Sunday, December 9, 2007

Bài học bệnh tả 2: rối rắm thông tin!

http://www3.vietnamnet.vn/khoahoc/2007/12/758718/

Bệnh tả: Thông tin càng đưa, càng rối!
07:14' 09/12/2007 (GMT+7)

(VietNamNet)-Thiếu rõ ràng, nhất quán; thông tin bệnh dịch không thể tìm thấy từ nguồn chính thống mà phải dẫn qua báo chí... Chuyên gia y tế Nguyễn Văn Tuấn, Viện Y khoa Garvan, Úc điểm lại tình hình thông tin bệnh tả.

Tính từ thời kỳ bệnh tả bộc phát ở London và cuộc điều tra của bác sĩ John Snow đến nay đã hơn một thế kỷ. Trong thời gian đó bệnh tả gần như đã được chinh phục ở các nước đã phát triển) như Mĩ, Âu châu và Úc châu, những nơi mà tần số bệnh tả chỉ vài ca mỗi năm. Nhưng bệnh vẫn còn xuất hiện khá thường xuyên ở những nước kém phát triển, kể cả nước ta.

Thật vậy, bệnh tả và nạn dịch tả cho đến nay vẫn là một vấn đề y tế công cộng có qui mô toàn cầu, và cũng là cũng một chỉ tiêu để đo lường sự phát triển xã hội. Hàng năm, có khoảng 5-7 triệu người trên thế giới mắc bệnh tả, và số tử vong vì bệnh này khoảng 100.000 người. Chỉ riêng năm 2005, WHO ghi nhận gần 132.000 trường hợp bệnh dịch tả và 2272 trường hợp tử vong (tỉ lệ tử vong 1,72%) trên thế giới; trong đó, 98% trường hợp xảy ra ở Phi châu [WHO. Weekly epidemiological record. WHO Bulletin No 31, 2006, 81:297-308].

Riêng ở nước ta bệnh tả vẫn thường xuất hiện. Từ năm 1979 đến 1996, trung bình mỗi năm có khoảng 3000 trường hợp dịch tả được báo cáo. Phần lớn những trường hợp này xảy ra ở miền Trung và Nam, đặc biệt là các tỉnh phía nam Trung phần như Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang, v.v… Tình hình này cũng phù hợp với sự tồn tại của vi khuẩn tả ở các loài vật như tôm, cua, ghẹ, sò, v.v… sống ven biển hay vùng nước lợ.

Vẫn theo số liệu của WHO, trong bất kì cuộc bùng phát nào của bệnh tả, tỉ lệ người bị bệnh dao động khoảng 0,2 đến 1%. Ở nước ta, trong lần dịch tả xảy ra ở Huế vào thập niên 1990, tỉ lệ mắc bệnh là 0,14%.

Ngày 30/10 vừa qua bệnh tả lại bộc phát ở Hà Nội và vài tỉnh thành ở phía Bắc. Bệnh tiêu chảy và tả bộc phát vào ngày 23/10. Sau gần 2 tháng, tình hình bệnh có vẻ đã được khống chế. Đó là một thành công đáng chú ý của ngành y tế. Nhưng trong quá trình diễn tiến của bệnh, có quá nhiều vấn đề nổi cộm liên quan đến cách đưa tin, sự chính xác của thông tin và thậm chí cách diễn giải thông tin khoa học.

Hệ quả là công chúng cảm thấy lẫn lộn, lúng túng, và có khi bất hợp tác với công tác phòng chống bệnh. Qua vụ việc này và nhân Bộ Y tế tuyên bố thành quả chống bệnh tả, một số bài học cần được rút ra để làm kinh nghiệm cho một lần sau (mà chúng ta hi vọng sẽ không có nữa). Theo tôi, những bài học này có thể tóm lược như sau:

Bài học 1: định danh bệnh nên rõ ràng

Thoạt đầu, khi bệnh bộc phát các quan chức gọi bệnh là “Dịch tiêu chảy cấp”. Khoảng một tuần sau, Sở Y tế Hà Nội cho biết có 11/14 quận thuộc Hà Nội có xuất hiện “bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Sau khi có thêm kết quả xét nghiệm cho thấy một số bệnh nhân tiêu chảy bị nhiễm vi khuẩn tả V. cholerae, thì tên bệnh thành “dịch tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả”...
Tuy nhiên, theo qui ước y khoa và của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dù chỉ có 1 trường hợp bệnh nhân nhiễm vi khuẩn tả V. cholerae, bệnh có thể gọi là “cholera”, tức bệnh dịch tả hay bệnh tả [WHO. WHO guidance on formulation of national policy on the control of cholera (1992)].

Sở dĩ WHO đề nghị qui ước này là vì bệnh tả là một bệnh truyền nhiễm cấp tính có khả năng lan truyền nhanh, cho nên định danh sớm (và có vẻ bảo thủ) như thế cũng là một biện pháp truyền thông để nâng cao sự hợp tác của quần chúng trong việc phòng ngừa bệnh ở thời điểm sớm nhất.

Bài học 2: phân biệt nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Ngày 30/10, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết có 30 trường hợp đã nhập viện để điều trị và “Nguyên nhân chính dẫn đến căn bệnh này là do người bệnh ăn thực phẩm sống như: mắm tôm, mắm tép, tiết canh, gỏi hải sản… trong đó có tới 90% số người mắc bệnh là do ăn mắm tôm sống”. Đến ngày 2/11, Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm”. Giới báo chí tuyên bố rằng mắm tôm là “nghi can số một gây nên dịch tiêu chảy cấp tính nguy hiểm.” Các quan chức trong Bộ Y tế cũng có cùng nhận xét.

Trong phát biểu trên, các quan chức y tế đã nhầm lẫn giữa nguyên nhân (cause) và yếu tố nguy cơ (risk factor). Nguyên nhân là yếu tố sinh học trực tiếp gây nên bệnh. Chẳng hạn như vi khuẩn V. cholerae trực tiếp gây bệnh dịch tả, hay nguyên nhân của bệnh lao là vi khuẩn tubercle bacillus, hay nguyên nhân của chứng nứt da (pellagra) là do thiếu niacin.

Yếu tố nguy cơ là một yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Một bệnh có thể chỉ có 1 nguyên nhân, nhưng có nhiều yếu tố nguy cơ. Chẳng hạn như uống nước bị ô nhiễm hay uống nước không đun sôi là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh tả.

Yếu tố nguy cơ liên quan đến một quần thể, và do đó phát hiện yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả giúp cho các giới chức y tế hoạch định chiến lược y tế cộng đồng. Nguyên nhân liên quan đến trường hợp lâm sàng ở một bệnh nhân. Nhầm lẫn giữa hai khái niệm này là một điều đáng tiếc và trong thực tế đã gây tác hại đến một số người.

Bài học 3: Thông tin cần rõ ràng và nhất quán

Trong thời gian bệnh tả xảy ra, có quá nhiều thông tin được đưa ra không ăn khớp với nhau. Ngạc nhiên thay, một số lớn thông tin thiếu nhất quán không phải xuất phát từ giới truyền thông, nhưng từ các cơ quan y tế trung ương!

Thật khó mà liệt kê tất cả những sai sót và thiếu nhất quán, nhưng một vài thông tin sau đây cũng đủ minh họa cho vấn đề và cũng là một bài học.

Tần số bệnh tả xảy ra bao nhiêu trong quá khứ ở nước ta? Khi bệnh vừa bộc phát, có quan chức y tế tỏ ra ngạc nhiên rằng bệnh xảy ra ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Ngày 1/11 Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết “Trong ba năm trở lại đây nước ta không phát hiện trường hợp nào mắc bệnh tiêu chảy cấp”. Nhưng có lẽ nhận thấy phát biểu trên không chính xác nên ngày 5/11, ông cho biết: “Còn bệnh tiêu chảy cấp, mỗi tháng, Việt Nam có trên 70.000 người mắc bệnh.”

Sự thật là trong thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385 trường hợp bệnh dịch tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam miền Trung, 27% ở các bờ biển phía bắc miền Trung. Tỉ lệ phát sinh là 2,7 trên 100.000 dân số. Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu [Kelly-Hope LA, et al. Am J Trop Med Hyg 2007 Apr;76(4):706-12].

Có vắc-xin hay không và công trạng sản xuất vắc-xin? Nói về vắc-xin, BS Trần Tịnh Hiền, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM cho biết: “Vắc-xin ngừa tả hầu như chưa có trong thực tế.” Nhưng theo Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, “Hiện nay, Phòng dịch vụ của Viện có bán vắc xin tả đường uống cho những người có nhu cầu”. Truy cập trang web của Công ti sinh phẩm, tôi thấy lời dẫn: “Vắc-xin (tả) dùng ở các địa phương có dịch tả lưu hành thường xuyên. Sử dụng cho mọi lứa tuổi.”

Còn theo phát biểu của một chuyên gia trên Vietnamnet “Việt Nam là nước duy nhất ngoài nước Mỹ sản xuất được vắc-xin tả uống (không phải tiêm chích) trên thế giới. Vắc-xin tả uống là tâm huyết của nhiều giáo sư đầu ngành của Việt Nam về sản xuất vắc-xin trong đó có cố GS. Đặng Đức Trạch”. Câu này hàm ý nói vắc-xin là sản phẩm của Việt Nam sáng chế ra.

Thật ra, cần phải công bằng ở đây: Vắc-xin này sản xuất ở Việt Nam, nhưng với sự chuyển giao công nghệ từ Thụy Điển. Viện vắc-xin quốc tế (ISI) ghi rõ vắc-xin tả do Việt Nam phát triển thông qua chuyển giao công nghệ từ ĐH Gothenburg, Thụy Điển (“The oral cholera WC vaccine was developed in Vietnam through technology transfer from Gothenburg University in Sweden”).

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề khác có liên quan mà thông tin còn trái ngược nhau, hoặc mơ hồ, thiếu chính xác như giá vắc-xin; hiệu quả của vắc-xin; số người bị nhiễm vi khuẩn tả... được đưa trên các báo.

Đáng chú ý là, trong lúc bệnh bộc phát, các cơ quan trung ương được giao nhiệm vụ theo dõi và quản lí bệnh truyền nhiễm nước ta phải có đầy đủ thông tin trên mạng. Thế nhưng trong quá trình tìm thông tin, chúng tôi hầu như không có được thông tin khoa học nào từ các cơ quan chức năng của Nhà nước.

Hoàn toàn không! Tất cả thông tin tôi có được là qua báo chí Việt Nam trên mạng, còn y văn và thông tin quốc tế chúng tôi phải dựa vào các tập san y học từ nước ngoài.

No comments: