Tuesday, June 5, 2007

Khoa học Việt Nam qua những công bố quốc tế

Bài này rất thú vị, dù với những ai theo dõi hoạt động khoa học ở trong nước thì chẳng có gì ngạc nhiên. Bản thân Gs Phạm Duy Hiển cũng nêu vài lân rồi. Lần này chắc ổng chán quá hay nản quá (nói hoài mà không có người lắng nghe chăng), nên ổng không thèm bình luận nữa, mà để cho con số nói! :-))

Thôi thì tôi sẽ thay Gs Hiển bình luận tạm vậy.

Thứ nhất là các nghiên cứu do nội lực giảm, trong khi các nghiên cứu hợp tác với nước ngoài gia tăng. Điều này có thể phản ảnh rằng hoặc là (a) đầu tư cho nghiên cứu khoa học ở nước ta giảm, hoặc (b) đầu tư không giảm nhưng các nhà khoa học ta … lười biếng, hoặc (c) các nghiên cứu của ta chất lượng càng ngày càng thấp. Tôi tin (b) và (c) hơn, vì ngân sách cho khoa học rõ ràng là có tăng. Vậy thì mình cần phải xét lại xem các nhà khoa học của ta đã và đang làm gì. Tại sao họ không công bố báo cáo khoa học? Tại vì tiếng Anh kém, hay tại nghiên cứu dỏm quá không ai chịu đăng?

Thứ hai là tuy năm 2006 chúng ta có 550 bài báo khoa học, tất nhiên phần lớn do hợp tác với nước ngoài. Hai chữ “hợp tác” ở đây có nhiều nghĩa. Có loại hợp tác bình đẳng (tức Ta và Tây cùng đóng góp vào nghiên cứu tương đương nhau), có loại làm mướn (tức Tây nó chỉ bỏ tiền ra thuê Ta thu thập số liệu, và Tây phân tích & viết báo rồi lịch sự cho Ta vào bài báo). Vậy thì câu hỏi đặt ra là trong số này, bao nhiêu bài báo do hợp tác bình đẳng và bao nhiêu do làm mướn cho Tây. Không nói ra, nhưng tôi nghi là làm mướn nhiều hơn quá!

Thứ ba là mấy con số thống kê so sánh giữa Ta và Thái Lan thật thú vị. Số bài báo khoa học của Thái Lan cao gấp 3.7 lần (1406 vs 375) của VN! Chưa hết, 53% bài báo nghiên cứu của Thái Lan là hợp tác với nước ngoài, còn ở nước ta con số này là 81%. Điều này cho thấy chúng ta kém quá, lúc nào cũng nhờ cậy vào (hay làm mướn cho) nước ngoài.

Thứ tư, có dấu hiệu cho thấy Thái Lan làm nghiên cứu có chất lượng hơn Ta. Số lần trích dẫn trung bình các bài báo từ Thái Lan là 4.3 lần, trong khi đó ở nước ta con số này là 1.7. Gần 50% các bài báo từ VN chẳng ai thèm đọc hay trích dẫn, và con số này cao hơn 2 lần so với Thái Lan (21%).

Thứ năm, phần lớn nghiên cứu ở nước ta chỉ xoay quanh hai ngành toán và vật lí (chiếm 53% tổng số bài báo khoa học), tức chỉ lí thuyết, trong khi đó Thái Lan họ tập trung làm nghiên cứu ứng dụng về y khoa và nông học. Các bài báo khoa học ứng dụng ở VN chỉ chi61m 14% tổng số bài báo công bố, trong khi đó con số này ở Thái Lan là trên 80%.

Nói tóm lại, các con số này cho thấy nghiên cứu khoa học ở nước ta chẳng những năng suất thấp, mà chất lượng cũng thấp, và phần lớn là nhờ vào nước ngoài.

NVT


==============


http://www.tiasang.com.vn/news?id=1627
Khoa học Việt Nam qua những công bố quốc tế 14:15:51 01/06/2007

Dựa trên các công bố quốc tế để đánh giá thành tích khoa học của đất nướcSo sánh hai nhà khoa học với nhau dựa trên các công bố quốc tế có khi chưa ổn. Nhưng để so sánh trình độ khoa học của các quốc gia với nhau thì không có tiêu chí nào khả dĩ, khách quan và chính xác hơn là dựa trên các công bố quốc tế, mà trước hết là các bài báo (article) đăng trên những tạp chí có phản biện đồng nghiệp (peer review).


Trình độ khoa học trong từng lãnh vực có thể được đánh giá qua số bài báo và số lần được trích dẫn. Gần đây, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã lên tiếng về việc chúng ta phải nhìn nhận công bố quốc tế như tiêu chí trung thực đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, và thống nhất sử dụng cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học ISI, Thomson Scientific để tìm kiếm thông tin và tài liệu khoa học. Được biết, Bộ KHCN VN cũng đang xem xét khả năng mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu này trong thời gian tới.

Theo thông báo mới nhất, ISI cập nhật thông tin từ 9080 tạp chí quốc tế có hệ thống phản biện đồng nghiệp nghiêm ngặt bao gồm:

Science Citation Index Expanded - 6200 tạp chí có từ năm 1900
Social Science Citation Index - 1743 tạp chí có từ năm 1956
Art and Humanities Citation Index -1137 tạp chí có từ năm 1975.

Hiện nay chưa có tạp chí khoa học nào bằng tiếng Anh của Việt Nam được lọt vào danh sách trên. Không phải vì người ta kỳ thị mình mà vì chất lượng các tạp chí hàng đầu của ta chưa vẫn ngang tầm quốc tế. Số tạp chí nói trên lại phân theo 55 ngành khoa học rất đa dạng, có nhiều ngành hầu như chưa ai nghiên cứu ở nước ta, không giống như một số người thường ngộ nhận "oan uổng" rằng tạp chí quốc tế chỉ là sân chơi của giới nghiên cứu cơ bản. Hiện nay, ngày càng có nhiều hướng nghiên cứu liên ngành, nên những phân loại theo ngành trong ISI nhiều khi chỉ mang tính chất tương đối.

Thành tích mười năm của Việt Nam

Công bố quốc tế có tên các tác giả Việt Nam trong mười năm qua tăng từ 256 bài năm 1997 lên 550 bài năm 2006, theo cấp số nhân, trung bình mỗi năm tăng 9-10% (hình 1). Nhưng sự tăng trưởng này chủ yếu là qua hợp tác với nước ngoài, số bài báo có địa chỉ thuần tuý Việt Nam (do nội lực) vẫn dẫm chân tại chỗ quanh con số trung bình 77 bài trong suốt mười năm qua (đường dưới cùng, hình 1). Tỷ lệ bài báo do nội lực và do hợp tác liên tục giảm từ 30% năm 1997 xuống còn 13% năm 2006 (hình 2).

Hình 1. Số bài báo quốc tế của Việt Nam dùng nguồn nội lực và qua hợp tác quốc tế trong mười năm gần đây

Bài báo dùng nguồn nội lực khác bài báo do hợp tác với các nước tiên tiến từ đầu tư kinh phí, cơ sở hạ tầng, đội ngũ để làm ra công trình, cho đến khả năng trực tiếp đào tạo sinh viên và tác động đến sản xuất đời sống trong nước qua thực hiện đề tài. Hợp tác với nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, nhất là các nước tiên tiến, để đào tạo nhân lực trình độ cao là việc rất đáng khuyến khích. Nhưng để xem xét hiệu quả đầu tư cho khoa học, nhất là các khoa học thực nghiệm và ứng dụng, có nhiều tác động đến sản xuất đời sống, không thể căn cứ trên số lượng áp đảo các bài báo được thực hiện ở nước ngoài, với phương tiện nghiên cứu hiện đại hơn nhiều và thương hiệu đã nổi tiếng từ lâu. Trên thực tế, chất lượng của bài báo do nội lực hiện nay nói chung thấp hơn hẳn bài báo do hợp tác, xét theo số lần được trích dẫn (xem bảng 1).

Diện mạo khoa học Việt Nam so với Thái lanVới những thành tích trên hình 1, ta không thể định lượng được liệu Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới nếu không so sánh với một nước khác, như Thái Lan chẳng hạn, nước láng giềng chưa thể xem là có đẳng cấp đáng kể về KHCN. Thông tin trên bảng 1 rút ra từ số liệu thống kê năm 2001. Chọn năm 2001 để so sánh vì thời gian 5 năm từ đó đến nay không quá lâu để mất tính thời sự, lại không quá ngắn để giới học giả đủ thời gian nghiên cứu và trích dẫn các công trình sau khi được công bố. Ngoài các thông tin về công bố quốc tế, hai dòng trên cùng có đưa thêm số liệu về dân số và bình quân GDP để làm căn cứ so sánh.

Hình 2. Tỷ lệ giữa số bài báo do nội lực và do hợp tác giảm liên tục trong mười năm gần đây.
Số bài báo phân theo các ngành khoa học trên bảng 2 cho ta bức tranh về diện mạo rất tương phản nhau của các ngành khoa học được nghiên cứu ở hai nước. Hai ngành mạnh nhất của Việt Nam là Toán và Vật lý lại nằm trong số những ngành yếu nhất ở Thái Lan về số bài báo quốc tế lẫn số lần trích dẫn. Còn những ngành vượt trội nhất và có tác động trực tiếp nhất đến sản xuất và đời sống của Thái Lan là y học, sinh hoá và công nghệ sinh học, thì hầu như Việt Nam không có công trình nào đáng kể.


Bảng 1. So sánh Thái Lan và Việt Nam trong năm 2001. Số lần trích dẫn được cập nhật tháng 12/2006

Thái Lan Việt Nam
Dân số 63 79
Bình quân GDP (USD) 2000 420
Tổng số bài báo quốc tế trong ISI
1406 375
Do hợp tác
Số bài 757 305
Số trích dẫn trung bình 8.6 7.6

Do nội lực
Số bài 649 70
Số trích dẫn trung bình 4.3 1.7
Số bài không được trích dẫn 21% 49%
Số lần trích dẫn nhiều nhất cho 1 bài báo 30 16
Đóng góp của các trường đại học 91% 39%

Bảng 2. Diện mạo các ngành nghiên cứu dùng nguồn nội lực ở Việt Nam và Thái Lan năm 2001. Số lần trích dẫn trung bình cho từng ngành được cập nhật váo tháng 12/2006

Ngành khoa học Thái Lan Việt Nam
Số bài Số lần trích dẫn trung bình Số bài Số lần trích dẫn trung bình
Y học 203 4.9 2 0.5
Ung thư 10 10.3
Miễn dịch học 15 6.8
Sản khoa 20 5.4

Công nghệ/năng lượng 66 1.8 3 3.3
Hóa học 47 7.2 9 0.6
Khoa học vật liệu / polyme 45 5.3 4 0.3
Sinh học phân tử / sinh hóa 31 7.5 0
Nông nghiệp / nông học 36 3.1 2 0.5
Sinh học / vi sinh học 30 5.4 0
Khoa học máy tính 24 1.5 5 1.2
Thủy sản 20 3.4 0
Y tế công cộng 17 3.9 0
Khoa học môi trường 17 3.8 3 6.7
Thực vật học 15 4.2 0
Dược học 12 5.0 0
Công nghệ sinh học 12 7.1
Vật lí 7 1.0 13 1.8
Toán học 4 0.7 24 2.0
Các ngành khác 65 5
Tổng cộng 649 4.3 70 1.7



No comments: