Sunday, August 19, 2007

Câu chuyện của Huỳnh Mai và Nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Ghi tiếp mới nhất: Bài báo đã được NLĐ đăng hôm nay (20/8) tại đây:
http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/199716.asp
Biên tập cắt bỏ đoạn cuối (có lẽ do tế nhị). Tôi được anh bạn trong tòa soạn cho biết ngay sau khi bài báo đăng đã có nhiều phản hồi tỏ ý đồng tình với tinh thần của bài báo. Báo Người lao động quyết định làm một số đặc biệt về ĐBSCL nay mai. Hoan hô các bạn trong NLĐ!

====

Xin gửi các bạn một bài viết do báo Người lao động "đặt bài". Bài viết cho số báo đặc biệt 2/9, nhưng ban biên tập thấy bài viết "căng" quá, nên đề nghị đăng trong số báo thường. Tôi cũng hiểu và thông cảm cho nhà báo thôi. Đăng ở đâu và lúc nào cũng được, miễn là những sự thật trong bài này phải được bà con biết đến. Bài viết về tình trạng nghèo khó của bà con vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tức là quê tôi.

Đã từ lâu tôi rất bức xúc với tình trạng nghèo khó của người dân quê. ĐBSCL là cái vựa lúa của cả nước, nhưng chẳng hiểu sao mà Nhà nước -- hết chính phủ này đến chính phủ khác -- đều chẳng thấy có hành động thiết thực (nhấn mạnh: "thiết thực") để cải thiện tình hình ở vùng này. Thành ra, người dân vùng này vẫn còn nghèo, vẫn thiếu ăn, vẫn ít chữ, vẫn ... đủ thứ cả. Mỗi lần tôi về quê là mỗi lần buồn, vì đếm đi đếm lại, cũng vẫn những căn nhà lá đó, những đứa trẻ lam lủ quần áo cũ mèm đi bộ đến ngôi trường nhà lá vách tranh.

Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy một số phụ nữ trong vùng đi làm dâu xứ người. Tôi xem đây là một vết không đẹp của nước ta. Lịch sử nước ta chưa bao giờ có một làn sóng phụ nữ đi làm dâu nước ngoài như thế. Vì sao? Tôi nghĩ vì nghèo và tuyệt vọng (chứ có ai lại đi lấy chồng người ngoại quốc trong khi một chữ bẽ đôi cũng chưa rành). Nhà nước phải có trách nhiệm một phần cho tình trạng này.

NVT

===

Câu chuyện của Huỳnh Mai và Nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Câu chuyện thương tâm của cô gái tên Huỳnh Mai (lấy chồng người Hàn Quốc, và chưa tròn bốn tháng sau khi theo chồng về Hàn Quốc, bị chồng đánh đập dã man đến chết) trước hết làm cho bất cứ ai có lương tâm đều phải phẩn nộ trước cái dã tâm và thú tính của người chồng xem thường mạng sống của một cô gái Việt. Nhưng câu chuyện còn nhắc chúng ta rằng tuy kinh tế nước ta đang phát triển khả quan trong thời gian gần đây, nhưng vẫn còn nhiều người dân còn sống trong nghèo khó, có khi đến tuyệt vọng, ở một bộ phận nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày nay.

Quê quán của Huỳnh Mai ở xã Ngọc Chúc (thuộc huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang), một xã nổi tiếng kiên trung với cách mạng trong thời chiến tranh, nhưng nay là một trong những xã nghèo nhất của tỉnh, và có lẽ một trong những xã nghèo nhất của cả nước. Hãy nghe phóng viên mô tả về cái nghèo của gia đình Huỳnh Mai: “Nhà chẳng có cục đất chọi chim, đến ngôi nhà đang ở cũng phải nhờ trên đất mẹ vợ. Cuộc sống hằng ngày của gia đình phải nhờ vào sức lao động của người cha khi có ai đó đến mướn cắt lúa, bón phân … Cái nghèo dai dẳng đã khiến Huỳnh Mai bỏ học sớm, xuống tận Bạc Liêu làm công nhân thủy sản từ năm 15 tuổi.” Không có đất, làm mướn, và bỏ học sớm gần như là những dấu ấn kinh điển của một số không nhỏ nông dân vùng ĐBSCL.

Thật vậy, hoàn cảnh vừa mô tả trên không phải chỉ cá biệt cho trường hợp của gia đình Huỳnh Mai, mà còn hay gặp ở khá nhiều gia đình ở vùng nông thôn thuộc ĐBSCL ngày nay. Trong một nghiên cứu khoa học gần đây về tình hình nông thôn Việt Nam, một nhóm kinh tế gia Úc ước tính rằng có khoảng 19% dân số (tức khoảng 9 triệu người) ở nông thôn Việt Nam được xếp vào nhóm “vulnerable” (tức nghèo khó), mà ở Việt Nam Nhà nước gọi là nhóm “đối tượng”. Các đặc điểm chính của nhóm này là không có đất canh tác, trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, cao tuổi hay mắc bệnh mãn tính, và trẻ mồ côi hay tàn tật không có khả năng lao động.

Khi nói đến vùng ĐBSCL người ta hay nói đến vùng đất “thừa gạo ít chữ”. Nhưng ấn tượng đó có lẽ không đúng với thực tế, bởi vì vùng đất này chẳng những thiếu gạo mà còn ít chữ. Vài năm trước một nghiên cứu của trường Đại học Cần Thơ cho thấy khoảng 60% dân số trong vùng thiếu ăn từ 4 đến 6 tháng; hơn một phần tư dân số vẫn còn ở nhà tranh vách lá.

Còn về sự học, những con số thống kê cũng mô tả một tình hình không mấy sáng sủa. Tuy dân số vùng ĐBSCL chiếm 1/4 dân số cả nước, nhưng số người mù chữ ở vùng (45 ngàn) chiếm gần 40% số người mù chữ của cả nước! Ngoài ra, số lượng học sinh đến trường thấp nhất nước; tỉ lệ bỏ học cao nhất nước; tỉ lệ dân số có trình độ đại học thấp nhất nước. Một giáo sư người Mĩ nhận xét rằng giáo dục vùng ĐBSCL là một nạn nhân khác của chiến tranh. Nhưng chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi, mà tình hình vẫn chưa có gì đổi thay tích cực cho tương xứng với tầm vóc kinh tế của vùng.

Tình trạng nghèo khó trên đây rất tương phản với những con số thống kê về tốc độ phát triển kinh tế của vùng ĐBSCL. Theo thống kê năm 2006, GDP của toàn vùng tăng 10,3% (tức cao hơn trung bình của cả nước là 7,4%), với những tỉnh có tốc độ tăng nhanh như Cần Thơ (14,7%), Trà Vinh (13,9%), Đồng Tháp (11,3%), Vĩnh Long (10,8%), Cà Mau (~11%), Kiên Giang và An Giang (~10%).

Với những thành tựu như thế, đáng lẽ người dân ĐBSCL phải có một cuộc sống sung túc, nhưng trong thực tế thì gần như ngược lại. Tính trên diện tích, ĐBSCL chỉ chiếm 12% diện tích của cả nước, nhưng 50% sản lượng lúa, 60% lượng trái cây và 65% sản lượng hải sản của Việt Nam xuất phát từ ĐBSCL. Hơn thế nữa, 90% lượng gạo xuất khẩu là do đóng góp từ nông dân vùng ĐBSCL. Xuất khẩu gạo đem về cho ngân sách Việt Nam hơn 1 tỉ Mĩ kim hàng năm. Thế nhưng trớ trêu thay, chỉ có 15% số tiền này là đến tay người nông dân, một số lớn (45%) lại nằm trong tay các công ti quốc doanh hay các công ti trung gian buôn bán.

Hệ quả là khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng ngày càng có xu hướng tăng. Tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập thường được đo lường bằng hệ số Gini, với giá trị 0 tương đương với hoàn toàn bình đẳng và giá trị 1 tương đương với hoàn toàn bất bình đẳng. Theo một phân tích của Ngân hàng Phát triển Á châu (Asian Development Bank - ADB), hệ số Gini của Việt Nam là 0.38, so với 0,47 của Trung Quốc và 0,42 của Thái Lan. Nói cách khác và một cách nôm na, khoảng cách giữa người giàu và nghèo ở nước ta vẫn còn thấp hơn các nước như Thái Lan và Trung Quốc. Tuy nhiên, phân tích về sự thay đổi của hệ số này cho thấy một xu hướng đang quan ngại. So với thập niên 1990, hệ số Gini của Việt Nam tăng khoảng 2,8%, trong khi đó Thái Lan giảm gần 3%. Tức là, khoảng cách giữa người giàu và nghèo ở Việt Nam gia tăng, trong khi đó ở Thái Lan khoảng cách này thu ngắn lại.

Những ai có dịp ghé qua một lần vùng quê ĐBSCL sẽ thấy có nhiều gia đình giàu lên trong thời Đổi mới và kinh tế thị trường, nhưng bên cạnh đó cũng còn khá nhiều người mà thu nhập hàng ngày chỉ độ 20 đến 30 ngàn đồng, chủ yếu làm những nghề mà suốt ngày phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Trước tình trạng đó, hiện tượng (hay xu hướng) người dân tìm mọi cách để tồn tại, kể cả cắn răng làm dâu cho người ngoại quốc.

Khoảng cách giàu nghèo dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng liên quan đến sức khỏe. Tỉ lệ tử vong ở trẻ em thuộc gia đình nghèo vào năm 1992 là 3,44% (tính trên số trẻ em mới sinh), và đến năm 1997 con số này vẫn không giảm (3,36%); tuy nhiên, trong cùng thời gian, tỉ lệ tử vong ở trẻ em thuộc gia đình được xem là “không nghèo” giảm từ 3,94% xuống còn 2,45%. Năm 1992, trong số những người nghèo nhất, 35% thiếu dinh dưỡng và 73% trẻ em nằm trong nhóm “thiếu cân”; đến năm 1997, cũng trong số người nghèo nhất, tỉ lệ suy dinh dưỡng thậm chí tăng lên đến 40%, và tỉ lệ trẻ em thiếu cân giảm còn 69%. Nói tóm lại, tính trung bình thì tình hình y tế nước ta có cải tiến tốt, song khoảng cách giữa người giàu và nghèo dẫn đến tình trạng thiếu công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho người dân là một vấn đề nghiêm trọng.

Bệnh viện trong vùng ĐBSCL lúc nào cũng quá tải. “Quá tải” ở đây phải hiểu là có nhiều bệnh nhân hơn số giường, cho nên hầu như khoa nào của bệnh viện cũng có bệnh nhân nằm ngoài hành lang; bất cứ phòng nào cũng có tình trạng hai bệnh nhân phải nằm chung một giường! Tình trạng y tế ở nước ta có thể tóm lược qua phát biểu của bà cựu bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến: “Có những bệnh viện không mổ được một ca ruột thừa … Tôi đã thiết tha nhiều lần đề nghị đầu tư cho ngành y tế. Phải có kinh phí, nếu không Quốc hội hỏi tôi, chất vấn thế này, tôi không làm sao giải thích được.” Quả đúng như thế: đầu tư cho y tế ở nước ta còn quá thấp và cũng chẳng tăng trong mấy năm gần đây. Hiện nay, chi tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ chiếm 6,1% tổng số chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này thấp nhất so với các nước láng giềng như Campuchea (16%), Lào (khoảng 7%), Mã Lai (6,5%), Trung Quốc (10%), và Nhật (16.4%).

Chẳng những trong y tế và giáo dục mà giao thông trong vùng ĐBSCL cũng là một lĩnh vực cần đầu tư ngay từ bây giờ. Năm 1996, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: “Đồng bằng sông Cửu Long đi lên bằng cái gì, công nghiệp hóa bằng cái gì, thoát khỏi đói nghèo bằng cái gì … nếu không phải là cơ sở hạ tầng – là cái cơ bản để giải quyết hàng loạt các vấn đề khác. Hạ tầng đó là thủy lợi gắn với giao thông và gắn với đời sống … Đó là sự lựa chọn không cách nào khác. Vì thế chúng ta phải tập trung, phải dành dụm, phải huy động một cách cao nhất tài lực và vật lực. Nhưng nếu chúng ta không lựa chọn phương án hết sức khó khăn này thì ĐBSCL sẽ tụt hậu xa, chẳng những nguy cơ với đồng bào vùng ĐBSCL mà còn nguy cơ đến nhịp độ phát triển của cả nước.” Điều đáng buồn là đã hơn 10 năm sau viễn kiến này mà người dân vùng ĐBSCL vẫn còn tụt hậu.

Đầu tư cho hạ tầng cơ sở ở vùng ĐBSCL vẫn chưa thấy đem lại hiệu quả hiển nhiên. Cụ thể như Quốc lộ 1A từ Thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh vùng ĐBSCL vẫn chưa có cải tiến gì đáng kể. Sau 30 năm thống nhất đất nước, trong khi các tỉnh ngoài Bắc và Trung đã có những con đường quốc lộ tiêu chuẩn quốc tế, thì ngược lại con đường về ĐBSCL chẳng khác gì so với 30 năm về trước. Con đường huyết mạch kinh tế của cả miền Nam mà chỉ 2 lằn xe rất hẹp, chỉ vừa đủ cho hai xe bốn bánh. Nhiều đoạn xuống cấp hết sức nghiêm trọng, ổ gà khắp nơi. Có nhiều đoạn đường chỉ có thể chạy 30-40 km/giờ. Chẳng hạn như con lộ từ Phà Vàm Cống đến Tân Hiệp chỉ có thể chạy 40 km/giờ; từ An Giang đến Cần Thơ chỉ chạy 45 km/giờ. Theo đánh giá của một quan chức trong ngành giao thông thì “Hệ thống đường trên nhiều quốc lộ, tỉnh lộ tại ĐBSCL hiện có chất lượng dưới trung bình”. Thành ra, không ai ngạc nhiên mỗi khi có lũ lụt thì có đến 1200 cây số rất khó đi lại, hoặc có nơi, không đi lại được. Con đường từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Kiên Giang chỉ 260 km mà tốn đến 6 hay 7 giờ đi xe!

Có quá đáng không nếu nói vùng ĐBSCL đã bị bỏ quên trong một thời gian dài (vì có người sai lầm cho rằng đây là vùng đất giàu có). Và, hệ quả là có đến gần 1 phần 5 dân số trong vùng sống trong tình trạng nghèo khó triền miên; trong số đó, có không ít gia đình nghèo đến nỗi thiếu gạo ăn, không dám đi bệnh viện mỗi khi mắc bệnh, và phải cho con nghỉ học vì không có tiền trả tiền học phí. Tình cảnh đó đã dẫn đến một hiện tượng xã hội chưa từng có trong lịch sử nước ta: đó là có hàng trăm ngàn cô gái Việt Nam liều mình đi làm dâu cho người ngoại quốc như hiện nay, để có khi phải trả một cái giá quá đắt như trường hợp bi thảm của Huỳnh Mai.

Tôi đọc đâu đó về một câu chuyện cảm động liên quan đến công nhân Hàn Quốc. Thời Hàn Quốc còn nghèo, nhiều người Hàn Quốc phải đi làm công ở nước ngoài; khi tổng thống Hàn Quốc đi công du và có dịp ghé thăm đồng hương, và nghe qua những câu chuyện công nhân Hàn Quốc bị hành hạ và ngược đãi, ông bậc khóc nức nở, rồi ôm những người công nhân đó và nói như thề rằng “chúng ta phải phấn đấu làm cho Hàn Quốc giàu mạnh để người dân Hàn Quốc không bị khinh miệt nữa”. Thiết tưởng câu chuyện rất đáng để mỗi người Việt Nam, trong hay ngoài nước, phải suy nghĩ và hành động để sao cho một trường hợp như Huỳnh Mai sẽ không xảy ra nữa.


No comments: