hay shopping mall vậy. Đủ thứ hàng quán, từ bình dân đến sang trọng đều có ở đây. Họ còn có cả khách sạn cho khách nghỉ qua đêm nữa!
Đường phố xanh. Chuyến đi với hãng Singapore Airlines, nên phải quá cảnh và ở Sinagpore một ngày. Sau gần chục năm quay lại Singapore, tôi thấy quốc đảo này càng đẹp hơn. Đây là con đường từ phi trường vào trung tâm thành phố, hai bên đường trồng hoa rất bắt mắt! Ước gì Việt Nam mình có một con đường như vậy.
Màu mè. Đây là một building ở trung tâm Singapore, cách khách sạn Carlton tôi ở chỉ vài con đường. Building xây theo kến trúc Tây phương, không lớn lắm, nhưng ... màu mè.
Đường vào Jeddah. Đường từ phi trường Jeddah vào trung tâm thành phố. Trông qua thì cũng sạch sẽ, nhưng có nhều con đường trung tâm thành phố rất xấu và dơ bẩn (y như Việt Nam vậy).
Dừng lại đó! Trước khi vào khách sạn phải qua cái barrier này. Cảnh sát hay nhân viên an ninh có cái lôcốt bên trái, họ nhấn nút thì barrier nổi lên, nhấn nút khác thì barrier "lặn xuống" mặt đường. Họ làm giống như phim James Bond 007 vậy!
Khám xét. Cảnh sát hay nhân viên an ninh (có đeo súng) đến khám xe. Thật ra, họ chỉ xem cái "cốp" xe thôi, rồi nhìn vào xe xem có gì nghi ngờ không. Thủ tục này tốn không đầy 1 phút, sau đó anh chàng này ra hiệu cho người ngồi trong locốt bấm nút cho cái barrier trên "lặn" xuống để xe vào cổng khách sạn. Nhìn hình này làm tôi nhớ đến những năm trước 1975 khi đi xe đò phải qua khám xét.
Đường vào ... khách sạn có trăm lần vuicó vạn lần buồn! (xin lỗi, tự nhiên vô duyên nhớ đến bài hát đó khi nhìn hình này). Qua cái barrier là con đường đẹp dẫn vào đại sảnh của khách sạn. Đường được trồng cây hai bên rất đẹp và rất Arab. Phía bên tay mặt là hồ bơi và phương tiện resort. Sáng nào tôi cũng ra đây bơi lội thoải mái. :-)
Scan. Đến khách sạn, khách còn phải đưa hành lí vào cái máy scan này. Thật ra, cái máy này nghe nói còn hiện đại hơn cả máy ngoài phi trường!

Thức ăn tràn trề. Ngay cả giờ giải lao mà cũng ăn uống, và thức ăn thì ôi thôi quá nhiều. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy món nào ăn được cả; chỉ chọn cơm và rau cho ... chắc ăn.
Thăm thư viện. Trung tâm này chỉ có 29 người (tương lai có thể lên đến 100), nhưng thư viện của họ chắc còn ngon lành hơn cả thư viện Trường Đại học Y dược TPHCM. Hầu như các tập san y khoa lớn họ đều có trong thư viện. Ngay cả Nature mà họ còn đặt mua, đủ thấy họ nhìn xa cỡ nào!
Nhìn cái thư viện chỉ cho 29 con người tại trung tâm này làm tôi thấy thương các em sinh viên trường Đại học Y dược TPHCM quá. Thư viện của người ta nhiều sách, sạch sẽ, sang trọng, tiện nghi, còn thư viện của một trường cho hơn 1000 con người thì ít sách, dơ bẩn, nhếch nhác và bất tiện. Ôi, ngày nào ta khá lên ?
Gặp sếp lớn. Diện kiến ngài phó hiệu trưởng (người ngồi phía tay phải, đang thả chân ra). Phòng làm việc của ông này còn lớn hơn cả phòng của thủ tướng Úc!
Chụp hình lưu niệm. Những người không mặc áo thụng là thành viên của đoàn thanh tra của chúng tôi. Nhìn hình này đôi khi tôi mỉm cười một mình, vì tôi bị bao quanh bởi với mấy ông khổng lồ và tôi là người Á châu duy nhất trong hình.
Hóng mát. Người dân địa phương dạo mát bên bờ biển. Ngay cả buổi chiều mà nhiệt độ cũng ở mức 35-40 độ C. Chú ý phụ nữ phải trùm từ đầu xuống chân, nhìn xa xa cứ như là những ... bóng ma. Nhìn mấy hình này và đối chiếu lại những phụ nữ Việt Nam ăn mặt mát mẻ tôi thấy tội nghiệp cho phụ nữ Arab quá!
Chợ đêm. Chợ búa ở đây cũng chẳng khác gì chợ ở Việt Nam, tức là cũng chật chội, ồn ào, dơ dấy, hôi thúi, và ... nói thách giá. Nhưng có cái khác là chợ Việt Nam có nhiều hàng quán ăn uống, còn ở đây họ chỉ chủ yếu bán vải và hàng gia dụng.
Ăn tối. Buổi ăn tối đêm cuối cùng trước khi lên máy bay rời Saudi Arabia. Đêm đó tôi nói nhiều về Việt Nam. Hình chụp lúc tôi đang "quảng cáo" về Việt Nam để cho họ đến du lịch. Họ có vẻ lắng nghe tôi rất kĩ và tỏ ý mốn đến Việt Nam một lần cho biết.
Xem thêm:
Thức ăn tràn trề. Ngay cả giờ giải lao mà cũng ăn uống, và thức ăn thì ôi thôi quá nhiều. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy món nào ăn được cả; chỉ chọn cơm và rau cho ... chắc ăn.
Xem thêm:
Tuesday, November 3, 2009
Tin buồn: Tác giả Văn Ngọc qua đời
Đêm qua, tôi nhận được một hung tin: anh Phạm Ngọc Tới, bút danh Văn Ngọc, mới qua đời. Anh thọ 75 tuổi.
Anh Tới -- tôi vẫn quen gọi như thế -- là một kiến trúc sư, nhưng còn là một tác giả tài hoa, một nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo, một cây viết chủ lực trong nhóm Diễn Đàn bên Pháp. Mới tuần trước (27/10) khi nghe tin website Tia Sáng bị đóng cửa, anh còn email hỏi tôi có tin tức gì chia sẻ với anh ấy, vì anh cũng là một cộng tác viên thân thiết cho Tia Sáng. Sự ra đi đột ngột của anh làm cho nhiều anh chị em quen biết anh đều ngỡ ngàng và rất thương tiếc.
Anh Tới là người sinh ra ở Hà Nội, nhưng sang Pháp du học từ năm 15 tuổi. Anh tốt nghiệp ngành kiến trúc thuộc Trường cao đẳng mĩ thuật Paris năm 1964. Trong thời gian làm việc như là một kiến trúc sư, anh còn tham gia các phong trào Việt kiều đấu tranh chống chiến tranh ở Việt Nam, và viết báo. Theo Diễn Đàn, anh từng viết cho báo Tìm Hiểu, Liên Hiệp, Trí Thức, Đoàn Kết, và sau này là một trong những người sáng lập báo Diễn Đàn ở Paris. Anh viết nhiều bài bình luận về nghệ thuật, kiến trúc, và hội họa rất hay. Năm 2004, anh cho xuất bản cuốn Đi trong thế giới hội họa và gửi tôi một cuốn làm kỉ niệm. Lúc đó chúng tôi chưa gặp nhau ngoài đời mà chỉ qua email thôi. Vốn ái mộ anh từ lâu, tôi đọc một mạch cuốn sách và có viết bài điểm sách (bản ngắn đăng trên Tuổi Trẻ).
Như tôi nói, tôi có cơ duyên quen biết anh qua email cũng gần chục năm nay. Năm 2005, trong chuyến đi công tác bên Ý, tôi có dịp tạt qua Paris ghé thăm bạn bè và các anh chị trong Diễn Đàn. Hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra một quán ăn mà người Việt mình ở đó gọi là “Quán Cụ Hồ” vì có treo ảnh của ông cụ (và tôi có chụp một tấm dưới bức ảnh đó). Đó là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Tới và chị Uyên (phu nhân anh, xem hình). Lần đầu tiên gặp anh tôi thấy mến ngay. Đó là một người thuộc thế hệ đàn anh rất rất Hà Nội (Hà Nội thời xưa, chứ không phải Hà Nội thời nay): lịch sự, nhẹ nhàng, và tinh tế. Nói chung đó là một con người với phong cách rất nho nhã. Tôi có cảm giác câu nói nào hay một câu văn nào (ngay cả trong emai) của anh cũng đều có suy nghĩ cẩn thận, đều có một ý nghĩa đáng suy nghĩ. Do đó, anh được lòng mọi người. Ai cũng mến anh. Có thể nói không ngoa rằng trong có những khi cái tính Nam kì sôi nổi của tôi trỗi dậy, tôi nhớ đến cách hành xử của anh Tới và thấy mình như trầm tĩnh hơn. Cách viết, cách suy nghĩ, và cách hành xử của anh là một bài học ở đời đối với tôi.

Nay thì anh đã đột ngột ra đi! Tôi chỉ muốn mượn entry này để có vài dòng tưởng nhớ đến một người đàn anh mà tôi rất kính trọng. Xin thành thật chia buồn cùng chị Uyên và gia đình.
NVT
====
Đi trong thế giới hội họa (*) của Văn Ngọc
Nguyễn Văn Tuấn
Có nhiều người cho rằng người Việt là một dân tộc thơ. Có nhiều cơ sở để biện minh cho nhận xét này, kể cả một sự thật đơn giản là bất cứ người Việt nào cũng thuộc lòng dăm ba bài thơ, cũng có thể làm một bài thơ không mấy khó khăn, hay ngay cả có thể ứng khẩu bằng thơ. Thế nhưng, khi đến với hội họa, phần lớn người Việt chúng ta đều … có vấn đề. Trong khi hầu như bất cứ ai trong chúng ta cũng có khả năng bình luận về cái hay, cái đẹp của một vần thơ, nhưng khi đứng trước một tác phẩm hội họa, hay ngay cả trước một bức tranh dân gian, chúng ta đôi khi không phân tích được cái đẹp, không lí giải được cái “thần”, thậm chí không hiểu nội dung và ý nghĩa của tác phẩm là gì. Một trong những nguyên nhân của tình trạng nghèo nàn này, theo tôi, là sự thiếu thốn về giáo dục thẩm mĩ trong nhà trường phổ thông, và nhất là thiếu những sách về chủ đề này. Nhưng sự thiếu thốn này vừa mới được bù đắp bằng cuốn Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc vừa do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.

Đi trong thế giới hội họa không phải là sách giáo khoa, cũng không phải là một công trình phê bình hội họa, mà là tập hợp 23 bài viết về các khía cạnh phân tích và lí luận của nghệ thuật. Phần lớn những bài viết này đã được đăng rải rác trên một số tạp chí trong và ngoài nước từ khoảng 10 năm qua. Theo tôi, cuốn sách còn thể hiện cái nhìn thế giới của tác giả về những thời đại hội họa và nghệ thuật được xây dựng trên toàn cục dữ kiện đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc Tây và Đông phương. Do đó, cuốn sách rất thích hợp cho những ai muốn tìm hiểu về hội họa và những mô hình thẩm mĩ của ứng xử tạo hình, được gói ghém và bộc lộ ở dạng biểu trưng.
Như tựa đề ngụ ý hứa hẹn, qua 23 bài viết, tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt hành trình hội họa từ cổ chí kim. Và, sau khi qua cuộc hành trình chữ nghĩa này, người đọc sẽ thu nhận một số kiến thức căn bản về giáo dục thẩm mĩ để có thể thẩm định và phân tích cái đẹp trong hội họa. Sau khi điểm qua các vấn đề chung (như thời điểm khởi nguyên của hội họa, các vấn đề lí luận nghệ thuật và ý niệm thẩm mĩ, các khía cạnh màu sắc, nhịp điệu và ngôn ngữ tạo hình, v.v…), tác giả bàn qua những thể loại, trường phái hội họa Tây phương và hội họa dân gian Đông phương, kể cả hội họa truyền thống ở Việt Nam, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, và Úc (thổ dân). Qua 6 chương liền, bạn đọc sẽ được “dừng chân” để xem qua quá trình phát triển hội họa của Việt Nam từ tranh dân gian đến hội họa hiện đại chịu ảnh hưởng Tây phương.
Hội họa có một lịch sử lâu đời. Nói đến cái thời điểm khởi sinh của hội họa, chúng ta thường nghĩ nó được ra đời cách đây khoảng 17.000 năm ở Lascaux, vì giới khảo cổ học từng cho chúng ta biết như thế. Thế nhưng, qua Đi trong thế giới hội họa, chúng ta phải xét lại nhận thức đó, bởi vì một phát hiện mới đây cho thấy cội nguồn của hội họa được bắt đầu từ hang động Chauvet (gần Port-d’Arc Ardèche) vào khoảng 32.000 năm về trước. Không thấy tác giả bàn về cội nguồn hội họa Việt Nam trong sách. Tuy nhiên, phát hiện ở Chauvet cho thấy hội họa tại đây có niên đại cao hơn nhiều so với những hình người trên vách đá tìm thấy ở hang Đồng Nội (Hòa Bình) cách đây khoảng 12.000 năm vẫn được xem là thời điểm đầu tiên trong hội họa Đông Nam Á và nước ta.
Bàn về hội họa tất nhiên phải bàn đến cái đẹp. Bạn đọc sẽ không thất vọng với cuốn sách này, vì tác giả bỏ ra khá nhiều trang giấy để phân tích thế nào là đẹp trong hội họa. Tác giả trích dẫn một câu nói nổi tiếng của Kant, “Cái đẹp không có qui luật, một khi nó đã có những tiêu chuẩn qui định nó một cách rõ ràng rồi, thì không còn cái đẹp nữa” (trang 49). Nhưng trong thực tế, cái đẹp – dù không có một qui định cụ thể nào, dù không được cân đo đong đếm bằng khoa học – cũng có những ước lệ chung chung. Những ước lệ này thường dựa trên những hình khối cân đối, những cái mà tác giả gọi là thức, là nhịp điệu trong tạo hình, là nội dung. Tác giả cho biết theo quan niệm cổ điển, “Cái đẹp không chỉ nằm trong hình thức, mà nằm ngay trong cái nội dung thật có tính chuẩn mực, hoặc tính chất đạo lí, hay triết lí” (trang 53). Câu nói này làm tôi nhớ đến câu nói danh tiếng của Anatole France trong La Vie Littéraire, “Không có sự thật, mà chỉ có cái đẹp,” hay John Keats trong Ode on a Grecian Urn, “Cái đẹp là sự thật.” Nhưng vấn đề còn rắc rối hơn nữa: cái đẹp còn tùy theo trường phái hội họa. Chẳng hạn như trường phái Trừu trượng nhìn cái đẹp trực tiếp, những diễn đạt nó bằng một ngôn ngữ trừu tượng. Như vậy cái đẹp còn là một hàm số của lí thuyết nghệ thuật nữa. Tác giả tóm tắt ý này một cách súc tích: “Cái đẹp không phải là cái đẹp (hay cái xấu) nằm ở trong bản thân khuôn mặt thật, hay quả táo thật, được lấy làm mẫu, mà nằm trong cách nhìn nó và thể hiện nó lên tranh của người họa sĩ, với một quan niệm nghệ thuật nhất định” (trang 56).
Tiếp theo 2 bài bàn về các khía cạnh lí luận hội họa và mĩ thuật, tác giả đi vào chi tiết về màu sắc và nhịp điệu trong hội họa (2 bài), và dành ra 3 bài viết về trường phái lập thể, hiện thực và trừu tượng. Tiêu biểu cho trường phái lập thể là Picasso và Cézanne, hai người cho rằng một tác phẩm hội họa không chỉ phản ánh những gì con người thật sự thấy được chứ không phải những gì con người tin là mình đã thấy như thế. Quan niệm về thẩm mĩ của trường phái này, nói như Picasso, là cái đẹp và sự thật hoàn toàn đều do con người sáng tạo ra, chứ không hẳn phải có trong thiên nhiên. Những người theo trường phái hiện thực, như tên gọi ám chỉ, cho rằng hội họa có mục đích nhận thức và diễn đạt hiện thực, lấy ý tưởng chân, thiện, mĩ của Plato làm nguyên lí chỉ đạo. Còn trường phái trừu tượng? Nói theo Kandinsky, qua lời kể của tác giả, cái đẹp có thể tồn tại độc lập với đối tượng, và độc lập với nội dung hiện thực của bức tranh.
Những bài viết về hội họa Việt Nam trong sách, theo tôi, là một phần rất lí thú và bổ ích cho những ai muốn có một cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của hội họa Việt Nam. Chúng ta được biết Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông dương do người Pháp lập ra ở Hà Nội lúc đầu không có mục đích đào tạo nghệ sĩ mà chỉ huấn luyện và cung cấp “những ông thầy dạy vẽ cho các trường học và trường dạy nghề trang trí”, và “đào tạo những nghệ nhân, nhằm đẩy mạnh một số ngành mĩ nghệ nhà nước bảo hộ cần khai thác”. Nhưng những họa sĩ được đào tạo trong các khóa đầu tiên từ trường này đã nhanh chóng biến nó thành một trung tâm đào tạo nghệ sĩ đích thực (tức tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật) dù họ rất thiếu thốn thông tin và giao lưu văn hóa, thiếu căn bản lí thuyết thẩm mĩ, và có khi lẫn lộn nghệ thuật với chính trị. Tô Ngọc Vân, người được tác giả xem là con chim đầu đàn của hội họa Việt Nam hiện đại, từng tuyên bố một câu hơi mơ hồ nhưng có lí rằng, “Chúng ta đồng tình với những bậc tiền bối danh sư của hội họa cổ điển, đem nghệ thuật mà phục vụ một Đạo. Nhưng cái đạo của chúng ta là đạo làm một người của nhân dân” (trang 134). Viết về các tác phẩm hội họa trong thời kì này tác giả đưa ra một nhận xét mà tôi thấy rất tâm đắc: “Cái đẹp là cái đẹp bình dị của những bố cục tĩnh. Cái không khí toát ra từ những bức tranh là một không khí tĩnh lặng, thời gian như động lại, khiến người xem có một cảm giác êm đềm, đôi khi bồi hồi, xúc động” (trang 142).
Những trang sách viết về tranh dân gian Việt Nam (chủ yếu là tranh làng Đông Hồ và tranh Hàng Trống) cũng rất đáng trân trọng và thú vị, vì nó cho người đọc một cái nhìn hiện đại về những bức tranh truyền thống đó. Cá nhân tôi, đây là lần đầu được tiếp cận với những giá trị nghệ thuật của những bức tranh mà tôi cứ nghĩ là “tranh quê”, những bức tranh với nội dung mộc mạc (như gà, lợn) và thiếu sự hoành tráng. Nhưng nay qua sự phân tích của tác giả, tôi mới nhận ra rằng các tranh Đông Hồ mang tính chất “kí hiệu”, và về cơ bản có phần tĩnh, trong khi đó tranh tranh Hàng Trống có bố cục năng động hơn và gần với quan niệm hiện đại về nhịp điệu hơn. Tranh Tết, với những nhịp điệu sinh động và những nét vẽ uyển chuyển có thần cũng “thể hiện một quan niệm thẩm mĩ rất cổ truyền nhưng cũng rất trùng hợp với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại” (trang 169). Tranh thờ cúng Việt Nam, theo tác giả, “xứng đáng là một trong những truyền thống tranh cổ của nhân loại” (trang 183). Theo tác giả, “Bức tranh Ngũ hổ là một bức tranh dân gian hoàn chỉnh nhất, mang nhiều nhân tố thẩm mĩ gần gũi nhất với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại nhất” (trang 193).
Bình luận về màu sắc trong tranh gà tranh lợn, học giả Lê Văn Hòe nhận xét từ thập niên 1950s như sau: “Tranh gà tranh lợn đỏ như xôi gấc, vàng như lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời người rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực của tranh Tàu, tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh, đỡ thô kệch, điềm đạm thật thà của tranh lợn, tranh gà.” (trang 164).
Bàn về sự phát triển của tranh dân gian, tác giả tỏ ý ưu tư trước một thực tế là các tranh này không có tác giả. Và sự khuyết danh này là một hàng rào cản trở không cho tranh dân gian Việt Nam phát triển lên được, không vượt ra khỏi biên giới Việt Nam để hòa nhập vào hội họa thế giới. Cũng là một điều rất đáng quan tâm. Có lẽ đây là cơ hội cho các nhà kinh doanh trẻ nước ta động não để phát triển tranh dân gian, như giới thương gia Nhật Bản đã từng làm cho tranh dân gian Nhật vào thế kỉ qua.
Các trang sách viết về hội họa dân gian Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Tạng, và thổ dân Úc chủ yếu là những khái quát để bạn đọc có thể so sánh và tìm mối liên hệ với hội họa Việt Nam, chứ không có ý định làm một công trình phê bình hay điểm tranh. Nhưng một số thông tin trong các bài viết này cũng rất thú vị. Chẳng hạn như tác giả phát hiện trong một cuốn sách đồ sộ về hội họa dân gian Trung Quốc (viết bằng tiếng Anh), một giáo sư Trung Quốc đưa hai bức tranh Tết của Việt Nam (tranh Đông Hồ Lợn Độc và Cá chép trông trăng) và cho rằng đây là tranh đời Nhà Thanh của một dân tộc thiểu số ở Quảng Tây và Giang Liễu Thanh! Chẳng những ông giáo sư này không đưa ra một chứng cớ nào để phát biểu như thế, ông còn đề chú thích bên dưới tranh là “A Hanoi reproduction” (Một bản sao ở Hà Nội)!
Nhưng điểm mạnh của cuốn sách là tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt chiều dài lịch sử hội họa Đông Tây và cung cấp nhiều thông tin thú vị. Nhưng với mục đích “đi trong thế giới”, cho nên tác giả không có dịp dứng lại để bàn sâu và các chi tiết hàn lâm về những chủ để hội họa. Bù vào đó, văn phong của tác giả rất trong sáng, khúc chiết, và thảnh thơi; nên người đọc có cảm giác như cùng đi dạo một vòng lịch sử với một người có tuổi trầm tỉnh và kiến thức sâu rộng. Điều này chắc phải đúng thôi, vì tác giả ở vào tuổi “thất thập cổ lai hi”, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mĩ thuật Paris năm 1964, và hành nghề kiến trúc sư ở Pháp suốt 38 năm trời. Tác giả, dĩ nhiên, còn là một trong những cây bút chủ lực của báo Diễn Đàn (Paris), từng cống hiến cho bạn đọc rất nhiều bài viết về hội họa và văn hóa, với những nhận xét sắc bén và súc tích. Tôi phải thú nhận một “mâu thuẫn quyền lợi” ở đây: tôi là một fan của Văn Ngọc trên Diễn Đàn.
Trong đoạn cuối của cuốn sách tác giả ưu tư trước sự lan tràn của các phim hoạt họa Tây phương và trò chơi vi tính, với những hình ảnh hỗn tạp, lố lăng, và đầy tính bạo động được các phương tiện truyền thông đại chúng truyền đi có thể ảnh hưởng đến nhận thức về cái đẹp trong giới trẻ, nhất là giới trẻ ở nước ta. Trong bối cảnh như thế, cộng với tình trạng thiếu thốn sách vở về hội họa cũng như sự nghèo nàn về giáo dục thẩm mĩ ở nước ta, tôi nghĩ Đi trong thế giới hội họa của Văn ngọc là một đóng góp tích cực và có ý nghĩa. Cuốn sách rất đáng có mặt trong tủ sách của mọi gia đình nào còn quan tâm đến cái đẹp và muốn tái khám phá cái đẹp trong di sản hội họa dân tộc Việt Nam.
(*) Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc, Nhà xuất bản Trẻ và Tạp chí Tia Sáng ấn hành, 2004. Sách dày 295 trang, kể cả Lời giới thiệu. Giá bán: 30.000 đồng.
Anh Tới -- tôi vẫn quen gọi như thế -- là một kiến trúc sư, nhưng còn là một tác giả tài hoa, một nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo, một cây viết chủ lực trong nhóm Diễn Đàn bên Pháp. Mới tuần trước (27/10) khi nghe tin website Tia Sáng bị đóng cửa, anh còn email hỏi tôi có tin tức gì chia sẻ với anh ấy, vì anh cũng là một cộng tác viên thân thiết cho Tia Sáng. Sự ra đi đột ngột của anh làm cho nhiều anh chị em quen biết anh đều ngỡ ngàng và rất thương tiếc.
Anh Tới là người sinh ra ở Hà Nội, nhưng sang Pháp du học từ năm 15 tuổi. Anh tốt nghiệp ngành kiến trúc thuộc Trường cao đẳng mĩ thuật Paris năm 1964. Trong thời gian làm việc như là một kiến trúc sư, anh còn tham gia các phong trào Việt kiều đấu tranh chống chiến tranh ở Việt Nam, và viết báo. Theo Diễn Đàn, anh từng viết cho báo Tìm Hiểu, Liên Hiệp, Trí Thức, Đoàn Kết, và sau này là một trong những người sáng lập báo Diễn Đàn ở Paris. Anh viết nhiều bài bình luận về nghệ thuật, kiến trúc, và hội họa rất hay. Năm 2004, anh cho xuất bản cuốn Đi trong thế giới hội họa và gửi tôi một cuốn làm kỉ niệm. Lúc đó chúng tôi chưa gặp nhau ngoài đời mà chỉ qua email thôi. Vốn ái mộ anh từ lâu, tôi đọc một mạch cuốn sách và có viết bài điểm sách (bản ngắn đăng trên Tuổi Trẻ).
Như tôi nói, tôi có cơ duyên quen biết anh qua email cũng gần chục năm nay. Năm 2005, trong chuyến đi công tác bên Ý, tôi có dịp tạt qua Paris ghé thăm bạn bè và các anh chị trong Diễn Đàn. Hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra một quán ăn mà người Việt mình ở đó gọi là “Quán Cụ Hồ” vì có treo ảnh của ông cụ (và tôi có chụp một tấm dưới bức ảnh đó). Đó là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Tới và chị Uyên (phu nhân anh, xem hình). Lần đầu tiên gặp anh tôi thấy mến ngay. Đó là một người thuộc thế hệ đàn anh rất rất Hà Nội (Hà Nội thời xưa, chứ không phải Hà Nội thời nay): lịch sự, nhẹ nhàng, và tinh tế. Nói chung đó là một con người với phong cách rất nho nhã. Tôi có cảm giác câu nói nào hay một câu văn nào (ngay cả trong emai) của anh cũng đều có suy nghĩ cẩn thận, đều có một ý nghĩa đáng suy nghĩ. Do đó, anh được lòng mọi người. Ai cũng mến anh. Có thể nói không ngoa rằng trong có những khi cái tính Nam kì sôi nổi của tôi trỗi dậy, tôi nhớ đến cách hành xử của anh Tới và thấy mình như trầm tĩnh hơn. Cách viết, cách suy nghĩ, và cách hành xử của anh là một bài học ở đời đối với tôi.
Hình chụp ở Paris vào ngày 25/1/2005 tại “Quán Cụ Hồ”. Người ngồi phía sau tôi là anh Hà Dương Tuấn (cũng là một cây viết rất hay của Diễn Đàn). Phía phải (từ trong ra ngoài) là Bs Vũ Ngọc Quỳnh, anh Phạm Ngọc Tới và chị Uyên.
Nay thì anh đã đột ngột ra đi! Tôi chỉ muốn mượn entry này để có vài dòng tưởng nhớ đến một người đàn anh mà tôi rất kính trọng. Xin thành thật chia buồn cùng chị Uyên và gia đình.
NVT
====
Đi trong thế giới hội họa (*) của Văn Ngọc
Nguyễn Văn Tuấn
Có nhiều người cho rằng người Việt là một dân tộc thơ. Có nhiều cơ sở để biện minh cho nhận xét này, kể cả một sự thật đơn giản là bất cứ người Việt nào cũng thuộc lòng dăm ba bài thơ, cũng có thể làm một bài thơ không mấy khó khăn, hay ngay cả có thể ứng khẩu bằng thơ. Thế nhưng, khi đến với hội họa, phần lớn người Việt chúng ta đều … có vấn đề. Trong khi hầu như bất cứ ai trong chúng ta cũng có khả năng bình luận về cái hay, cái đẹp của một vần thơ, nhưng khi đứng trước một tác phẩm hội họa, hay ngay cả trước một bức tranh dân gian, chúng ta đôi khi không phân tích được cái đẹp, không lí giải được cái “thần”, thậm chí không hiểu nội dung và ý nghĩa của tác phẩm là gì. Một trong những nguyên nhân của tình trạng nghèo nàn này, theo tôi, là sự thiếu thốn về giáo dục thẩm mĩ trong nhà trường phổ thông, và nhất là thiếu những sách về chủ đề này. Nhưng sự thiếu thốn này vừa mới được bù đắp bằng cuốn Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc vừa do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.

Đi trong thế giới hội họa không phải là sách giáo khoa, cũng không phải là một công trình phê bình hội họa, mà là tập hợp 23 bài viết về các khía cạnh phân tích và lí luận của nghệ thuật. Phần lớn những bài viết này đã được đăng rải rác trên một số tạp chí trong và ngoài nước từ khoảng 10 năm qua. Theo tôi, cuốn sách còn thể hiện cái nhìn thế giới của tác giả về những thời đại hội họa và nghệ thuật được xây dựng trên toàn cục dữ kiện đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc Tây và Đông phương. Do đó, cuốn sách rất thích hợp cho những ai muốn tìm hiểu về hội họa và những mô hình thẩm mĩ của ứng xử tạo hình, được gói ghém và bộc lộ ở dạng biểu trưng.
Như tựa đề ngụ ý hứa hẹn, qua 23 bài viết, tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt hành trình hội họa từ cổ chí kim. Và, sau khi qua cuộc hành trình chữ nghĩa này, người đọc sẽ thu nhận một số kiến thức căn bản về giáo dục thẩm mĩ để có thể thẩm định và phân tích cái đẹp trong hội họa. Sau khi điểm qua các vấn đề chung (như thời điểm khởi nguyên của hội họa, các vấn đề lí luận nghệ thuật và ý niệm thẩm mĩ, các khía cạnh màu sắc, nhịp điệu và ngôn ngữ tạo hình, v.v…), tác giả bàn qua những thể loại, trường phái hội họa Tây phương và hội họa dân gian Đông phương, kể cả hội họa truyền thống ở Việt Nam, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, và Úc (thổ dân). Qua 6 chương liền, bạn đọc sẽ được “dừng chân” để xem qua quá trình phát triển hội họa của Việt Nam từ tranh dân gian đến hội họa hiện đại chịu ảnh hưởng Tây phương.
Hội họa có một lịch sử lâu đời. Nói đến cái thời điểm khởi sinh của hội họa, chúng ta thường nghĩ nó được ra đời cách đây khoảng 17.000 năm ở Lascaux, vì giới khảo cổ học từng cho chúng ta biết như thế. Thế nhưng, qua Đi trong thế giới hội họa, chúng ta phải xét lại nhận thức đó, bởi vì một phát hiện mới đây cho thấy cội nguồn của hội họa được bắt đầu từ hang động Chauvet (gần Port-d’Arc Ardèche) vào khoảng 32.000 năm về trước. Không thấy tác giả bàn về cội nguồn hội họa Việt Nam trong sách. Tuy nhiên, phát hiện ở Chauvet cho thấy hội họa tại đây có niên đại cao hơn nhiều so với những hình người trên vách đá tìm thấy ở hang Đồng Nội (Hòa Bình) cách đây khoảng 12.000 năm vẫn được xem là thời điểm đầu tiên trong hội họa Đông Nam Á và nước ta.
Bàn về hội họa tất nhiên phải bàn đến cái đẹp. Bạn đọc sẽ không thất vọng với cuốn sách này, vì tác giả bỏ ra khá nhiều trang giấy để phân tích thế nào là đẹp trong hội họa. Tác giả trích dẫn một câu nói nổi tiếng của Kant, “Cái đẹp không có qui luật, một khi nó đã có những tiêu chuẩn qui định nó một cách rõ ràng rồi, thì không còn cái đẹp nữa” (trang 49). Nhưng trong thực tế, cái đẹp – dù không có một qui định cụ thể nào, dù không được cân đo đong đếm bằng khoa học – cũng có những ước lệ chung chung. Những ước lệ này thường dựa trên những hình khối cân đối, những cái mà tác giả gọi là thức, là nhịp điệu trong tạo hình, là nội dung. Tác giả cho biết theo quan niệm cổ điển, “Cái đẹp không chỉ nằm trong hình thức, mà nằm ngay trong cái nội dung thật có tính chuẩn mực, hoặc tính chất đạo lí, hay triết lí” (trang 53). Câu nói này làm tôi nhớ đến câu nói danh tiếng của Anatole France trong La Vie Littéraire, “Không có sự thật, mà chỉ có cái đẹp,” hay John Keats trong Ode on a Grecian Urn, “Cái đẹp là sự thật.” Nhưng vấn đề còn rắc rối hơn nữa: cái đẹp còn tùy theo trường phái hội họa. Chẳng hạn như trường phái Trừu trượng nhìn cái đẹp trực tiếp, những diễn đạt nó bằng một ngôn ngữ trừu tượng. Như vậy cái đẹp còn là một hàm số của lí thuyết nghệ thuật nữa. Tác giả tóm tắt ý này một cách súc tích: “Cái đẹp không phải là cái đẹp (hay cái xấu) nằm ở trong bản thân khuôn mặt thật, hay quả táo thật, được lấy làm mẫu, mà nằm trong cách nhìn nó và thể hiện nó lên tranh của người họa sĩ, với một quan niệm nghệ thuật nhất định” (trang 56).
Tiếp theo 2 bài bàn về các khía cạnh lí luận hội họa và mĩ thuật, tác giả đi vào chi tiết về màu sắc và nhịp điệu trong hội họa (2 bài), và dành ra 3 bài viết về trường phái lập thể, hiện thực và trừu tượng. Tiêu biểu cho trường phái lập thể là Picasso và Cézanne, hai người cho rằng một tác phẩm hội họa không chỉ phản ánh những gì con người thật sự thấy được chứ không phải những gì con người tin là mình đã thấy như thế. Quan niệm về thẩm mĩ của trường phái này, nói như Picasso, là cái đẹp và sự thật hoàn toàn đều do con người sáng tạo ra, chứ không hẳn phải có trong thiên nhiên. Những người theo trường phái hiện thực, như tên gọi ám chỉ, cho rằng hội họa có mục đích nhận thức và diễn đạt hiện thực, lấy ý tưởng chân, thiện, mĩ của Plato làm nguyên lí chỉ đạo. Còn trường phái trừu tượng? Nói theo Kandinsky, qua lời kể của tác giả, cái đẹp có thể tồn tại độc lập với đối tượng, và độc lập với nội dung hiện thực của bức tranh.
Những bài viết về hội họa Việt Nam trong sách, theo tôi, là một phần rất lí thú và bổ ích cho những ai muốn có một cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của hội họa Việt Nam. Chúng ta được biết Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông dương do người Pháp lập ra ở Hà Nội lúc đầu không có mục đích đào tạo nghệ sĩ mà chỉ huấn luyện và cung cấp “những ông thầy dạy vẽ cho các trường học và trường dạy nghề trang trí”, và “đào tạo những nghệ nhân, nhằm đẩy mạnh một số ngành mĩ nghệ nhà nước bảo hộ cần khai thác”. Nhưng những họa sĩ được đào tạo trong các khóa đầu tiên từ trường này đã nhanh chóng biến nó thành một trung tâm đào tạo nghệ sĩ đích thực (tức tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật) dù họ rất thiếu thốn thông tin và giao lưu văn hóa, thiếu căn bản lí thuyết thẩm mĩ, và có khi lẫn lộn nghệ thuật với chính trị. Tô Ngọc Vân, người được tác giả xem là con chim đầu đàn của hội họa Việt Nam hiện đại, từng tuyên bố một câu hơi mơ hồ nhưng có lí rằng, “Chúng ta đồng tình với những bậc tiền bối danh sư của hội họa cổ điển, đem nghệ thuật mà phục vụ một Đạo. Nhưng cái đạo của chúng ta là đạo làm một người của nhân dân” (trang 134). Viết về các tác phẩm hội họa trong thời kì này tác giả đưa ra một nhận xét mà tôi thấy rất tâm đắc: “Cái đẹp là cái đẹp bình dị của những bố cục tĩnh. Cái không khí toát ra từ những bức tranh là một không khí tĩnh lặng, thời gian như động lại, khiến người xem có một cảm giác êm đềm, đôi khi bồi hồi, xúc động” (trang 142).
Những trang sách viết về tranh dân gian Việt Nam (chủ yếu là tranh làng Đông Hồ và tranh Hàng Trống) cũng rất đáng trân trọng và thú vị, vì nó cho người đọc một cái nhìn hiện đại về những bức tranh truyền thống đó. Cá nhân tôi, đây là lần đầu được tiếp cận với những giá trị nghệ thuật của những bức tranh mà tôi cứ nghĩ là “tranh quê”, những bức tranh với nội dung mộc mạc (như gà, lợn) và thiếu sự hoành tráng. Nhưng nay qua sự phân tích của tác giả, tôi mới nhận ra rằng các tranh Đông Hồ mang tính chất “kí hiệu”, và về cơ bản có phần tĩnh, trong khi đó tranh tranh Hàng Trống có bố cục năng động hơn và gần với quan niệm hiện đại về nhịp điệu hơn. Tranh Tết, với những nhịp điệu sinh động và những nét vẽ uyển chuyển có thần cũng “thể hiện một quan niệm thẩm mĩ rất cổ truyền nhưng cũng rất trùng hợp với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại” (trang 169). Tranh thờ cúng Việt Nam, theo tác giả, “xứng đáng là một trong những truyền thống tranh cổ của nhân loại” (trang 183). Theo tác giả, “Bức tranh Ngũ hổ là một bức tranh dân gian hoàn chỉnh nhất, mang nhiều nhân tố thẩm mĩ gần gũi nhất với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại nhất” (trang 193).
Bình luận về màu sắc trong tranh gà tranh lợn, học giả Lê Văn Hòe nhận xét từ thập niên 1950s như sau: “Tranh gà tranh lợn đỏ như xôi gấc, vàng như lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời người rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực của tranh Tàu, tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh, đỡ thô kệch, điềm đạm thật thà của tranh lợn, tranh gà.” (trang 164).
Bàn về sự phát triển của tranh dân gian, tác giả tỏ ý ưu tư trước một thực tế là các tranh này không có tác giả. Và sự khuyết danh này là một hàng rào cản trở không cho tranh dân gian Việt Nam phát triển lên được, không vượt ra khỏi biên giới Việt Nam để hòa nhập vào hội họa thế giới. Cũng là một điều rất đáng quan tâm. Có lẽ đây là cơ hội cho các nhà kinh doanh trẻ nước ta động não để phát triển tranh dân gian, như giới thương gia Nhật Bản đã từng làm cho tranh dân gian Nhật vào thế kỉ qua.
Các trang sách viết về hội họa dân gian Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Tạng, và thổ dân Úc chủ yếu là những khái quát để bạn đọc có thể so sánh và tìm mối liên hệ với hội họa Việt Nam, chứ không có ý định làm một công trình phê bình hay điểm tranh. Nhưng một số thông tin trong các bài viết này cũng rất thú vị. Chẳng hạn như tác giả phát hiện trong một cuốn sách đồ sộ về hội họa dân gian Trung Quốc (viết bằng tiếng Anh), một giáo sư Trung Quốc đưa hai bức tranh Tết của Việt Nam (tranh Đông Hồ Lợn Độc và Cá chép trông trăng) và cho rằng đây là tranh đời Nhà Thanh của một dân tộc thiểu số ở Quảng Tây và Giang Liễu Thanh! Chẳng những ông giáo sư này không đưa ra một chứng cớ nào để phát biểu như thế, ông còn đề chú thích bên dưới tranh là “A Hanoi reproduction” (Một bản sao ở Hà Nội)!
Nhưng điểm mạnh của cuốn sách là tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt chiều dài lịch sử hội họa Đông Tây và cung cấp nhiều thông tin thú vị. Nhưng với mục đích “đi trong thế giới”, cho nên tác giả không có dịp dứng lại để bàn sâu và các chi tiết hàn lâm về những chủ để hội họa. Bù vào đó, văn phong của tác giả rất trong sáng, khúc chiết, và thảnh thơi; nên người đọc có cảm giác như cùng đi dạo một vòng lịch sử với một người có tuổi trầm tỉnh và kiến thức sâu rộng. Điều này chắc phải đúng thôi, vì tác giả ở vào tuổi “thất thập cổ lai hi”, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mĩ thuật Paris năm 1964, và hành nghề kiến trúc sư ở Pháp suốt 38 năm trời. Tác giả, dĩ nhiên, còn là một trong những cây bút chủ lực của báo Diễn Đàn (Paris), từng cống hiến cho bạn đọc rất nhiều bài viết về hội họa và văn hóa, với những nhận xét sắc bén và súc tích. Tôi phải thú nhận một “mâu thuẫn quyền lợi” ở đây: tôi là một fan của Văn Ngọc trên Diễn Đàn.
Trong đoạn cuối của cuốn sách tác giả ưu tư trước sự lan tràn của các phim hoạt họa Tây phương và trò chơi vi tính, với những hình ảnh hỗn tạp, lố lăng, và đầy tính bạo động được các phương tiện truyền thông đại chúng truyền đi có thể ảnh hưởng đến nhận thức về cái đẹp trong giới trẻ, nhất là giới trẻ ở nước ta. Trong bối cảnh như thế, cộng với tình trạng thiếu thốn sách vở về hội họa cũng như sự nghèo nàn về giáo dục thẩm mĩ ở nước ta, tôi nghĩ Đi trong thế giới hội họa của Văn ngọc là một đóng góp tích cực và có ý nghĩa. Cuốn sách rất đáng có mặt trong tủ sách của mọi gia đình nào còn quan tâm đến cái đẹp và muốn tái khám phá cái đẹp trong di sản hội họa dân tộc Việt Nam.
(*) Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc, Nhà xuất bản Trẻ và Tạp chí Tia Sáng ấn hành, 2004. Sách dày 295 trang, kể cả Lời giới thiệu. Giá bán: 30.000 đồng.
Trung Quốc: bệnh nhân tâm thần bị ép giải phẫu
Tờ Wall Street Journal (WSJ) của Mĩ đi một bài phóng sự dài về tình hình phẫu thuật được sử dụng như là một phương pháp điều trị cho bệnh nhân tâm thần ở Trung Quốc. Theo bài báo, Trung Quốc có nhiều bệnh nhân tâm thần, từ trầm cảm đến tâm thần phân liệt (schizophrenia). Những bệnh nhân này đang được điều trị bằng giải phẫu não, một biện pháp không có một chứng cứ khoa học nào làm cơ sở. Phương pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng phẫu thuật chẳng những chẳng đem lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn gây đau đớn và hao tổn tài chính cho bệnh nhân.
Bài phóng sự trên tờ WSJ thuật lại một trường hợp bệnh nhân trầm cảm, 25 tuổi, tên là Mi Zhantao, người mới được bác sĩ giải phẫu. Theo bác sĩ, những triệu chứng của anh là phù hợp với bệnh tâm thần phân liệt, và cần phải giải phẫu như là một biện pháp điều trị. Gia đình anh phải trả đến 4,800 USD (tương đương với 4 năm tiền lương) cho ca phẫu thuật. Nhưng buồn thay, thay vì phẫu thuật giúp giảm triệu chứng như bác sĩ hứa, thì bệnh trạng lại càng ngày nặng hơn, và đến nay thì anh bị liệt một tay và tiếng nói thì líu nhíu.
Ý tưởng dùng phẫu thuật để điều trị bệnh tâm thần phân liệt hay bất cứ bệnh tâm thần nào đối với y khoa phương Tây và các nước tiên tiến là chuyện khó tin, nhưng ở Trung Quốc thì nhiều bác sĩ tán thành phương pháp điều trị này. Thật ra, Zhantao được bác sĩ khám và giải phẫu chỉ trong vòng … 1 ngày! Bác sĩ Wang Yifang, người thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân Zhantao, còn phát tán tài liệu quảng cáo về những thành công trong phẫu thuật điều trị bệnh tâm thần. Ông thậm chí còn có một đường dây nóng để bệnh nhân gọi vào tìm hiểu về phẫu thuật!
Phương pháp giải phẫu mà Bs Wang Yifang là một phương pháp xâm phạm. Bác sĩ dùng một cây kim dài khoảng 19 cm khoan nhiều lỗ nhỏ trên sọ; sau đó những vùng trong não xem là có nguyên nhân gây nên tình trạng trầm cảm sẽ được đốt bằng cách dùng một cái probe. Bs Wang cho biết tính từ năm 2004 ông đã thực hiện hơn 1000 ca giải phẫu như thế tại Bệnh viện 454.
Nhưng ca giải phẫu não để điều trị bệnh tâm thần phân liệt thực hiện tại Bệnh viện 454 (nguyên là một bệnh viện quân sự) thật ra còn được thực hiện ở nhiều bệnh viện khác trên khắp Trung Quốc, dù phương pháp này đã bị cấm tại các nước tiên tiến. Nhiều bác sĩ ngoại quốc rất sốc khi biết con số ca giải phẫu mà Bs Wang đã thực hiện. Bác sĩ Michael Schulder, chủ tịch một hội thần kinh học của Mĩ, nhận xét: "Nó [chỉ phương pháp phẫu thuật] hoàn toàn không còn áp dụng nữa. Nếu ông ấy chỉ giải phẫu cho 10 bệnh nhân thôi thì đã là một việc làm gây ra nhiều tranh luận."
Phương pháp điều trị tâm thần phân liệt bằng phẫu thuật đã gây ra nhiều tranh cãi ngay từ những năm đầu thập niên 1930, lúc đó bác sĩ bắt đầu áp dụng biện pháp cắt bạch chất (lobotomy) trong não. Phương pháp đó sau này được xem là vi phạm y đức. Nhưng phương pháp mà Bs Wang áp dụng để điều trị ông Zhantao – gọi là ablative surgery – là một phương pháp còn trong vòng tranh cãi và rất ít ai áp dụng, hay chỉ áp dụng như là một biện pháp sau cùng cho các bệnh tâm thần. Ở Mĩ, số bệnh nhân bệnh tâm thần phân liệt được điều trị bằng phẫu thuật chỉ khoảng 20-25 người mỗi năm, nhưng trước đó phải được xét nghiệm và điều tra lâm sàng rất kĩ. Tính trung bình, thời gian để được phê chuẩn cho một ca phẫu thuật như thế tốn ít nhất là 12 tháng, với sự phê chuẩn của một hội đồng y khoa bao gồm các chuyên gia thần kinh học, tâm thần học, y đức và thân nhân của bệnh nhân.
Bài phóng sự trên tờ WSJ còn cho biết giải phẫu điều trị các bệnh tâm thần ở Trung Quốc là hệ quả của tình trạng tham nhũng tràn lan trong hệ thống y tế của Trung Quốc. Trong hệ thống đó, bác sĩ muốn có thêm thu nhập, họ phải thực hiện nhiều ca giải phẫu để có thêm tiền thưởng. Do đó, hệ thống y tế Trung Quốc trở thành một môi trường để các giới chức y tế lợi dụng và lạm dụng. Theo một chuyên gia phẫu thuật tại Đại học Giao thông Thượng Hải, các bệnh viện quân sự Trung Quốc xem các khoa thần kinh ngoại là những trung tâm làm ra tiền.
Tuy Trung Quốc đang cố gắng cải tổ hệ thống y tế, nhưng đối với hàng ngàn bệnh nhân như ông Zhantao thì việc làm đó đã quá muộn. Gia đình của Zhantao đang làm thủ tục kiện bác sĩ ra tòa. Dù vụ kiện sẽ không giải quyết được tình trạng bệnh của anh, nhưng nó gióng một tiếng nói cho công chúng Trung Quốc biết về một thuật điều trị nguy hiểm mà thế giới chẳng còn ai áp dụng.
NVT
===
http://online.wsj.com/public/article/SB119393867164279313.html?mod=blog
In China, Brain Surgery Is Pushed on the Mentally Ill
Irreversible Procedures Rarely Done Elsewhere; A Mother's Regrets
By NICHOLAS ZAMISKA
NANJING, China -- Mi Zhantao, a poor 25-year-old living with his parents outside this provincial capital in eastern China, was battling depression and had trouble socializing. Doctors said he had schizophrenia. They recommended brain surgery.
Mr. Mi's family spent about $4,800 -- the equivalent of four years' income, and more than their life savings -- on the operation, at No. 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing. The highly controversial procedure involved drilling tiny holes in the young man's skull, inserting a 7½-inch-long needle and burning small areas of brain tissue thought to be causing his problems.
The surgeon, who operated on Mr. Mi the day he met him, says he has performed nearly 1,000 such procedures, mostly for schizophrenia, but also for illnesses ranging from depression to epilepsy, since the hospital started offering the operation in 2004.
Mr. Mi's parents say the surgery did nothing but leave their son with a partially limp right arm and slurred speech. He continues to be depressed and withdrawn, his mother says. Wang Yifang, the surgeon, says he checked the medical records and, as far as he knows, the patient left the hospital uninjured.
Mr. Mi's mother, Kong Lingxia, 50, says she'll regret the decision for the rest of her life. "I feel so angry," she says. "But I'm really angry at myself. How could I let this happen?"
The irreversible brain surgeries performed at No. 454 Hospital, which are all but blacklisted for mental illness in the developed world, are being done across China. They are a symptom of the problems plaguing the nation's health-care system, which has left hospitals with scant public funding and hungry for profit.
Some foreign doctors were shocked when told of the number of surgeries Dr. Wang has performed and the problems he was trying to treat.
"It's completely off the charts. If he had done 10, it would be highly controversial," says Michael Schulder, president of the American Society for Stereotactic and Functional Neurosurgery. Such surgery involves locating and operating on specific targets in the brain.
Surgeons operate on the brain for problems ranging from tumors to movement disorders. But in mainstream medicine, the surgery performed on Mr. Mi -- called ablative surgery -- is a last resort for mental illness. It isn't done anywhere in the U.S. for schizophrenia. While the total number of psychosurgical procedures performed in the world is unknown, Emad N. Eskandar, of Massachusetts General Hospital, estimates fewer than 25 patients are operated on annually in the U.S. and Britain.
Doctors at Massachusetts General perform between six to 12 ablative procedures a year for mental illness, but only after rigorous screening, says Dr. Eskandar, the director of stereotactic and functional neurosurgery. The operations are intended to ease symptoms of intractable depression or obsessive-compulsive disorder. Patients must be competent to give informed consent, and the procedure, which normally takes at least a year to be approved, must be cleared by a committee including psychiatrists, neurologists, ethicists, surgeons and a layperson.
Dr. Wang Yifang, head of neurosurgery at 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing, has performed nearly 1,000 brain surgeries since 2004.
China's system is vulnerable to abuse because doctors make as much as 90% of their income through bonuses tied to business they generate, according to Henk Bekedam, who until recently was the World Health Organization's chief representative in China.
"In China, nowadays, in some military hospitals, their brain center is a profit center," says Sun Bomin, director of functional neurosurgery at Shanghai Jiao Tong University's Ruijin Hospital. Most of China's hospitals are run by the health ministry, but some are overseen by the 80-year-old People's Liberation Army, a legacy of the days when the military ran its own services. Those hospitals now are open to the public.
Dr. Sun says he performs around 20 or 30 brain surgeries for schizophrenia each year, but only with strict oversight from multiple psychiatrists. He says improper use of the procedure, such as not being selective enough about the patients, is the problem, not the procedure itself.
Under Mao Zedong, the state provided basic but near-universal care. That safety net was gradually dismantled as Beijing began privatizing health care in the 1980s, leaving many individuals -- and thousands of ailing state-run hospitals -- to fend for themselves.
China has been trying to repair the system, but its health bureaucracy, responsible for regulating drugs and medical procedures, is struggling with the wake of a corruption scandal. The former head of the State Food and Drug Administration was executed this summer for accepting bribes from drug companies to speed approvals.
The Ministry of Health in Beijing didn't respond to written questions about the surgeries.
A spokeswoman for the Ministry of National Defense office said the health department of the People's Liberation Army agreed to do a "thorough investigation" in response to written questions from The Wall Street Journal about the surgeries, but declined to comment while the investigation was under way.
Dr. Wang says government investigators came to his hospital in mid-October to inquire about the surgeries he was performing. On Oct. 26, Ms. Kong said in a telephone interview that local officials visited her and asked her why she had allowed a foreign reporter into her home.
Brain surgery for mental disorders has been a controversial practice since at least the 1930s, when doctors began performing lobotomies, removing or altering parts of the brain. That procedure was eventually blacklisted. The difference with the surgery being done today, advocates say, is that the areas of the brain being targeted are more precise.
The Chinese government banned the brain surgery for use on drug addicts in 2004, after news reports about the practice. But the procedure continues to be used for mental illness.
Dr. Wang, head of neurosurgery at No. 454 Hospital, defends the procedure. "There are so many mental-disease patients," he says. "In many of the mental-disease hospitals, 30% to 50% of the patients cannot be treated by medicine. And these patients have caused a great burden to their families and society."
Dr. Wang, 44, graduated from Nanjing Medical University in 1987 and later joined the air force as a surgeon. He says his salary at the PLA hospital is about $670 a month; he says he doesn't get bonuses tied to generating business and isn't paid more to perform more surgeries. However, Dr. Wang says he travels to nearby provinces frequently to perform the procedure at other hospitals, to earn more.
No. 454 Hospital has around 600 employees and revenue of some $12 million a year, about $1 million of which comes from the surgeries, Dr. Wang says. The hospital promotes the surgery aggressively, printing pamphlets featuring success stories, and runs a hot line people can call for information.
Shi Haiming, the No. 454 hospital's deputy director, declined to comment.
Dr. Wang says all patients are screened before the surgery and the procedures have helped many patients. Earlier this year, the hospital handed out more than 500 questionnaires to families of patients who have undergone brain surgery, he says. It asked about activities of the patients, such as talking with friends, taking the bus, shopping and, generally, whether the patients' lives had improved since surgery. The hospital received 317 completed surveys, and based on the answers, Dr. Wang and his staff rated each patient's condition on a five-tier scale. Dr. Wang says they determined that 93% of respondents had shown improvement.
Deng Jian's family says she hasn't improved. And they sued.
Ms. Deng, who was diagnosed with schizophrenia in her 20s, had the surgery in 2004. Ms. Deng, 42, suffered a brain hemorrhage during the procedure. Her right leg is now in a brace, and her right arm is lame. She salivates uncontrollably and needs to spit in a bucket.
Her father, Deng Jun, recalls the days when Ms. Deng could ride her bike on her own to Sun Yat-Sen's mausoleum near their home in Nanjing. Her mother, Ran Yuhua, says that before the surgery, "she had problems in the mind, but she could take care of herself. But after the surgery, she can't do anything. Can't even wring a towel or get dressed."
The morning they checked into the hospital, her mother remembers reading documents about possible risks. She asked the doctor what "cerebral bleeding" meant. Dr. Wang never answered her question, she says, and instead pushed her to pay. "He said, 'Hurry up, hurry up. Otherwise no time. We have surgeries to do,'" she recalls.
Dr. Wang disputes that he rushed the family to a decision. "This is unfair," he says. "They came and we repeatedly told them about the risks of the surgery." He says it took three to four hours to finish the necessary tests, including an electrocardiogram, chest X-rays, liver tests and a CT brain scan.
He says her problems are the result of "a complication" during the surgery, which happens in exceedingly few cases.
The family sued the hospital in Baixia District People's Court for about $76,000 to cover costs of the surgery, nursing costs and compensation for Ms. Deng's injuries. In May, the court ruled in favor of the Deng family, awarding them about $49,000, according to copies of court documents provided by the family. Fang Jianguo, a chief judge at the Baixia District People's Court confirmed the May verdict. The court documents also said the family should have considered the risks more thoughtfully.
Other hospitals are doing brain surgery to treat mental illness. No. 3 Hospital of the People's Liberation Army, in the city of Baoji, has performed more than 800 such surgeries, according to a doctor there. No. 463 Hospital of the People's Liberation Army, in Shenyang, says it has performed more than 2,000 surgeries since about 2001, with almost all patients reporting progress.
In the U.S., "mental-disease patients have places to go for treatment," says Jiang Keming, a surgeon at the No. 3 PLA Hospital. "But here, most patients are living out in the open and threatening the safety of society -- killing and setting fire to things. Families demand to give them the surgeries."
The Hunan Brain Hospital in Changsha, as well as the Air Force Guangzhou Hospital, perform 100 or more of the brain surgeries a year for mental illness, according to hospital staff. Doctors in China also prescribe medications for mental conditions, but cost is a limiting factor in many cases.
The first time Mr. Mi's parents noticed anything wrong with their son was in the summer of 2004, when he was 21. He had a fever for several days, then had trouble sleeping and often felt sick. He was depressed and moody, according to his mother, Ms. Kong.
That summer, he stopped going to the glass factory where his father worked and he had been an intern. The family asked several doctors for advice. Some said the young man had mental problems, without being specific, while doctors in Shanghai and Beijing reviewed his brain scans and told the father there was little to worry about.
Ms. Kong's sister, who lives in Shanghai, gave her a newspaper clipping dated July 16, 2004. The article, published in the Yangtse Evening News, carried the headline "After Seven Years, Violent Crazy Man Finally Wakes Up." It touted the benefits of a new brain surgery offered by No. 454 PLA Hospital, and detailed the success that a 22-year-old had with the surgery. It quoted Dr. Wang as saying: "You can go to school, go to work, no difference from normal people."
Ms. Kong, worried that her son's condition might get worse, thought this could help. In October 2005, the family withdrew their savings of about $3,900 from the bank. They borrowed the rest of the money needed for the surgery from family and former classmates, packing hundreds of notes in their clothing and blankets. On Oct. 9, they took the train to Nanjing.
The next morning, the parents took their son to the hospital. This was the first time the doctors had seen Mr. Mi. They asked for the payment.
A doctor handed her a diagnostic report to sign. The page-long report detailed some of his symptoms and listed her son's illness as schizophrenia. Mr. Mi's parents had never heard the term before. Among other things, the report said their son "beats and curses" his family members, "smashes things" and hears imaginary voices, according to a copy of the report.
Ms. Kong says she didn't even read the report at the time, but signed it at the request of doctors. Her signature appears on the bottom, as well as the words "The situation is factual," in her handwriting. Ms. Kong now says that the doctor who drafted the report was simply making it up, and that neither she nor her husband ever complained that their son beat them or broke things in the home.
Dr. Wang denies his staff falsified records.
Not long after Ms. Kong signed the document, nurses put her son on a gurney and strapped him down. She says she thought the nurses were taking him to do some tests. "At least they should have him hospitalized for a few days before anything. We were not prepared at all."
Dr. Wang says most families bringing a patient for the surgery ask him "to do it as quickly as possible" because the patients are difficult to control.
A medical report filed by the hospital describes how frames were fixed on Mr. Mi's head and holes drilled into his skull. Dr. Wang says he used a needle, with a tip heated to about 180 degrees Fahrenheit, and inserted it into the brain for about a minute to destroy specific areas of tissue.
At around 3 p.m., nurses wheeled the young man out of the elevator. That night, he woke up suddenly and vomited. His mother says doctors told her vomiting was normal and that the surgery had gone as planned.
Mr. Mi was also bleeding from both ears, she says. For five days, he slipped in and out of consciousness, and when he regained consciousness, his right arm was limp and his speech was fuzzy, she says.
Dr. Wang says he checked hospital records which indicated that Mr. Mi was fine when he left the hospital. But he says that the surgery "doesn't help some people."
A few months after the surgery, in February 2006 during Chinese New Year, Ms. Kong says she found her son standing on the balcony of their sixth-floor walk-up apartment, overlooking the street where craftsmen grind statuettes out of red stone. She says Mr. Mi had put power cables around his neck, and later told her that he was trying to kill himself.
In August, Mr. Mi's parents took him to No. 123 hospital to get him tested. The hospital treated Mr. Mi with oxygen and physical therapy to try to reverse the brain damage, which may have been linked to the surgery, according to a report filed by Wu Qian, a doctor in the hospital's neurology department.
"He wasn't like this before," Mr. Mi's mother says, as her son rocked in his chair at the family's home and blinked his left eye sporadically. "Before, he didn't talk much. But now, when he talks, nobody understands."
—Ellen Zhu in Shanghai contributed to this article.
Write to Nicholas Zamiska at nicholas.zamiska@wsj.com
Bài phóng sự trên tờ WSJ thuật lại một trường hợp bệnh nhân trầm cảm, 25 tuổi, tên là Mi Zhantao, người mới được bác sĩ giải phẫu. Theo bác sĩ, những triệu chứng của anh là phù hợp với bệnh tâm thần phân liệt, và cần phải giải phẫu như là một biện pháp điều trị. Gia đình anh phải trả đến 4,800 USD (tương đương với 4 năm tiền lương) cho ca phẫu thuật. Nhưng buồn thay, thay vì phẫu thuật giúp giảm triệu chứng như bác sĩ hứa, thì bệnh trạng lại càng ngày nặng hơn, và đến nay thì anh bị liệt một tay và tiếng nói thì líu nhíu.
Ý tưởng dùng phẫu thuật để điều trị bệnh tâm thần phân liệt hay bất cứ bệnh tâm thần nào đối với y khoa phương Tây và các nước tiên tiến là chuyện khó tin, nhưng ở Trung Quốc thì nhiều bác sĩ tán thành phương pháp điều trị này. Thật ra, Zhantao được bác sĩ khám và giải phẫu chỉ trong vòng … 1 ngày! Bác sĩ Wang Yifang, người thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân Zhantao, còn phát tán tài liệu quảng cáo về những thành công trong phẫu thuật điều trị bệnh tâm thần. Ông thậm chí còn có một đường dây nóng để bệnh nhân gọi vào tìm hiểu về phẫu thuật!
Phương pháp giải phẫu mà Bs Wang Yifang là một phương pháp xâm phạm. Bác sĩ dùng một cây kim dài khoảng 19 cm khoan nhiều lỗ nhỏ trên sọ; sau đó những vùng trong não xem là có nguyên nhân gây nên tình trạng trầm cảm sẽ được đốt bằng cách dùng một cái probe. Bs Wang cho biết tính từ năm 2004 ông đã thực hiện hơn 1000 ca giải phẫu như thế tại Bệnh viện 454.
Nhưng ca giải phẫu não để điều trị bệnh tâm thần phân liệt thực hiện tại Bệnh viện 454 (nguyên là một bệnh viện quân sự) thật ra còn được thực hiện ở nhiều bệnh viện khác trên khắp Trung Quốc, dù phương pháp này đã bị cấm tại các nước tiên tiến. Nhiều bác sĩ ngoại quốc rất sốc khi biết con số ca giải phẫu mà Bs Wang đã thực hiện. Bác sĩ Michael Schulder, chủ tịch một hội thần kinh học của Mĩ, nhận xét: "Nó [chỉ phương pháp phẫu thuật] hoàn toàn không còn áp dụng nữa. Nếu ông ấy chỉ giải phẫu cho 10 bệnh nhân thôi thì đã là một việc làm gây ra nhiều tranh luận."
Phương pháp điều trị tâm thần phân liệt bằng phẫu thuật đã gây ra nhiều tranh cãi ngay từ những năm đầu thập niên 1930, lúc đó bác sĩ bắt đầu áp dụng biện pháp cắt bạch chất (lobotomy) trong não. Phương pháp đó sau này được xem là vi phạm y đức. Nhưng phương pháp mà Bs Wang áp dụng để điều trị ông Zhantao – gọi là ablative surgery – là một phương pháp còn trong vòng tranh cãi và rất ít ai áp dụng, hay chỉ áp dụng như là một biện pháp sau cùng cho các bệnh tâm thần. Ở Mĩ, số bệnh nhân bệnh tâm thần phân liệt được điều trị bằng phẫu thuật chỉ khoảng 20-25 người mỗi năm, nhưng trước đó phải được xét nghiệm và điều tra lâm sàng rất kĩ. Tính trung bình, thời gian để được phê chuẩn cho một ca phẫu thuật như thế tốn ít nhất là 12 tháng, với sự phê chuẩn của một hội đồng y khoa bao gồm các chuyên gia thần kinh học, tâm thần học, y đức và thân nhân của bệnh nhân.
Bài phóng sự trên tờ WSJ còn cho biết giải phẫu điều trị các bệnh tâm thần ở Trung Quốc là hệ quả của tình trạng tham nhũng tràn lan trong hệ thống y tế của Trung Quốc. Trong hệ thống đó, bác sĩ muốn có thêm thu nhập, họ phải thực hiện nhiều ca giải phẫu để có thêm tiền thưởng. Do đó, hệ thống y tế Trung Quốc trở thành một môi trường để các giới chức y tế lợi dụng và lạm dụng. Theo một chuyên gia phẫu thuật tại Đại học Giao thông Thượng Hải, các bệnh viện quân sự Trung Quốc xem các khoa thần kinh ngoại là những trung tâm làm ra tiền.
Tuy Trung Quốc đang cố gắng cải tổ hệ thống y tế, nhưng đối với hàng ngàn bệnh nhân như ông Zhantao thì việc làm đó đã quá muộn. Gia đình của Zhantao đang làm thủ tục kiện bác sĩ ra tòa. Dù vụ kiện sẽ không giải quyết được tình trạng bệnh của anh, nhưng nó gióng một tiếng nói cho công chúng Trung Quốc biết về một thuật điều trị nguy hiểm mà thế giới chẳng còn ai áp dụng.
NVT
===
http://online.wsj.com/public/article/SB119393867164279313.html?mod=blog
In China, Brain Surgery Is Pushed on the Mentally Ill
Irreversible Procedures Rarely Done Elsewhere; A Mother's Regrets
By NICHOLAS ZAMISKA
NANJING, China -- Mi Zhantao, a poor 25-year-old living with his parents outside this provincial capital in eastern China, was battling depression and had trouble socializing. Doctors said he had schizophrenia. They recommended brain surgery.
Mr. Mi's family spent about $4,800 -- the equivalent of four years' income, and more than their life savings -- on the operation, at No. 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing. The highly controversial procedure involved drilling tiny holes in the young man's skull, inserting a 7½-inch-long needle and burning small areas of brain tissue thought to be causing his problems.
The surgeon, who operated on Mr. Mi the day he met him, says he has performed nearly 1,000 such procedures, mostly for schizophrenia, but also for illnesses ranging from depression to epilepsy, since the hospital started offering the operation in 2004.
Mr. Mi's parents say the surgery did nothing but leave their son with a partially limp right arm and slurred speech. He continues to be depressed and withdrawn, his mother says. Wang Yifang, the surgeon, says he checked the medical records and, as far as he knows, the patient left the hospital uninjured.
Mr. Mi's mother, Kong Lingxia, 50, says she'll regret the decision for the rest of her life. "I feel so angry," she says. "But I'm really angry at myself. How could I let this happen?"
The irreversible brain surgeries performed at No. 454 Hospital, which are all but blacklisted for mental illness in the developed world, are being done across China. They are a symptom of the problems plaguing the nation's health-care system, which has left hospitals with scant public funding and hungry for profit.
Some foreign doctors were shocked when told of the number of surgeries Dr. Wang has performed and the problems he was trying to treat.
"It's completely off the charts. If he had done 10, it would be highly controversial," says Michael Schulder, president of the American Society for Stereotactic and Functional Neurosurgery. Such surgery involves locating and operating on specific targets in the brain.
Surgeons operate on the brain for problems ranging from tumors to movement disorders. But in mainstream medicine, the surgery performed on Mr. Mi -- called ablative surgery -- is a last resort for mental illness. It isn't done anywhere in the U.S. for schizophrenia. While the total number of psychosurgical procedures performed in the world is unknown, Emad N. Eskandar, of Massachusetts General Hospital, estimates fewer than 25 patients are operated on annually in the U.S. and Britain.
Doctors at Massachusetts General perform between six to 12 ablative procedures a year for mental illness, but only after rigorous screening, says Dr. Eskandar, the director of stereotactic and functional neurosurgery. The operations are intended to ease symptoms of intractable depression or obsessive-compulsive disorder. Patients must be competent to give informed consent, and the procedure, which normally takes at least a year to be approved, must be cleared by a committee including psychiatrists, neurologists, ethicists, surgeons and a layperson.
Dr. Wang Yifang, head of neurosurgery at 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing, has performed nearly 1,000 brain surgeries since 2004.
China's system is vulnerable to abuse because doctors make as much as 90% of their income through bonuses tied to business they generate, according to Henk Bekedam, who until recently was the World Health Organization's chief representative in China.
"In China, nowadays, in some military hospitals, their brain center is a profit center," says Sun Bomin, director of functional neurosurgery at Shanghai Jiao Tong University's Ruijin Hospital. Most of China's hospitals are run by the health ministry, but some are overseen by the 80-year-old People's Liberation Army, a legacy of the days when the military ran its own services. Those hospitals now are open to the public.
Dr. Sun says he performs around 20 or 30 brain surgeries for schizophrenia each year, but only with strict oversight from multiple psychiatrists. He says improper use of the procedure, such as not being selective enough about the patients, is the problem, not the procedure itself.
Under Mao Zedong, the state provided basic but near-universal care. That safety net was gradually dismantled as Beijing began privatizing health care in the 1980s, leaving many individuals -- and thousands of ailing state-run hospitals -- to fend for themselves.
China has been trying to repair the system, but its health bureaucracy, responsible for regulating drugs and medical procedures, is struggling with the wake of a corruption scandal. The former head of the State Food and Drug Administration was executed this summer for accepting bribes from drug companies to speed approvals.
The Ministry of Health in Beijing didn't respond to written questions about the surgeries.
A spokeswoman for the Ministry of National Defense office said the health department of the People's Liberation Army agreed to do a "thorough investigation" in response to written questions from The Wall Street Journal about the surgeries, but declined to comment while the investigation was under way.
Dr. Wang says government investigators came to his hospital in mid-October to inquire about the surgeries he was performing. On Oct. 26, Ms. Kong said in a telephone interview that local officials visited her and asked her why she had allowed a foreign reporter into her home.
Brain surgery for mental disorders has been a controversial practice since at least the 1930s, when doctors began performing lobotomies, removing or altering parts of the brain. That procedure was eventually blacklisted. The difference with the surgery being done today, advocates say, is that the areas of the brain being targeted are more precise.
The Chinese government banned the brain surgery for use on drug addicts in 2004, after news reports about the practice. But the procedure continues to be used for mental illness.
Dr. Wang, head of neurosurgery at No. 454 Hospital, defends the procedure. "There are so many mental-disease patients," he says. "In many of the mental-disease hospitals, 30% to 50% of the patients cannot be treated by medicine. And these patients have caused a great burden to their families and society."
Dr. Wang, 44, graduated from Nanjing Medical University in 1987 and later joined the air force as a surgeon. He says his salary at the PLA hospital is about $670 a month; he says he doesn't get bonuses tied to generating business and isn't paid more to perform more surgeries. However, Dr. Wang says he travels to nearby provinces frequently to perform the procedure at other hospitals, to earn more.
No. 454 Hospital has around 600 employees and revenue of some $12 million a year, about $1 million of which comes from the surgeries, Dr. Wang says. The hospital promotes the surgery aggressively, printing pamphlets featuring success stories, and runs a hot line people can call for information.
Shi Haiming, the No. 454 hospital's deputy director, declined to comment.
Dr. Wang says all patients are screened before the surgery and the procedures have helped many patients. Earlier this year, the hospital handed out more than 500 questionnaires to families of patients who have undergone brain surgery, he says. It asked about activities of the patients, such as talking with friends, taking the bus, shopping and, generally, whether the patients' lives had improved since surgery. The hospital received 317 completed surveys, and based on the answers, Dr. Wang and his staff rated each patient's condition on a five-tier scale. Dr. Wang says they determined that 93% of respondents had shown improvement.
Deng Jian's family says she hasn't improved. And they sued.
Ms. Deng, who was diagnosed with schizophrenia in her 20s, had the surgery in 2004. Ms. Deng, 42, suffered a brain hemorrhage during the procedure. Her right leg is now in a brace, and her right arm is lame. She salivates uncontrollably and needs to spit in a bucket.
Her father, Deng Jun, recalls the days when Ms. Deng could ride her bike on her own to Sun Yat-Sen's mausoleum near their home in Nanjing. Her mother, Ran Yuhua, says that before the surgery, "she had problems in the mind, but she could take care of herself. But after the surgery, she can't do anything. Can't even wring a towel or get dressed."
The morning they checked into the hospital, her mother remembers reading documents about possible risks. She asked the doctor what "cerebral bleeding" meant. Dr. Wang never answered her question, she says, and instead pushed her to pay. "He said, 'Hurry up, hurry up. Otherwise no time. We have surgeries to do,'" she recalls.
Dr. Wang disputes that he rushed the family to a decision. "This is unfair," he says. "They came and we repeatedly told them about the risks of the surgery." He says it took three to four hours to finish the necessary tests, including an electrocardiogram, chest X-rays, liver tests and a CT brain scan.
He says her problems are the result of "a complication" during the surgery, which happens in exceedingly few cases.
The family sued the hospital in Baixia District People's Court for about $76,000 to cover costs of the surgery, nursing costs and compensation for Ms. Deng's injuries. In May, the court ruled in favor of the Deng family, awarding them about $49,000, according to copies of court documents provided by the family. Fang Jianguo, a chief judge at the Baixia District People's Court confirmed the May verdict. The court documents also said the family should have considered the risks more thoughtfully.
Other hospitals are doing brain surgery to treat mental illness. No. 3 Hospital of the People's Liberation Army, in the city of Baoji, has performed more than 800 such surgeries, according to a doctor there. No. 463 Hospital of the People's Liberation Army, in Shenyang, says it has performed more than 2,000 surgeries since about 2001, with almost all patients reporting progress.
In the U.S., "mental-disease patients have places to go for treatment," says Jiang Keming, a surgeon at the No. 3 PLA Hospital. "But here, most patients are living out in the open and threatening the safety of society -- killing and setting fire to things. Families demand to give them the surgeries."
The Hunan Brain Hospital in Changsha, as well as the Air Force Guangzhou Hospital, perform 100 or more of the brain surgeries a year for mental illness, according to hospital staff. Doctors in China also prescribe medications for mental conditions, but cost is a limiting factor in many cases.
The first time Mr. Mi's parents noticed anything wrong with their son was in the summer of 2004, when he was 21. He had a fever for several days, then had trouble sleeping and often felt sick. He was depressed and moody, according to his mother, Ms. Kong.
That summer, he stopped going to the glass factory where his father worked and he had been an intern. The family asked several doctors for advice. Some said the young man had mental problems, without being specific, while doctors in Shanghai and Beijing reviewed his brain scans and told the father there was little to worry about.
Ms. Kong's sister, who lives in Shanghai, gave her a newspaper clipping dated July 16, 2004. The article, published in the Yangtse Evening News, carried the headline "After Seven Years, Violent Crazy Man Finally Wakes Up." It touted the benefits of a new brain surgery offered by No. 454 PLA Hospital, and detailed the success that a 22-year-old had with the surgery. It quoted Dr. Wang as saying: "You can go to school, go to work, no difference from normal people."
Ms. Kong, worried that her son's condition might get worse, thought this could help. In October 2005, the family withdrew their savings of about $3,900 from the bank. They borrowed the rest of the money needed for the surgery from family and former classmates, packing hundreds of notes in their clothing and blankets. On Oct. 9, they took the train to Nanjing.
The next morning, the parents took their son to the hospital. This was the first time the doctors had seen Mr. Mi. They asked for the payment.
A doctor handed her a diagnostic report to sign. The page-long report detailed some of his symptoms and listed her son's illness as schizophrenia. Mr. Mi's parents had never heard the term before. Among other things, the report said their son "beats and curses" his family members, "smashes things" and hears imaginary voices, according to a copy of the report.
Ms. Kong says she didn't even read the report at the time, but signed it at the request of doctors. Her signature appears on the bottom, as well as the words "The situation is factual," in her handwriting. Ms. Kong now says that the doctor who drafted the report was simply making it up, and that neither she nor her husband ever complained that their son beat them or broke things in the home.
Dr. Wang denies his staff falsified records.
Not long after Ms. Kong signed the document, nurses put her son on a gurney and strapped him down. She says she thought the nurses were taking him to do some tests. "At least they should have him hospitalized for a few days before anything. We were not prepared at all."
Dr. Wang says most families bringing a patient for the surgery ask him "to do it as quickly as possible" because the patients are difficult to control.
A medical report filed by the hospital describes how frames were fixed on Mr. Mi's head and holes drilled into his skull. Dr. Wang says he used a needle, with a tip heated to about 180 degrees Fahrenheit, and inserted it into the brain for about a minute to destroy specific areas of tissue.
At around 3 p.m., nurses wheeled the young man out of the elevator. That night, he woke up suddenly and vomited. His mother says doctors told her vomiting was normal and that the surgery had gone as planned.
Mr. Mi was also bleeding from both ears, she says. For five days, he slipped in and out of consciousness, and when he regained consciousness, his right arm was limp and his speech was fuzzy, she says.
Dr. Wang says he checked hospital records which indicated that Mr. Mi was fine when he left the hospital. But he says that the surgery "doesn't help some people."
A few months after the surgery, in February 2006 during Chinese New Year, Ms. Kong says she found her son standing on the balcony of their sixth-floor walk-up apartment, overlooking the street where craftsmen grind statuettes out of red stone. She says Mr. Mi had put power cables around his neck, and later told her that he was trying to kill himself.
In August, Mr. Mi's parents took him to No. 123 hospital to get him tested. The hospital treated Mr. Mi with oxygen and physical therapy to try to reverse the brain damage, which may have been linked to the surgery, according to a report filed by Wu Qian, a doctor in the hospital's neurology department.
"He wasn't like this before," Mr. Mi's mother says, as her son rocked in his chair at the family's home and blinked his left eye sporadically. "Before, he didn't talk much. But now, when he talks, nobody understands."
—Ellen Zhu in Shanghai contributed to this article.
Write to Nicholas Zamiska at nicholas.zamiska@wsj.com
Subscribe to:
Posts (Atom)
