Monday, August 27, 2007

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”, phần 1

Hôm nay, xin gửi các bạn một bài (gồm 2 phần) liên quan đến vấn đề thu hút trí thức Việt kiều mà mấy tuần nay báo chí trong nước nhắc đến. Tôi có lấy một ví dụ từ Bệnh viện Kiên Giang để các vị quan lớn ở Hà Nội học hỏi. Bài này đã gửi cho báo mạng Người viễn xứ để đăng, và tôi nghĩ chắc họ sẽ đăng. Tôi gửi đây để các bạn đọc trước và nếu có thể góp ý nhé. Bạn đọc nào ở Kiên Giang nhớ email để tôi viết có người đồng tình hay không. Địa chỉ email của tôi là t.nguyen@garvan.org.au

NVT

Ghi tiếp 29/8/07: Bài thứ nhất đã đăng tại đây: http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/vandecuachungta/2007/08/735030/

===

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”:
1. Kinh nghiệm từ nước ngoài

Phát biểu trên báo chí gần đây, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biết “Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục VN.” Có thể nói đây là một chương trình qui mô và tham vọng lớn, và nếu thành công có thể làm thay đổi tình hình khoa học nước nhà theo chiều hướng tích cực hơn trong tương lai. Nhưng nếu tham vọng là một điều cần thiết, thì chúng ta cũng cần nên xét lại thực lực và cơ chế thực hiện để có thể biến ý nguyện thành thực tế.

Theo sau các phát biểu mang tính chính sách của lãnh đạo Nhà nước, đã có nhiều bàn luận về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt (tôi sẽ gọi tắt là “Việt kiều”) về làm việc ở quê nhà. Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.

Vấn đề đặt ra là tại sao? Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến), lí do chính là Nhà nước vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!

Một vài “
chuyển động” gần đây (như việc “Bộ Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng Đề án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo”) là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như thế trong thời gian qua, giới khoa học Việt kiều vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.

Thật ra, như tôi nói ở trên, người Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên truyền” hay “ưu đãi” để tham gia góp phần vào việc phát triển quê hương. Đã là người Việt, ai cũng muốn -- không ít thì nhiều -- đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có gì nãn lòng hơn là dù được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng mới vào cảng hàng không đã phải vướng víu những thủ tục rườm rà, những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm ... Nhưng rất tiếc đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.


Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hàn Quốc

Chúng ta có thể điểm qua kinh nghiệm từ các nước trong vùng xem họ đã thu hút các chuyên gia từ nước ngoài như thế nào, và hi vọng các kinh nghiệm đó sẽ cung cấp cho Việt Nam một vài bài học có ích.

Từ những năm đầu thập niên 1990s, Hàn Quốc đã có một chính sách cụ thể để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu. Ngày nay, khi nói đến sự thành công ngoạn mục của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các giám đốc hãng Samsung, LG và Đại học Quốc gia Seoul đều nhất trí cho rằng chìa khóa thành công của họ là nhờ vào đội ngũ các nhà khoa học Hàn kiều đã góp một phần quan trọng đưa nền công nghệ điện tử và sinh học lên hàng các nước kĩ nghệ tiên tiến.

Cho đến nay, chính sách tuyển mộ các nhà khoa học Hàn kiều của Hàn Quốc vẫn còn tiếp tục và với nhiều hình thức khuyến khích càng ngày càng hấp dẫn hơn. Cũng như nhiều Việt kiều khác, giới khoa học Hàn kiều cũng tỏ ra ngần ngại và thậm chí miễn cưỡng quay về Hàn Quốc làm việc, vì họ phải hi sinh nhiều lợi ích tài chính mà họ đang hưởng ở nước ngoài. Để thu hút những người này, các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ti như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ. Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD / năm. Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều (những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.

Ở Trung Quốc, cũng như Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo xem đội ngũ khoa học Hoa kiều là một lực lượng quan trọng, một chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Nhà nước Trung Quốc chi ra một ngân khoản lớn để thu hút các giáo sư và nhà khoa học Hoa kiều từ các nước Âu Mĩ về Trung Quốc làm việc. Họ có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.

Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông, v.v… mà tho đó mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) cho mục đích này. Để thực hiện việc này, các đại học thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc. Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc và một số thì tiêu ra từ 3 đến 12 tháng. Những người về làm việc toàn thời gian được trả lương đến 40.000 USD / năm (lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD / năm). Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.

Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế. Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa. Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học. Kể từ khi thu hút Hoa kiều về giảng dạy và nghiên cứu, nhiều đại học hàng đầu ở Trung Quốc càng ngày càng nâng thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh, và dựa vào hệ thống tín chỉ của Mĩ, đặc biệt là số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, để đề bạt các chức danh giáo sư (chứ không còn dựa vào thâm niên như trước đây). Một số trường thậm chí còn có qui định rằng nếu một giảng viên mà sau 6 năm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn phó giáo sư thì sẽ được “mời” nghỉ việc.

Hồng Kông, trước khi được trả về cho Trung Quốc, có một lịch sử lâu dài về việc tuyển dụng các giáo sư và nhà khoa học nước ngoài. Thật ra, phần lớn (trên 90%) các giáo sư đại học Hồng Kông hoặc là người nước ngoài, hoặc là Hoa Kiều, hoặc là người Hồng Kông được đào tạo từ các đại học Âu Mĩ. Trước đây, các trường đại học Hồng Kông có chính sách khá rộng rãi và thông thoáng cho các giáo sư nước ngoài (như trả lương tương đương với nước ngoài, tạo điều kiện cư trú ổn định như cấp nhà hay cho thuê nhà với giá thấp, cấp vé máy bay đi và về thăm nhà mỗi năm 2 lần, v.v…). Sau khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc, do chính sách mới, một số lớn các giáo sư này bỏ Hồng Kông và các trường đại học Hồng Kông trải qua một thời gian suy giảm năng suất khoa học thấy rõ. Nhận thức được vấn đề, chính phủ mới lại mời các giáo sư quay lại làm việc! Năm 2006, chính phủ Hồng Kông vừa triển khai một chương trình thu hút nhân tài Hoa kiều từ nước ngoài. Họ dự tính sẽ thu hút khoảng 1000 đến 2000 nhà khoa học và giáo sư trong vòng hai năm. Họ còn dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà khoa học được bổ nhiệm là quyền được đem theo người thân gia đình định cư tại Hồng Kông.

Ở Đài Loan, Nhà nước nhận thức rõ yếu tố thành công của kĩ nghệ điện tử Đài Loan trong hai thập niên qua là nhờ vào lực lượng Hoa kiều ở Mĩ, nên họ có hẳn một chương trình dài hạn và dành hẳn một ngân quĩ quốc gia cho các giáo sư thỉnh giảng và nhà khoa học ưu tú từ nước ngoài vào làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và đại học hàng đầu ở Đài Loan.

Và bài học ngay tại nhà: Bệnh viện Kiên Giang

Kiên Giang là một tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm vào vị trí gần vùng tận cùng của đất nước, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 260 km. Dân số của tỉnh là 1,6 triệu, với 78% sống ở nông thôn, và gần 20% là người dân tộc gồm hai sắc tộc chính là người Khmer và Hoa. Vì những dao động lịch sử sau 1975, tỉnh Kiên Giang là một trong những tỉnh có nhiều Việt kiều đang sống ở các nước Âu Mĩ. Nhận thức được tiềm năng của Việt kiều, tỉnh Kiên Giang có hẳn một cơ quan chuyên về các dịch vụ liên lạc với Việt kiều. Vì thế, trong những năm gần đây Kiên Giang là một tỉnh đi tiên phong trong việc thu hút được khá nhiều đầu tư từ các doanh nghiệp Việt kiều, góp phần nâng cao khả năng kinh tế của tỉnh.

Tỉnh Kiên Giang có tốc độ phát triển kinh tế trên 10% mỗi năm, tuy không thuộc vào hàng các tỉnh nghèo, nhưng vì vị trí địa lí, tỉnh vẫn tồn tại nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, nhất là vấn đề giáo dục và y tế. Hiện nay, cả tỉnh chỉ có một bệnh viện lớn duy nhất (Bệnh viện Kiên Giang) tại Thành phố Rạch Giá và lúc nào cũng quá tải, còn các vùng nông thôn thì thiếu bác sĩ và y sĩ trầm trọng. Bệnh viện Kiên Giang là một bệnh viện đa khoa cấp I, có khoảng 1100 giường, phục vụ cho tỉnh Kiên Giang và có khi các địa phương lân cận, kể cả vài tỉnh thuộc nước bạn Kampuchea.

Là một bệnh viện cấp tỉnh, Bệnh viện Kiên Giang khó thu hút được các chuyên gia cao cấp về làm việc, và để khắc phục tình trạng này, ban giám đốc đã có những hành động thực tế mà tôi cho là rất tiên phong. Trong khi cấp trung ương còn đang bàn phương cách để thu hút nhân tài, thì Bệnh viện Kiên Giang chủ động mời các chuyên gia về cộng tác, với những ưu đãi đặc biệt. Chẳng hạn như ban giám đốc bệnh viện xây (hay mua) hẳn một khu nhà ở đầy đủ tiện nghi ở một địa điểm hấp dẫn dành cho các chuyên gia về bệnh viện làm việc trong một thời gian ngắn hạn. Thậm chí, bệnh viện còn dành hẳn một căn hộ nhỏ với đầy đủ tiện nghi cho một giáo sư công tác dài hạn ở bệnh viện. Với những động thái thiết thực đó, không ngạc nhiên khi bệnh viện thu hút được sự hỗ trợ chuyên môn từ các giáo sư và chuyên gia ở nước ngoài. Năm nay, bệnh viện thực hiện một số ca phẫu thuật ghép thận với sự hỗ trợ từ một chuyên gia Việt kiều và đồng nghiệp từ Bệnh viện Chợ Rẫy và ngoại quốc.

Song song với việc mời gọi chuyên gia về bệnh viện, ban giám đốc còn khuyến khích và tích cực gửi bác sĩ đi đào tạo chuyên khoa II ở các trung tâm y tế lớn trong nước. Ban giám đốc còn phê chuẩn cho bác sĩ đi học và chuyên tu ở nước ngoài. Người viết bài này còn được biết một vài câu chuyện nhỏ, nhưng nó chứng tỏ bệnh viện thật sự trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn như ngày bác sĩ bệnh viện tốt nghiệp chuyên khoa II, đích thân giám đốc bệnh viện lên thành phố dự buổi lễ tốt nghiệp cùng bác sĩ của bệnh viện mình. Dù đó chỉ một hành động nhỏ mang tính biểu trưng (mà phần lớn các sếp lớn nước ngoài hay làm) nhưng có thể nói việc làm đó rất hiếm thấy ở các giám đốc trong nước.

Theo tôi biết, tất cả những việc làm của ban giám đốc Bệnh viện Kiên Giang chỉ dựa vào tình hình thực tế, vào sự năng động của lãnh đạo, chứ chẳng có “bài bản” hay “tuyên truyền” hay “vận động” nào. Có thể nói không ngoa rằng các bộ liên quan nên học kinh nghiệm của tỉnh Kiên Giang và nhất là Bệnh viện Kiên Giang trong nỗ lực thu hút các chuyên gia từ nước ngoài.

Nhân dịp này tôi muốn nhắn các đồng nghiệp y sinh học nước ngoài nếu có dịp về Việt Nam, nên ghé qua Bệnh viện Kiên Giang bên bờ biển đầy nắng và gió lộng, nơi có những khó khăn chồng chất, những thiếu thốn về cơ sở vật chất, những cảnh cực khổ của bệnh nhân vùng quê, những trăn trở của đồng nghiệp nhằm vượt qua khó khăn, cùng những năng nổ của vị giám đốc và đồng nghiệp của anh. Bất cứ đóng góp nào cũng được trân trọng.

***

Những chính sách và chương trình thực tế của Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và ngay tại Bệnh viện Kiên Giang là những kinh nghiệm quí báu mà tôi nghĩ Nhà nước cần nên nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nói gì thì nói, hai yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định “về hay ở” vẫn là vật chất và tinh thần. “Vật chất” ở đây là lương bổng và môi trường làm việc, và “tinh thần” là lòng yêu quê hương, tinh thần dấn thân ... Một giáo sư không phải là doanh nhân. Doanh nhân về nước có thể tìm cơ hội kinh doanh và kiếm lời, nhưng một vị giáo sư đại học chỉ tùy thuộc vào lương bổng là nguồn thu nhập chính. Một quyết định về hay ở tùy thuộc vào sự quân hòa giữa hai yếu tố vật chất và tinh thần.

Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học Tây phương vì họ không muốn mất những giáo sư có tài). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.

Do đó, để thu hút được các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính chỉ tiêu duy ý chí, mà là một tầm nhìn xa và rộng hơn. Vấn đề không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà khoa học, mà tôi sẽ bàn trong một bài kế tiếp.

No comments: