Thursday, April 26, 2007

Việt Nam có bao nhiêu nhân lực khoa học công nghệ

Các con số thống kê được trích từ bài này của ông Nguyễn Hoàng Hải:

http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2503 (tháng 4/2007)

ĐÔI ĐIỀU VỀ THỐNG KÊ NHÂN LỰC KH &CN

• Sách KH&CN Việt Nam 1996-2000 (tr.49) có ghi: Tính tới tháng 12.2000, Việt Nam đã có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật (CNKT); trên 1,3 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng (ĐH-CĐ); trên 10.000 ThS, 12.691 TS và TSKH, trong đó có 610 TSKH. Bình quân có 190 cán bộ KH&CN trên 10.000 dân.

• Theo Sách KH&CN Việt Nam 2003 (tr.62): Tính đến cuối năm 2003, đội ngũ cán bộ KH&CN tiềm năng của Việt Nam ước tính khoảng 2 triệu người có trình độ ĐH-CĐ trở lên, trong đó có 14.000 TS và 20.000 ThS.

• Sách KH&CN Việt Nam 2001-2005 (tr.58) đã nêu: Hiện nay, nước ta có khoảng trên 2,2 triệu người có trình độ từ ĐH-CĐ trở lên. Tuy nhiên, số người làm việc trong khu vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) ước tính khoảng 21.000 người. Trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 3.1999, trong bài viết “Nhân lực KH&CN ở nước ta - Vấn đề cần quan tâm”, tác giả đã chỉ ra số lượng nhân lực KH&CN qua các thời điểm như sau:

• Tổng điều tra dân số 1.4.1989: Tổng nguồn nhân lực đào tạo ở các cấp trình độ là 2.796.674 người, trong đó trên đại học là 8.487 người; ĐH-CĐ là 561.978 người; CNKT có bằng là 681.030 người và không có bằng là 542.558 người.

•Tháng 7.1995, Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp (không tính an ninh quốc phòng, hợp tác xã nông nghiệp...), kết quả cho thấy: Trình độ ĐH-CĐ trở lên có 646.111 người, trung học chuyên nghiệp (THCN) có 749.520 người, CNKT có bằng là 540.032 người (tổng số nhân lực điều tra đợt này là 6.745.305 người).

• Theo một số nguồn tư liệu khác nhau, cho đến nay nước ta có hơn 800.000 lao động có trình độ đại học và tương đương, trong đó có gần 600 TS, hơn 11.000 PTS và hơn 45.000 cán bộ làm trong khu vực R&D, khoảng 20.000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực sản xuất.• Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 1995 nước ta có 3.156.713 lao động được đào tạo ở các trình độ khác nhau. Trong số đó, ĐH-CĐ chiếm 20,2%, THCN chiến 36,3%, CNKT có bằng chiếm 24,5% và không bằng cấp chiếm 19%.

• Theo số liệu của Vụ Khoa học, Giáo dục và Môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), năm 1995 nước ta có 34.530.000 lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, trong đó, ĐH-CĐ là 759.577 người, THCN có 1.240.730 người, CNKT có 2.769.300 người.Báo cáo “Vietnam at the Crossroads - The Role of Science and Technology” - do nhóm nghiên cứu của Trung tâm IDRC, Canada thực hiện (xuất bản thành sách năm 1999), đã đưa ra con số thống kê về nhân lực KH&CN (S&T Personnel) là 22.313 người1. Theo nguồn thống kê của Văn phòng đăng ký hoạt động KH&CN, năm 1999, tổng số nhân lực R&D trong thời điểm năm 1998 là 29.285 (tham khảo từ công trình “Vietnam’s Research & Development System in the 1990s - Structure and Functional Change” của TS Đặng Duy Thịnh kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu WZB của Cộng hoà Liên bang Đức, năm 2000).Qua việc điểm lại những con số thống kê về nhân lực KH&CN, một cách tổng thể cho thấy:

• Chưa có sự thống nhất về khái niệm, phương thức và tiêu chí thống kê giữa các tổ chức, cá nhân nghiên cứu về nhân lực KH&CN. Có tài liệu chỉ thống kê tổng số nhân lực có trình độ, có tài liệu đề cập đến nhân lực KH&CN, tài liệu khác lại nêu ra số liệu về nhân lực R&D. Điều này gây ra nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách liên quan đến nhân lực KH&CN vì tính kế thừa và liên hệ giữa các số liệu đưa ra từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu chính thức của Nhà nước là rất thấp.

• Chưa thấy số liệu thống kê thống nhất do cơ quan có thẩm quyền chính thức công bố, như: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ KH&CN. Các số liệu thống kê được sử dụng đều mang tính chất tham khảo.

No comments: