Thursday, December 27, 2007

Một năm nhìn lại - Phần 1

Thấm thoát mà đã 12 tháng trôi qua, và chúng ta đang bước vào năm thứ 8 của thế kỉ 21. Theo thông lệ, những ngày cuối năm cũng là dịp để chúng ta “tính sổ” hoạt động trong một năm qua, với hi vọng học được những bài học cho năm sắp đến. Với tôi, trong thời gian 12 tháng qua là những ngày tháng tôi tham gia thảo luận một số đề tài -- nói theo người phương Tây là – "gần trái tim" tôi: đó là những vấn đề liên quan đến y tế, khoa học, giáo dục và đôi khi văn học nữa. Phần lớn những bài viết, có khi mang tính tranh luận, đều có mặt trên diễn đàn ykhoanet.com trước khi đăng ở các tạp chí và báo đại chúng như Tuổi Trẻ, Tia Sáng, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hoạt động Khoa học, v.v… Qua theo dõi tin tức trong nước, tôi thấy một số điều mình phát biểu hay đề nghị cũng được các quan chức trong nước hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp chú ý. Đó là một vinh hạnh cho người viết. Nhân dịp này, tôi muốn nhìn lại những đề tài nổi cộm trong năm …

Trước hết là vấn đề cổ phần hóa bệnh viện công. Vấn đề này làm tốn hao biết bao giấy mực báo chí, vì trong quá trình tranh luận lộ rõ hai quan điểm rõ rệt. Một số người chủ trương cần phải cổ phần hóa bệnh viện, và một số người khác (tương đối ít hơn) có quan điểm ngược lại. Những người chủ trương cổ phần hóa lí giải rằng bệnh viện công nước ta bây giờ lâm vào tình trạng quá tải, và cần phải cổ phần hóa để giải quyết vấn đề. Một số người khác, kể cả các nhà quản lí bệnh viện, thì cho rằng cổ phần hóa để cải tiến chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Những người chủ trương không cổ phần hóa bệnh viện lí giải rằng dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ cơ bản nhất mà chính phủ có nhiệm vụ phải cung cấp cho người dân.

Cũng như nhiều vấn đề khác, tôi thấy một điều rất đáng quan tâm là hầu như những người tranh luận không đưa ra một bằng chứng về mối tương quan giữa cổ phần hóa và chất lượng chăm sóc và điều trị bệnh nhân, chẳng trình bày một dữ liệu khoa học nào để có thể nói là đáng tin cậy.

Chất lượng y tế là gì?

Tôi tiếp cận vấn đề qua hai thiếu sót trên. Trước hết, cần phải định nghĩa thế nào là “chất lượng”. Trong một bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Vietnamnet đăng lại), tôi lí giải rằng trong y tế, cụm từ “chất lượng” đề cập đến các khía cạnh chăm sóc sức khỏe liên quan đến: thực phẩm cho bệnh nhân; môi trường bệnh viện (bàn ghế, tủ, giường, độ sạch sẽ, ánh sáng); dịch vụ chuyên môn (y khoa, điều dưỡng, thiết bị); tiện nghi phòng (riêng tư, giờ thăm bệnh, tiện nghi); phục vụ cá nhân (riêng biệt, thông tin, chú ý đến nhu cầu cá nhân); và sự đáp ứng của hệ thống cấp cứu khi có sự cố. Các khía cạnh này có thể phát triển thành những “chỉ tiêu” cụ thể để đo lường chất lượng bệnh viện. Ngoài những chỉ tiêu định tính, còn có một chỉ tiêu quan trọng nhất: đó là tỉ lệ tử vong trong khi nằm bệnh viện hay sau khi xuất viện 30 ngày.

Ở nước ngoài người ta đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng bệnh viện (xem bảng dưới đây về một nghiên cứu ở Thái Lan, rất gần ta) cho thấy chất lượng bệnh viện không phải tùy thuộc vào cổ phần hóa mà là các yếu tố liên quan đến tiện nghi và thái độ của y bác sĩ. Bệnh viện tư vì lợi nhuận có chất lượng thấp hơn bệnh viện công và bệnh viện tư không vì lợi nhuận.

Số phần trăm bệnh nhân trả lời "tốt" và "rất tốt" cho các chỉ tiêu chất lượng y tế

Chỉ tiêu chất lượng y tế

Bệnh viện công

Bệnh viện tư kinh doanh lấy lời

Bệnh viện tư không lấy lời (từ thiện)

Sạch sẽ

73

70

77

Tiện nghi

70

71

75

Có bàn ghế đầy đủ

39

48

39

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân

76

71

83

Thái độ của điều dưỡng

81

74

84

Bác sĩ khám tổng quát

73

68

79

Khả năng chuyên môn

90

83

96

Bác sĩ thường xuyên đến thăm bệnh

88

79

90

Thái độ của bác sĩ

85

65

82

Thông tin về trước và sau khi giải phẫu

80

73

83

Thông tin về xét nghiệm

70

68

70

Thông tin về thuật điều trị

75

76

73

Thông tin về sử dụng thuốc

69

56

84

Chất lượng tổng quát

88

79

90

Nguồn: Tangcharoensathien V, et al. Patient satisfaction in Bangkok: the impact of hospital ownership and patient payment status. Int J Quality Health Care 1999; 11:309-317.

Do đó, vấn đề không phải là cổ phần hóa, mà là chất lượng phục vụ bệnh nhân.

Vấn đề đầu tư cho y tế


Trong quá trình tranh luận tôi không thấy ai nói đến vấn đề đầu tư của Nhà nước cho y tế. Thế là tôi làm một cuộc khảo sát, và phát hiện nhiều điều thú vị (một cuộc khảo sát nào cũng có kết quả thú vị!) Qua phân tích số liệu của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê, tôi phát hiện rằng hiện nay chi tiêu của Nhà nước dành cho ngành y tế chỉ chiếm 6,1% tổng chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này là thấp nhất so với các nước láng giềng như Campuchia (16%), Lào (khoảng 7%), Malaysia (6,5%), Trung Quốc (10%) và Nhật (16,4%). Một phân tích khác cho thấy trong tổng chi tiêu cho y tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%, phần còn lại (72%) là từ dân hay tư nhân.


Hơn thế nữa, số liệu của Bộ Y tế cho thấy tổng số giường bệnh trong năm 1997 là khoảng 198.000, nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống còn 197.000! Trong cùng thời gian cả nước, tổng số cơ sở y tế giảm từ 13.269 vào năm 1997 xuống còn 13.243 vào năm 2005. Vì gia tăng dân số, cho nên số giường bệnh tính trên 10.000 dân số giảm từ 26,6 năm 1997 xuống còn 23,7 năm 2005. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện đều quá tải. Nhiều bệnh viện, hai thậm chí ba bệnh nhân phải nằm cùng một giường!

Một số chỉ tiêu cơ sở y tế giữa 1997 và 2005 cho toàn quốc

Chỉ tiêu

1997

2005

Phần trăm thay đổi 1997-2005

Số bác sĩ

32.900

51.500

+56%

Số y sĩ

47.900

49.700

+3.8%

Số y tá + hộ sinh

59.000

69.700

+18%

Số cơ sở y tế

13.269

13.243

-0,20%

Số giường bệnh

197.900

197.200

-0,35%

Dân số cả nước

74.307

83.106

+12%

Số giường bệnh trên 1000 dân số

26,6

23,7

-11%

Chú thích: Số liệu cơ sở y tế và giường bệnh chỉ giới hạn trong số nhà nước quản lí, chưa tính đến cơ sở tư nhân. Nguồn: Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn. Ở Thái Lan, theo số liệu năm 2002, cả nước có 134.453 giường bệnh, và số giường bệnh trên 100 dân số là 22. Vẫn theo số liệu trên, cả nước Thái Lan có 18.987 bác sĩ (chỉ bằng 43% số bác sĩ Việt Nam trong cùng năm). Ở Thái Lan cứ 3295 dân số có 1 bác sĩ, còn ở nước ta con số này là 1791.


Thành ra, viết trên Tuổi Trẻ, tôi cho rằng vấn đề là Nhà nước chưa đầu tư thích đáng vào ngành y tế, chứ không phải cổ phần hóa. Vấn đề là bệnh viện cần tự trị (hay tự chủ), chất lượng và y đức thay vì cổ phần hóa bệnh viện công.

Đến cuối năm (tháng 12/07), trong Hội nghị của Chính phủ về xã hội hóa y tế, chính phủ đã quyết định không chủ trương “không cổ phần hóa các bệnh viện công”, thay vào đó là Nhà nước sẽ tăng đầu tư cho y tế. Vì, theo tính toán với chi phí thực tế cho mỗi học sinh và mỗi người bệnh như hiện nay, phần lớn các hộ dân chưa thể tự trang trải được (do thu nhập còn thấp).” Đó là phát biểu của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân hôm 19/12 vừa qua. Đọc tin này tôi vui suốt ngày! Vâng, tăng đầu tư cho y tế, ông phó thủ tương ơi! Phải tăng đầu tư ở mức sao cho bằng với các nước trong vùng.

Tai nạn y khoa và nhu cầu điều tra chất lượng y tế

Một tin mừng nữa là Phó thủ tướng yêu cầu phải “kiểm định chất lượng điều trị”. Ông nói “Nếu không [kiểm định chất lượng], có khi người bệnh sang bên kia thế giới rồi mới biết chất lượng điều trị”. Bài báo cho biết ông Nhân yêu cầu Bộ Y tế trong 6 tháng đầu năm 2008 phải có trách nhiệm xây dựng hệ thống quản lý, đánh giá chất lượng khám chữa bệnh.

Nói ra không phải là kiểu “đấy tôi đã nói thế” (nghe trẻ con quá!) nhưng sự thật là trong một bài báo trên Tuổi Trẻ vào tháng 5 (ykhoanet.com đăng lại), nhân mấy trường hợp “tai nạn y khoa”, tôi có đề nghị rằng cần phải điều tra chất lượng y tế, chất lượng bệnh viện để phòng ngừa các tai nạn trong tương lai. Vấn đề này đã được nghiên cứu rất chi tiết ở các nước phương Tây, và chính tôi cũng từng tham gia vào các đề án lớn này, nên cũng có vài kinh nghiệm.

Theo nghiên cứu ở Mĩ, Úc và Âu châu, sai lầm và “tai nạn” y khoa xảy ra ở các bệnh viện Úc, Canada và Âu châu dao động từ 7% đến 17% trong số những bệnh nhân nằm viện. Trong số này, một phần ba là do cẩu thả trong khi điều trị và 70% là do lỗi lầm của bác sĩ, dược sĩ, và điều dưỡng. Đó là một con số cực kì lớn, nếu chúng ta tính đến hàng trăm ngàn bệnh nhân nhập viện mỗi năm.

Vẫn theo kinh nghiệm từ nước ngoài, khoảng 13% đến 16% các sai lầm y khoa dẫn đến tử vong, và 3% dẫn đến thương tật vĩnh viễn. Ở Mĩ, các nhà nghiên cứu ước tính rằng mỗi năm có khoảng 120.000 người chết vì sai lầm và tai nạn y khoa, cao gấp 3 lần số tai nạn xe hơi. Chi phí hàng năm liên quan tới những trường hợp thương vong này được ước tính khoảng 8,8 USD. Ở Úc, mỗi năm có đến 14.000 người bị thiệt mạng và 50.000 người bị thương tật vĩnh viễn do những lỗi lầm trong bệnh viện (dân số Úc khoảng 20 triệu).

Trong đoạn cuối của bài viết tôi rất tâm đắc này, tôi có viết: “Ở nước ta, chưa có những nghiên cứu tương tự để biết qui mô của vấn đề. Tuy nhiên, nếu chấp nhận tỉ lệ tai nạn 7% (tần số trung bình ở Mĩ, Úc, Canada và Âu châu), với tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 7.050.000 (số liệu Bộ Y tế năm 2003), có thể ước tính rằng mỗi năm ở nước ta có 493.500 bệnh nhân bị “tai nạn” y khoa trong các bệnh viện. Và, vẫn theo kinh nghiệm ở Mĩ (khoảng 14% “tai nạn” y khoa dẫn đến tử vong) có thể ước tính rằng nước ta có khoảng 67.000 bệnh nhân bị chết “oan” hàng năm. Đó là một con số tử vong rất lớn, cao gấp 3 lần số tử vong vì tai nạn giao thông, và chiếm khoảng 13% tổng số tử vong của cả nước (khoảng 515.000 tử vong, số liệu năm 2002).”

Thật vậy, tôi cho rằng tai nạn y khoa ở nước ta rất lớn, vì tình trạng quá tải và tình trạng thiếu thốn thiết bị, thuốc men. Nhưng cần phải nghiên cứu kĩ càng để tìm cách khắc phục. Xin nhắc lại rằng nghiên cứu không phải để chỉ ai sai ai đúng, bởi vì lỗi lầm trong y tế trước hết là lỗi lầm của hệ thống chứ không phải cá nhân. Trong cuốn sách “Hai mặt sáng tối của y học hiện đại” xuất bản năm 2004, tôi có một chương dài dành cho vấn đề tai nạn y khoa và cũng nói chuyện về vấn đề này trong mỗi lần về nước.

Thành ra, tôi rất vui khi biết rằng Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu Bộ Y tế phải tiến hành kiểm định chất lượng y tế. Nhưng với kinh nghiệm tôi e rằng ông Phó thủ tướng đòi hỏi Bộ Y tế cao quá (ông yêu cầu Bộ Y tế phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng y tế trong vòng 6 tháng). Tôi có kinh nghiệm trong vấn đề này và có thề nói thế này: ở Mĩ, Úc và Canada, các chuyên gia đã tiêu ra gần 15 năm trời để phát triển các chuẩn mực về chất lượng y tế nhưng chỉ mới hoàn tất vài chỉ tiêu sơ khởi mà thôi. Hi vọng rằng trong năm tới (2008) tôi sẽ giới thiệu các chỉ tiêu này để các bạn trong nước biết thêm và cách thực hiện ra sao.

Thật ra, tôi đã gợi ý về điều tra chất lượng y tế với hai giám đốc của hai bệnh viện lớn ở phía Nam, và có thể triển khai nay mai để Bộ Y tế rút kinh nghiệm và học hỏi. Đây là vấn đề hết sức quan trọng nên cần phải làm cẩn thận và có hệ thống, có bài bản, chứ không nên làm vội vã như ông Phó thủ tướng nóng lòng muốn làm.

No comments: