Thursday, December 27, 2007

Một năm nhìn lại - Phần 5

Ấn phẩm khoa học Việt Nam

Sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Tôi đã dành khá nhiều thì giờ và công sức để viết và kiến nghị cách cải tiến nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu y học, ở Việt Nam. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết “Nghiên cứu y học ở Việt Nam: Đặc điểm, thiếu sót, và sai sót” đăng trên tạp chí Thông tin Y học TPHCM hai số vào đầu năm nay để biết thêm chi tiết. Trong bài này, tôi chỉ ra hàng loạt thiếu sót và sai sót về nghiên cứu y học ở Việt Nam. Bài này có thể “đụng chạm” đến nhiều đồng nghiệp, nhưng đó là những điều tôi thấy cần phải nhìn thẳng và học hỏi.

Mới đây, tôi và đồng nghiệp tôi (Nguyễn Đình Nguyên) đã làm một phân tích chi tiết so sánh số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học Việt Nam với các nước trong vùng Đông Nam Á. Bài viết sẽ đưa lên ykhoanet.com nay mai. Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên thấy khoa học của ta còn kém quá. Nhưng phải nhìn nhận cái kém của mình để vươn lên, nên trong bài này tôi nói thật và nói thẳng.

Nói ngắn gọn, trong thời gian từ 1996 đến 2005 (10 năm), các nhà khoa học Việt Nam công bố được khoảng 3500 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Con số này thoạt đầu thì khá đấy, nhưng sự thật là thấp nhất trong vùng, thấp hơn cả Indonesia và Phi Luật Tân. Con số công trình khoa học của Việt Nam chỉ bằng 1/5 số bài báo từ Thái Lan, 1/3 so với Mã Lai, 1/14 so với Singapore (n = 45.633) ! Tôi cũng ước tính rằng nếu tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005 !

Đó là mới nói về số lượng. Còn chất lượng cũng kém lắm. Nhưng điều đáng quan tâm nhất với tôi là chỉ có 20% các công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam là do nội lực, phần 80% còn lại là do hợp tác hay giúp đỡ từ nước ngoài. Trong khoa học, chúng ta chưa đứng vững bằng đôi chân mình. Hợp tác khoa học là xu hướng tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nhưng điều tôi quan tâm là các hợp tác khoa học từ Việt Nam là theo kiểu "khoa học nhảy dù", tức nhà khoa học ngoại quốc vào Việt Nam hợp tác nhưng họ dành công trạng về họ !

Nếu chúng ta không sớm chấn chỉnh hệ thống hoạt động khoa học, kể cả hệ thống cung cấp tài trợ và xây dựng các chuẩn mực khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế, tôi sợ chúng ta sẽ tụt hậu và trượt dài trên trường quốc tế.

Đầu năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo có đề án đào tạo 20 ngàn tiến sĩ và thu hút người Việt ở nước ngoài về Việt Nam. Theo đó, Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục VN. Tôi có viết hai bài bàn về dự án này và cũng gây ra vài tai tiếng. Có người nói rằng tôi đánh giá thấp tiềm năng Việt kiều! Tôi vẫn cho rằng khó mà thu hút 1000 giáo sư “Việt kiều”, đơn giản vì con số giáo sư người Việt ở nước ngoài không nhiều đến như thế.

Theo sau các phát biểu mang tính chính sách của lãnh đạo Nhà nước, đã có nhiều bàn luận về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt (tôi sẽ gọi tắt là “Việt kiều”) về làm việc ở quê nhà. Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài Hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.

Vấn đề đặt ra là tại sao? Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến), lý do chính là Nhà nước vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!

Một vài "chuyển động" gần đây (như việc “Bộ Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng Đề án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo”) là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như thế trong thời gian qua, giới khoa học người Việt ở nước ngoài vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.

Thật ra, như tôi nói ở trên, người Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên truyền” hay “ưu đãi” để tham gia góp phần vào việc phát triển quê hương. Đã là người Việt, ai cũng muốn - không ít thì nhiều - đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có gì nãn lòng hơn là dù được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng mới vào cảng hàng không đã phải vướng víu những thủ tục rườm rà, những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm... Nhưng rất tiếc đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.

Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học Tây phương vì họ không muốn mất những giáo sư có tài). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.

Do đó, để thu hút được các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính chỉ tiêu duy ý chí, mà là một tầm nhìn xa và rộng hơn. Vấn đề không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà khoa học.

Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước ngoài không muốn hợp tác, mà vì trong thực tế lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.

Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, người Việt ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt ở nước ngoài vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Một vài lời kết

Dù sống xa quê nhà, nhưng tôi vẫn đau đáu theo dõi tình hình ở trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến y tế, giáo dục, và khoa học. Thú thật, tôi không nhớ hết đã viết bao nhiêu bài liên quan đến các chủ đề này trong vòng 12 tháng qua, nhưng chỉ biết là khá nhiều lần tôi đóng góp trên các tạp chí như Tia Sáng, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tuổi Trẻ, Hoạt động Khoa học, Sức khỏe và Đời sống, Thời sự Y học TPHCM, v.v... Phần lớn những ý kiến trên các diễn đàn này đều xuất hiện trên ykhoanet.com.

Năm nay kỉ niệm 7 năm ykhoanet.com chào đời và góp tiếng nói y khoa ở Việt Nam. Mối thâm tình giữa tôi và các anh em trong ykhoanet.com chỉ mới vài năm gần đây, nhưng đã ghi được nhiều dấu ấn quan trọng. Có nhiều bạn thắc mắc chẳng biết những gì chúng tôi làm trên ykhoanet.com có đem lại lợi ích cá nhân gì không. Đôi khi chúng tôi thấy câu hỏi hơi … xúc phạm. Câu trả lời đơn giản và thằng thắn là: không. Chúng tôi làm việc hoàn toàn tự nguyện. Ở ngoài này, trong giờ làm việc chúng tôi là người của cơ quan, của đại học, của viện nghiên cứu, nhưng sau giờ làm việc (phần lớn là ban đêm và ngày cuối tuần) chúng tôi làm việc vì Việt Nam, vì bạn bè, vì đồng nghiệp, và vì lợi ích cộng đồng. Nhìn lại một năm làm việc tôi thấy mình đã nói được những điều mình muốn nói, và rất vui khi biết ý kiến mình có người chú ý theo dõi hay lắng nghe.

Nhân dịp cuối năm dương lịch, và cũng là lúc năm con chuột sắp đến, tôi chân thành kính chúc các bạn và các đồng nghiệp một năm mới nhiều an lành và nhiều may mắn.

TB. Cuối cùng, xin các bạn thông cảm trong bài ê a này tôi sử dụng nhiều “tôi” – cái tôi đáng ghét. Nhưng biết sao đây, khi đó là ý kiến cá nhân, tức là ý kiến của … tôi.

No comments: