Monday, October 1, 2007

Nhật kí Pattaya

Năm 1981 là lần đầu tiên tôi đến Thái Lan với tư cách là dân tị nạn. Dù chỉ quanh quẩn trong các trại tị nạn với bốn bức tường kẻm gai, nhưng tôi vẫn thấy Thái Lan thời đó giàu hơn Việt Nam mình nhiều.

Mãi đến 1989 tôi mới quay lại Thái Lan trong một chuyến công tác từ Âu châu quá cảnh Bangkok. Tôi bỏ một ngày liền để mướn xe về trại tị nạn Panatnikhom để xem lại “chốn cũ”, và chẳng thấy gì cả, vì toàn bộ khu đó đã trở thành một khu chung cư. Nhưng thời đó mà xa lộ Thái Lan đã “ngon lành” lắm rồi. Lúc đó tôi chưa về Việt Nam (dù chỉ cách có 1 giờ đồng hồ), nên đành ngậm ngùi nhìn về phía chân trời nhớ quê với bao tưởng tượng.

Kể từ năm 1993 tôi có dịp đi lại vùng Á châu nhiều hơn, phần lớn là công tác, hội họp, giảng dạy, và có khi trên đường về Việt Nam, nên mới chứng kiến những phát triển ngoạn mục của đất nước rất đẹp này.

Năm nay thì tôi có dịp quay lại Thái Lan với tư cách là khách mời của ban tổ chức hội nghị loãng xương. Lần này trở lại Thái Lan không phải là dân tị nạn, cũng chẳng phải là du lịch, mà là khách VIP. Ui chao, nghe cái danh xưng này đúng là oai thật và cũng kì kì, nhưng sự thật là họ cư xử với tôi như là một VIP, có xe đưa đón (chứ không đi taxi hay mướn xe như xưa nữa) và thậm chí còn gặp được … nàng công chúa Thái Lan. Để tôi kể cho các bạn nghe (ủa quên, đọc) nhé …


Số là Hội loãng xương Thái Lan tổ chức một hội nghị quốc tế về loãng xương (LX) tại Pattaya để tụ họp các chuyên gia về lĩnh vực này trong vùng Á châu. Vì các giáo sư Á châu ít khi nào chịu nhường nhau (họ có cái tính rất dễ thương là hay tự cao tự đại), và ban tổ chức (BTC) sợ sẽ không dung hòa được họ, nên BTC mời một giáo sư nước ngoài nhưng gốc Á châu để làm … trọng tài. Cái người giáo sư đó là tôi. Do một cơ duyên trước nên BTC đánh tiếng mời tôi tham dự từ lúc mới gặp nhau ở Montréal (Canada) vào tháng 6 năm nay. Có thể họ thích tôi, cũng có thể họ nghĩ tôi lịch sự, ngoại giao, không hung hăn như mấy ông giáo sư Á châu. Tôi nhận lời lên đường đi phó hội. Hội nghị diễn ra 3 ngày tại một resort 5 sao thuộc thành phố Pattaya, thành phố du lịch nổi tiếng của Thái Lan. Ấy, các bạn đừng nghĩ tôi đi chơi nhé, tôi đi làm việc mệt ná thở đấy. Nói thật đấy!

5/9/07: lên đường

Chuyến bay của Thai Airways khởi hành từ phi trường Sydney. Chuyến bay êm đẹp. Các tiếp viên cực kì lịch sự (dân Á châu mà) và cho ăn uống liên tục. Cứ mỗi bữa ăn, họ phục vụ rượu vang trắng, rượu vang đỏ, cà phê / trà, và sau đó là rượu brandy. Ôi, rượu brandy của họ dỏm không tưởng được, tôi chỉ uống một hớp là trả lại cho họ. Mà cũng phải thôi, trên máy bay ai lại cho uống rượu ngon, tiền đâu chịu thấu.

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Bangkok International Suvarnabhumi Airport. Đây là phi trường mới xây và chỉ mới đưa vào khai thác một năm nay. Nghe nói hiện nay, đây là phi trường này lớn nhất Á châu, và có lẽ thế thật. Nhìn từ ngoài thì đây đúng là một phi trường vĩ đại, với lối thiết kế cửa giống như chùa (hình tam giác). Nghe nói xây dựng được phi trường này, chính phủ Thái Lan phải đền bù cho rất nhiều người dân mất đất canh tác và nhà cửa. Nghe sao giông giống tình hình ở Việt Nam chúng ta quá!

Đi từ nơi có 15 độ C đến Bangkok với nhiệt độ 35 làm tôi hơi sốc. Chỉ “hơi” thôi, vì dù sao đi nữa tôi cũng từng quen với khí hậu Việt Nam mà. Tuy nhiên, nói cho công bằng, thời tiết Thái Lan nóng hơn Việt Nam, có lẽ do Thái Lan nằm gần đường xích đạo.

Hải quan Thái Lan làm việc nhanh nhẹn và lịch sự. Không như Việt Nam, họ chẳng khám xét hành lí gì cả. Mới ra khỏi hải quan (không đầy 2 phút), tôi nhìn chung quanh thì thấy một anh chàng đen đen cầm tấm biển “Professor Tuan Nguyen, Australia” đi qua đi lại. Tôi đi đến sau lưng anh và vỗ vai một cái để tỏ sự thân thiện, anh ta cười vui mừng, mà chẳng nói gì nhiều. Sau này tôi mới biết anh ta nói tiếng Anh không rành, nên đành … cười trừ. Thôi kệ, vậy là ok rồi. Chờ một chút thì anh bạn người Thái (anh này mới là người đón tiếp tôi) đi ăn đâu đó quay lại. Chúng ta tay bắt mặt mừng, rồi lên xe trực chỉ về Pattaya với anh tài xế chỉ … cười.

Đường xá từ Bangkok về Pattaya quá tuyệt vời. So với Úc, xa lộ Thái Lan phải hơn một bậc. Nhìn hai bên đường thấy nhà dân khá giả, đồng ruộng chen lấn hãng xưởng san sát nhau, tôi cứ tưởng là mình đang ở Mĩ. Thái Lan phát triển nhanh quá. Tôi chạnh lòng nhớ về con đường từ Sài Gòn về Kiên Giang … Khổ thế đó. Đi đâu, làm gì tôi cũng nhớ về cái miền quê còn nhiều khó khăn của mình. Con đường từ Bangkok đến Pattaya dài khoảng 200 cây số, và xe chạy chỉ 2 giờ 30 phút. Còn con đường từ Sài Gòn về Kiên Giang cũng chỉ 260 cây số mà tôi phải tốn đến 6-7 giờ. Ôi, bao giờ cho đến bao giờ …

Check-in khách sạn Royal Grand Cliff Resort. Thật ra, đây là một resort 5 sao, sang trọng vào bậc nhất tại đây. Resort nằm trên đồi cao, nhìn ra biển, rất đẹp. Resort có cả ngàn phòng, và giá tối thiểu là 120 USD / đêm. Phòng của tôi nghe nói tốn họ đến 200 USD/đêm. Phòng tôi ở quả xứng đáng với cái giá này: phòng roệng lớn, có bàn làm việc, ghế ngồi nghỉ ở balcon ngắm cảnh rừng biển phía dưới. Mới đem hành lí lên (thật ra, có người đem hành lí cho tôi, tôi chẳng đụng cái gì cả), phòng có hẳn một đĩa trái cây nhiệt đời. Nào là măng cục, bòn bon, chôm chôm, táo, nước dừa tươi, v.v… toàn những thứ tôi khó từ chối. :-) Chờ cho hai anh chàng tiếp tân ra khỏi phòng, tôi mở cửa phòng, ra balcon, nhìn cảnh trời đất và thanh toán đĩa trái cây. Ngon ơi là ngon!

Loay hoay một hồi thì có điện thoại reo. À, giáo sư Nimit mời đi ăn tối. Trời ơi, mới thanh toán đĩa trái cây, bao tử đâu mà ăn nữa. Nghĩ thế, chứ cũng phải đi. Chẳng lẽ từ chối lòng hiếu khách người ta. Thay đồ xuống lobby thì đã thấy giáo sư Nimit và Chatlert ngồi chờ. Bắt tay. Chào mừng. Xã giao. Rồi lên xe đi đến một nhà hàng hải sản cách đó khoảng 10 phút lái xe. Nhà hàng sát bên biển, cách thiết kế rất giống như nhà hàng Gió Biển ở Rạch Giá, nhưng lớn hơn nhiều, với cả mấy trăm ghế, và thực khách đầy cả mấy gian. Thực khách ăn uống, ồn ào không kém gì dân Việt Nam ta.

Họ gọi rất nhiều món ăn, toàn là đồ biển. Nào là ghẹ, mực luộc chấm nước mắm có xả, cá nướng, cá chiên, tôm nướng, v.v... Họ gọi bia Singha uống. Rất ít rau cải. Ăn thì ăn vậy chứ, tôi thấy mấy món này chẳng ngon gì cả so với các nhà hàng hải sản ở Rạch Giá mà tôi đã đi qua. Nói về ăn uống, tôi nghĩ Thái Lan không bằng Việt Nam được.

Ngồi “tán dóc” một hồi thì cũng đến 10 giờ đêm. Họ sợ tôi mệt nên đề nghị về khách sạn để chuẩn bị cho một ngày làm việc căng thẳng ngày mai. Họ cho tôi biết rằng họ giao cho tôi vai trò rapporteur hay moderator, có nghĩa là người sẽ có phát biểu sau cùng khi các giáo sư khác nói xong. Nói cách khác, cái việc của tôi là phải đúc kết các phát biểu sao cho không có anh chàng hay chị nào căng thẳng với nhau. Một việc rất khó và đòi hỏi nhiều bản lĩnh ngoại giao. Nhưng tôi cũng muốn thử sức nên vui vẻ nhận lời.

6/9/07 – ngày hội nghị đầu tiên: làm việc suốt đêm

Ăn sáng xong, tôi lửng thửng xuống khu hội nghị thì thấy một ê kíp cả chục nhân viên đang phân phát tài liệu và làm thủ tục đăng kí cho khách tham dự. Từ cách đặt bàn ghế đến ăn mặc đồng phục, tôi phải nói là họ tổ chức cực kì chuyên nghiệp. Tôi nhận phần của mình, kèm theo cái nametag có chữ “speaker” (người nói chuyện trong hội nghị). Duyệt qua chương trình tôi “tá hỏa tam tinh” thấy tên mình đại diện cho Việt Nam. Họ ghi rõ “Professor Tuan Nguyen, Vietnam”. Trời, tôi đi đây là đi theo diện khách mời, chứ tôi có đóng vai trò gì trong hiệp hội loãng xương Việt Nam đâu mà đại diện cho nước tôi. Nghĩ thế tôi tìm đến chủ tịch hội nghị là giáo sư Suthorn để phàn nàn; anh ta nghe xong và cười lớn rồi vỗ vai tôi nói rằng: “Ôi, sao anh lo xa quá vậy. Thì tôi để anh là Việt Nam có gì sai đâu, anh là người Việt mà, còn Úc nó đâu có xem anh là người Úc đâu, phải không. Đừng lo! Tôi sẽ nói rõ hơn.”

Chủ tịch hội nghị khai mạc hội nghị với bài diễn văn không đầy 5 phút. Anh này là dân giải phẫu (chấn thương chỉnh hình), người có cá tính bộc trực, “nghĩ sao nói vậy người ơi” chứ không ngoại giao. Anh ta nói ngắn gọn về mục tiêu của hội nghị và nhấn mạnh đây là lần đầu tiên tổ chức tại Á châu, và anh ta muốn tiếp tục tổ chức tiếp trong những năm sắp tới cũng ở Á châu. Nghe qua là biết ngay tự hào châu Á! Tôi ủng hộ ý tưởng này.

Theo sau là bài nói chuyện của một giáo sư phụ sản người Thái Lan. Bà này khoảng 60 tuổi, thuộc vào hàng “cây đa cây đề” của Thái Lan, nên nhận được nhiều đồng thuận. Tôi đoán phía dưới cử tọa là học trò của bà ấy cũng nhiều. Nhưng thú thật, tôi thấy bài nói chuyện của bà ấy thiếu cái unique, cái mới, và thiếu một tầm nhìn; bà ấy chỉ lặp lại những gì mà giới chuyên gia đã biết từ lâu. Nghe đến câu “Loãng xương được định nghĩa là …” là tôi rầu thúi ruột rồi, vì biết ngay trình độ của người nói chuyện cỡ nào. Tuy nhiên, về mặt cá nhân tôi thấy bà này nói tiếng Anh rất giỏi và thái độ cũng rất tốt, không hống hách như các ông bà giáo ở nước ta. Sau này nói chuyện với bà, tôi mới biết bà từng học ở Alabama bên Mĩ cả 5 năm trời, nên giọng tiếng Anh của bà rất Mĩ.

Theo sau là các bài nói chuyện trong chương trình mà tôi chẳng thấy hào hứng. Nhưng vì làm nhiệm vụ rapporteur, nên tôi phải lắng nghe và ghi chép cẩn thận, để chiều lại còn đúc kết cho thiên hạ nghe, chứ nếu tôi chỉ ngồi nghe không thì họ nghi tôi ngủ gục hay sao. Khổ thế đó! Người ta mời mình đâu phải mời “free” đâu mà.

Chiều đến là phần của tôi. Ban tổ chức dành cho tôi 40 phút để nói chuyện (trong khi những người khác chỉ 15 đến 30 phút), không biết tại họ quí tôi hay họ muốn cho xứng đáng “đồng tiền” họ bỏ ra để bay tôi từ Sydney sang đây. Không như mấy người khác, tôi giữ đúng giờ, và do đó có cơ hội trao đổi với những người đặt câu hỏi. Có một ông giáo từ Indonesia hỏi tôi một câu khá gay gắt, nhưng tôi cũng cố làm vẻ ngoại giao trả lời cho ông ấy vui lòng. Sau này, ông giáo này còn “ưu ái” hỏi tôi nữa và tôi sẽ kể sau.

Tối. Buổi họp các chuyên gia (experts) để đi đến một phát biểu tổng kết và kiến nghị về loãng xương cho Á châu. Có khoảng 10 chuyên gia trực tiếp tham gia thảo luận, và 20 chuyên gia là quan sát viên. Tuy là quan sát viên, nhưng họ cũng có ý kiến. Họ đến từ các nước Đông Nam Á (không có Việt Nam, Lào, Campuchea), Hàn Quốc, Nhật, và Trung Quốc. Đây là buổi họp rất quan trọng, và tôi đóng vai trò chủ chốt (họ nói thẳng như thế), nên tôi thấy cái vai của mình cứ nặng dần … Tôi được phân công làm một việc rất khó: moderator (điều hợp). Ban tổ chức phân công cô bác sĩ trẻ tên là Martha làm phụ tá cho tôi. Cô này nhìn mặt thì chỉ khoảng 25 gì đó thôi (nhưng thực tế là 35 và mới tu nghiệp ở Mĩ về). Công việc của cô ấy là ghi chép những ý chính của các chuyên gia và ý kiến tổng kết của tôi, tức là công việc một bí thư. Cô tỏ ra lo lắng công việc này vì cô thú nhận là tiếng Anh của cô ta chưa hoàn chỉnh lắm. Tôi an ủi và khuyên cô ấy đừng lo vụ tiếng Anh tiếng U, có gì tôi làm … nghĩa hiệp cho. Ui chao, trong thời gian ngồi gần tôi để làm phụ tá, cô ấy làm tôi bực mình cả chục lần, vì đụng cái gì cũng hỏi tôi cả, mà tôi thì đang đau đầu để đương đầu với những tranh luận của nhiều phe, miệng lúc nào cũng nói và nói. Nói xong phải quay sang nói nhỏ với cô ấy là viết như vầy, như kia … Có lúc tôi nổi nóng lên và muốn nói “Cô không biết thì ngồi đây làm cái gì”, nhưng thấy cô ấy là nữ, lại cũng có vẻ thành thật, nên tôi dằn lòng để cười và kiên nhẫn làm việc với cổ. Thiệt là khổ thân. Sau này khi gặp lại cô ấy ở Hawaii trong hội nghị, cô hỏi tôi là có nổi khùng với cổ hôm đó không; tôi làm bộ nói … “không”. :-)

Sau 4 giờ làm việc marathon (7 - 11 giờ đêm), cuối cùng chúng tôi cũng đi đến một bản tuyên bố chung. Ai cũng khen tôi (chả biết họ khen xã giao hay khen thật) là tôi có tài dung hòa những bất đồng ý kiến của các chuyên gia, mềm dẽo khi phát biểu, cứng rắn khi duy trì quan điểm, v.v… đại khái là chẳng ai chê, chẳng thù oán với ai. Có điều sau 4 giờ tranh luận và hòa hợp, tôi khang cả cổ họng, mà có ai để ý đến đâu. Nhận được mấy lời khen đó để mang hại vào thân, ai lo cho tôi đây, nếu không là chính tôi … Nhưng tôi cũng vui, rất vui, là đã đóng góp một phần quan trọng cho sự thành công của hội nghị dưới danh nghĩa [bị ép đặt] Việt Nam.

7/9/07 – ngày thứ hai: tham quan Pattaya và xem kịch

Nhiệm vụ của tôi ngày hôm nay thực sự là chỉ ngồi nghe và góp ý cho các diễn giả, bởi vì ngày đầu tiên – ngày quan trọng nhất – đã qua, ngày hôm nay chỉ còn lại những báo cáo mang tính “hoa lá cành”. Hôm nay có đến 8 bài nói chuyện của các chuyên gia Singapore, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông và Nhật, nhưng phải gói gọn trong vòng 1 ngày.

Nói chung, không có một bài báo cáo nào mang tính original, bởi vì họ chỉ tổng quan tài liệu quốc tế (chứ cũng không phải nghiên cứu của chính họ), nên ngồi nghe họ cũng … buồn ngủ. Đây là các diễn giả hàng giáo sư cả, nhưng họ thiếu thông tin trầm trọng một phần, và phần khác họ thiếu trình độ khoa học chuyên sâu để hiểu thấu đáo để nói một vấn đề cho xuyên suốt, nên một số điều họ nói rất sai. Chẳng hạn như có một giáo sư Nhật bàn về vai trò của gien VDR nhưng hiểu lầm rằng gien này được phát hiện qua sự chuyển hóa vitamin D, và có thể sử dụng để chẩn đoán loãng xương. Bậy bạ quá! VDR là gien do nhóm chúng tôi phát hiện qua mối liên hệ với marker chu chuyển xương. Cho đến nay, mối liên hệ giữa VDR và loãng xương vẫn chưa rõ ràng thì làm sao sử dụng cho chẩn đoán. Ấy thế mà ông ấy “tra tấn” bà con cả 25 phút ròng!

Một điều khá phổ biến là các diễn giả Á châu, gần như là một thói quen, nói quá giờ. Ngoài ra, dù mang hàm giáo sư giáo sĩ cả, nhưng họ thiếu kinh nghiệm trong việc diễn đạt bằng powerpoint cũng như trình bày dữ liệu. Nhiều slides màu mè tối tăm (chẳng hạn như nền tím, chữ trắng) hay thừa thải làm cho buổi nói chuyện rất mất thì giờ. Các chủ tọa thì lại quá dễ dãi, chẳng nhắc nhở gì họ, nên họ cứ thao thao bất tuyệt để cho bà con phải khổ sở dưới này. Có lẽ người Á châu mình quen tính vị nễ nhau, nên chẳng ai bắt bẻ gì. Vì họ nói quá giờ, nên chẳng ai có dịp đặt câu hỏi hay thảo luận gì cả. Suốt 5 giờ đồng hồ, nghe họ nói nhăng nói cuội mà chẳng có cơ hội chất vấn hay thảo luận gì cả thì quả là một kiên nhẫn lớn.

Đến buổi chiều, có lẽ hiểu được tâm trạng của tôi nên ban tổ chức (BTC) cho người đánh tiếng đề nghị cho tôi đi tham quan Pattaya từ 2 giờ đến 4 giờ chiều, vì ngày hôm sau chỉ còn nửa ngày và tôi phải bay về Sydney để kịp chuyến bay sang Queenstown (New Zealand) để dự một hội nghị khác cũng về loãng xương ở Úc và New Zealand. Như nắm được vàng, tôi nhận lời đi du lịch ngay. Ôi, sao mà BTC điệu nghệ thế, cứ như là đọc hết những gì tôi suy nghĩ!

Người hướng dẫn tôi là một cô bé (thật ra là một sinh viên MBA, đang tập sự hướng dẫn du lịch) và một anh tài xế trẻ đen như cục than. Cô bé thì nói tiếng Anh bập bẹ, còn anh chàng thì mù tịt tiếng Anh. Cô bé nói lia chia, ít khi ngừng miệng, lúc nào cô ta bí, cô bật cái máy thông dịch và chỉ cho tôi chữ tiếng Anh để tôi hiểu. Chẳng hạn như khi đến chùa cô ta không biết dịch chữ Patriarch là gì, báo hại tôi phải giải thích cả 5 phút cô ấy mới hiểu. Có lúc cô ấy thú nhận là cô ấy cũng muốn học tiếng Anh từ tôi. Ui chao, vậy thì ai là hướng dẫn viên đây, tôi hay là cô ấy? Nhưng hai người thật là dễ thương, lúc nào cũng có nụ cười trên môi.

Địa điểm đến thăm đầu tiên là ngôi chùa nổi tiếng ở Pattaya do sư ông chủ tịch giáo hội Phật giáo Thái Lan trụ trì. Chùa nổi tiếng là vì có di vật (cái răng) của Đức Phật còn được bảo tồn ở đây. Khách vào thăm không được chụp ảnh, phải bỏ giày dép phía ngoài, và phải tắt điện thoại di động. Kể ra họ biết làm du lịch, biết trân quí nơi chốn thiêng liêng, chứ không phải như bên ta để cho bọn Tây ăn mặc “cà chớn” vào những nơi thiêng liêng của ta.

Cũng giống như bên ta, ngoài chùa họ bày bán hàng nước, hàng ăn tùm lum cả. Nhưng khác với ta, các hàng quán của họ có tổ chức, rất vệ sinh, và không có cảnh chèo kéo, đòi khách phải chụp hình như ở bên ta. Nói đến đây tôi phải nói là rất sợ đi du lịch ở nước ta, vì mấy cái cảnh chèo kéo, bán vé số, bắt chụp hình, này nọ, làm nãn lòng người đi dul lịch. Đã nói là đi du lịch mà bị làm phiền như vậy thì thoải mái gì nữa! Không ngạc nhiên khi báo chí trong nước cho biết có đến 70% du khách nước ngoài ghé thăm VN là “một đi không trở lại”. Tôi là người Việt, cũng yêu quê mình lắm chứ, mà còn ngán đi du lịch nước mình, thì thử hỏi người ngoài khó tính hơn làm sao chịu nổi. Du lịch nước ta cần có một cuộc cách mạng.

Địa điểm thứ hai là một công viên nhiệt đới (tropical garden) rất rộng. Đây là công viên do tư nhân mua đất của Nhà nước và xây dựng. Công viên cực kì ấn tượng. Hơn 1500 công nhân viên làm việc ở đây. Công viên có các show cưỡi voi, ca nhạc truyền thống, và du ngoạn trong công viên bằng xe hơi. Một khu hàng quán bán toàn các trái cây nhiệt đới như xoài, chôm chôm, măng cục, thanh long, nước mía, v.v… nhìn là muốn ăn uống rồi. Tôi không thể bỏ qua hàng nước mía nên làm thử một li, rất tiếc là họ chưa có kinh nghiệm bằng Việt Nam (thêm nước chanh) nên hơi ngọt và không ngon bằng nước mía Việt Nam. Xong nước mía, tôi lang bang sang hàng măng cục, ôi chao, muốn ăn hết cũng được nhưng còn phải chừa bụng cho buổi ăn tối nữa, nên phải dằn lòng …

Hai địa điểm tham quan chiếm trọn 2 giờ. Về tới nơi, lại vào hội trường tiếp tục “chiến đấu”. Chiều nay có hai bài từ hai đồng nghiệp Thái Lan, một người là postdoc của tôi từ lúc anh ta còn làm trong nhóm của tôi. Nay thì anh ấy là giáo sư y khoa ở Đại học Kon Khaen, và chính là người làm đầu dây mối nhợ đưa tôi sang đây. Anh ta trình bày những nghiên cứu của chính anh ta. Có thể nói trong suốt hội nghị chỉ có anh này là trình bày số liệu của chính mình, và vì anh ta từng làm ở nhóm tôi, nên anh ấy rất kinh nghiệm trong việc trình bày trước công chúng.

Sau 5 giờ là buổi hội thảo nội bộ (chỉ nói tiếng Thái) cho các bác sĩ Thái Lan, nên tôi và các đồng nghiệp khác được rảnh đi dạo bờ biển Pattaya.

Theo chương trình, 7 giờ tối chúng tôi (những người invited speakers) được mời đi xem kịch ở đại hí viện Pattaya. Giữa một cánh đồng mênh mông, người ta xây một building khổng lồ và một sân khấu lộ thiên thật lớn. Xe bus đổ chúng tôi đến nơi thì đã có hàng trăm du khách cũng đang lang thang phía ngoài chơi các trò chơi. Ban nhạc liên tục chơi những bài nhạc pop để chào đón du khách và khán giả.

Khu vực hai của hí viện là một nhà ăn buffet có thể chứa đến 500 khách một lúc. Tôi cũng vào thử vài món và thấy thức ăn ở đây cũng “được”, không tệ, nhưng nếu nói là “ngon” thì tôi e rằng mình dối lòng. Nói chung, tuy món ăn Việt Nam và Thái Lan khá giồng nhau, nhưng tôi thấy món ăn Việt Nam tươi mát hơn, sang trọng hơn, và cue hơn món của Thái Lan.

Đã đến giờ trình diễn. Khách được dẫn đến một building khác được xây như một trái núi khổng lồ; đi vòng vo rồng rắn cả 10 phút mới đến khán đài để khán giả ngồi. Họ thiết kế theo mô hình của Universal Studio bên Mĩ. Ấn tượng đầu tiên của tôi là một sân khấu rất lớn, có thể chứa hàng ngàn khán giả.

Trước khi vào show chính, họ có những trò “giao lưu” với khán giả rất vui, như bắt banh, ca nhạc, v.v… cùng các diễn viên sân khấu. Show diễn chính thức là một vở sử kịch gồm 6 phần nói về thời dựng nước và giữa nước của Thái Lan. Phần 1 giới thiệu về thời khai hoang lập địa của người Thái. Phần 2 giới thiệu văn hóa bốn miền của Thái Lan: cao nguyên, duyên hải, nông thôn, và thành thị. Phần 3 nói về chiến tranh với Miến Điện. Phần 4 nói về văn hóa cưới hỏi (cũng khá giống với người Việt). Phần 6 là một màn kịch vui, ý muốn nói đến thời thái bình, thịnh vượng của Thái Lan.

Phải nói ngay rằng đây là một show diễn cực kì hoành tráng (đúng với cái nghĩa của chữ “hoành tráng”, chứ không phải dùng từ theo phong trào). Sân khấu của mỗi màn trình diễn được dàn dựng rất công phu, và điều đáng khâm phục là họ chuyển đổi sân khấu một cách hết sức tài tình. Họ kết hợp công nghệ hiện đại và giá trị truyền thống rất nhuần nguyễn, không chê vào đâu được. Từ những xảo thuật như rắn phun lửa (lửa thật), núi nức ra, núi phun lửa, thuyền rắn trên nước, v.v… được thực hiện hết sức chuyên nghiệp và ấn tượng. Hàng trăm diễn viên múa và sân khấu làm việc cực kì nhịp nhàng, đồng điệu đến như là một cái máy! Tôi đã xem qua nhiều show diễn như thế này ở Las Vagas và Universal Studio (Los Angeles), và nếu so sánh tôi có thể nói ngay rằng show diễn này không thua, nếu không muốn nói là hơn hẳn, các show diễn của người Mĩ một cái đầu. Nghe nói show này đã được dàn dựng và diễn khắp nước Thái Lan từ hơn 3 năm qua, nên họ rất chuyên nghiệp. Người Thái có quyền tự hào về sự hoành tráng, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại để sản xuất một show ca vũ nhạc mang tầm cỡ quốc tế như thế. Tôi cho điểm 9/10.

Cũng như các show khác, khán giả không được chụp hình hay quay phim, nên tôi không có hình ảnh gì để minh chứng ở đây.

Đến 8 giờ đêm, show diễn kết thúc. Ai nấy đều ra về theo con đường được chỉ định. Trên con đường ra xe này, khán giả có thể nhìn thấy hình của mình lúc mới vào hí viện hay đang xem kịch, và tất nhiên ai cũng muốn bỏ ra vài chục baht để làm kỉ niệm. Người Thái biết cách “móc túi” du khách, mà du khách vẫn cười để chi! Khá lắm.

Về đến khách sạn, ngồn tán dóc một hồi, thì giáo sư Nimit gọi đến đến nói là sẽ dẫn tôi đi nghe nhạc jazz. Wow! Sao tay này biết tính tôi thế! Thế là chúng tôi (gồm tôi, Chtlert, Nimit) lên đường đi đến quán bia ngoài Pattaya, nới có các nhạc sĩ jazz Tây phương chơi hàng đêm. Quán này rất độc đáo, là nơi mà vua Thái Lan từng đến chơi nhạc jazz (ông vua này biết nhạc khá lắm), nên trên tường thấy hình ông ấy tùm lum cả. Còn các nhạc sĩ hôm nay bao gồm một ông người Úc, một ông Mĩ, một ông Anh, và một ông Hà Lan. Nghe nói mấy ông này là dân đồng tính luyến ái, và đã chọn Thái Lan làm nhà từ hơn 10 năm qua. Nhưng đó là chuyện cá nhân họ, điều đáng nói là họ chơi nhạc rất hay (phải nói là “rất hay”), họ thả hồn theo điệu nhạc, bất cần những gì xảy ra chung quanh. Ngồi nghe họ đàn hát và uống bia mãi đến 10:30 mới về khách sạn. Cả ba chúng tôi đều thấy … ngà ngà.


8/9/07 – ngày thứ ba: gặp công chúa

Mới 5 giờ sáng, điện thoại phòng reo vang; nhấc lên định phàn nàn ai gọi giờ này mà chẳng thấy ai trả lời. Nằm nghĩ một hồi thì tôi ngồi bật dậy: thôi chết rồi, sáng nay là buổi đi bộ với công chúa Thái Lan. Nhân viên khách sạn gọi điện nhắc nhở mình đây mà!

Tôi dậy ngay, chưa kịp tắm, là mvề sinh răng sơ qua, thay đồ và chạy xuống khu lobby. Một ông an ninh thấy tôi đứng xớ rớ đó bèn đến hỏi, tôi nói là chờ xe đón đi chạy độ với công chúa. Ông ấy ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Thưa giáo sư, tôi e rằng ông mặc như vầy không được đâu, bộ không ai nói cho ông hay là ông phải mặc áo polo màu vàng và quần dài sao?” Ui chao, tôi nhớ rồi. Có người nhắc tôi chuyện này đó chứ, nhưng vì dậy nhanh quá nên quên. Thế là tôi lại chạy lên phòng, thay đồ cho đúng điệu, xuống lại khu lobby.

Mới xuống lobby, thấy một cái xe mui trần chở những người mặc áo vàng như tôi lên đồi (điểm tập kết), tôi vội nhảy lên xe (tôi sợ trễ giờ mà). Nhưng cảnh sát đến kiểm tra và không cho tôi lên xe. Khổ cái ông cảnh sát này không nói được tiếng Anh, nên tôi hỏi “tại sao” thì ổng chỉ cười. Đến khi có người của ban tổ chức đến giải thích thì tôi mới rõ: vì tôi là khách VIP của ban tổ chức, nên xe tôi đi là xe khác, chứ không phải xe dành cho “thường dân” đó. Trời, lại phân biệt giai cấp hả?! Tôi nói thầm trong bụng.

Chờ 5 phút nữa thì một chiếc BMW mui trần đỗ xịt ngay bên lobby, hai ba ông cảnh sát đeo đầy huy chương, mời tôi lên xe. Ôi, tôi không biết mình là VIP hay phạm nhân đây mà lại đi xe cảnh sát, với sự bảo trợ của hai ông tướng hay tá này? Khổ thế, sao không cho tôi cái tự do của người dân nhỉ, tôi có phải là hoàng gia hoàng giếc gì đâu, chỉ là con của một người nông dân Việt thôi mà ...

Đến nơi tập kết, tôi chẳng thấy giáo sư Nimit hay Chatlert hay Suthorn ở đâu, mà toàn là mấy người lạ mặt. Chờ một lúc thì có vài vị khách khác kéo đến, kể cả Suthorn. Còn công chứa thì có thấy nàng ở đâu, đúng là người quan trọng thường đến sau. Tôi hỏi ban tổ chức về thủ tục gặp công chúa có cần quì hay không, và tôi cũng nói rõ ràng rằng tôi sẽ không quì và cũng không nhún gối gì cả. Ban tổ chức cười nói rằng tôi không cần phải nhún gối, cũng không quì, vì đó là thủ tục dành cho người Thái Lan mà thôi. Nghe thế tôi cũng yên lòng.

Chúng tôi đứng tán dóc một hồi thì trời mưa. Thôi, chết rồi, đôi giầy của tôi mới mua từ Việt Nam hồi tháng rồi, đôi giầy tôi yêu mến nó, mà chịu cơn mưa này thì chắc … tiêu. Quái, mưa càng lúc càng nặng hạt, chúng tôi phải tìm chỗ trú ẩn ở một cái chòi dành cho hành khách xe bus. Chung quanh chúng tôi toàn là lính và cảnh sát có mang súng đầy mình.

Khoảng 10 phút sau thì độ nhiên xe hú còi từ xa, báo hiệu xe của công chúa đến. Trước xe của công chúa là 3 xe cảnh sát hộ tống hú còi inh ỏi (toàn xe BMW và Mercedes). Xe công chúa đi là chiếc Merc màu cà phê sửa. Xe dừng lại, liền có hai người lính đem thảm đỏ trải xuống bên cửa xe, và cô nàng bước xuống. Theo sau cô ta là một người hầu già, chắc khoảng 50-60 tuổi. Cô công chúa này là cháu nội của ông vua hiện nay, 25 tuổi, nặng khoảng 45-50 kg, cao khoảng 1,5m. Cô ta có khuôn mặt tròn, trắng, mắt to, hình dạng trên trung bình, cô ta như ngơ ngác giữa đám đông. Cô ta mặc áo thun màu vàng, quần thể thao (loại tracksuit) màu đen, có 2 lằn sọc trắng (giống như quần thể thao Nike). Cô ta độ kết quân đội, loại kết thủy quân lục chiến đội. Chân mang giầy thể thao, hơi nhếch nhác. Nói chung, nhìn qua cách ăn mặc của cô ta, nếu không biết là công chúa, người ta sẽ đánh giá cô thuộc giai cấp “working class” vì quần áo cô mặc thuộc giai cấp lao động người da đen ở New York hay mặc và cái kết của cô nó phản cảm làm sao. Tôi thấy không có cảm tình gì với cái lối ăn mặc hơi … du côn này. Nhưng đây là công chúa, mới tốt nghiệp luật sư từ Đại học Cornell bên Mĩ về.

Cách ăn mặc của cô tương phản với vật dụng cô mang theo. Xe thì đi xe Merc. Túi sách tay là loại hiệu Luis Vuitton (tôi biết thế vì nhìn qua màu là biết) rất đắt tiền. Ngay cả đồng hồ là hiệu Rolex. Toàn thứ thượng hạn.

Cô ta được giáo sư chủ tịch BTC dẫn đến giới thiệu từng VIP (khoảng 10 VIP). Cô ta bắt tay tôi trước vì tôi đứng phía bìa hàng bên trái. Cô ta nói một câu xã giao mà tôi chỉ nghe loáng thoáng loại tiếng Anh còn nhiều “mùi Thái Lan”. Toi nói lại cũng theo kiểu xã giao: it is indeed my pleasure to meet you, your royal highness (tôi rất ư là hân hạnh gặp công chúa). Nói cho cô ấy vui, chứ tôi không ưa hoàng gia mấy.

Ban nhạc bắt đầu chơi bài gì đó mà tôi đoán là nhạc chào công chúa. Xong bài nhạc, cô ấy lên microphone và nói nhăng nói cuội (bằng tiếng Thái) khoảng 2 phút và bước xuống đi bộ. Cô ta vừa bước xuống khán đài là có người cầm lộng che ngay. Đây là chương trình đi bộ nhằm gây quĩ cho Hội loãng xương Thái Lan, và công chúa nhiệt tình ủng hộ hội này, nên đây là một vinh dự cho hội. Thấy cô ấy đi, chúng tôi cũng lục đục đi theo sau cô ta. Phía sau chúng tôi là cả ngàn người Thái khác, kể cả dân chúng trong vùng đi theo. Hai bên đường cũng như trong hàng ngũ những người đi bộ là lính và cảnh sát.

Chúng tôi đi bộ trong cơn mưa lất phát. Cũng vui. Cô này đi rất nhanh, còn bọn “già” như tôi theo cô ấy muốn hụt hơi, chứ chẳng đùa. Đi bên cạnh tôi là giáo sư Asak (ông cụ này cũng cỡ 70 tuổi) và một ông tướng lãnh cảnh sát. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện trên trời dưới đất. Tội nghiệp ông cụ Asak, vì tuổi già sức yếu nên ông phảu vất vả lắm mới theo nổi tôi.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến địa điểm, cách khu tập kết khoảng 2 cây số. Trời lại đổ mưa, và lần này mưa càng ngày càng lớn. Trong khi bọn VIP chúng tôi có chòi để trú mưa thì quần chúng phải chịu trận trong cơn mưa, ai cũng ước sũng. Tội nghiệp họ quá. Nhưng hình như họ vui thì phải, vì đây là cơ hội hiếm có để đi gần công chúa.

Công chúa đi thăm và trò chuyện với các gian hàng dược, chúng tôi theo sau cứ như là những người bảo vệ. Tôi thấy cô ấy chẳng nói gì nhiều, và chắc cô ấy cũng chẳng biết gì để nói nhiều. Đến gian hàng máy siêu âm, đột nhiên cô ta nổi hứng đòi đo xương. Thế là các giáo sư, bác sĩ nữ lăng xăng chuẩn bị cho cô ấy. Người thi chạy đi lấy ghế cho cô ta ngồi, người thì quì xuống cỡi giầy cho cô ấy, người thì khởi động máy (vì máy chưa được chuẩn bị), người thì sức gel vào gót chân cho nàng, v.v… Ôi, có một mình cô ta mà làm phiền biết bao giáo sư bác sĩ. Tôi đứng nhìn mà ứa gan, nhưng cũng phải cười để xã giao. Đến khi máy cho ra kết quả, bà giáo sư sản phụ nhìn quanh tìm người giải thích (vì máy in bằng tiếng Anh), thì bà ta nhìn tôi … “cười tình”. Tôi hiểu ý, và tiến lên cầm giấy giải thích bằng tiếng Anh cho công chúa. Chỉ số T của nàng ta là +3! Tôi giải thích cho nàng ta rằng xương của nàng nằm trong “top 1%” của những người cùng tuổi và cùng trọng lượng, và tôi còn ‘bồi” thêm một câu rằng: cô không cần lo ngại đến loãng xương vì xương của cô mạnh quá. Tôi ta cười (hơi vô duyên) và đưa tay bắt tay tôi rồi nói một câu duy nhất “Thanh you, doctor”.

Cô ta đi lòng vòng một hồi thì lên xe về lại Bangkok. Tôi chẳng thấy cô ấy nói lời từ biệt gì cả. Cô ấy chỉ đơn giản bước lên thảm đỏ, có người mở cửa xe, và tài xế hú còi xe chạy. Người gì mà vô cảm thế!

Chuyện phường tuồng đón tiếp công chúa rồi cũng xong. Chúng tôi về khách sạn, tắm rửa, và ăn sáng. Rồi lại vào phòng họp. Sáng nay là ngày cuối cùng và tôi được giao trọng trách là tóm lược kết quả thảo luận 2 ngày qua. BTC chỉ cho tôi 40 phút để nói. Tôi lại thao thao gần 35 phút làm BTC rất hài lòng.

Đến phần thảo luận, mọi câu hỏi đều được tôi giải đáp rạch ròi. Ngoại trừ cái ông giáo sư già người Indonesia muốn “thử sức” tôi và nói chuyện về phytoestrogen. Ông này tin rằng phytoestrogen là biện pháp phòng chống loãng xương tốt nhất. Mà, cái ông này nói dai, nói dài, mà còn … nói bậy. Chẳng lẽ tôi nói “ê, ông nói bậy” thì kì quá, nên tôi kiên nhẫn nói “Ông nói rất chí lí, nhưng rất tiếc là chúng ta chưa có bằng chứng về những gì ông tin”. Điều làm tôi ngạc nhiên là sau khi xong hội nghị, ông ta lại ôm tôi rất chân tình và nói là ổng ngưỡng mộ tôi. Trời! Vậy mà lúc đứng trên bục giảng, tôi cứ tưởng ổng muốn “làm khó” tôi chứ! Đấy, không nên phán xét người ta qua vài câu nói được. Ông ta còn nói là sẽ mời tôi ghé thăm Indonesia để giảng và sẽ mời tôi làm cố vấn cho khoa của ông ấy (tôi có biết gì về sản phụ mà làm cố vấn???)

Rồi cũng đến giờ chia tay hội nghị. Tôi phải về Bangkok để bay về Sydney. BTC ưu ái dành cho tôi một bữa ăn trưa trước khi chia tay. Họ chọn một nhà hàng giống như vùng quê, tại một làng đánh cá, và chỉ bán hải sản. Họ gọi các món như cá chiên, mực luộc, và món gì đó có nướng xả. Nói chung là rất thường, nhưng họ nói đây là nhà hàng hải sản ngon nhất ở Pattaya. Thú thật tôi thấy “nhà hàng đệ nhất” này còn thua xa các nhà hàng khu lấn biển ở Kiên Giang.

Kết thúc một chuyến đi công tác ngắn ở Thái Lan, nhưng đầy ấp kỉ niệm. Chuyến đi để lại trong tôi nhiều suy nghĩ về định hướng phát triển ở nước ta, và nhiều suy tư trăn trở làm sao Việt Nam có thể tiến nhanh như Thái Lan. Nhưng đây là chuyện dài, có lẽ tôi sẽ trở lại trong một bài sau.

No comments: