Thursday, December 27, 2007

Một năm nhìn lại - Phần 2

Vắcxin viêm gan B – nhiễu thông tin!

Ở nước ta, khoảng 13% trẻ em mới sinh (9 đến 18 tháng) và 18% trẻ em tuổi từ 4 đến 16 bị nhiễm viêm gan B. Ngay cả ở độ tuổi vị thành niên và trưởng thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B cũng khoảng 20%. Các tỉ lệ này khá cao so với các nước đã phát triển, nhưng tương đương với tỉ lệ ở các nước Đông Nam Á và Nam Mĩ. Do đó, chính sách tiêm chủng vắcxin phòng chống viêm gan B là cần thiết.

Nhưng với 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách này. Tôi có viết một bài “trấn an” trên Tuổi Trẻ rằng không vắcxin không nguy hiểm đâu, nó cứu nhiều người. Tôi trình bày nhiều bằng chứng khoa học từ Đài Loan và các nước trong vùng để chứng minh rằng chúng ta nên cần tiếp tục với vắcxin hóa.

Tiếp theo là một bài báo trên Tuổi Trẻ cho rằng Hàng trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ, nhưng rất tiếc đây là một thông tin rất sai lầm, vì phóng viên dựa vào một nguồn tin không đáng tin cậy. Phóng viên dựa vào thông tin trên website của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ý kiến “phi chính thống” và nổi tiếng chống đối các chương trình tiêm chủng ngừa. Ông này đã bị các cơ quan y tế Mĩ cảnh cáo vài lần về việc đưa tin … ẩu. Tôi có viết một bài cảnh báo trên ykhoanet.com và gửi cho các bạn trong Tuổi Trẻ chỉ ra rằng nguồn tin đó rất sai. Bài báo trên website Tuổi Trẻ sau đó đã được rút xuống ngay. Hoan hô các bạn trong Tuổi Trẻ!

Trong một bài trên ykhoanet.com (và đăng lại trên Tuổi Trẻ) tôi phát trình bày một vài kinh nghiệm từ nước ngoài về chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B cho thấy tiêm vắcxin đem lại lợi ích nhiều hơn là tác hại.

Qua bài học này, tôi thấy việc xử lí thông tin y khoa của các phóng viên báo chí nói chung có vấn đề. Nhưng đây là vấn đề chung trên thế giới, chứ cũng chẳng riêng gì với giáo báo chi trong nước.

Bưởi và ung thư vú – lại nhiễu thông tin!

Nói về nhiễu thông tin, chúng ta không thể bỏ qua bản tin về bưởi và ung thư vú đã được một số báo trong nước rầm rộ đưa tin. Số là vào tháng 7 năm 2007 một nhóm nhà nghiên cứu bên Mĩ công bố một nghiên cứu quan sát (observational study) trên tập san British Journal of Cancer, mà theo đó họ kết luận rằng ăn bưởi có thể liên quan đến ung thư vú ở phụ nữ sau mãn kinh. Bản tin này được các báo chí Tây phương như BBC và Daily Mail truyền đi gây chấn động giới sản xuất và phân phối bưởi.

Ở trong nước, các báo như Thanh Niên, Khuyến học, Dân trí, Netnam, và Khoa học phổ thông năng nổ dịch lại. Chỉ trong vòng mấy ngày sau khi bản tin xuất hiện trên báo chí Việt Nam, giá bưởi ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 10.000-16.000đ/kg xuống còn chỉ 8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg. Nhiều nông dân điêu đứng. Tôi cũng là người xuất thân trong quê nên biết thế nào là nỗi khổ của nông dân, không có tiếng nói trong mấy vụ “khoa học” này.

Tôi bỏ ra ngay đêm đó để viết hai bài phân tích về những khiếm khuyết của nghiên cứu trên và phân tích số liệu lại để chứng minh rằng sự khác biệt giữa tỉ lệ ung thư trong nhóm ăn bưởi và không ăn bưởi chỉ có 0,4%, tức chẳng có ý nghĩa lâm sàng gì cả. Bài ngắn đăng trên Tuổi Trẻ và được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, tuy nhiên bản gốc có đầy đủ thông tin thì (dĩ nhiên) là trên ykhoanet.com. Bài dài hơn tôi phân tích chi tiết về những sai lầm trong nghiên cứu đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Nhân việc hai bài này, mấy anh trong Kinh tế Sài Gòn phàn nàn gián tiếp là tại sao tôi đăng 2 báo. Xin thưa là hai bài không giống nhau. Tôi không bao giờ đăng một bài trên hai báo, lúc nào cũng có cái khác chứ không “ăn gian” đâu. Vả lại, đây là vấn đề quan trọng, nên cần phải đưa thông tin đến càng nhiều người càng tốt, và hai bài đó tôi nghĩ đã giúp ích, trấn an cho nhiều người nghiền bưởi như … tôi.

Vụ bưởi và ung thư có một kết thúc không hay. Tuy trong bài viết tôi có nói rằng các phóng viên trong nước là nạn nhân của bài báo trên BBC, nhưng Bộ Thông tin và Truyền thông vẫn xử phạt hành chính các báo Khuyến học, Dân trí, Thanh Niên, Netnam, và Khoa học phổ thông. Đây là một bài học truyền thông khoa học rất quan trọng, mà tôi hi vọng sẽ có dịp quay lại trong một workshop về khoa học và truyền thông sắp tổ chức ở TPHCM trong năm 2008. Tôi hi vọng sẽ sử dụng workshop này để giải thích cho các phóng viên biết về qui trình của một nghiên cứu y học như thế nào, và cách diễn giải dữ liệu khoa học sao cho chính xác.

Bệnh tả và mắm tôm

Những tháng cuối năm 2007 xảy ra nạn dịch tiêu chảy. Ykhoanet.com vào cuộc với hàng chục tham luận và bài viết chung quanh đề tài này. Ban đầu, các giới chức y tế gọi nạn dịch này bằng một bệnh danh dài dòng và khó hiểu: “Dịch tiêu chảy cấp”. Thế rồi vài ngày sau, bệnh được gắn thêm tính từ “nguy hiểm” thành “tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Nhưng cho đến nay, thì tên bệnh thành “dịch tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả”! Khi được phóng viên hỏi, các quan chức y tế nước ta lúng túng nói “Dùng từ tiêu chảy cấp trước hay tả trước thì cũng vậy thôi”! Từ đó, theo họ, cảnh báo tiêu chảy và tả thì biện pháp phòng chống như nhau!

Liên quan đến bệnh danh, tôi có phát biểu trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (“Sao không gọi là bệnh tả?”) và Tuổi Trẻ (“Gọi tên đúng bệnh để phòng ngừa hiệu quả”). Sau hai bài này và nhiều ý kiến của các đồng nghiệp khác trong nước, các quan chức y tế bắt đầu sử dụng từ “bệnh tả”, tuy họ vẫn còn khá quanh co và … khó hiểu.

Bệnh tả và tiêu chảy xảy ra vào ngày 30/10. Chỉ ba ngày sau, ngày 2/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm và sau đó ban hành “Quy trình xử lý dịch tả”. Phán quyết này dựa vào cơ sở rằng phần lớn bệnh nhân từng ăn mắm tôm. Ngày 8/11 tôi có nhận xét trên Tuổi Trẻ rằng “Chúng ta chưa có dữ liệu này. Do đó, chúng ta không thể nói mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, có thể nói mắm tôm là một yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả. Ăn thịt chó hay mắm tôm là yếu tố nguy cơ chứ không phải là thủ phạm, bởi vì thủ phạm là vi khuẩn V. cholerae. Vì thế, tôi e rằng đặt trọng tâm vào một loại thực phẩm như thế có thể làm xao lãng (hay đánh giá thấp) một tác nhân nguy hiểm hơn và qui mô hơn: nguồn nước.”

Câu chuyện mắm tôm và dịch tả kéo dài sau đó với nhiều ý kiến trái ngược nhau từ các chuyên gia trong Bộ Y tế. Tôi và Ts Nguyễn Đình Nguyên truy tìm trong y văn và phát hiện nhiều thông tin quan trọng về sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn tả. Tôi có viết hai bài để minh oan cho mắm tôm. Bài thứ nhất “Mắm tôm có phải là ‘thủ phạm’ gây bệnh tả? Xét lại bằng chứng khoa học” và bài kế tiếp là “Năm lí do cho mắm tôm vô tội” nhưng không báo nào dám đăng! Chỉ có báo Diễn Đàn bên Pháp đăng bài thứ hai, và bài này được lưu truyền khá rộng rãi.

Khi hàng trăm mẫu mắm tôm được đem đi xét nghiệm và kết quả hoàn toàn âm tính với vi khuẩn tả, thì lúc đó báo chí mới vào cuộc minh oan cho mắm tôm. Thậm chí, trong Quốc hội, giáo sư Nguyễn Lân Dũng cũng chất vấn về mối liên hệ giữa mắm tôm và dịch tả, nhưng rất tiếc là trả lời của Bộ trưởng Bộ Y tế không mấy rõ ràng.

Đến ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn kết luận: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Các nhà sản xuất mắm tôm được phép hoạt động trở lại.

Nhưng khổ thay cho mắm tôm! PGS TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục Vệ sinh An toàn thực phẩm, khi trả lời phỏng vấn báo Người lao động, nói: “Mắm tôm là nguyên nhân đầu tiên gây bệnh tả ...”

Trước tuyên bố này, Tạp chí Tia Sáng có hỏi tôi có ý kiến gì không. Tôi chỉ thấy phân vân với chữ “nguyên nhân” của ông cục trưởng, và điều này làm tôi có cảm hứng viết tiếp một bài tản mạn cho Tia Sáng, và như thường lệ, bản đầy đủ hơn vẫn trên ykhoanet.com qua bài “Mắm tôm, nguyên nhân và hệ quả. Qua bài viết này, tôi giải thích cụ thể thế nào là nguyên nhân và thế nào là yếu tố nguy cơ. Làm y tế cần phải phân biệt được hai khái niệm này. Nhưng mọi lí thuyết mang màu xám xịt / chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi (mượn thơ Xuân Diệu) nên tôi phải nhắc nhở các quan chức rằng thực tế còn quan trọng hơn. Chính vì thế mà trong phần cuối của bài đó tôi viết (và xin trích lại như sau):

Các lí giải trên tuy quan trọng, nhưng mang tính… hàn lâm. Hệ quả thực tế còn đáng quan tâm hơn. Do những phán xét vội vã của Bộ Y tế về mắm tôm trong thời gian qua, một bộ phận doanh nghiệp mắm tôm đã bị tổn thất về kinh tế. Theo Người lao động, ngày 19/12, 13 tấn mắm tôm lấy từ Thành phố Hồ Chí Minh đã được thiêu hủy. Điều đáng nói là việc làm này xảy ra sau khi các quan chức của Bộ Y tế xác nhận mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả. Điều đáng chú ý hơn nữa là các mẫu mắm tôm bị tịch thu này đã được xét nghiệm, về kết quả không thấy có mầm bệnh.


Do đó, việc thiêu hủy số lượng lớn mắm tôm như thế chẳng những không phù hợp với công văn của Bộ Y tế (trong đó có giải thích rõ rằng thiêu hủy chỉ áp dụng đối với sản phẩm mắm tôm đã được xác định ô nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh), mà còn thiếu nhất quán với các kết luận mới nhất của Bộ Y tế. Ai đứng ra bồi thường cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng? Và, cũng không một lời xin lỗi từ bất cứ một giới chức y tế nào.”

Vấn đề xin lỗi các doanh nghiệp bị tổn thất vì lệnh cấm mắm tôm được báo chí nêu lên. Nhưng Bộ Y tế … làm thinh. Thậm chí có quan chức nói không đặt vấn đề xin lỗi hay bồi thường. Bức xúc trước phát biểu này, tôi có viết một bài có thể xem là cuối cùng về sự việc, mà trong đó tôi nói về văn hóa xin lỗi trong y khoa. Bản ngắn thì trên Tuổi Trẻ (“Mắm tôm và chuyện xin lỗi”), còn bàn đầy đủ hơn thì trên ykhoanet.com. Bài viết cũng được nhiều bạn đọc đón nhận nồng nhiệt và khen ngợi. Cựu thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh cũng lên tiếng trên Tuổi Trẻ, nhưng Bộ Y tế vẫn … không xin lỗi!

Nhìn lại sự việc chung quanh bệnh tả và mắm tôm tôi rút ra một số bài học quí báu. Đó là những bài học mà báo Vietnamnet có đề nghị tôi làm một bài tổng kết. Loại bài viết đó tôi sử dụng các dữ liệu công bố trên ykhoanet.com để viết dưới ba tiêu đề: “Câu chuyện John Snow và bài học thông tin bệnh tả”, “Bệnh tả: Thông tin càng đưa, càng rối!”, và “Bệnh tả: Cần một thái độ khoa học”. Trong ba bài đó tôi muốn mượn câu chuyện của ông tổ ngành dịch tễ học (John Snow) để bàn về kinh nghiệm phát hiện nguyên nhân và phòng chống bệnh tả trong thời nay. Tôi cũng phê bình Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương chẳng có thông tin gì liên quan đến bệnh, vì trang nhà trống trơn. Tuy nhiên, cho đến nay, trang nhà của Viện vẫn chẳng có thông tin khoa học nào liên quan đến bệnh tả vừa qua!

No comments: