Sunday, December 9, 2007

Bài học bệnh tả 3: cần một thái độ khoa học

Bệnh tả: Cần một thái độ khoa học
06:01' 10/12/2007 (GMT+7)

(VietNamNet)-Trong thời gian dịch bệnh bộc phát, cơ quan y tế cho chúng ta biết họ đã “nghiên cứu” các yếu tố nguy cơ phát bệnh, nhưng ta cũng không có dữ liệu nào ngoài những câu chữ của họ. Đó không phải là một thái độ khoa học!

Bài học 4: bài học mắm tôm

Ngay từ khi bệnh bộc phát, các quan chức khẳng định mắm tôm là nguồn gây bệnh. Giới báo chí phụ họa qua các hình ảnh đầy cảm tính. Thậm chí đôi khi giới báo chí quên vai trò đưa tin của mình và đóng vai trò quan chức y tế gay gắt đòi hỏi phải cấm bán mắm tôm trên đường phố Hà Nội!

Tôi và đồng nghiệp đã trình bày nhiều bằng chứng khoa học cho thấy mắm tôm không thể là thủ phạm gây bệnh tả, và vi khuẩn tả không thể tồn tại trong mắm tôm.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Dũng cũng chất vấn logic của việc “kết tội” mắm tôm của Bộ Y tế. Nhiều bản tin như “Không ăn mắm tôm, rau sống... vẫn mắc bệnh”, hay “xuất hiện bệnh nhân tiêu chảy không phải do ăn mắm tôm” càng làm cho “giả thuyết mắm tôm” không đứng vững.

Đến khi xét nghiệm vi khuẩn tả trong mắm tôm, tất cả hoàn toàn âm tính thì các quan chức y tế lúng túng giải thích vấn đề.

Thật vậy, Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn vẫn khẳng định mắm tôm là nguồn gây bệnh nhưng do kỹ thuật của Việt Nam chưa phân lập được nên không thể thấy sự tồn tại của phẩy khuẩn tả trong thực phẩm này. Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển lại cho rằng, “việc chưa phát hiện thấy phẩy khuẩn tả trong mắm tôm không phải là do kỹ thuật của chúng ta không hiện đại mà do khả năng tồn tại của khuẩn phẩy dạng tả trong các chất thải hay thực phẩm đều khác nhau (có thể là vài ngày cho đến vài tuần). Trong khi xét nghiệm mắm tôm thường phải sau từ 1-2 ngày, khi đó đã quá muộn để tìm thấy phẩy khuẩn tả.”

Hai ông tiến sĩ mâu thuẫn nhau!

Mãi đến ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Tuy nhiên, tôi thấy phát biểu minh oan này vẫn còn quá chậm, và sự chậm trễ này có thể đã gây tổn hại cho nhiều cơ sở sản xuất mắm tôm và khách hàng của họ.

Bài học 5: nguồn nước và nhà xí

Phát biểu trên của Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn ghi nhận nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong công tác y tế cộng đồng.

Tôi đã trình bày trong bài trước về kinh nghiệm từ nạn dịch tả ở London cho thấy nguồn nước chính là “thủ phạm” của ba lần bộc phát bệnh ở qui mô cộng đồng. Có nhiều lý do để suy luận rằng nạn dịch tả ở nước ta cũng có thể xuất phát từ nguồn nước bị nhiễm. Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và nước ta cho thấy uống nước lấy từ sông hồ không đun sôi, uống nước và bia từ các hàng quán bên lề đường, tắm sông... là những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả trong quá khứ.

Do đó, làm sạch nguồn nước có hiệu quả hơn can thiệp vào… mắm tôm. Tôi cũng đã làm những tính toán dịch tễ học rất đơn giản cho thấy can thiệp làm sạch nguồn nước chính là một biện pháp hữu hiệu nhất, thực tế nhất, vá đơn giản nhất để ngăn ngừa bệnh tả.

Một trong những “vũ khí” phòng bệnh hữu hiệu nhất, ít tốn kém nhất, và … văn hóa nhất là nhà xí.

Hơn một thế kỉ trước đây, nhà vệ sinh giúp thực hiện một cuộc cách mạng về y tế công cộng ở New York, London và Paris. Ngày nay có nhiều chuyên gia y tế cho rằng chính việc cải tiến vệ sinh và đặc biệt là nhà xí là yếu tố chinh phục bệnh truyền nhiễm và gia tăng tuổi thọ ở người Tây phương (các chuyên gia này không tin rằng các thiết bị y khoa hiện đại hay thuốc men đắt tiền tăng tuổi thọ và cải tiến chất lượng đời sống). Do đó, các quan chức y tế Liên hiệp quốc mới nhận thức rằng cầu xí là một phương tiện phòng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang phát triển như nước ta.

Nhà vệ sinh không phải là cái gì cấm kị không nên bàn trên giấy trắng mực đen! Chúng ta cần trịnh trọng đặt nó lên bàn để thảo luận nghiêm chỉnh. Phải chấp nhận một thực tế là ở nước ta, nhà vệ sinh chưa được xem là một “cơ quan” quan trọng. Có biết bao nhà được xây dựng hoành tráng, biết bao building (ngay cả nhà ga máy bay) được xây lộng lẫy, nhưng phía trong thì nhà vệ sinh thì thật là sơ sài, bẩn thiểu, hôi thối đến nỗi trẻ em không dám vào. Đó là chưa nói đến ở vùng quê, chúng ta biết rằng nhiều nhà không có cầu tiêu, và nhiều người vẫn còn đi tiêu ở trên sông, ruộng, ao, hồ, và gây ô nhiễm nguồn nước. Có quá nhiều nhà hàng, quán ăn, cơ sở công cộng mà nhà vệ sinh là một nơi kinh khủng nhất.

Mới đây, báo Thanh Niên Người lao động có một loạt bài phản ảnh nhà xí ở trường học ngay tại TP.HCM dơ bẩn khủng khiếp đến nỗi học trò không dám vào. Người viết bài này cũng đã từng xem qua các nhà xí trong các bệnh viện ở Việt Nam (từ bệnh viện nhỏ đến bệnh viện cấp quốc gia), ngay cả nhà vệ sinh dành cho nhân viên, bác sĩ và y tá bệnh viện, cũng rất … hãi hùng.

Tôi nhớ đọc đâu đó lâu lắm rồi, mà trong đó tác giả kể rằng lúc cụ Hồ còn sống, cứ mỗi lần đi công tác hay thăm địa phương nào đó, bất kể là công sở hay nhà dân, điều đầu tiên là ông vào xem cái nhà bếp và nhà vệ sinh. Một nguyên thủ quốc gia mà quan tâm đến y tế công cộng như thế thì chúng ta phải biết vấn đề “đầu vào” và “đầu ra” quan trọng như thế nào. Tại sao đến nay là thế kỉ XXI mà chúng ta vẫn còn trì trệ trong công tác nhà vệ sinh? Mỗi năm có đến 2 triệu trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy và các bệnh khác do nguồn nước bẩn và thiếu vệ sinh gia đình. Trên thế giới ngày nay, có đến 1/3 dân số thế giới (2,6 triệu người) không có nhà tắm, hơn 1 tỉ người không có nước sạch để uống, giặt, và nấu ăn vì bị nhiễm trùng từ phân người và phân thú vật.

Ở nước ta, các nạn dịch bệnh cứ “đến hẹn lại lên”, và đến nay vào thế kỉ 21, chúng ta phải nói dứt khoát rằng tình trạng đó không thể chấp nhận được nữa. Và, một “vũ khí” phòng chống bệnh rất hữu hiệu nằm trong tầm tay chúng ta: nhà xí. Các cơ quan chức năng của Nhà nước và người dân cần phải quan tâm đến nhà xí hơn nữa. Phải khuyến khích, nếu cần dùng ngân sách y tế hỗ trợ cho người dân nghèo, để mỗi nhà đều có một nhà xí tốt.

Chúng ta đã có nhà khoa học nghiên cứu về mô hình nhà vệ sinh thích hợp cho nông thôn. Có lẽ Nhà nước cần xem mô hình của tác giả Lê Anh Tuấn (ĐH Cần Thơ - Khoa Công nghệ) để tiến tới một chiến dịch xây nhà vệ sinh cho dân.

Bài học 6: nghiên cứu khoa học

Chúng ta không thể hành động mà không dựa vào thông tin khoa học. Bài học này cũng rất quan trọng vì mắm tôm được khẳng định là “thủ phạm sô 1” gây bệnh dù không có bằng chứng khoa học. Các quan chức cứ biện minh rằng trong số những người mắc bệnh tả có khoảng 80-90% người từng ăn mắm tôm, nhưng điều này rất khác với câu hỏi quan trọng hơn: trong số những người ăn mắm tôm có bao nhiêu người mắc bệnh? Chúng ta cần thông tin khoa học.

Nhưng thông tin khoa học phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Tôi thấy rất phấn khích khi biết được một dự án nghiên cứu cấp nhà nước đã được phê chuẩn. Tuy chưa đọc qua đề cương nghiên cứu (và chắc cũng chẳng bao giờ có cơ hội đọc) nhưng đọc qua tên của dự án (“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và các giải pháp phòng chống dịch tả”) tôi thấy hơi phân vân.

Tôi đã thấy quá nhiều nghiên cứu, quá nhiều luận án tiến sĩ với những cụm từ như thế này từ Việt Nam, nhiều đến nỗi tôi phải tự hỏi “hay là dân ta hết ý tưởng”? Tôi phân vân là vì đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước mà có vẻ đơn giản quá, mang tính mô tả hơn là phân tích chuyên sâu, và nhất là thiếu cái mới. Trên thế giới đã có quá nhiều nghiên cứu như thế này. Khi tôi vào thư viện y khoa quốc tế (PubMed) và gõ cụm từ “risk factors of cholera” (yếu tố nguy cơ bệnh tả), cơ sở dữ kiện cho tôi biết đã có 202 bài báo khoa học liên quan đến đề tài này. Với y văn như thế, tôi phải đặt câu hỏi: một đề án như thế có thể cung cấp thông tin gì mới cho y văn quốc tế và Việt Nam hay không? Dịch tễ học thế kỉ 21 không nên loay hoay với các vấn đề kinh điển như thế.

Tôi thiết tưởng một nghiên cứu có giá trị phải có khả năng sản sinh ra thông tin mới có thể có ích cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh. Thay vì tập trung vào một nghiên cứu mà đã có hàng trăm người khác làm, có lẽ nên tập trung vào nghiên cứu về các yếu tố dịch tễ phân tử học, mô hình lan bệnh, sự tương tác giữa chế độ ăn uống, môi trường và môi trường sống của địa phương (kể cả nguồn nước), hay nghiên cứu về hiệu quả can thiệp ở qui mô cộng đồng.

Bài học 7: hợp tác và minh bạch hóa

Đây là bài học từ bác sĩ John Snow. Trong quá trình nghiên cứu nguyên nhân bộc phát của bệnh tả, John Snow phải cộng tác với đồng nghiệp trong nghề y và người ngoài nghề y. Thật vậy, chính linh mục Whitehead mới là người giúp ông phát hiện nguồn nước chính là “thủ phạm” gây nên nạn dịch tả ở Anh. Ngày nay, hợp tác trong nghiên cứu khoa học không còn là cái gì mới nữa, bởi vì một dự án nghiên cứu lớn và phức tạp đòi hỏi kiến thức chuyên môn từ nhiều ngành khác nhau.

Trong điều tra dịch tả, các chuyên gia như dịch tễ học, thống kê học, vi sinh học, dân số học, và lâm sàng đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo thành công của nghiên cứu.

Đối chiếu với tình hình ở nước ta, các hợp tác khoa học cũng có nhưng hình như chỉ giới hạn với các nhóm thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (thể hiện hiện tượng “Bụt ở ngoài linh thiêng hơn”) và đó là một điều đáng tiếc. Đáng lẽ hợp tác phải rộng rãi hơn và đa ngành hơn. Một dự án nghiên cứu lớn có nhiều dự án nhỏ và cần đến chuyên gia chuyên sâu để thực hiện các dự án như thế.

Tôi cho rằng vấn đề của chúng ta thì chúng ta phải là người đầu tiên chịu trách nhiệm và giải quyết; không nên nhờ cậy người nước ngoài -- dù người ngoài đó là WHO hay cơ quan quốc tế nào -- làm những việc mà chúng ta có thể làm được. Không nên xem các khuyến cáo của WHO là chân lí, mà cần phải đặt các khuyến cáo đó trong bối cảnh thực tế của nước ta. Cũng không cần nhờ cậy họ suy nghĩ dùm chúng ta những việc mà chúng ta có đủ trí lực để suy nghĩ được

Khoa học cần phải có phản nghiệm, và cách phản nghiệm hay nhất là công bố số liệu để đồng nghiệp bình luận và phê phán. John Snow là một tấm gương sáng chói về lĩnh vực này. Dù biết rằng giả thuyết của mình khó được đồng nghiệp chấp nhận, nhưng ông vẫn kiên trì công bố số liệu để đồng nghiệp xem xét cẩn thận và phản biện.

Tôi thấy đây là một bài học quan trọng cho các ngành y tế nước ta. Trong thời gian dịch bệnh bộc phát, các quan chức không công bố số liệu cụ thể để đồng nghiệp xem xét. Thay vào đó, họ chỉ lặp đi lặp lại con số 93% (có khi thì 80%, khi khác 90%, lại có khi 100%) bệnh nhân có tiền sử ăn mắm tôm mà không cho chúng ta biết mẫu số là bao nhiêu. Họ cho chúng ta biết rằng họ đã “nghiên cứu” về các yếu tố nguy cơ phát bệnh, nhưng chúng ta cũng không có dữ liệu nào ngoài những câu chữ của họ. Thiết tưởng, đó không phải là một thái độ khoa học.

Bệnh tả là bệnh hoàn toàn có thể ngăn ngừa. Chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm vừa qua cũng như kinh nghiệm từ nước ngoài để tiến đến một định hướng giảm tần số bệnh đến mức tối thiểu. Và, để tiến đến một định hướng như thế, chúng ta cần có một chiến lược tổng thể và lâu dài, chứ không nên “chữa cháy” cho nạn dịch tả “đến hẹn lại lên”.

Ở nước ta, làm sạch nguồn nước và nhà xí cần phải được xem là một biện pháp số 1 trong bất cứ một chiến lược y tế công cộng nào để ngăn ngừa bệnh tả và các bệnh khác.

1 comment:

tokhoa said...

Thưa Thầy!

Sáng nay đọc báo xong, em chỉ biết khóc. Khóc cho "mắm tôm" và khóc cho " dân mắm tôm"
( đọc báo: báo Người Lao Động http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/209624.asp, Nguồn Dân Trí http://www.baomoi.com/Home/SucKhoe/2007/12/1229082.epi?refer=http://www.dantri.com.vn/suckhoe/Chi-mam-tom-cong-bo-chat-luong-duoc-phep-luu-hanh/2007/12/209662.vip)

vì bị oan quá mức mà không thể được "nói" được nên " mắm tôm" đành viết ra vậy.

Em không biết các anh chị đồng nghiệp có hay online không, có quan tâm đến những "bệnh lạc hậu" như " mắm tôm và bệnh tả" hay không.
em không biết các bài học ( Thầy đã tổng kết và xin phép Thầy, em viết lại):
- Bài học bênh tả 1: Bệnh tả và câu chuyện John Snow
- Bài học bệnh tả 2: Rối rắm thông tin
- Bài học bệnh tả 3: Cần một thái độ khoa học
và có một bài học nữa không liên quan đến bài học mắm tôm đó là " Lạc quan tếu" ( Cọng rêu dưới đáy ao của Võ Văn Trực)

Thưa Thầy cho em hỏi:
ở các nước trên thế giới như ở nước Úc chẳng hạn, có luật hay qui định như thế nào đối với người đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực y tế đối với vấn đề cung cấp thông tin?


Thôi, "nỗi lòng mắm tôm" biết tỏ cùng ai và xin phép tác giả Nguyễn Minh Mẫn http://ykhoanet.com/thoisu/dichta/071116_nguyenminhman_batta.htm

cho tôi chép lại bốn câu:


...
Toàn quân thiện nghệ tinh thông

Mũi cao, mắt sáng… chẩn không sai đường.

...
Thằng Tả mày chạy đàng trời

Mắm tôm ông cấm, rau tươi ông từ

.............


Khoa
TVK