Thursday, December 27, 2007

Một năm nhìn lại - Phần 4

Đến chuyện đào tạo tiến sĩ

Một trong những vấn đề tôi rất quan tâm là đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Đây là vấn đề xã hội rất bức xúc, với không biết bao nhiêu bài báo phản ảnh tình trạng lạm dụng học vị này. Có phóng viên còn mỉa mai viết rằng ở nước ta ra đường là đụng tiến sĩ! Năm 2006 tôi viết khoảng 10 bài về chủ đề này, và nghĩ chắc mình không có gì để nói thêm nữa. Nhưng đến năm 2007, một số sự kiện nhức nhối xảy ra nên tôi lại phát biểu. Nhìn lại trong năm tôi viết đến 15 bài góp ý và đề nghị trong lĩnh vực này. Hầu hết các bài đều đăng trên Tia Sáng, Hoạt động Khoa học, và Người viễn xứ, nhưng một số nhỏ đăng trên Tuổi Trẻ Vietnamnet. Đôi khi nhìn lại tôi không ngờ mình có nhiều ý kiến như thế!

Năm ngoái tôi viết một bài báo mà tôi tự cho là quan trọng: đó là bài đề ra 7 tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ. Bài này đăng trêm tạp chí Hoạt động khoa học số 8/2006. Bài viết được đón nhận rất nồng nhhiệt và được in lại trên không biết bao nhiêu báo mà tôi không thể đếm hết nổi! Bảy tiêu chuẩn này là:

  • Tiêu chuẩn 1: Thí sinh phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học trong các lĩnh vực vật lí, hóa học, sinh học, di truyền học, kinh tế học, toán học và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi.

  • Tiêu chuẩn 2: Thí sinh phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi và phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.

  • Tiêu chuẩn 3: Thí sinh phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình.

  • Tiêu chuẩn 4: Thí sinh phải làm chủ được kĩ thuật thử nghiệm khoa học hay kĩ thuật thí nghiệm cơ bản.

  • Tiêu chuẩn 5: Thí sinh phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin.

  • Tiêu chuẩn 6: Thí sinh phải chứng tỏ mình đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

  • Tiêu chuẩn 7: Thí sinh phải chứng tỏ mình am hiểu tiếng Anh, có khả năng sử dụng hay ứng dụng các kĩ thuật trong công nghệ thông tin.

Một trong những tiêu chuẩn tôi nhấn mạnh là phải nghiên cứu sinh phải có ít nhất là một bài báo công bố trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Vài người không thích tiêu chuẩn này và có vài lời dèm pha, nhưng tôi thấy họ không có cơ sở gì đáng nói nên tôi không cần tranh luận.

Điều đáng mừng là sau khi bài này đăng vài tháng, các quan chức trong Bộ Giáo dục bắt đầu có chuyển hướng. Trong bài “2007 - năm chấn chỉnh đào tạo tiến sĩ”, bà Trần Thị Hà (Vụ trưởng Vụ ĐH và sau ĐH) cho biết: “Để được công nhận là tiến sĩ, các NCS cũng phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do cơ sở đào tạo quy định ….”

Nhưng một quan chức trong Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng công bố bài báo khoa học là một thách thức lớn, tôi có viết bài “Công bố bài báo khoa học: Thử lửa với nghiên cứu sinh?” Trong đó, tôi lí giải rằng công bố bài báo khoa học không phải là một thách thức lớn gì cả, nếu đầu vào, tức là tuyển nghiên cứu sinh, ta làm cho tốt và có người hướng dẫn có tư cách khoa học. Có điều làm tôi hơi “bực mình” là ban biên tập đề cái chữ “TS” (tiến sĩ) trước tên tôi, và hình nhữ vẫn chưa đủ, họ còn dán cái nhãn hiệu “Việt kiều Australia” sau tên tôi. Tôi rất ghét và không bao giờ sử dụng mấy danh xưng hay chức danh mà tôi hay nói đùa là “sĩ sư” trước tên mình khi viết báo, và càng bực mình hơn với cái chữ “Việt kiều” nghe rất khó lọt tai. Cái chữ “kiều” nghe rất xa lạ, trong khi đó tôi là người Việt thì làm sao xa lạ với Việt Nam được? Nếu có nhu cầu, tại sao không viết đại khái là “Người Việt sống ở ABC” thay vì cái chữ khó ưa “Việt kiều” đó?

Và chuyện đại học đẳng cấp quốc tế

Khi cựu Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mĩ ông có đặt vấn đề Mĩ giúp ta thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế. Dự án được một giáo sư Đại học Harvard soạn thảo, và một cuộc tranh luận (hay nói đúng ra là thảo luận) diễn ra khá sôi nổi trên báo chí. Tôi đóng góp 3 bài bình luận trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tia Sáng, và Vietnamnet. Trong ba bài đó tôi bàn đến thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế, và bàn luận những khía cạnh cần tiên lượng trước khi một trường như thế ra đời.

Đến năm 2007, chủ đề này lại xuất hiện trên báo chí. Tôi không có ý gì mới để nói, nhưng khi Tia Sáng đề nghị phỏng vấn thì tôi cho ý kiến. Bài phỏng vấn chỉ được đăng có một phần. Bây giờ nhân dịp cuối năm tôi trích bài đó để bạn đọc theo dõi câu chuyện:

Trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng

Tia Sáng: Anh suy nghĩ như thế nào về thực trạng khoa học của đất nước hiện nay trên cơ sở những gì mà các anh thu lượm được?

NVT: Những gì tôi biết được qua quan sát và làm việc thực tế cho thấy tình hình hoạt động khoa học ở nước ta còn quá kém so với các nước trong vùng. Ở bất cứ chỉ tiêu khoa học nào (như số lượng ấn phẩm khoa học, số chuyên gia có uy tín trên trường quốc tế, vị thế, v.v…) thì nước ta kém xa so với Thái Lan, Singapore, Mã Lai và thậm chí kém hơn cả Indonesia. Chỉ tính riêng trong ngành y sinh học, trong thời gian 5 năm (2002-2006), số lượng ấn phẩm khoa học từ nước ta chỉ bằng 9% so với Singapore, 22% so với Thái Lan, 36% so với Mã Lai, v.v…

Tình hình khoa học ở nước ta có vẻ “ảm đạm” như thế là hệ quả của những bất cập và hạn chế trong khâu tổ chức và lãnh đạo, trình độ nghiên cứu và thiếu thông tin của các nhà khoa học. Thứ nhất là kinh phí cho nghiên cứu khoa học hiện nay còn khá khiêm tốn, nhưng việc phân phối kinh phí đó đến tay các nhà khoa học lại là một vấn đề nổi cộm. Cách tổ chức cung cấp kinh phí cho nghiên cứu hiện nay giống như một qui trình đấu thầu trong kinh doanh, và nó không thích hợp cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu cụ thể, kêu gọi nhà nghiên cứu đệ đơn, rồi họ xét duyệt và cấp kinh phí cho nghiên cứu. Trong thực tế, nhu cầu nghiên cứu phải xuất phát từ thực tế lâm sàng, và chỉ có bác sĩ hay nhà khoa học trực tiếp với bệnh nhân, với quần thể cộng đồng mới biết những nhu cầu này, và chính họ mới là người trực tiếp giải quyết vấn đề. Bộ chỉ nên đóng vai trò quản lí và đề ra định hướng (chứ không phải đề tài) nghiên cứu.

Thứ hai là vấn đề qui trình xét duyệt đơn xin tài trợ. Đã có quá nhiều nhà khoa học than phiền rằng qui trình xét duyệt thiếu tính minh bạch, thậm chí thiếu công bằng, và hệ quả là kinh phí nghiên cứu tập trung vào một số nhóm gồm những “cây đa cây đề”. Các nhà khoa học trẻ hay mới từ nước ngoài về không có cơ hội thực hiện những hoài bảo khoa học của mình, và tình trạng này gây ra nhiều bất mãn, tiêu cực, và thui chột tài năng của giới trẻ. Chúng ta cần xem xét hệ thống bình duyệt và cung cấp kinh phí khoa học của Mĩ, Úc hay Canada để tiến đến một hệ thống công bằng hơn và minh bạch hơn.

Thứ ba là vấn đề thiếu thông tin và kĩ năng. Vì thiếu thông tin, cho nên rất nhiều nghiên cứu ở trong nước không mang tính đột phá, không có “cái mới”, mà thường chỉ lặp lại những gì người khác đã làm cả 50 năm trước. Chính vì thế mà rất nhiều công trình nghiên cứu (tôi chỉ nói trong ngành y sinh học) không có giá trị khoa học cao, và chẳng gây chú ý của đồng nghiệp. Có người nói thẳng rằng nhiều nghiên cứu y sinh học trong nước chỉ đơn thuần giả số liệu!

Quay trở lại với tình hình khoa học nước ta, tôi thấy chúng ta thường tự hào (và có lẽ cũng có lí do để tự hào) về ngành toán và vật lí, nhưng trong thực tế, phải nói thẳng đây là những ngành có đóng góp khiêm tốn cho việc phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất nước. Chúng ta có quyền tự hào về những học sinh đoạt những giải thưởng quốc tế về thi toán, vật lí, hóa học, tin học, v.v… nhưng tính trung bình thì sinh viên đại học của ta vẫn còn kém về trình độ học hành và kĩ năng làm việc sau khi ra trường. Chúng ta quá chú tâm vào một thiểu số nổi bật mà bỏ qua phần đa số lu mờ.

Tia Sáng: Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có phát biểu: đến 2020 Việt Nam sẽ xây dựng được một trường đại học lọt vào top 200 trường đại học thế giới Theo ý kiến cá nhân của các anh, để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải làm gì?

NVT: Chẳng riêng gì nước ta, hầu như nước nào cũng mong muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng ít ai bàn cụ thể một đại học như thế đòi hỏi những gì và phải vận hành ra sao. Có người đề nghị không nên gọi là “đẳng cấp quốc tế” mà chỉ gọi là “chất lượng cao”. Riêng tôi thì thích cụm từ “đẳng cấp quốc tế” (world class) hơn, vì chưa bao giờ nghe hay thấy đại học nào tự xưng là có “chất lượng cao” (high quality) cả và thấy cụm từ này không thích hợp để mô tả uy tín một đại học. Một trường đại học đẳng cấp quốc tế, theo tôi, phải đạt được những tiêu chuẩn hay điều kiện sau đây:

  • phải có những giáo sư đẳng cấp quốc tế. Đây là những giáo sư có uy tín cao, có “tên tuổi” trong chuyên ngành, có lượng ấn phẩm khoa học lớn với chất lượng tốt (có nhiều cách để đánh giá), có ảnh hưởng trong chuyên ngành, v.v… Có nhiều người hiểu lầm rằng hễ người nào đang giữ chức giáo sư bên Mĩ hay Âu châu là “đẳng cấp quốc tế”. Không phải như thế. Chỉ có một số (có lẽ 10-20%) các giáo sư Âu Mĩ xứng đáng với tầm cỡ quốc tế mà thôi, phần còn lại thì chỉ tầm trung bình. Rất nhiều giáo sư ở Âu Mĩ chỉ là những công tư chức khoa bảng, chứ chẳng có nghiên cứu gì đáng kể; vì thế, không nên nhầm lẫn giữa giáo sư đẳng cấp quốc tế và giáo sư đại học tại các nước Âu Mĩ.
  • phải là nơi nuôi dưỡng những tài năng đẳng cấp quốc tế tương lai. Những ai từng quen thuộc với cơ chế tuyển dụng của các trường đại học lớn ở Mĩ đều biết rằng các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp thấp thường được nâng đỡ trong vòng 3 đến 5 năm để họ tự chứng minh khả năng của mình, sau đó họ phải trải qua một quá trình bình duyệt từ bên ngoài, và chỉ có những người xuất sắc với những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế mới được giữ lại làm việc.
  • phải có (hay tạo ra) một môi trường nghiên cứu với những cơ sở vật chất nghiên cứu đầy đủ. Một đại học ngày nay, cho dù là đại học không phải đẳng cấp quốc tế, khó mà vận hành một cách hữu hiệu nếu không có một hệ thống thư viện và internet hoàn chỉnh. Do đó, nhu cầu cho một thư viện đẳng cấp quốc tế với hàng triệu sách tham khảo và tạp chí khoa học là một điều kiện hàng đầu.
  • phải có ngân sách nghiên cứu dồi dào. Một đại học đẳng cấp quốc tế mà không có nghiên cứu khoa học thì không xứng đáng với danh xưng đó. Đại học Mahidol của Thái Lan được xem là có đẳng cấp, vì trên 50% các bài báo khoa học từ Thái Lan xuất phát từ trường này. Nghiên cứu phải là những nghiên cứu mang tính khám phá, bởi vì phần lớn những tiến bộ khoa học gần đây đều xuất phát từ những công trình nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là công nghệ sinh học. Một công trình nghiên cứu khoa học khám phá trung bình có thể tốn đến một triệu USD trong một năm. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy ngân sách dành cho nghiên cứu tại các trường đại học lớn của Mĩ có khi lên đến con số một tỉ USD. Tại nhiều trường đại học Tây phương ngày nay, trường đại học chỉ cung ứng cho nghiên cứu và trả lương giáo sư trong vòng 3 hay 5 năm, sau thời gian này giáo sư phải tự tìm lấy nguồn tài trợ cho nghiên cứu. Thành ra, dù rằng một phần ngân sách nghiên cứu (có thể là 60%) do nhà nghiên cứu tìm được từ nước ngoài, nhưng trường đại học vẫn phải sẵn sàng cung ứng khi nguồn tài trợ từ nước ngoài gặp khó khăn.
  • lương bổng cho giáo sư. Không thể kì vọng một giáo sư đẳng cấp quốc tế với hàng trăm công trình khoa học và đang hưởng lương hàng trăm ngàn USD hàng năm lại chịu làm việc tại một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam với số lương 50 ngàn USD. Còn nhớ khi Hồng Kông được Anh trao trả về Trung Quốc, rất nhiều giáo sư ngoại quốc rời bỏ các đại học Hồng Kông vì họ không thể sống với lương bổng mới và cách quản lí mới. Phải cần đến 5 năm các đại học Hồng Kông mới mời các giáo sư này quay lại làm việc.
  • phải cần thời gian. Cần phải nhận thức rằng không phải một sớm một chiều chúng ta sẽ xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế, một đại học mà nói đến tên, người ta có thể đánh giá ngang cỡ với các đại học danh tiếng khác ở Tây phương. Các đại học danh tiếng như Harvard, Yale, Stanford, Oxford, Cambridge, v.v… phải trải qua hàng trăm năm để đạt được vị thế như ngày nay. Ngay cả các đại học mới và danh tiếng “khiêm tốn” hơn như University of Tokyo, Australian National University, National Singapore University, v.v… cũng phải phấn đấu qua nhiều thập niên để được xếp hạng trong danh sách các đại học đẳng cấp quốc tế.

Những điều kiện và tiêu chuẩn trên không phải dễ đạt được. Trước những yêu cầu này có lẽ nhiều bạn đọc sẽ hỏi trong điều kiện còn nhiều khó khăn hiện nay liệu bao giờ chúng ta mới có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vào cuối thế kỉ 19 ở Mĩ, cũng có người đặt câu hỏi đó. John D. Rockefeller từng hỏi Charles W. Eliot (lúc đó là hiệu trưởng Đại học Harvard suốt 40 năm liền) nếu muốn thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế cần những điều kiện gì. Eliot trả lời rằng cần 50 triệu USD và 200 năm! Nhưng Eliot đã sai lầm to. Trường Đại học Chicago được thành lập vào đầu thế kỉ 20, với trên 50 USD (do chính Rockefeller trao tặng) nhưng chỉ sau 20 năm hoạt động, đã trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế. Hiện nay, chúng ta bàn về đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng tôi thấy đang có xu hướng “chìm” sau một thời gian bàn thảo sôi nổi. Chúng ta cần quyết tâm để biến lời nói thành hiện thực.

Tia Sáng: Vừa rồi Bộ KHCN có bàn về vấn đề nghiệm thu các đề tài khoa học và có nhiều ý kiến khác nhau. Ý kiến của GS Hoàng Tụy cho rằng, đã nghiên cứu khoa học cơ bản thì phải có công bố quốc tế. Nhưng cũng có nhiều ý kiến khác lại nói, trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam chưa thể làm như thế được. Ý kiến nào các anh cho là đúng?

NVT: Tiêu chuẩn số 1 để đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học -- bất kể là khoa học cơ bản hay khoa học ứng dụng -- là ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế. Ấn phẩm khoa học thường phải là những bài báo được công bố trên các tập san chuyên ngành có hệ thống bình duyệt (peer-review) và có uy tín (tức là nằm trong danh bạ của ISI hay cơ quan tương tự) với hệ số ảnh hưởng (impact factor).

Tôi cũng biết có ý kiến cho rằng việc công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế là không thực tế. Tuy nhiên, tôi thấy ý kiến đó không đúng và mang tính … ngụy biện. Tôi không hiểu “hoàn cảnh” nào mà các nhà khoa học nước ta không công bố được, nếu những công trình của họ có giá trị và được thực hiện theo những tiêu chuẩn chung. Thật ra, các tập san quốc tế có xu hướng tạo điều điệu thuận lợi như không lấy chi phí in bài, dành ưu tiên đăng bài, châm chước vấn đề ngôn ngữ … cho các nhà khoa học ở các nước đang phát triển như ở nước ta để công bố ấn phẩm khoa học.

Tia Sáng: Đối với những ngành mà hoạt động nghiên cứu cơ bản còn thấp như vật lý địa cầu, môi trường,…rất khó có thể có công bố quốc tế. Như vậy, có nên tiến hành nghiên cứu cơ bản không?

NVT: Tôi không xem các hoạt động khoa học theo thang chuẩn thấp hay cao, cho nên tôi không xem khoa học vật lí địa cầu hay khoa học môi trường là thấp. Tôi nghĩ ở bất cứ lĩnh vực nào, nếu chúng ta chịu khó làm việc, tìm tòi và suy nghiệm vấn đề cho đến nơi đến chốn thì vẫn có thể đi đến những đề tài để công bố. Cần phải nói thêm rằng một nghiên cứu khoa học không chỉ đánh giá qua một phát kiến mới về ý tưởng hay kết quả mới, mà một phương pháp hay cách làm mới vẫn có thể xem là có giá trị khoa học. Chẳng hạn như chọn một quần thể độc đáo làm mô hình để nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố di truyền đến một bệnh vẫn có thể xem là mới, và vẫn có thể công bố bài báo khoa học.

Tia Sáng: Anh có thể cho biết cụ thể ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trên thế giới hiện nay như thế nào?

NVT: Hoạt động khoa học ngày nay mang tính liên ngành (inter-discipline), và vì thế, rất khó tìm một lằn ranh để xếp loại thế nào là khoa học cơ bản và thế nào là khoa học ứng dụng. Theo tôi, cách phân chia khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là không cần thiết và phản tác dụng. Nhìn chung, có nhiều người nghĩ rằng nghiên cứu toán học là cơ bản, còn y học là ứng dụng. Nhưng trong ngành y sinh học, người ta nghĩ rằng (hay xem) nghiên cứu di truyền học và nghiên cứu trên tế bào là cơ bản, còn nghiên cứu lâm sàng là ứng dụng. Nói như thế để thấy tất cả các nổ lực đi tìm một lằn ranh phân biệt hoạt động khoa học còn tùy thuộc vào ngành nghề nghiên cứu.

Phân biệt giữa khoa học cơ bản và ứng dụng là quan điểm của mấy thập niên trước, và không còn thích hợp cho khoa học thời nay nữa. Xin dẫn một ví dụ đơn giản: nếu tôi nghiên cứu về cách sử dụng gen để chẩn đoán bệnh béo phì, thì công trình này nên xếp là cơ bản hay ứng dụng? Tôi phải phân tích một mãng DNA để biết được thể gen và phải thử nghiệm xem nó có liên quan đến béo phì hay không (đó là một hoạt động nghiên cứu cơ bản), nhưng béo phì là một vấn đề lâm sàng (một lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng), và phải sử dụng các thuật toán thống kê để phát triển mô hình chẩn đoán (một lĩnh vực vừa cơ bản vừa ứng dụng). Nói tóm lại, công trình của tôi có tất cả các hoạt động khoa học ứng dụng và cơ bản. Không có chuyện phân cấp đó là khoa học cơ bản hay ứng dụng.

Ví dụ mà tôi trình bày cho thấy xu hướng nghiên cứu khoa học bây giờ mang tính liên ngành, bởi vì tôi cần đến các chuyên gia về sinh học phân tử, di truyền học, thống kê học, và chuyên gia lâm sàng. Sự hợp tác liên ngành đó chính là động cơ thúc đẩy phát triển khoa học. Đi tìm một lằn ranh để phân chia ranh giới giữa cơ bản và ứng dụng là một hình thức làm cho khoa học không theo kịp trào lưu quốc tế.

Tia Sáng: Theo đánh giá chủ quan của anh thì mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam ra sao? Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho lĩnh vực trọng điểm nào cho tương lai?

NVT: Theo tôi, không nên phân biệt giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Các cơ quan tài trợ cho nghiên cứu ngày nay thường khuyến khích các nghiên cứu mà thuật ngữ tiếng Anh gọi là “Translational research”, tức là chuyển giao những thành tựu trong nghiên cứu khoa học cơ bản đến người tiêu dùng. Trong nghiên cứu y học, “người tiêu dùng” (consumer) đây chính là bệnh nhân. Bất cứ công trình hay dự án nghiên cứu y sinh học nào, tác giả phải nêu cho được tiềm năng chuyển giao thành tựu để nâng cao chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân.

Theo tôi, nước ta nên tập trung vào những nghiên cứu ở dạng này, thay vì theo đuổi những nghiên cứu mang tính khám phá (discovery) mà chúng ta chưa thể có điều kiện và kinh phí để theo đuổi. Xin lấy một ví dụ đơn giản để minh họa cho ý này. Các nhà khoa học Anh mới đây nghiên cứu trên 2000 bệnh nhân, mỗi bệnh nhân họ phân tích 500.000 SNP, và mỗi SNP tốn khoảng 0,5 USD, tức công trình này tốn khoảng nửa tỉ USD. Với số tiền đó, họ chỉ phát hiện một gen duy nhất có liên quan! Nước ta chưa thể làm những nghiên cứu đó, nhưng có thể ứng dụng thành tựu từ những nghiên cứu như thế cho tình hình thực tế ở trong nước.

Tia Sáng: Tầm nhìn phát triển khoa học công nghệ ở nước ta trong tương lai, theo các anh, chúng ta có nên đi theo mô hình của một số nước đi trước như Nhật, Hàn Quốc Singapore,…hay chúng ta phải vạch ra con đường riêng?

NVT: Tôi không rõ mô hình của Hàn Quốc hay Singapore ra sao, nhưng tôi nghĩ mỗi nước đều có một bối cảnh lịch sử riêng biệt, và do đó, sẽ không có “mô hình” nào hoàn toàn thích hợp cho nước ta cả. Chẳng hạn như chúng ta chưa thể đòi hỏi tất cả các giáo sư đại học trong nước phải hội đủ những tiêu chuẩn như giáo sư ở Mĩ, bởi vì một đòi hỏi như thế không thực tế. (Thật ra, ở Mĩ tiêu chuẩn giáo sư cũng rất khác nhau giữa các trường).

Nước Pháp tự hào rằng Pháp đã, đang và sẽ không bao giờ trở thành một phiên bản của bất cứ nước nào trên thế giới, nhưng các hoạt động nghiên cứu khoa học của Pháp cũng dựa vào các chuẩn mực quốc tế. Chúng ta cần phải có một “con đường” riêng cho chính chúng ta, nhưng con đường đó phải phù hợp với trào lưu của thời đại, phải tuân thủ theo những chuẩn mực quốc tế mà chúng ta là một thành viên. Chẳng hạn như chúng ta không thể biện minh rằng vì “hoàn cảnh” mà không công bố ấn phẩm nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế, trong khi đó chính là một chuẩn mực mà đại đa số các nước trên thế giới chấp nhận.

Hiện nay, chúng ta có quá nhiều viện nghiên cứu từ các bộ và tổng cục với chức năng nhiều khi chồng chéo nhau và thành phẩm cũng không rõ ràng mấy. Theo tôi, một trong những việc làm hàng đầu là chấn chỉnh (kể cả nhập lại) các viện nghiên cứu từ đó và các đại học thành những trung tâm nghiên cứu và đào tạo theo chuẩn mực quốc tế (cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một viện nghiên cứu y khoa có uy tín). Chúng ta cũng cần phải kiện toàn lại hệ thống bình duyệt và cung cấp kinh phí nghiên cứu sao cho đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của đồng tiền. Chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Mĩ hay Âu châu trong công tác quản lí khoa học và ngân sách khoa học. Việc này cũng không khó, không cần đến việc tốn tiền phải gửi hàng chục phái đoàn quan chức ra nước ngoài để tìm hiểu; chỉ cần hỏi các nhà khoa học gốc Việt có kinh nghiệm ở nước ngoài là họ có thể cung cấp thông tin cụ thể cho các giới chức trong nước.

No comments: