Wednesday, November 7, 2007

Dịch tả: Nước quan trọng hơn mắm tôm!

Tôi viết bài này cho Tuổi Trẻ. Giống như một kiểu "đặt hàng". Bản dài hơn và có tài liệu tham khảo, các bạn có thể xem ở trang web http://www.ykhoanet.com/. Theo tôi, các vị trong Bộ Y tế đã quá mạnh tay với mắm tôm, mà sao lãng một yếu tố nguy cơ quan trọng khác: nguồn nước. Trong bài này tôi chứng minhrằng làm sạch nguồn nước có hiệu quả ngăn chận bệnh hiệu quả hơn là can thiệp vào mắm tôm. Hi vọng các vị trong Bộ y tế sẽ nghe, nhưng có làm hay không là chuyện khác.
NVT
------------

Dựa vào quan sát rằng có đến 80% bệnh nhân tiêu chảy cấp (hay nói chính xác hơn là bệnh tả) từng ăn thịt chó và mắm tôm trước khi mắc bệnh, các giới chức y tế cho rằng mắm tôm là “nghi can” số một gây nên dịch tiêu chảy mà đến nay đã ảnh hưởng đến hơn 1000 người. Dù con số chính xác vẫn còn trong vòng nghi ngờ và dù mối liên hệ giữa bệnh dịch tả và mắm tôm vẫn chưa rõ ràng, các giới chức y tế đã vội vã có biện pháp “mạnh” với các cơ sở sản xuất món ăn này. Phát biểu gần đây trên báo chí, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết “chúng tôi đã yêu cầu các địa phương có cơ sở sản xuất mắm tôm, mắm tép cần tạm ngưng việc vận chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài. Hiện tại, mắm tôm sẽ tạm cấm sử dụng.” Tôi e rằng tập trung việc kiểm soát và can thiệp vào một yếu tố mắm tôm như thế có thể dẫn đến sai lầm về chiến lược phòng bệnh, vì các yếu tố quan trọng khác như nguồn nước và thói quen vệ sinh (hay thiếu vệ sinh) cá nhân có thể bị sao lãng hay xem nhẹ.

Đứng trên phương diện y tế công cộng, cần phân biệt rõ hai thành tố liên quan đến bệnh: nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân là yếu tố sinh học trực tiếp gây nên bệnh. Yếu tố nguy cơ là một yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và bệnh mang tính nhân-quả và xác định. Nhưng mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh thì mang tính bất định: không phải bất cứ ai bị phơi nhiễm đều mắc bệnh, mà người phơi nhiễm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không phơi nhiễm.

Trong trường hợp bệnh tả, nguyên nhân gây bệnh tả là vi khuẩn V. cholerae, nhưng yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh thì rất nhiều. Nghiên cứu dịch tễ học trong thời gian tại các nước từng có nạn dịch tả cho thấy các yếu tố nguy cơ hàng đầu được ghi nhận là: nguồn nước uống và sinh họat hàng ngày, thiếu vệ sinh cá nhân (như không rửa tay sau khi đi tiêu, tiểu và trước bữa ăn), thiếu nhà xí hay nhà xí thiếu vệ sinh. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh qua sự lan truyền của vi khuẩn V. cholerae. Một người phải hấp thụ một số rất lớn vi khuẩn (khoảng 2 triệu) mới phát bệnh tả. Do đó, can thiệp vào các yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa bệnh tả ở qui mô cộng đồng.

Nếu 80% các trường hợp tiêu chảy cấp (hay bệnh tả) có “tiền sử” ăn mắm tôm, chúng ta vẫn chưa kết luận rằng mắm tôm là nguyên nhân số một gây bệnh, mà chỉ là một trong những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh. Thật vậy, không ngạc nhiên khi thấy báo chí đưa tin “
Không ăn mắm tôm, rau sống... vẫn mắc bệnh” hay “xuất hiện bệnh nhân tiêu chảy không phải do ăn mắm tôm”. Thật ra, đứng trên quan điểm của y tế công cộng, câu hỏi quan trọng hơn và thiết thực hơn là: trong số những người ăn mắm tôm có bao nhiêu người mắc bệnh? Rất tiếc, cho đến nay chúng ta chưa có nghiên cứu có hệ thống và do đó vẫn chưa có câu trả lời cho câu hỏi này.

Nhưng qua xem xét y văn trên thế giới, chúng ta có thể ước tính rằng những người ăn các loại thực phẩm với khả năng bị nhiễm vi khuẩn cao (như mắm tôm, cá khô, rau cải sống, v.v…) có nguy cơ mắc bệnh tả cao hơn khoảng 4 lần so với những người không ăn các thực phẩm đó. Với số liệu này, và giả dụ rằng trong cộng đồng dân số gồm 10% người có thói quen ăn mắm tôm, câu hỏi đặt ra là nếu chúng ta “can thiệp” vào mắm tôm, chúng ta sẽ ngăn ngừa bao nhiêu trường hợp bệnh tả? Một vài tính toán dịch tễ học cho biết đáp số là 23%. Nói cách khác, can thiệp vào mắm tôm chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa được tối đa một phần tư trường hợp bệnh.

Tất cả chúng ta đều phải uống nước. Tất cả chúng ta đều phải sử dụng nước cho sinh hoạt hàng ngày. Do đó, không ngạc nhiên khi các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đều đi đến một kết luận rằng nguồn nước bị nhiễm trùng là yếu tố nguy cơ số 1 gây bệnh tả (và các bệnh khác). Hơn 100 năm trước, nhà dịch tễ học người Anh, John Snow, đã chứng minh rằng bệnh dịch tả ở London (Anh) lan truyền qua nguồn nước bị nhiễm trùng từ phân người. Nạn dịch ở Nam Mĩ vào năm 1991-1994, “thủ phạm” là nhóm O1, El Tor của vi khuẩn V. cholerae cũng lan truyền qua đường nước thải từ một chiếc tàu hàng và gây tử vong cho cả vạn người.

Nghiên cứu từ Iran và Tanzania (những nơi từng kinh qua nạn dịch tả gần đây) cho thấy những người tắm sông nước bẩn và uống nước bị nhiễm trùng có nguy cơ mắc bệnh tả cao gấp 10 lần những người không tắm sông và sử dụng nước không bị nhiễm trùng. Dựa vào kết quả này, có thể nói rằng nếu chúng ta can thiệp làm sạch nguồn nước uống và nước cho sinh hoạt hàng ngày, chúng ta sẽ ngăn ngừa được ít nhất là 90% bệnh tả.

Như vậy, làm sạch nguồn nước, kể cả đun sôi trước khi uống và tẩy trùng bằng chlorine hay các hóa chất khử trùng, có hiệu quả cao hơn nhiều so với việc can thiệp vào mắm tôm. Cố nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta bỏ qua việc kiểm soát qui trình sản xuất và phân phối mắm tôm, mà chỉ muốn nói rằng ngoài công tác đó, chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm đến nguồn nước. Can thiệp làm sạch nguồn nước chính là một biện pháp hữu hiệu nhất, thực tế nhất, và đơn giản nhất để ngăn ngừa bệnh tả.

Một thực tế của bệnh tả là bệnh thường bộc phát ở những vùng có mật độ dân cư cao và các gia đình nghèo. Do đó, phần lớn các yếu tố nguy cơ của bệnh tả thường liên quan đến tình trạng kinh tế và thậm chí văn hóa sinh hoạt của người dân. Phải thú nhận một thực tế là rất nhiều người Việt chúng ta chưa có thói quen rửa tay trước bữa ăn hay sau khi đi tiêu / tiểu, và cũng chưa xem nhà xí là một phương tiện phòng chống bệnh tật. Rất nhiều nhà hàng, nhà ở được xây dựng hoành tráng, nhưng cầu xí thì rất ư là tồi tệ. Các thói quen mang tính văn hóa này đã được chứng minh là những yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh dịch tả. Điều này cho thấy chúng ta cần có một chiến lược y tế công cộng về lâu về dài nhằm nâng cao và cải thiện vệ sinh môi trường sống ở những vùng có nguy cơ mắc bệnh cao.

Bệnh dịch tả và vi khuẩn gây bệnh đã song hành cùng con người qua nhiều năm, nhưng có xu hướng tập trung vào một số vùng trên thế giới. Á châu và Nam Mĩ là những vùng chịu ảnh hưởng bệnh này nhiều nhất. Nhưng ngay cả trong vùng Á châu, những nước như Singapore hay ngay cả Thái Lan có tần số bệnh gần như không đáng kể so ới nước ta. Điểm khác biệt giữa các nước này và nước ta là họ đã cải thiện nguồn cung cấp nước và có hệ thống kiểm tra thực phẩm hữu hiệu hơn nước ta.

Bệnh tả là bệnh hoàn toàn có thể ngăn ngừa. Chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm của các nước này để tiến đến một định hướng giảm tần số bệnh đến mức tối thiểu. Và, để tiến đến một định hướng như thế, chúng ta cần có một chiến lược tổng thể và lâu dài, chứ không nên tập trung vào một yếu tố như mắm tôm. Ở nước ta, làm sạch nguồn nước cần phải được xem là một biện pháp số 1 trong bất cứ một chiến lược y tế công cộng nào để ngăn ngừa bệnh tả và các bệnh khác.

No comments: