Thursday, December 13, 2007

Lê Long Đĩnh: bào chữa được không?

Xin thành thật cám ơn các bạn đọc cho ý kiến về bài “bào chữa” cho ông vua Lê Long Đĩnh. Hóa ra bài này lấy ý từ bài của ông bạn tôi: bác sĩ Hồ Đắc Duy! Ấy thế mà nhà báo chẳng ghi nguồn gì cả. Làm ăn thế này thì bậy quá!

Nguồn bài viết của anh Duy là:

http://www.pklhp.com/forums/thread-view.asp?tid=4125&posts=10

Nhân đây xin chép lại vài ý kiến của một anh bạn khác của tôi tạm gọi là NLT (anh này tôi chưa gặp ngoài đời nhưng rất “tâm đầu ý hợp” vì cùng trạng tuổi và cùng trải qua những cơn biến động của lịch sử - chà, chữ nghĩa nghe đao to búa lớn quá nhỉ!) bàn về ông vua LLĐ. Tóm lại, ông vua này ác ôn và không thể bào chữa được.

Giọng văn của anh bạn tôi tưng tửng vậy đó, chứ trong thực tế anh ấy thâm hậu lịch sử hơn tôi rất nhiều. Anh ấy còn thâm thúy theo kiểu Bắc kì nữa. :-) Đừng nghĩ anh ấy viết tưng tửng mà xem thường nhé.

Tôi rất tâm đắc với nhận xét của anh NLT rằng “nhân vật lịch sử nào cũng thế, cũng có mặt sáng mặt tối. Tối nhiều hơn sáng là "hôn quân", sáng nhiều hơn tối là … minh quân.” Đúng như thế!

NVT


===
Tôi nghĩ rằng bài minh oan cho Long Đĩnh không hợp lý lắm. Thực ra bài này ký giả lập lại ý tưởng của bác sĩ Hồ Đắc Duy:

http://www.pklhp.com/forums/thread-view.asp?tid=4125&posts=10

Không những cụ Trần Trọng Kim mà hầu như các sách sử từ Việt Sử Lược cho đến Khâm Định cũng đánh giá về ông này giống nhau. Những "chứng" tác giả đưa ra thì cũng không ngoài các tác phẩm này. Chỉ "sắp đặt" lại để minh chứng cho một cách nhìn khác thôi.

Đọc lịch sử chúng ta hình dung ông này như một ông ăn chơi đến … liệt giường, bê tha. Có lẽ không phải thế. Lên ngôi năm 20 tuổi , mất chỉ 24 tuổi. Độ tuổi "con cháu trong nhà" của chúng ta :)

Cứ thử dùng con mắt chúng ta nhìn về "trẻ con" thì biết! Ở tuổi đó ắt hẳn chàng thanh niên này rất sung sức mới dẫn quân ra trận được. Vì thế nếu anh ta nằm "ngoạ triều" có khi chỉ vì .. thích nằm thế thôi chứ chắc không phải đến "liệt giường"!

Thế nhưng đọc trong Việt Sử Lược (thời Trần) thì nét "bạo dâm" của ông vua này khá rõ. Thích giết loài vật, thậm chí cung nữ, v.v... Điều này tưởng như mâu thuẫn với chuyện thỉnh kinh. Thế nhưng tôi nghĩ không nhất thiết là mâu thuẫn. Bởi ý định thỉnh kinh chưa chắc từ anh ta mà có thể đến từ Lý Công Uẩn , hay Sư Vạn Hạnh .. và anh ta chỉ OK thôi!

Mà thời ấy Phật giáo rất thịnh (ở khắp nơi từ Tàu,Cao Ly, Đại Lý etc).

Và tin Phật không có nghĩa là không làm … ác!

Như thời nhà Đinh có Đinh Liễn giết em ruột là Hạng Lang sau đó dựng rất nhiều bia kinh phật để chuộc lỗi. Các nhà khảo cổ sau này kiếm ra những bia này. Hay Lý Thường Kiệt sang đánh Tống cũng tàn sát dân tàu rất dữ. (nếu lấy thỉnh kinh làm bằng chứng cho "tính tốt" thì ngày nay chính là thời .. cực thịnh của Phật Giáo! Kinh sách được dịch nhiều nhất trong lịch sử! Chùa chiền xây lền khên! )

Lê Long Đĩnh tuy ác nhưng trong nhiều việc lại "khoan dung" . Ví dụ như khi ông ta giết ông anh Long Việt thì Lý Công Uẩn ôm xác ông này khóc. Thế mà Long Đĩnh lại tha tội và thăng chức cho Lý Công Uẩn và phong chức phó chỉ huy quân đội!

Có thể hiểu là "khoan dung" hay là "cáo già"! Có thể nếu ông ta không làm thế thì Lý Công Uẩn … đảo chính ngay. Rút cục chuyện này vẫn xảy ra 4 năm sau khi ông chết!

Chuyện xin làm "ngoại thương" mà tác giả bài này đề cao, có vẻ hơi "hiện đại hoá" vấn đề. Nước ta lúc đó mới độc lập chưa đến 1 thế kỷ, sự giao lưu mua bán chắc vẫn còn thịnh (vì trước 7/80 năm vẫn còn là 1 nước).

Nhà Tống không cho lập "đại lý" chắc vì sợ "gián điệp", trận thắng của Lê Hoàn làm họ ngán. Mà chỉ vài chục năm sau thôi, Lý Thường Kiệt cũng cho người giả làm nhà sư, nhà buôn sang Khâm Châu, Ung Châu làm .. gián điệp trưòc khi tấn công.

Họ lo cũng phải!

Tôi nghĩ, nhân vật lịch sử nào cũng thế, cũng có mặt sáng mặt tối. Tối nhiều hơn sáng là "hôn quân" , sáng nhiều hơn tối là .. minh quân. Anh chàng thanh niên này chết yểu, chỉ 4 năm không có "công nghiệp" gì thật là to lớn, mà cái mặt "sadist" thì quá đậm nét nên không "bào chữa" gì cho ông được.

Ngoại trừ ai đó chứng minh được rằng những chuyện tàn ác là do phe Lý Công Uẩn phịa ra! Chuyện này khó xảy ra vì từ Việt Sử Lược đến Khâm Định đều viết thế. Cụ Trần Trọng Kim cũng không viết khác.

Giá ông có "công nghiệp" thì lại là một chuyện khác. Đánh giặc vài trận, đào vài con kinh chưa phải là cái gì lớn.

Nhiều nhân vật lịch sử ta rất "ác" nhưng họ lại làm ra chuyện lớn nên vẫn là "vĩ nhân". Phần lớn họ ít ra phải là người có nhiều tham vọng, chứ không phải là vừa "hiền" vừa .. ngớ ngẩn! Trần Thủ Độ làm bao nhiêu điều "vô đạo" nhưng vẫn lập được nhà Trần đầy dũng mãnh. Lê Lợi sẵn sàng cho vợ "hiến tế" cho thần sông .. Thực ác! Thế nhưng thành công trong chống xâm lăng và lập thành nhà Lê. Quang Trung dùng Hữu Chỉnh và "thịt" ngay khi dám "dỡn mặt", ông ta cũng mang quân đánh ông anh Nguyễn Nhạc.. etc..

Còn Lê Long Đỉnh này thì chết trẻ, chưa làm được gì mấy, để có thể gọi là nghiệp lớn. Ông chết đi, Lý Công Uẩn lập nên nhà Lý ( có thể Lý Công Uẩn rất … gian hùng ). Thế nhưng nhà Lý lại rất cường thịnh, văn minh nên … Em nghĩ .. không có gì "oan" cho anh chàng Long Đĩnh này cả.


Việt Sử Lược & ĐVSKTT viết :Trích “Việt Sử Lược” .. (Viết đời Trần)

Lê Ngọa Triều

Tên húy là Long Đĩnh, là con thứ năm của vua Đại Hành và là em trai cùng mẹ của vua Trung Tông.

Năm thứ 3 (năm Nhâm Thìn- 992- ND) ngài được phong làm Khai Minh Vương. Khai Minh Vương cướp ngôi của Trung Tông mà lên làm vua.

Năm Bính Ngọ (tức năm 1006) là năm thứ nhất lên ngôi tôn hiệu là "Khai thiên ứng vận thánh thần võ tắc thiên sùng đạo đại thăng minh quang hiếu hoàng đế". Tính vua ưa chém giết. Có người phạm tội sắp phải hành hình thì vua bắt lấy cỏ tranh quấn vào người rồi đốt. Lại sai tên hề là Liêu Thủ Tâm cầm con dao cùn nhụt mà xả vào người phạm tội để cho lâu chết. Như thế, phạm nhân phải kêu la ai oán thống thiết đến vài ngày. Liêu Thủ Tâm thấy vậy cợt rằng: "Mày không quen chịu chết".

Nhà vua cười rộ lên lấy làm thích thú. Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết.

Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi.

Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp.

Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức tăng Thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mữa thốc mữa tháo cả lên.

Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bảm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn.
Các tước vương chống đối. Nhà vua đều dẹp yên tất cả. Đánh Ngự Man Vương (con ông chú của vua) toàn thắng rồi đổi Phong Châu làm phủ Thái Bình.
Tôn mẹ làm "Hưng quốc quảng thánh thái hậu".

Năm Đinh Vị (Mùi) (tức năm 1007) là năm thứ 2, vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống.

Năm Mậu Thân (tức năm 1008) là năm thứ 3, tháng giêng, vua đổi niên hiệu là Cảnh Thụy năm thứ nhất. Vua đi đánh hai châu Đô Lương và Vị Long bắt được dân Man và ngựa đến vài trăm con. Vua sai người dùng gậy đánh số người Man bị bắt ấy. Nhân vì đánh quá đau, họ kêu la ầm lên lỡ phạm đến tên húy của vua Đại Hành. Vua lại cười rộ lên, sai đánh nữa và sai đánh mãi. Nhiều lần bị đánh và nhiều lần người man xúc phạm đến tên húy của vua Đại Hành mà nhà vua lại rất vui. Lại khi đi đánh Ái Châu (Thanh Hóa- ND) bắt được người châu ấy, vua cho làm cái vựa rồi nhốt họ vào trong mà cười.

Năm Kỷ Dậu (tức năm 1009) là năm thứ hai niên hiệu Cảnh Thụy. Mùa thu, tháng 7 vua đi đánh các châu: Hoan, Đường, và Hà Thạch.

Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Hợi, vua qua đời tại phòng ngủ trong điện. Hiệu là Ngọa Triều, vì vua có bệnh trĩ phải nằm để thị triều.

Năm thứ 22 (nhà Tiền Lê-ND)2 vua lên ngôi, ở ngôi 4 năm, đến năm thứ 25 đổi niên hiệu 1 lần.
Nhà Lê, trên từ Lê Đại Hành xuống đến Lê Ngọa Triều cộng ba đời, bắt đầu năm Canh Thìn (980) và dứt vào năm Kỷ Dậu (1009) gồm có 30 năm thì mất.Đại Việt Sử Ký Toàn ThưTên húy là Long Đĩnh, lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi (986-1009) băng ở tẩm điện. Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất nước sao được?

Mùa đông, vua cướp ngôi, tôn hiệu là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Vân Thấn Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo [27a] Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Truy tôn mẹ là Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái Hậu.

Lập bốn hoàng hậu.

Ngự Bắc Vương cùng với Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan1 làm phản. Vua thân đi đánh.
Đến Đằng Châu, Quản giáp là Đỗ Thị đem việc người anh em họ ngoại là Lê Hấp Ni làm phản tâu lên.

Vua sai bắt tra hỏi, Hấp Ni và những kẻ dự mưu 12 người điều bị giết. Đến trại Phù Lan, người trại đóng cửa trại cố thủ. Đánh không hạ được, bèn vây chặt vài tháng, người trong trại hết lương ăn. Ngự Bắc Vương tự biết kế cùng thế khuất, bèn bắt Trung Bắc Vương đem nộp. Chém Trung Quốc Vương, tha tội cho Ngự Bắc Vương, rồi đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu. Ngự Man Vương phải chịu hàng.

Quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình. Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả. Chuyến đi này khi quan quân đánh nhau với người trại Phù Lan, chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần [27b] Đầu (nay là cửa biển Thần Phù)2. Vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.

Bính Ngọ, /Ứng Thiên/ năm thứ 13 [1006], (Vua vẫn theo niên hiệu Ứng Thiên; Tống Cảnh Đức năm thứ 3). Mùa xuân, tháng hai, phong con trưởng là Sạ làm Khai Phong Vương, con nuôi là Thiệu Lý làm Sở Vương, cho ở bên tả; Thiệu Huân làm Hán Vương, cho ở bên hữu. Sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống.

Hành Quân Vương Minh Đề thấy trong nước loạn không thể về được, trú lại ở Quảng Châu, Tri Châu là Cao Nhật thôi không cấp giấy quán khoán3 cho nữa. Vua Tống phải xuống chiếu cho riêng 50 vạn (quan) tiền, 150 hộc gạo và tiếp tục cấp quán khoán.

Mùa hạ, tháng 6, trí Quảng Châu là Lãng Sách dâng thư nói: "Này nhân Giao Chỉ có loạn, xin cho thần và Duyên biên an phủ sứ Thiệu Việp cùng nhau bàn tính công việc tâu lên. Bọn thần dựa theo lời của bọn Hoàng Khánh Tập hơn nghìn người ở Giao Chỉ, do Liêm Châu4 đưa đến, nói [28a] rằng các con của Nam Bình Vương đều đặt trại sách phân tán các nơi, quan thuộc lìa tan5, nhân dân lo sợ, xin đem quân sang đánh dẹp, bọn Khánh Tập nguyện làm tiên phong, có thể hẹn ngày lấy được. Nếu triều đình chuẩn lời thỉnh cầu, thì xin lấy binh đóng đồn ở các châu tuộc Quảng Nam6 và cho thêm 5 nghìn quân mạnh ở Kinh Hồ, thủy bộ cùng tiến, có thể bình định được ngay".
Vua Tống nói: "Họ Lê thường sai con vào chầu, góc biển yên tĩnh, không mất trung thuận, nay nghe tin mới chết, chưa có lễ tham viếng, đã vội đánh kẻ có tang, há phải là việc làm của bậc vương giả?". Xuống chiếu cho bọn Sách vỗ yên như trước, cốt được êm lặng. Lại sai Việp đưa thư sang bày tỏ uy đức của triều đình, bảo không nên giết hại lẫn nhau, nếu anh em để lâu không định ngôi thứ khi đóquân thiên triều sang hỏi tội, thì họ Lê không một móng nào sống sót. Vua sợ, xin sai em sang cống. Vua Tống xuống chiếu cho Việp đem việc nước bảo cho Minh Đề biết, cho tự chọn ở lại hay về nước. Nếu muốn về thì cấp người, thuyền [28b] cùng quán khoán và cho tiền để tự lo liệu.

Minh Đề về, Việp muốn nhân đó lấy nước Việt ta, mới dâng bản đồ đường thủy, đường bộ từ Ung Châu đến Giao Châu. Vua Tống đem cho Cận thần xem và nói rằng: "Giao Châu nhiều lam chướng dịch lệ, nếu đem quân sang đánh thì chết tất nhiều, nên cẩn thận giữ gìn cõi đất của tổ tông mà thôi". Việp bèn thôi.

Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Ngọ là sinh nhật của vua, lấy tre làm một ngọn núi nhỏ, ban yến cho các quan.

Châu Vi Long (nay châu Đại Man)1 dâng ngựa trắng bốn chân có cựa.

Đinh Mùi, /Ứng Thiên/ năm thứ 14 [1007], (Vua vẫn dùng niên hiệu Ứng Thiên; Tống Cảnh Đức năm thứ 4). Mùa xuân, sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàn Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng.

Mùa thu, tháng 8, nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và cho tên là Chí Trung, ban tước cho Minh Xưởng và Thành Nhã.Tháng 9, [nhà Tống] đúc ấn "Giao Chỉ Quận Vương", sai Quảng Nam chuyển vận sứ [29a] đem sang ban.

Mậu Thân, niên hiệu Cảnh Thụy năm thứ 1 /1008/, (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 1).
Phong con nuôi của Cảm Thánh Hoàng Hậu là Lê Ốc Thuyên làm Tam Nguyên Vương). Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương2, Vị Long, bắt được người Man và vài trăm con người,sai lấy gậy đánh, người Man đau qúa kêu gào, nhiều lần phạm tên húy của Đại Hành, vua thích lắm. Lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu, bắt được người thì làm chuồng nhốt vào rồi đốt.

Kỷ Dậu, /Cảnh Thụy/ năm thứ 2 /1009/, (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 2). Mùa xuân, Minh Xưởng ở Tống về, xin đưởc kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu thị đem dâng. Vua thu nạp làm cung nhân.

Sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu thuần. Vua Tống cho rằng tê ngưu từ xa đến, không hợp thủy thổ muốn trả lại, nhưng sợ trái ý vua, sai đợi cho sứ nước ta [29b] về rồi thả ra biển. Vua lại xin áo giáo mũ trụ giát vàng, vua Tống bằng lòng cho. Vua lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa3 ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi.

Bọn Ngô đô đốc, Kiểu hành hiến4 dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia5 ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long1 qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến ông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.

Mùa thu, tháng 7, vua thân đi đánh các châu Hoan Đường2, Thạch Hà. Đến Hoàn Giang, sai Phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của châu Hoan Đường4, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp5 đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện [30a]. Thuyền rồng rời cửa Hoàn6 ra ngoài biển, chợt gió to sóng lớn, mây mưa tối sầm, bèn sai quay thuyền trở lại. Sau đó sợ đường biển khó khăn nguy hiểm đi đường bộ về kinh sư.

Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết chóng. Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: "Nó không quen chịu chết". Vua cả cười. Đi đánh dẹp bắt được tù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên, ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết. Vua thân đến xem lấy làm vui. Có lần vua đi đến sông Ninh7, sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền8, đi lại giữa dòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn [30b] muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước, rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Có lần vua róc mía trên đầu sư Quách Ngang, giả vờ lỡ tay làm đầu sư bị thương chảy máu rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên; vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha trò cười để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn.

Mùa Đông, tháng 10, ngày Tân Hợi, vua băng ở tẩm điện9 gọi là Ngọa Triều, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu (Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ).

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua Kiệt nhà Hạ thích giết người, đến nỗi có hình phạtleo cột đồng nung nóng10, vua Trụ nhà Thương thích giết người đến nỗi có việc chặt đùi người lội nước buổi sáng11, tuy có Long Bàng12, Tỷ Can13 là người hiền hết lòng trung [31a]có sức can ngăn mà đều bị giết, vì thế mất nước một cách đột nhiên. Đời sau những vua thích giết người như Tôn Hạo1 nước Ngô cũng nhiều, cuối cùng đều diệt vong cả. Ngọa Triều không những chỉ thích giết người, lại còn oán vua cha không lập mình làm thái tử, đánh đau người Man, cho họ kêu gào, nhiều lần phạm húy cha mà lấy làm thích, thật quá tệ. Mất nước mau chóng, há phải không do đâu mà ra?

Lại xét Trung Tông và Ngọa Triều, đều không chép việc tang lễ, đó là do sử cũ bị thiếu, há dám coi vua như là Di Địch mà không chép việc tang đâu. Tháng ấy, ngày Qúy Sửu, Lý Công Uẩn tự lập làm vua.

2 comments:

Kẻ Hóng Chuyện said...

Cho tôi hỏi anh: Bác sĩ Hồ Đắc Duy mà anh nói chắc không phải bác sĩ Hồ Đắc Di nổi tiếng của Việt Nam hồi trước? Cụ Di mất năm 1984 nên chắc không phải. Tên chỉ hơi giống thôi. Đúng không anh?

Nguyễn Văn Tuấn said...

Cụ Hồ Đắc Di, hiệu trưởng trường y Đông Dương, theo tôi biết là ông bác của anh Hồ Đăc Duy. Dòng họ Hồ Đắc có nhiều người rất nổi tiếng. Anh Hồ Đắc Duy rất uyên bác về sử.
NVT