Monday, August 27, 2007

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều” - phần 2

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”:
Phần 2. Cần một chương trình cụ thể

Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng có thể nhất trí rằng nước ta không (hay ít ra là chưa) có khả năng cạnh tranh khoa học với các cường quốc khoa học Âu Mĩ và một cường quốc đang trên đường hình thành như Trung Quốc. Nhưng khía cạnh mà chúng ta có thể cạnh tranh được là chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả để phục vụ cho phát triển kinh tế. Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có những giáo sư và chuyên gia có kinh nghiệm tốt và uy tín cao trên trường quốc tế. Một trong những nguồn nhân lực khoa học đó là các nhà khoa học nước ngoài, nhất là đội ngũ các giáo sư đại học và nhà khoa học gốc Việt hiện đang làm việc tại các nước tiên tiến.

Thế nào là những giáo sư hay nhà khoa học tầm cỡ quốc tế? Rất khó có câu trả lời này bằng các tiêu chuẩn theo kiểu “cân đo đong đếm”, nhưng một vài tiêu chí chung cũng có thể cho chúng ta một vài ý niệm tổng quát: đó là những nhà khoa học được xếp vào hạng 10% hàng đầu quốc tế về một chuyên ngành. Nói cụ thể hơn, đó là những những nhà khoa học độc lập, có khả năng lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, với các công trình nghiên cứu thuộc loại tiền phong (cutting edge research) có ảnh hưởng đến chuyên ngành, từng có thành tích thu hút tài trợ từ các quĩ khoa học quốc gia và quốc tế, từng đạt được những giải thưởng quốc tế, có đóng góp cho hoạt động chuyên môn (kể cả đóng vai trò bình duyệt cho các tập san khoa học quốc tế), có kinh nghiệm đào tạo nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ và hậu tiến sĩ, đóng vai trò quan trọng trong các hiệp hội chuyên môn và có đóng góp cho cộng đồng.

Đáp số cho bài toán “1000 trí thức Việt kiều”?

Có bao nhiêu giáo sư hay nhà khoa học gốc Việt như thế ở nước ngoài? Trước khi trả lời câu hỏi khó này, tôi muốn nói qua vài hàng về lực lượng chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài. Theo ước tính của Nhà nước và báo chí, con số người Việt hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài đã lên đến 3 triệu, và trong số này có khoảng nửa triệu người với trình độ đại học trở lên. Tuy cơ sở khoa học cho con số nửa triệu này chưa mấy rõ ràng, nhưng có thể khách quan nói rằng có nhiều chuyên gia Việt kiều có tài năng thật sự, là những nhà khoa học, giáo sư tầm cỡ quốc tế từng có đóng góp quan trọng cho nước sở tại. Hầu như trong bất cứ lĩnh vực công nghệ tiên tiến nào đều có tên tuổi của các nhà khoa học gốc Việt.

Nhưng cần phải ghi nhận một điều ở đây là báo chí, nhất là báo chí tiếng Việt hải ngoại, thường có xu hướng “tiếp thị” quá đáng cho khả năng của Việt kiều. Một vài quan chức trong nước khi mới ghé thăm các vùng có đông người Việt định cư như khu Little Saigon rất ấn tượng với sự có mặt nhan nhản các bác sĩ, luật sư, kĩ sư, chuyên gia, v.v… được trưng bày to tướng, và nghĩ rằng lực lượng trí thức Việt kiều quá hùng hậu. Đôi khi đọc qua những bài báo viết về những gương thành công vượt bực của một số ít chuyên gia gốc Việt, người ta tưởng rằng đội ngũ khoa học Việt kiều sẽ có thể giúp cho Việt Nam “cất cánh” trong vòng vài năm nếu họ có cơ hội. Tuy nhiên, cần phải phân biệt những người có trình độ đại học (ở Mĩ cũng có dăm ba loại đại học!) và những chuyên gia có chuyên môn chuyên sâu tầm cỡ quốc tế. Có thể cộng đồng người Việt có nhiều người có trình độ đại học (hãy cứ cho là 500 ngàn), nhưng con số chuyên gia không cao, và con số có trình độ cấp giáo sư càng hiếm hơn nữa. Sự thật là sự hiện diện của các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài trên các diễn đàn khoa học quốc tế vẫn còn quá khiêm tốn.

Cần phải nhắc lại rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn là một cộng đồng nghèo khó, ít học nhất, có thu nhập thuộc vào hàng thấp nhất, và có nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất so với các cộng đồng người Hoa, Nhật, Philippines, và Hàn Quốc. Cố nhiên, bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng thực tế là con số chuyên gia gốc Việt không hùng hậu như báo chí hay “tiếp thị”.

Ở Mĩ, nơi có người Việt định cư đông đảo nhất ở nước ngoài, hiệp hội giáo sư gốc Việt chưa có đến 150 thành viên. Có lẽ con số giáo sư gốc Việt trên toàn nước Mĩ chưa đến con số 500. Ở các nước có khá đông người Việt định cư như Canada, Pháp và Úc, con số người Việt mang hàm giáo sư chỉ có thể nói là “đếm đầu ngón tay”. Đó là chưa kể một số khá nhiều các vị giáo sư đã hay đang sắp nghỉ hưu. Ngay cả nếu con số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên là 1000 đi nữa, thì không phải ai có học vị tiến sĩ đều có khả năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học độc lập, và số người đứng vào hàng “tầm cỡ quốc tế” (như trình bày trên) chắc chắn không quá con số 100. Do đó, tôi có lí do để cho rằng “bài toán 1000 trí thức Việt kiều” sẽ không có đáp số, cho dù trong thời gian 10 năm.

Theo tôi (chỉ nói với tư cách cá nhân), không nên đặt ra những chỉ tiêu hay con số trong khi chưa có một cơ sở hay khảo sát đáng tin cậy. Vấn đề không phải là cần thu hút một con số (chẳng hạn như 1000 trong vòng 10 năm) giáo sư và nhà khoa học; vấn đề là làm sao tạo điều kiện và môi trường khoa bảng để mọi người – trong và ngoài nước – có thể góp một phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng như chất lượng nghiên cứu khoa học lên một tầm ngang hàng các nước trong vùng và làm cơ sở để cạnh tranh với các nước khác.

Cần một chương trình nghiên cứu

Hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ, Âu châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có ích. Theo các mô hình này, một trung tâm nghiên cứu hay đại học bao gồm một số chương trình nghiên cứu (research program), và mỗi chương trình nghiên cứu gồm nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ (cũng có thể gọi là “đơn vị nghiên cứu”), mỗi nhóm chỉ khoảng 10 nhà khoa học, kể cả nghiên cứu sinh, tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn. Chẳng hạn như Viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc có khoảng 6 chương trình nghiên cứu, và mỗi chương trình có từ 3 đến 6 đơn vị nghiên cứu. Mỗi đơn vị nghiên cứu được sự lãnh đạo bởi một nhà khoa học thường là cấp giảng viên đại học trở lên. Tất cả các quản lí tài chính và nhân sự đều do người lãnh đạo đơn vị nghiên cứu phụ trách. Viện nghiên cứu chỉ phụ trách về cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, yểm trợ hành chính, máy tính, internet và phương tiện liên lạc.

Do đó, để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt kiều về nước làm việc là thiết lập các chương trình nghiên cứu (ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program”). Có thể gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP). Chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: (i) khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; (ii) đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”); (iii) xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ; (iv) khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và (v) khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của CCNC là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế.

Có thể giao việc quản lí chương trình này cho một bộ như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hay Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ cần lập ra một hội đồng cố vấn gồm các nhà khoa học trong và ngoài nước có uy tín và có công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế cố vấn về các vấn đề chuyên môn. Hàng năm, hội đồng cố vấn ra thông cáo tuyển dụng các chuyên gia (sẽ gọi chung là “fellow” theo cách gọi ở nước ngoài). Thông báo không chỉ gửi đến tất cả các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, mà còn công bố trên internet để các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có thể đệ đơn. Thông báo kèm theo tất cả các mẫu đơn, các tiêu chuẩn cụ thể cho từng hạng fellow, và qui trình cũng như thời gian xét duyệt. Tôi đề nghị nên có 3 hạng VFP: hạng một dành cho các giảng viên hay tương đương, cấp hai dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương, và cấp ba dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương (có thể xem tiêu chuẩn như sau).

Sau khi nhận đơn từ các ứng viên, hội đồng cố vấn sẽ gửi đơn cho 4 chuyên gia (trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để bình duyệt. Khi nhận được báo cáo bình duyệt của 4 chuyên gia trong ngành, hội đồng sẽ dựa vào 4 báo cáo này để loại bỏ những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Nếu ứng viên được bổ nhiệm VFP, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm cho nghiên cứu. Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu, hay sẽ do Bộ hay hội đồng cố vấn chỉ định. Cố nhiên, trong thời gian này, ứng viên có thể xin tài trợ nghiên cứu từ các nguồn nước ngoài, nhưng trong giai đoạn đầu Nhà nước cần phải tạo điều kiện tài chính cho họ ổn định.

Trở lại bài toán 1000 trí thức Việt kiều

Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước ngoài không muốn hợp tác, mà vì trong thực tế lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.

Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, Việt kiều vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt kiều và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt kiều vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Chúng ta không muốn mãi mãi là lao động hạng hai. Chúng ta không muốn thấy một viễn ảnh “chỉ gia công, để Việt Nam mãi là kẻ làm thuê”. Nhưng để thoát ra khỏi cái viễn ảnh đó, chúng ta cần phải đầu tư mạnh vào giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nếu kinh nghiệm từ các nước như Hàn Quốc và Đài Loan là một bài học lịch sử, chúng ta có thể suy đoán rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển như họ, và thậm chí có thể phát triển nhanh hơn với sự hợp tác của giới khoa học Việt kiều. Ở thời điểm này, có thể nói nhà nước và Việt kiều đã gặp nhau tại một giao điểm: ước nguyện làm cho Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định. Nhưng vấn đề còn lại là làm sao biến chính sách và ước nguyện thành hiện thực, tạo điều kiện cho Việt kiều tham gia vào công cuộc kĩ nghệ hóa đất nước. Chính sách và những lời nói hoa mĩ chưa đủ, mà cần phải có một cơ chế thông thoáng và cụ thể, một sự đổi mới về tư duy là nền tảng cho những bước đi cụ thể kế tiếp. Một khi đã có một chương trình cụ thể thì “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều” không cần phải đặt ra nữa.
NVT

No comments: