Thursday, April 26, 2007

Định hướng giáo dục mới: biến hai đại học quốc gia thành trọng điểm.

http://vietnamnet.vn/giaoduc/2007/04/689145/

ĐHQG phải là "trọng điểm của trọng điểm"
22:51' 26/04/2007 (GMT+7)


(VietNamNet) - Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: phải xây dựng ĐHQG TP HCM và Hà Nội thành hai trường "trọng điểm của trọng điểm".

Sáng 26/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến thăm và làm việc với các cán bộ chủ chốt của ĐHQG-HCM. Trước khi cùng làm việc với đại diện trường, Thủ tướng và đoàn công tác đã đến thăm và thị sát khu vực quy hoạch xây dựng ĐHQG-HCM tại Thủ Đức - Dĩ An: Khu công nghệ Phần mềm, Cơ sở Linh trung - ĐH Tự nhiên, Đường Bắc-Nam và đường Đông-Tây, KTX.
2010: 50% lao động qua đào tạo


Báo cáo với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn công tác, GS-TS Phan Thanh Bình, Giám đốc ĐHQG-HCM cho biết: "Trong những năm tới, ĐHQG-HCM sẽ phát triển nhanh đào tạo sau ĐH, giữ quy mô đào tạo ĐH và ngày càng thu hẹp đào tạo CĐ. Năm 2010, ĐHQG-HCM sẽ chấm dứt đào tạo CĐ."


Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHQG-HCM là phát triển các chương trình đào tạo có chất lượng cao như chương trình kỹ sư, cử nhân tài năng; chương trình kỹ sự Việt - Pháp.... Dự kiến số SV sau ĐH chiếm 20% quy mô đào tạo của toàn trường, số chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng nước ngoài chiếm tỷ lệ 10-15%.


Công việc tiếp theo mà ĐHQG-HCM sẽ thực hiện là xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị hiện đại đạt chuẩn quốc tế để phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.


Về xây dựng đội ngũ, đến năm 2010, trường sẽ có khoảng 2.500 cán bộ giảng dạy, nâng tỷ lệ sinh viên trên giảng viên là 20SV/1CBGD; tối thiểu 80% cán bộ có trình độ sau đại học. Trong đó 100% cán bộ lên lớp có trình độ sau đại học, có không dưới 50% là tiến sĩ.


Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, nguồn lực lớn nhất của Việt Nam hiện nay là con người. Để đất nước phát triển, không có cách nào khác là đẩy mạng giáo dục đào tạo. Sức mạnh quốc gia phụ thuộc vào dân trí.


Thủ tướng nêu lên một thực trạng: Việt Nam mới có khoảng 27% lao động qua đào tạo, trong khi nhiều nước trong khu vực con số này là 50%. Vì thế, Thủ tướng đưa ra mục tiêu: "Chúng ta phải phấn đấu 50% lao động qua đào tạo vào 2010."


Trong những năm tới, Chính phủ sẽ dồn sức cho 3 khâu: Cải cách hành chính; đẩy mạnh giáo dục đào tạo gắn với nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và hát triển hạ tầng.


Tự chủ cao hơn


Để thực hiện được chiến lược phát triển của mình, Giám đốc ĐHQG-HCM đã kiến nghị Thủ tướng chính phủ cho trường tiếp tục thực hiện nhất quán quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG. Theo đó, ngoài quyền tự chủ lâu nay dành cho các trường quốc gia vẫn được thực hiện sẽ bổ sung thêm những quy chế hoạt động cần thiết.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo, ĐHQG-HCM cần rà soát lại quy chế hoạt động, các nghị định để xem những quy chế nào còn phù hợp, những quy chế nào cần bổ sung theo hướng phân cấp quản lý. Thủ tướng cũng cho biết, sắp tới Thủ tướng sẽ làm việc tiếp với ĐH quốc gia Hà Nội. Hai ĐHQG sẽ rà soát lại, để chỉ đạo sửa đổi hoặc bổ sung quy chế, phân cấp quản lý, tạo điều kiện cho các trường này tự chủ nhiều hơn nhưng trách nhiệm cũng cao hơn.


GS-TS Phan Thanh Bình còn mong muốn Thủ tướng và các Bộ hữu quan quan tâm tạo điều kiện để ĐHQG-HCM có thể xây dựng thành công Khu công nghệ phần mềm trong Khu đại học đầu tiên của cả nước. Sau khi nghe các Bộ trưởng: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch đầu tư...đóng góp ý kiến, Thủ tướng đã đồng ý để khu Công nghệ phần mềm hoạt động như một doanh nghiệp.


"Trọng điểm của trọng điểm"

Năm 2013 sẽ là thời hạn chót để ĐHQG-HCM hoàn tất dự án xây dựng và phát triển thành một ĐH trọng điểm. Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc vẫn là nguồn vốn để thực hiện dự án này. Theo kế hoạch của dự án, từ nay đến năm 2013, ĐHQG-HCM cần 5.800 tỷ để hoàn thành việc xây dựng cơ bản.
Tuy nhiên, trong buổi làm việc sáng nay, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư cho biết sẽ khó có đủ kinh phí để đầu tư. Chính vì thế, phương án xã hội hoá giáo dục, kêu gọi đầu tư được nhiều đại biểu đề ra. Thủ tướng gợi mở: "Tùy từng hạng mục, sẽ thu hút theo nhiều hình thức, từ ngân sách, xã hội hóa, vốn ODA hoặc liên hết với các đơn vị nước ngoài. Các ĐH Quốc gia cũng nên xem xét thành lập chi nhánh ở những khu vực khác, đơn cử như Tây Nguyên để tạo điều kiện cho sinh viên dễ theo học và giảm tải về nhà ở, giao thông cho các thành phố lớn và địa phương lân cận."


Một trong những khó khăn mà ĐHQG đang gặp phải là giải phóng mặt bằng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ đao dứt khoát: "Việc giải phóng mặt bằng giao về cho địa phương thực hiện, cụ thể là UBND TP.HCM và tỉnh Bình Dương. Trong năm 2007 phải dứt điểm giải phóng mặt bằng. Hiện trong phần mặt bằng cần giải phóng có 4 doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không di dời thì phải giải thể và nhà nước sẵn sàng chi ngân sách để đảm bảo đời sống người lao động. "
Về vấn đề học phí, GS-TS Phan Thanh Bình kiến nghị: "Chất lượng đào tạo phải đi đôi với kinh phí đầu tư. Vì vậy, mong Thủ tướng cho phép ĐHQG-HCM thí điểm điều chỉnh mức học phí sao cho phù hợp."


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: "Sẽ có một quy chế học phí chung cho cả nước. Tuy nhiên, ĐHQG-HCM sẽ được thí điểm điều chỉnh mức thu học phí.". Thủ tướng còn đưa ra tiêu chí: Hộ nghèo được miễn giảm học phí; hộ thoát nghèo sẽ được giải quyết vay học phí (việc này sẽ được thực hiện vay tại trường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học); còn lại sẽ phải đóng tiền học. Những SV giỏi, xuất sắc sẽ được cấp học bổng.


Kết thúc buổi làm việc, Thủ tướng "chốt" lại về 2 ĐHQG: "Bộ Giáo dục Đào tạo cần xác định đây là 2 trường trọng điểm, mũi nhọn của ngành. Hai đại học phải có sự đầu tư đúng mức để có hướng đào tạo chất lượng đẳng cấp quốc tế. Sinh viên sau tốt nghiệp, dù sang Singapore, Thái Lan, Mỹ hay bất cứ nước nào cũng sử dụng tốt từ ngoại ngữ đến chuyên môn. Mục tiêu là biến hai ĐH thành hai trung tâm đào tạo chất lượng cao, trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ, liên kết đào tạo theo bằng cấp quốc tế."
Xin giới thiệu cuốn sách mới của tôi “Phân tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R” do nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật phát hành vào đầu năm 2007. Nội dung sách gồm 15 chương và 3 phụ lục, kể cả danh mục thuật ngữ tiếng Anh và Việt. Bạn đọc nào quan tâm đến nghiên cứu khoa học và phân tích số liệu có thể tìm trong sách rất nhiều ví dụ có ích và thực dụng.

Sách dài khoảng 370 trang, giá chỉ 42.000Đ. Bạn đọc có thể liên lạc với nhà xuất bản KH&KT tại địa chỉ:

số 28, Đồng Khởi, Q1, TPHCM
số điện thoại 822-5062, 829-0228, 829-6628
liên lạc: Vy Lan, Trịnh Quang Trung, và Đoàn Thanh Điền

Việt Nam có bao nhiêu nhân lực khoa học công nghệ

Các con số thống kê được trích từ bài này của ông Nguyễn Hoàng Hải:

http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2503 (tháng 4/2007)

ĐÔI ĐIỀU VỀ THỐNG KÊ NHÂN LỰC KH &CN

• Sách KH&CN Việt Nam 1996-2000 (tr.49) có ghi: Tính tới tháng 12.2000, Việt Nam đã có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật (CNKT); trên 1,3 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng (ĐH-CĐ); trên 10.000 ThS, 12.691 TS và TSKH, trong đó có 610 TSKH. Bình quân có 190 cán bộ KH&CN trên 10.000 dân.

• Theo Sách KH&CN Việt Nam 2003 (tr.62): Tính đến cuối năm 2003, đội ngũ cán bộ KH&CN tiềm năng của Việt Nam ước tính khoảng 2 triệu người có trình độ ĐH-CĐ trở lên, trong đó có 14.000 TS và 20.000 ThS.

• Sách KH&CN Việt Nam 2001-2005 (tr.58) đã nêu: Hiện nay, nước ta có khoảng trên 2,2 triệu người có trình độ từ ĐH-CĐ trở lên. Tuy nhiên, số người làm việc trong khu vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) ước tính khoảng 21.000 người. Trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 3.1999, trong bài viết “Nhân lực KH&CN ở nước ta - Vấn đề cần quan tâm”, tác giả đã chỉ ra số lượng nhân lực KH&CN qua các thời điểm như sau:

• Tổng điều tra dân số 1.4.1989: Tổng nguồn nhân lực đào tạo ở các cấp trình độ là 2.796.674 người, trong đó trên đại học là 8.487 người; ĐH-CĐ là 561.978 người; CNKT có bằng là 681.030 người và không có bằng là 542.558 người.

•Tháng 7.1995, Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp (không tính an ninh quốc phòng, hợp tác xã nông nghiệp...), kết quả cho thấy: Trình độ ĐH-CĐ trở lên có 646.111 người, trung học chuyên nghiệp (THCN) có 749.520 người, CNKT có bằng là 540.032 người (tổng số nhân lực điều tra đợt này là 6.745.305 người).

• Theo một số nguồn tư liệu khác nhau, cho đến nay nước ta có hơn 800.000 lao động có trình độ đại học và tương đương, trong đó có gần 600 TS, hơn 11.000 PTS và hơn 45.000 cán bộ làm trong khu vực R&D, khoảng 20.000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực sản xuất.• Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 1995 nước ta có 3.156.713 lao động được đào tạo ở các trình độ khác nhau. Trong số đó, ĐH-CĐ chiếm 20,2%, THCN chiến 36,3%, CNKT có bằng chiếm 24,5% và không bằng cấp chiếm 19%.

• Theo số liệu của Vụ Khoa học, Giáo dục và Môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), năm 1995 nước ta có 34.530.000 lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, trong đó, ĐH-CĐ là 759.577 người, THCN có 1.240.730 người, CNKT có 2.769.300 người.Báo cáo “Vietnam at the Crossroads - The Role of Science and Technology” - do nhóm nghiên cứu của Trung tâm IDRC, Canada thực hiện (xuất bản thành sách năm 1999), đã đưa ra con số thống kê về nhân lực KH&CN (S&T Personnel) là 22.313 người1. Theo nguồn thống kê của Văn phòng đăng ký hoạt động KH&CN, năm 1999, tổng số nhân lực R&D trong thời điểm năm 1998 là 29.285 (tham khảo từ công trình “Vietnam’s Research & Development System in the 1990s - Structure and Functional Change” của TS Đặng Duy Thịnh kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu WZB của Cộng hoà Liên bang Đức, năm 2000).Qua việc điểm lại những con số thống kê về nhân lực KH&CN, một cách tổng thể cho thấy:

• Chưa có sự thống nhất về khái niệm, phương thức và tiêu chí thống kê giữa các tổ chức, cá nhân nghiên cứu về nhân lực KH&CN. Có tài liệu chỉ thống kê tổng số nhân lực có trình độ, có tài liệu đề cập đến nhân lực KH&CN, tài liệu khác lại nêu ra số liệu về nhân lực R&D. Điều này gây ra nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách liên quan đến nhân lực KH&CN vì tính kế thừa và liên hệ giữa các số liệu đưa ra từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu chính thức của Nhà nước là rất thấp.

• Chưa thấy số liệu thống kê thống nhất do cơ quan có thẩm quyền chính thức công bố, như: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ KH&CN. Các số liệu thống kê được sử dụng đều mang tính chất tham khảo.