Sunday, December 9, 2007

Bài học bệnh tả 1: Bệnh tả và câu chuyện John Snow

Đây là loạt bài tôi viết cho Vietnamnet. Thật ra, họ nhờ tôi viết, sau khi theo dõi các bài trên ykhoanet.com. Viết kiểu này rất khó, vì mình đã phát biểu hết rồi, có còn ý nào mới nữa đâu! Ấy thế mà phải qua biên tập 2,3 lần mới xong. Cái khó là Vietnamnet họ cần bài ngắn, nhưng các bài tôi viết đều khá dài. Đầu đề và các "râu ria" khác là do Vietnamnet đặt chứ tôi không có đặt nhé. Có trách thì lôi Vietnamnet ra mà trách. :-)
NVT

http://www3.vietnamnet.vn/khoahoc/2007/12/758687/

Câu chuyện John Snow và bài học thông tin bệnh tả
14:46' 08/12/2007 (GMT+7)

(VietNamNet) - Ngày 10/12 tới, Bộ Y tế sẽ chính thức tổ chức lễ công bố hết dịch "tiêu chảy cấp" trên toàn quốc. Từ Viện Y khoa Garvan (Úc), chuyên gia y tế Nguyễn Văn Tuấn có bài viết điểm lại một số bài học thông tin về bệnh tả.

Tôi từng nhắc ông Triệu (Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế - PV) bài học kinh điển của dịch tả trở thành bài giảng của y văn thế giới: Vào cuối thế kỷ 17, dịch tả bùng phát ở Luân Đôn, có quá nhiều người chết mà không rõ nguyên nhân. Một bác sĩ đã chấm vị trí những người chết lên bản đồ thành phố Luân Đôn và phát hiện ra họ sống quanh một vòi nước. Trong khi vòi nước khác lại không có người chết. Từ đó, vị bác sĩ phát hiện thêm rằng các vòi nước ở đây do hai công ty cung cấp: một lấy đầu nguồn sông Thames, một lấy cuối nguồn sông. Vòi nước có nhiều người chết được lấy từ cuối dòng sông Thames.”

Trên đây là phát biểu của Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, đăng trên Pháp luật TP.HCM ra ngày 26/11.

Thật ra, thời điểm dịch tả mà ông viện trưởng đề cập đến không phải xảy ra vào thế kỉ XVII mà thế kỉ XIX. Nói chính xác hơn, có ba đợt dịch tả xảy ra ở London: 1831-1832, 1848-1849 và 1853-1854. Vị bác sĩ mà ông viện trưởng nhắc đến là John Snow (1813 – 1858), một bác sĩ giải phẫu người Anh. Những ai từng theo học môn dịch tễ học trong các trường y chắc phải biết đến cái tên John Snow.

Thế kỷ XIX: Nước Anh từng tranh cãi về dịch tả!

Ngày nay, John Snow được xem là ông tổ của bộ môn dịch tễ học hiện đại và gây mê, nhưng lúc sinh thời ông được biết đến như một bác sĩ giải phẫu. Ông có lẽ là người đầu tiên thu thập số liệu, vẽ bản đồ, phân tích số liệu và chứng minh rằng nguồn nước bị nhiễm vi khuẩn chính là nguồn gốc của sự bộc phát bệnh tả ở London.

Trong thời gian 1833 – 1836, ông trở thành phụ tá (assistant) cho các bác sĩ trong vùng Burnopfield và Pateley Bridge. Năm 1836, ông ghi danh theo học trường y Hunterian ở London. Năm 1838, ông được nhận vào thực tập trong bệnh viện Westminster và trở thành hội viên của Royal College of Surgeons (Hiệp hội Bác sĩ giải phẫu).

Năm 1844, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Năm 1850, ông được kết nạp thành hội viên của Royal College of Physicians (Hiệp hội Bác sĩ nội khoa). John Snow suốt đời sống độc thân, không vợ, không con.

Ông là người ăn chay trường và không bao giờ uống rượu. Suốt đời ông chỉ la cà trong các hội y khoa để bàn chuyện khoa học và thảo luận về những ý tưởng của ông. Tuy vậy, ông là một người không có khiếu nói trước công chúng, giọng thì khàn khàn rất khó nghe. Mặt khác, vì ông xuất thân từ giai cấp lao động, nên ít ai chú ý đến ý tưởng của ông, nếu không muốn nói là khinh miệt ông ra mặt.

Từ nhỏ ông đã có mộng hành nghề thầy thuốc. Năm 14 tuổi, ông được nhận vào học nghề (apprentice) với bác sĩ William Hardcastle ở Newcastle-upon-Tyne. Năm 1831 (tức năm ông 18 tuổi), một trận dịch tả xảy ra ở London. Dịch này đã từng giết hàng trăm ngàn người ở Âu châu, lan truyền sang miền Bắc và đến Newcastle-upon-Tyne vào tháng 10 cùng năm. Bác sĩ Hardcastle bèn gửi Snow đến các mỏ than để điều trị công nhân mỏ. Thời đó, liệu pháp điều trị chỉ quanh quẩn với trích máu, thuốc nhuận tràng, thuốc phiện, bạc hà, và rượu mạnh (cognac)! Tất nhiên, các liệu pháp này cũng chẳng giúp ích gì cho bệnh nhân. Và, Snow vẫn điều trị bệnh nhân bằng các phương pháp “cổ điển” này. Đến tháng 2/1832, nạn dịch chấm dứt một cách bí mật. Dịch đến cũng như đi đều đột ngột và bí mật!

Dịch tả lần thứ 3 ở London xảy ra vào năm 1853-1854. Lúc bấy giờ, các quan chức y tế tin rằng “ám khí” (khí độc) là thủ phạm của dịch tả, nên Sở Y tế London bổ nhiệm một số thanh tra y tế để tìm hiểu điều kiện không khí trong các vùng dịch bộc phát. Họ cũng kiểm tra tình trạng vệ sinh của từng hộ. Đáng chú ý là vào lúc đó, một giả thuyết được đề ra trên tờ Times of London rằng bệnh tả phát sinh từ những cống rãnh mới xây: "Các cống rãnh mới xây chắc chắn làm nhiễu loạn đất thấm đẫm xác chết của những nạn nhân trong nạn dịch trước đây ... một độc khí nguy hiểm bộc phát . . . làm ô nhiễm bầu không khí chung quanh."

Với giả thuyết này, các thanh tra y tế nghĩ là họ sẽ tìm được ám khi là thủ phạm gây bệnh tả. Thế nhưng khi xem xét tất cả các hộ, họ ngạc nhiên thấy nhà nào cũng sạch sẽ!

Truy tìm tác nhân dịch bệnh một cách khoa họcTrái với giả thuyết của các quan chức y tế, John Snow - sau nhiều suy nghiệm đi đến kết luận rằng bệnh có thể phát sinh từ các kí sinh vật vô hình (mà ngày nay, người ta đã biết đó là vi khuẩn). Snow cảm thấy “giả thuyết khí độc” không thể giải thích được tại sao một số bệnh, kể cả bệnh tả, có thể lan truyền.

Trong nạn dịch năm 1831, ông để ý đến các công nhân mỏ mắc bệnh tả trong khi làm việc dưới lòng đất, nơi không có cống rãnh hay đầm lầy. Do đó, ông càng thấy giả thuyết kí sinh trùng của mình mang tính thuyết phục hơn giả thuyết ám khí. John Snow quyết tâm tự mình làm nghiên cứu. Sau khi đi một vòng tìm hiểu quán xá, các hộ chung quanh những bệnh nhân tả đã chết, ông phát hiện nhiều bằng chứng cho thấy, những cái chết đều xoay quanh một cây nước trên đường (phố) Broad.

Ngày 25/9/1853, các thanh tra y tế kiểm tra gạch xây giếng phía dưới cây nước trên đường Broad. Thế nhưng họ không phát hiện được nước bị ô nhiễm do chất bẩn thẩm thấu vào. Cống rãnh thì cách xa đó cả chục thước và sâu hơn giếng nước. Tất cả sự thật này có vẻ bác bỏ giả thuyết của Snow. Hài lòng với giếng nước và cây nước không bị nhiễm, và nạn dịch cũng đã qua, Sở Y tế cho phép cây nước hoạt động trở lại. Người dân bỏ nhà nay cũng quay về sinh sống.

Tháng 11/1853, Linh mục Henry Whitehead mời Snow tham gia vào Hội đồng giáo phận St. James để điều tra nguyên nhân của một nạn dịch mới bộc phát. Linh mục Whitehead dù không chấp nhận giả thuyết của Snow rằng nước là nguồn gốc của dịch tả nhưng thích tính bộc trực và thành thật của Snow cũng như phương pháp làm việc của ông.

Ông lại khuyên Hội đồng giáo phận yêu cầu Nha công chánh (chịu trách nhiệm họng nước) tái kiểm tra phía trong của giếng. Họ đồng ý kiểm tra và báo cáo rằng "không có lỗ hổng nào hay đường nứt nào trong giếng để nước có thể bị thất thoát hay ô nhiễm." Trước bằng chứng này, Snow đành phải thú nhận trong sách của ông là không có bằng chứng trực tiếp về cây nước trên đường Broad bị ô nhiễm.

Còn linh mục Whitehead đọc sách và thấy ấn tượng với các bằng chứng thống kê của Snow, nhưng vì không có bằng chứng nào cho thấy họng nước nước bị nhiễm nên ông cũng không tin vào giả thuyết của Snow.

Linh mục lí giải rằng nếu giả thuyết của Snow đúng, thì dịch tả ắt phải còn kéo dài chứ không thể đột ngột chấm dứt như thế. Tuy không thấy thuyết phục với giả thuyết của Snow, linh mục đồng ý giúp đỡ Snow đi tìm câu trả lời cho một “vấn đề bí ẩn”.

Tháng 3/1855, linh mục Whitehead phát hiện một thông tin quan trọng từ báo cáo của chính quyền về bệnh dịch tả. Theo đó, tại số 40 đường Broad, vào ngày 2/9/1854, một trẻ gái 5 tháng tuổi chết vì tiêu chảy sau khi mắc bệnh 4 ngày.

Whitehead nhớ ca này, nhưng không tìm hiểu thêm ngày mà bé bị bệnh. Bây giờ thì ông nhận ra, đây có thể là trường hợp tả đầu tiên trong khu láng giềng. Ông cũng nhận ra rằng cây nước trên đường Broad nằm ngay tại trước nhà số 40 (nhà đứa trẻ). Linh mục Whitehead lập tức ghé thăm Sarah Lewis, mẹ của đứa bé.

Whitehead ngạc nhiên khi biết rằng có một cái hầm phân ở đây. Ông tưởng rằng tất cả các hầm phân trên con đường này đã được thay thế bằng ống cống cả rồi! Hầm chứa phân mà bà Lewis sử dụng chỉ cách cây nước đường Broad và giếng nước vài bước. Linh mục thông báo cho các ủy viên của giáo phận biết, và Snow lập tức chú ý đến tin này.

Ngày 23/4/1855, các thanh tra y tế đến khai quật hầm phân, rút hết nước, và xem xét phần nền của giếng nước. Thanh tra y tế khám phá rằng gạch xây của giếng có dấu hiệu nước giếng bị thẩm thấu bởi một hầm phân chỉ cách đó 0,8m. Đất giữa hầm phân và giếng nước có dấu hiệu thấm và nhiễm. Hai thanh tra trước không phát hiện điều này vì họ không kiểm tra đất phía ngoài giếng, và chẳng ai biết rằng có 1 hầm phân ở gần đó! Ngày mà xô nước được đổ vào hầm phân đúng và ngày đầu tiên dịch bộc phát, khi phần lớn nạn nhân mắc bệnh. Sau khi đứa bé chết, không có xô nước nào đổ vào phần hâm, và dịch tả chấm dứt.

Thế là Whitehead và Snow đã tìm ra “thủ phạm” của dịch tả: nguồn nước. Ủy ban giáo hội báo cáo cho Sở Y tế, nhưng giám đốc Sở Y tế bác bỏ kết luận của Whitehead và Snow!

Lịch sử ghi công!

Ngày 16/6/1858, John Snow bị tai biến mạch máu não và qua đời. Cho đến ngày ông chết, giả thuyết của ông vẫn chưa được giới y khoa chấp nhận. Các quan chức y tế vẫn tin rằng “ám khí” là nguyên nhân của dịch tả. Giả thuyết vi khuẩn gây bệnh tả chưa được chấp nhận cho đến thập niên 1860, khi Louis Pasteur chứng minh bằng thí nghiệm rằng các vi sinh vật có thể gây bệnh. Đến năm 1884, giả thuyết của John Snow được làm sáng tỏ khi nhà vi sinh học người Đức, Robert Koch, phát hiện vi khuẩn tả Vibrio cholerae, và chứng minh rằng vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh tả. Từ đó, mỗi khi đề cập đến bệnh tả, cái tên John Snow đều được nhắc đến như là một nhân vật lịch sử, người có công nghiên cứu bệnh tả và qua đó góp phần chinh phục bệnh này ở qui mô toàn cầu sau đó.

Trong một bài diễn văn đọc ở Geneva vào năm 1998, Bác sĩ Gro Harlem Brundtland, cựu Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nói về sự nghiệp của Snow như sau: “Thời xưa, bệnh và dịch bệnh được xem là sự trừng phạt của thánh thần hay tác động xấu của một thế lực nào trên trời … Chúng ta ghi ơn các nhà dịch tễ học, vi trùng học và dược học như Louis Pasteur, Robert Koch, John Snow, Alexander Fleming và Paul Erlich – và các khám phá của họ đă uốn nắn y học hiện đại cũng như chính sách y tế ngày nay. Họ cứu vớt nền văn minh của chúng ta ra khỏi thời tăm tối, thời của những biến cố không tên thành những sự việc có tên như bệnh dịch, bệnh tả hay giang mai”.

No comments: