Thursday, November 15, 2007

Tại sao mắm tôm “vô tội”

Ô, có người bạn gửi tôi đọc chính bài của tôi trên Tuổi Trẻ! Mấy bài này, đương nhiên là có cắt chút đỉnh, nhưng họ đăng mà không báo cho tôi biết. Thôi, cũng chẳng sao. Mục tiêu vẫn là đưa thông tin đến bà con, đến đồng nghiệp; nên ai đăng cũng được. Mời các bạn đọc hai bài này. Bài thứ nhất (7/11) tôi đề nghị nên định danh bệnh cho đúng để phòng ngừa, và bài 2 (8/11) tôi nói mắm tôm không có tội. Bây giờ thì họ chịu định danh rồi, nhưng họ vẫn “đè” mắm tôm ra mà tra khảo để tìm vi khuẩn tả. Thiệt tình! Họ đã “tra khảo” 135 mẫu mắm tôm trên cả nước, và 135 mẫu đều âm tính! Đâu có ai ngạc nhiên: mắm tôm có nồng độ muối 15-30%, mà vi khuẩn tả thì chỉ sống khi nồng độ muối <5%, thì thử hỏi có vi khuẩn nào sống nỗi trong mắm tôm. Y văn đã chỉ ra như vậy cả 20-30 năm nay rồi. Tại sao họ không đọc? Hay là không biết? Vậy mà họ vẫn chưa hài lòng, đòi gửi mắm tôm ra nước ngoài để xét nghiệm. Tại sao phải tốn tiền bạc cho một chuyện vô duyên và phi khoa học như thế? Cần phải lên tiếng minh oan cho mắm tôm, vì mấy mắm tôm đâu có nói gì được!
NVT





http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=228392&ChannelID=12
Thứ Năm, 08/11/2007, 22:23 (GMT+7)
Dịch tiêu chảy, biện pháp hàng đầu là làm sạch nguồn nước

TTO - Dựa vào quan sát rằng có đến 80% bệnh nhân tiêu chảy cấp từng ăn thịt chó và mắm tôm trước khi mắc bệnh, ngành y tế cho rằng mắm tôm là “nghi can” số một gây nên dịch tiêu chảy mà đến nay đã ảnh hưởng đến hơn 1400 người.
Qúa "mạnh tay" với mắm tôm?

Dù mối liên hệ giữa bệnh dịch và mắm tôm vẫn chưa rõ ràng, ngành y tế đã có biện pháp “mạnh” với các cơ sở sản xuất món ăn này. Phát biểu gần đây trên báo chí, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết “chúng tôi đã yêu cầu các địa phương có cơ sở sản xuất mắm tôm, mắm tép cần tạm ngưng việc vận chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài. Hiện tại, mắm tôm sẽ tạm cấm sử dụng.” Tôi e rằng tập trung việc kiểm soát và can thiệp vào một yếu tố như thế có thể dẫn đến sai lầm về chiến lược phòng bệnh, vì các yếu tố quan trọng khác như nguồn nước và thói quen vệ sinh (hay thiếu vệ sinh) cá nhân có thể bị sao lãng hay xem nhẹ.

Đứng trên phương diện y tế công cộng, cần phân biệt rõ hai thành tố liên quan đến bệnh: nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân là yếu tố sinh học trực tiếp gây nên bệnh. Yếu tố nguy cơ là một yếu tố - qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp - làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và bệnh mang tính nhân-quả và xác định. Nhưng mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh thì mang tính bất định: không phải bất cứ ai bị phơi nhiễm đều mắc bệnh, mà người phơi nhiễm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không phơi nhiễm.

Trong trường bệnh tả, nguyên nhân gây bệnh tả là vi khuẩn V. cholerae, nhưng yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh thì rất nhiều. Nghiên cứu dịch tễ học trong thời gian tại các nước từng có nạn dịch tả cho thấy các yếu tố nguy cơ hàng đầu được ghi nhận là: nguồn nước uống và sinh họat hàng ngày, thiếu vệ sinh cá nhân (như không rửa tay sau khi đi tiêu, tiểu và trước bữa ăn), thiếu nhà xí hay nhà xí thiếu vệ sinh. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh qua sự lan truyền của vi khuẩn V. cholerae. Một người phải hấp thụ một số rất lớn vi khuẩn (khoảng 2 triệu) mới phát bệnh tả. Do đó, can thiệp vào các yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa bệnh tả ở qui mô cộng đồng.

Nếu 80% các trường hợp tiêu chảy cấp (có 15% là bệnh tả) có “tiền sử” ăn mắm tôm, chúng ta vẫn chưa kết luận rằng mắm tôm là nguyên nhân số một gây bệnh, mà chỉ là một trong những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh. Thật vậy, không ngạc nhiên khi thấy báo chí đưa tin “Không ăn mắm tôm, rau sống... vẫn mắc bệnh” hay “xuất hiện bệnh nhân tiêu chảy không phải do ăn mắm tôm”. Thật ra, đứng trên quan điểm của y tế công cộng, câu hỏi quan trọng hơn và thiết thực hơn là: trong số những người ăn mắm tôm có bao nhiêu người mắc bệnh? Rất tiếc, cho đến nay chúng ta chưa có nghiên cứu có hệ thống và do đó vẫn chưa có câu trả lời cho câu hỏi này.

Nhưng qua xem xét y văn trên thế giới, chúng ta có thể ước tính rằng những người ăn các loại thực phẩm với khả năng bị nhiễm vi khuẩn cao (như mắm tôm, cá khô, rau cải sống, v.v…) có nguy cơ tiêu chảy cấp và dương tính với vi khuẩn tả cao hơn khoảng 4 lần so với những người không ăn các thực phẩm đó. Với số liệu này, và giả dụ rằng trong cộng đồng dân số gồm 10% người có thói quen ăn mắm tôm, câu hỏi đặt ra là nếu chúng ta “can thiệp” vào mắm tôm, chúng ta sẽ ngăn ngừa bao nhiêu trường hợp? Một vài tính toán dịch tễ học cho biết đáp số là 23%. Nói cách khác, can thiệp vào mắm tôm chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa được tối đa một phần tư trường hợp bệnh.

Nguồn nước nhiễm trùng , nguy cơ số 1

Tất cả chúng ta đều phải uống nước. Tất cả chúng ta đều phải sử dụng nước cho sinh hoạt hàng ngày. Do đó, không ngạc nhiên khi các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đều đi đến một kết luận rằng nguồn nước bị nhiễm trùng là yếu tố nguy cơ số 1 gây bệnh tả (và các bệnh khác). Hơn 100 năm trước, nhà dịch tễ học người Anh, John Snow, đã chứng minh rằng bệnh dịch tả ở London (Anh) lan truyền qua nguồn nước bị nhiễm trùng từ phân người. Nạn dịch ở Nam Mĩ vào năm 1991-1994, “thủ phạm” là nhóm O1, El Tor của vi khuẩn V. cholerae cũng lan truyền qua đường nước thải từ một chiếc tàu hàng và gây tử vong cho cả vạn người.

Nghiên cứu từ Iran và Tanzania (những nơi từng kinh qua nạn dịch tả gần đây) cho thấy người tắm sông nước bẩn và uống nước bị nhiễm trùng có nguy cơ mắc bệnh tả cao gấp 10 lần những người không tắm sông và sử dụng nước không bị nhiễm trùng. Dựa vào kết quả này, có thể nói rằng nếu chúng ta can thiệp làm sạch nguồn nước uống và nước cho sinh hoạt hàng ngày, chúng ta sẽ ngăn ngừa được ít nhất là 90% bệnh tả.

Như vậy, làm sạch nguồn nước, kể cả đun sôi trước khi uống và tẩy trùng bằng chlorine hay các hóa chất khử trùng, có hiệu quả cao hơn nhiều so với việc can thiệp vào mắm tôm. Cố nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta bỏ qua việc kiểm soát qui trình sản xuất và phân phối mắm tôm, mà chỉ muốn nói rằng ngoài công tác đó, chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm đến nguồn nước. Can thiệp làm sạch nguồn nước chính là một biện pháp hữu hiệu nhất, thực tế nhất, và đơn giản nhất để ngăn ngừa bệnh tả.

Chiến lược lâu dài cho môi trường sống

Một thực tế của bệnh tả là bệnh thường bộc phát ở những vùng có mật độ dân cư cao và các gia đình nghèo. Do đó, phần lớn các yếu tố nguy cơ của bệnh tả thường liên quan đến tình trạng kinh tế và thậm chí văn hóa sinh hoạt của người dân.Phải thú nhận một thực tế là rất nhiều người Việt chúng ta chưa có thói quen rửa tay trước bữa ăn hay sau khi đi tiêu / tiểu, và cũng chưa xem nhà xí là một phương tiện phòng chống bệnh tật. Rất nhiều nhà hàng, nhà ở được xây dựng hoành tráng, nhưng cầu xí thì rất ư là tồi tệ. Các thói quen mang tính văn hóa này đã được chứng minh là những yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh dịch tả. Điều này cho thấy chúng ta cần có một chiến lược y tế công cộng về lâu về dài nhằm nâng cao và cải thiện vệ sinh môi trường sống ở những vùng có nguy cơ mắc bệnh cao.

Bệnh dịch tả và vi khuẩn gây bệnh đã song hành cùng con người qua nhiều năm, nhưng có xu hướng tập trung vào một số vùng trên thế giới. Á châu và Nam Mĩ là những vùng chịu ảnh hưởng bệnh này nhiều nhất. Nhưng ngay cả trong vùng Á châu, những nước như Singapore hay ngay cả Thái Lan có tần số bệnh gần như không đáng kể so với nước ta. Điểm khác biệt giữa các nước này và nước ta là họ đã cải thiện nguồn cung cấp nước và có hệ thống kiểm tra thực phẩm hữu hiệu hơn nước ta.

Dịch tiêu chảy và bệnh tả hoàn toàn có thể ngăn ngừa. Chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm của các nước này để tiến đến một định hướng giảm tần số bệnh đến mức tối thiểu. Và, để tiến đến một định hướng như thế, chúng ta cần có một chiến lược tổng thể và lâu dài. Ở nước ta, làm sạch nguồn nước cần phải được xem là một biện pháp số 1 trong bất cứ một chiến lược y tế công cộng nào để ngăn ngừa bệnh tả và các bệnh khác.


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=228254&ChannelID=12

Thứ Năm, 08/11/2007, 08:08 (GMT+7)
Gọi tên đúng bệnh để phòng ngừa hiệu quả
Cấp cứu bệnh nhân tiêu chảy cấp nặng tại Hà Nội - Ảnh: Lan Anh

TT - Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm vẫn chưa chịu dừng lại. Số người mắc bệnh tăng lên từng ngày. Bản đồ dịch bệnh sẽ mở rộng hay giữ nguyên rồi thu hẹp và mờ dần?

Nghe đọc nội dung toàn bài:

Muốn trả lời câu hỏi này đòi hỏi cả cộng đồng cùng gọi đúng tên sự vật.

Phần lớn trường hợp gọi là nghi mắc bệnh tiêu chảy cấp khi xét nghiệm vi khuẩn có kết quả dương tính vi khuẩn vibrio cholerae (có khi viết tắt là V. cholerae). Bệnh dịch tả là một bệnh nhiễm trùng cấp ở ruột non do vi khuẩn V. cholerae tương tác với các protein trong đường ruột để "mở cửa" các kênh ion và từ đó gây ra tình trạng mất nước trong cơ thể. Hệ quả là bệnh nhân bị tiêu chảy trầm trọng (với đặc tính phân giống như nước gạo) và ói mửa. Như vậy, qua các triệu chứng được tường thuật như ói mửa, tiêu chảy và kết quả xét nghiệm, có thể nói rằng phần lớn trường hợp nghi ngờ này thật sự mắc bệnh tả.

Cho đến nay, bệnh tả chủ yếu lan truyền qua đường nước uống bị nhiễm khuẩn từ phân của người bị bệnh. Sau một thời gian ủ bệnh từ 1-5 ngày, các triệu chứng xuất hiện một cách đột ngột. Sự mất cân bằng điện giải trong dịch tố của cơ thể có thể gây ra tử vong trong vòng 24 giờ. Điều trị bằng cách truyền tĩnh mạch dung dịch muối, trụ sinh chỉ làm cho sự bình phục nhanh hơn. Nếu người mắc bệnh không được điều trị, tỉ lệ tử vong có thể lên đến 50%.

Bệnh đã bộc phát và tái bộc phát nhiều lần trong một thế kỷ qua. Dịch tả mới nhất xảy ra ở Peru vào năm 1991-1994 với hơn 1 triệu người bị nhiễm và gây tử vong cho gần 10.000 người. Qua các nạn dịch này, chúng ta có thể rút ra bài học quan trọng nhất là chiến lược kiểm soát và phòng ngừa bệnh tả cần sự hoạt động đồng bộ của bốn lĩnh vực: y tế, vệ sinh nước, thực phẩm và giáo dục.

Y tế

Hệ thống y tế các cấp, nhất là y tế cộng đồng, cần được trang bị phương tiện chẩn đoán, đủ thuốc và văcxin để điều trị cho các bệnh nhân. Kinh nghiệm từ các nước châu Phi cho thấy có thể thành lập các đội y tế đặc nhiệm để phát hiện các trường hợp bệnh tả và cách ly kịp thời để không gây lan truyền cho cộng đồng. Cần chú ý đến những người với nhóm máu O vì họ thường có nguy cơ mắc bệnh rất cao. Những người với máu nhóm AB thường có khả năng đề kháng vi khuẩn và ít mắc bệnh hơn người mang máu nhóm O. Ngoài ra, những trẻ em thiếu dinh dưỡng, những người đang sử dụng thuốc antacid cũng có nguy cơ mắc bệnh tả khá cao, và họ là những đối tượng cần được phòng ngừa.

Nước và thực phẩm

Bởi vì bệnh tả lan truyền qua đường nước nhiễm trùng, cho nên cải thiện và đảm bảo vệ sinh nguồn nước uống và nấu ăn là biện pháp hữu hiệu nhất và thiết thực nhất trong việc phòng ngừa bệnh. Ở nông thôn nên khuyến khích sử dụng chlorine để tẩy trùng nước hay đun sôi nước trước khi uống. Ở thành thị, cần xét nghiệm ngẫu nhiên và thường xuyên nguồn nước để phát hiện và điều trị kịp thời các vi khuẩn có thể gây bệnh.

Ngoài ra, kinh nghiệm từ các nước châu Phi cho thấy thực phẩm bị nhiễm trùng là một yếu tố quan trọng gây nên bệnh dịch tả, cho nên kiểm soát vệ sinh nguồn cung cấp thực phẩm cũng là một biện pháp có ích trong việc ngăn ngừa bệnh phát sinh.

Vai trò của gia đình

Nhưng tất cả biện pháp trên sẽ không có hiệu quả nếu người dân không ý thức được nguyên nhân của bệnh và từ đó bất cộng tác. Thực tế cho đến nay người dân chưa biết đó là bệnh tả nên vẫn khá thờ ơ với nguy cơ mắc bệnh. Vì thế, công tác giáo dục y tế cộng đồng, kể cả chỉ dẫn về cách xử lý nguồn nước, nấu nướng và bảo quản thực phẩm, phương pháp hủy phân... đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công của một chiến lược y tế công cộng.

Vi khuẩn gây bệnh tả V. cholerae rất dễ bị tiêu diệt trong môi trường axít cao và nhiệt độ cao. Do đó thông báo cho công chúng biết rằng nấu chín thực phẩm, kể cả rau cải, và đun sôi nước là những biện pháp thiết thực nhất mà họ có thể áp dụng để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tả.

Nguy cơ và nguyên nhân

Trong số những người ăn mắm tôm (và thịt chó) có bao nhiêu người bị bệnh tả, và trong số những người không ăn mắm tôm có bao nhiêu người mắc bệnh? Chúng ta chưa có dữ liệu này. Do đó, chúng ta không thể nói mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, có thể nói mắm tôm là một yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả.

Ăn thịt chó hay mắm tôm là yếu tố nguy cơ chứ không phải là thủ phạm, bởi vì thủ phạm là vi khuẩn V. cholerae. Vì thế, tôi e rằng đặt trọng tâm vào một loại thực phẩm như thế có thể làm xao lãng (hay đánh giá thấp) một tác nhân nguy hiểm hơn và qui mô hơn: nguồn nước.

Chiến dịch tiêm chủng

Đối với những vùng phía Nam hay miền Trung chưa mắc bệnh, phương châm của y tế công cộng vẫn là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Hiện nay các tỉnh miền Trung đang ở trong tình trạng lũ lụt, và kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy lũ lụt có thể làm cho bệnh tả lan truyền nhanh hơn, nên có thể nói rằng các tỉnh miền Trung và phía Nam đang chịu sức ép của nguy cơ lan truyền bệnh tả.

Đối với các tỉnh này, có lẽ chiến lược phòng ngừa thực tế nhất là tiêm chủng ngừa những người có nguy cơ mắc bệnh cao. Năm 2005, Chính phủ Indonesia quyết định tiêm chủng văcxin WC/rBS để phòng chống dịch tả cho tất cả cư dân trong vùng bị ảnh hưởng cơn bão Tsunami, và họ đã thành công trong việc kiểm soát và ngăn ngừa cơn đại dịch.


Tiêm chủng đại trà ở các vùng có nguy cơ cao (như miền Trung) có hiệu quả kinh tế hay không? Câu trả lời ngắn gọn là "có”. Năm 1998, một nghiên cứu tiêm chủng từ VN cho thấy chi phí tiêm hai liều văcxin cho 118.555 người là 105.447 USD. Như vậy tính trung bình chi phí tiêm chủng cho một người là khoảng 0,9 USD. So với số trường hợp bệnh tả được ngăn ngừa và chi phí bệnh viện nếu mắc bệnh thì một chiến dịch tiêm chủng như thế vừa rất có hiệu quả kinh tế và y tế, vừa an toàn.

No comments: