Thursday, October 4, 2007

Làm khoa học và chuyện bôi trơn

Chuyện đọc qua (bài báo dưới đây) cứ như là khôi hài!

Hôm qua tôi nhận được email của một bác sĩ trong nước phàn nàn về chuyện anh ta mới trải qua kì bảo vệ luận án tiến sĩ, và phải đương đầu với những câu hỏi của các chuyên gia phản biện. Thay vì đi vào những vấn đề chính, các "chuyên gia phản biện" này làm khó anh ta chuyện ... ngôn ngữ. Khi anh ta sử dụng một phương pháp phổ biến (ở Tây phương) nhưng hiếm ở VN thì bị phê phán là "sai lầm nghiêm trọng" mà không giải thích tại sao! Ở nước mình, có nhiều chuyên gia dỏm quá!

NVT



http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=159&Sobao=877&SoTT=12

Những câu chuyện đáng buồn trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta.

Quang Chung

Môi trường... làm hư nhà khoa học

Tại một quán nhậu trên đường Lê Ngô Cát, TPHCM, phó giám đốc sở khoa học - công nghệ (KHCN) một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, móc điện thoại gọi cho tiến sĩ A.: “Tôi mới lên Sài Gòn... Mời anh tới cho vui”. Ông A. ba chân bốn cẳng chạy đến... nhưng chỉ để thanh toán tiền cho bữa nhậu. Ông than: “Mình mà không đến thì gay, lần sau họ sẽ không giao đề tài nghiên cứu cho mình nữa”. Thì ra, ông A. đang làm chủ nhiệm một đề tài khoa học do vị phó giám đốc sở kia nắm quyền “ban phát”.

TSKH Vũ Đình Cự, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, từng nói tại hội thảo “Đổi mới cơ chế quản lý nhiệm vụ KHCN phục vụ phát triển xã hội” rằng, ngoài việc phải “biết điều” người làm khoa học còn phải “cống nộp” phần trăm tiền thực hiện đề tài. Ví dụ như, nếu tiền ký nhận thực hiện đề tài là 300 triệu đồng thì thực tế các nhà khoa học chỉ nhận khoảng 280 triệu đồng - khoản tiền 20 triệu kia coi như để “bôi trơn” cho những nơi có liên quan.

Sở dĩ có hiện tượng như trên vì “cơ chế của mình rắc rối lắm!”, như lời của GS-TSKH Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện KHCN và Quản lý môi trường TPHCM. Theo ông Bá, nhiều bất cập trong quy định pháp luật đang trói tay các nhà khoa học chân chính. Như câu chuyện của chính ông: đề tài nghiên cứu đa dạng sinh học của ông ở tỉnh B. đã được duyệt hơn hai năm, nhưng đến nay ông vẫn chưa nhận được tiền để thực hiện; trong khi tỉnh này vừa trả lại kho bạc 5 tỉ đồng nghiên cứu khoa học vì không tiêu hết. “Chắc tại mình không bôi trơn”, ông Bá nói.

Thực tế, tính khoa học trong tuyển chọn đề tài chưa được tôn trọng. Theo ông Bá, các quy định “nghe thì rất có lý nhưng thực chất rất bất công”. Ông kể ông có tham gia đăng ký thực hiện đề tài nghiên cứu về môi trường cho tỉnh B. Cùng nộp đề cương đăng ký đề tài với ông còn có ba nhà khoa học khác. Đề cương của ông được đánh giá cao nhất, nhưng người được nhận đề tài này không phải là ông và cũng không phải ba nhà khoa học kia. Vì có một câu chuyện khác đã xảy ra: khi hạn nộp đề cương đăng ký đề tài này sắp hết thì một người bạn của vị giám đốc sở KHCN tỉnh B. muốn thực hiện đề tài này. Thế là hạn nộp đề cương được kéo dài thêm 10 ngày... Và bạn của vị giám đốc kia đã “chiến thắng”. “Sau này tôi mới biết, họ đã lấy đề cương của tôi chép lại và chỉnh sửa đôi chút”, ông Bá nói.

Có những “nhà khoa học” làm chủ nhiệm hết đề tài cấp nhà nước này lại đến đề tài khác nhưng không có năng lực trong khi nhiều nhà khoa học có năng lực lại không nhận được đề tài. Quan hệ hữu hảo, xin cho, ban phát và chi tiền phần trăm... đã trở thành luật bất thành văn. Môi trường làm khoa học như thế làm thối chí các nhà khoa học chân chính; tạo ra lớp người “làm khoa học” mà có đến 70-80% là vì thương mại, vì tiền, theo một nhà khoa học đề nghị giấu tên.

Ông N., một cựu quan chức của Liên đoàn Địa chất phía Nam, kể: Mỗi năm cơ quan này được rót ngân sách cho các nghiên cứu khoảng trên dưới 20 tỉ đồng. Vì thế, rất nhiều dự án được thực hiện nhưng phần lớn chỉ để lưu trữ... Ông N. nói: “Làm dự án để kiếm tiền cho anh em sống là chính, vấn đề ứng dụng không mấy quan tâm. Do đó, anh em nào quen với tỉnh nào thì “quan hệ” để kiếm thêm đề án, kiếm thêm tiền”.

Hiện nay, lương của cán bộ khoa học chỉ đáp ứng một phần ba, một phần tư nhu cầu sinh hoạt nên người ta buộc phải xoay thêm. “Ở các nước, kinh phí cho đề tài chỉ dành để nghiên cứu, nhưng ở Việt Nam, do lương thấp, nên mới có lệ dành 40%, thậm chí 70% kinh phí nghiên cứu để bổ sung thu nhập cán bộ. Do đó, mới nảy sinh hiện tượng chạy đề tài, bộ ngành nào cũng có viện nghiên cứu, cũng có đề tài khoa học... Nhiều đề tài không có giá trị thực tiễn cũng được duyệt cấp kinh phí. Hiệu quả đồng vốn đầu tư cho KHCN vì thế thấp”.


Phải gắn với yêu cầu của cuộc sống

Báo cáo kiểm toán năm 2006 vừa công bố cho thấy, sự phối hợp giữa Bộ KHCN, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong công tác lập và giao dự toán chi đầu tư phát triển cho KHCN chưa chặt chẽ, chưa có sự thống nhất về quan điểm phân bổ vốn đầu tư giữa các bộ. Dự toán kinh phí còn mang tính bình quân nên việc đầu tư cho KHCN còn manh mún, dàn trải. Chưa có sự phối hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước (NSNN). Dự toán giao còn thiếu cơ sở và còn chậm về thời gian, ảnh hưởng đến tính chủ động trong quản lý, sử dụng ngân sách. “Lập và giao dự toán còn sai đối tượng, sai nội dung và không đúng quy định của Luật NSNN; phân bổ cho cả đề tài khi chưa có đề cương được duyệt; giao dự toán cho cả đề tài không có tính khả thi...”.

Theo nhiều nhà khoa học, kinh phí cho nghiên cứu khoa học 2% ngân sách hàng năm so với nền kinh tế đất nước là chấp nhận được, nhưng việc quản lý kinh phí này thì đáng phải nói. Ngoài những bất cập đã được đề cập ở trên, câu chuyện của cô thư ký giám đốc sở tài chính một tỉnh phía Nam kể có lẽ khiến nhiều người phải giật mình. Số là cô này thường xuyên thay mặt giám đốc tham dự các buổi họp để quyết định chi tiền cho các đề tài nghiên cứu khoa học. Sau những buổi họp như vậy, câu đầu tiên mà vị giám đốc khi gặp cô bao giờ cũng là: “Hôm nay cắt được bao nhiêu?”. Ông Bá bình luận: “Tiết kiệm chi phí nghiên cứu khoa học theo kiểu cắt xén như thế rất nguy hiểm”.

Một quan chức của Bộ KHCN cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số công trình nghiên cứu chưa sử dụng được (hiện chiếm khoảng 50%). Nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp chưa có sự hợp tác nên nhiệm vụ KHCN cần giải quyết chưa có căn cứ, chưa xuất phát từ đòi hỏi của đời sống. Hơn nữa, một số công trình nghiên cứu lại xuất phát từ mong muốn của tổ chức, cá nhân nhà khoa học, trên cơ sở khả năng của họ, chứ chưa phải là đơn đặt hàng của nhà sản xuất; thiếu cơ chế về quyền lợi vật chất cho tác giả công trình khi chuyển giao kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp...

Một nhà khoa học tâm sự, kinh phí nghiên cứu khoa học tạo ra đặc quyền đặc lợi cho một số người. Như chương trình tự động hóa tiêu tốn hàng trăm tỉ đồng mỗi năm nhưng nhìn lại 10 năm qua thì chương trình này thực hiện được gì? Bao nhiêu đề tài được áp dụng vào sản xuất, công nghiệp? Người chịu trách nhiệm chương trình này thừa nhận chưa làm được gì nhiều trong 10 năm qua, nhưng tiền thì vẫn nhận đều hàng năm... “Nếu cho kiểm toán các chương trình nghiên cứu khoa học sẽ phát hiện số tiền thất thoát khổng lồ”, nhà khoa học này nói.

Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KHCN TPHCM, cho rằng cần đổi mới cơ chế quản lý theo hướng gắn kết nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất kinh doanh. Để thực hiện ý đồ này, TPHCM mới ban hành quy chế quản lý đề tài và dự án nghiên cứu khoa học của thành phố. Tư tưởng chủ đạo của cơ chế này là gắn kết nghiên cứu với thực tiễn sản xuất, thực tiễn kinh tế xã hội. Nâng cao hiệu quả ứng dụng các kết quả nghiên cứu. Ví dụ như, khi một cá nhân, đơn vị đăng ký đề tài khoa học thì phải chỉ ra được địa chỉ ứng dụng - những đơn vị, cơ sở xác nhận ứng dụng (ngoại trừ những đề tài nghiên cứu cơ bản). Để từ đó, mời các đơn vị tham gia ứng dụng tham gia vào hội đồng thẩm định đề án.

1 comment:

Trịnh Quốc Dũng said...

Tình trạng này hiện giờ nhức nhối lắm thầy ơi. Ngành nào, lĩnh vực nào cũng vậy cả... Không biết đến bao giờ mới thuyên giảm được...