Thursday, May 31, 2007

Chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa không nhỏ

Bài này đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày hôm qua:
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=94&Sobao=859&sott=32
Nhưng vì hạn chết "đất" nên ban biên tập cắt nhiều quá. Đây là bản gốc:

====

Hôm nọ một đồng nghiệp người Úc với điệu bộ hớt hải đến hỏi tôi: “Này, ông có biết là giáo sư N mới bị mất việc không?” Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe “hung tin”, bởi vì giáo sư N (với thâm niên công tác tại một trường đại học lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 năm qua) vẫn liên lạc và trao đổi với tôi khá thường xuyên, nếu anh mất việc hay nghỉ hưu thì chắc chắn anh ấy báo cho tôi biết. Tôi tò mò hỏi vị đồng nghiệp rằng làm sao ông biết, thì ông cầm bản in email của giáo sư N gửi cho ông và nói: “Đây này, ông ấy gửi thư cho tôi qua địa chỉ yahoo, chứ không qua địa chỉ của trường nữa!” Tôi hiểu ra câu chuyện. Thấy ngại phải giải thích đầu đuôi câu chuyện mà tôi cho rằng chẳng hay ho gì, nên chỉ nói ngắn gọn rằng giáo sư N vẫn còn làm việc và có lẽ vì một lí do nào đó nên phải sử dụng địa chỉ email công cộng.

Cái “lí do gì đó” là điều mà anh N đã từng phàn nàn bấy lâu nay về hệ thống internet của trường đại học không đáng tin cậy, quá chập chờn. Đã nhiều lần, anh không thể nhận email từ đồng nghiệp nước ngoài gửi đến chỉ vì hệ thống internet của trường bị chết hay có sự cố. Có khi là những email có nhiều thông tin chuyên môn quan trọng. Do đó, anh N quyết định sử dụng địa chỉ email từ yahoo, và điều này đã gây ra không ít hiểu lầm ở đồng nghiệp và bè bạn nước ngoài.

Ở các nước Âu Mĩ hay ngay cả các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai và Singapore, các giáo sư và nhân viên làm việc trong đại học, các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp chính thức, v.v… đều được cung cấp địa chỉ email chính thức. Chỉ cần nhìn vào địa chỉ email của người gửi, người nhận có thể biết được cơ quan người đó đang công tác ở đâu, và nếu cần, có thể tìm hiểu chức vụ của người gửi. Chẳng hạn như chỉ nhìn vào email với địa chỉ peter.smith@unsw.edu.au (chỉ là ví dụ), người ta có thể biết người gửi là Peter Smith đang công tác tại cơ quan có địa chỉ internet là www.unsw.edu.au và nếu truy nhập vào website này sẽ thấy đây là trường Đại học New South Wales (Sydney, Úc). Nếu cần tìm hiểu chức vụ của người gửi, chỉ cần truy nhập website www.unsw.edu.au và nhấn nút “search” (tìm) thì có thể biết thêm Peter Smith đang làm việc tại khoa nào, chức vụ gì, và lĩnh vực chuyên môn là gì.

Tuy nhiên, các website lớn như yahoo.com, hotmail.com (của tập đoàn Microsoft), gmail.com (của Google), v.v… cũng cung cấp những hộp thư điện thử miễn phí, nhưng kèm theo vài điều kiện mang tính pháp lí tương đối nhỏ. Vì là những nơi công cộng, cho nên bất cứ ai cũng có thể đăng kí cho mình một hộp thư và có thể lấy bất cứ tên gì trong địa chỉ email, kể cả những cái tên quái gở. Trong thực tế, không ít người có đến hàng chục địa chỉ email công cộng để sử dụng cho các mục tiêu [có khi bất chính] khác nhau. Do đó, nhìn địa chỉ của người gửi như petersmith@yahoo.com hay peter_smith@hotmai.com thì không thể biết người gửi có thật sự là Peter Smith hay không, và không biết tư cách của người gửi ra sao. Nếu ông Nguyễn Vạn Phú của Thời báo Kinh tế Sài Gòn liên lạc với cộng tác viên nước ngoài qua hộp thư yahoo thì chắc chắn người nhận sẽ phải rất dè dặt không biết đây là ông Nguyễn Vạn Phú nào.

Địa chỉ email chính thức do đó là một “biểu tượng” về uy tín và địa vị của người gửi. Dù biết rằng nhận xét đó có lẽ nói hơi quá lời, nhưng đó là một thực tế. Thử tưởng tượng nếu tổng thống Bush sử dụng địa chỉ email từ yahoo hay hotmail mà không từ whitehouse.gov thì người ta sẽ nghĩ sao. Nếu một luật sư liên lạc với khách hàng mà sử dụng địa chỉ email từ các địa chỉ công cộng thì chắc chắn chẳng thân chủ nào dám làm ăn với văn phòng luật sư đó. Nếu một tập đoàn đòi đầu từ 30 tỉ USD mà không có đến một website chính thức thì nói ai nghe.

Người viết bài này là thành viên của một số tập san y học ở Mĩ, và biết rằng chính sách của tập san là nếu tác giả gửi bài từ các địa chỉ công cộng thì sẽ được yêu cầu gửi thêm bằng đường bưu điện để có thể xác nhận chắc chắn danh tính của người gửi. Thành ra, không ngạc nhiên chút nào khi một giáo sư mà liên lạc với đồng nghiệp nước ngoài qua địa chỉ email công cộng như yahoo.com hay hotmail.com thì người nhận cũng dè dặt không biết có phải thật sự là đồng nghiệp mình hay là ai đó giả mạo thư.

Một điều đáng buồn là rất nhiều email mà tôi nhận được từ bạn bè và đồng nghiệp từ Việt Nam là xuất phát từ các địa chỉ công cộng. Những người sử dụng địa chỉ công cộng không chỉ giới hạn trong sinh viên, học sinh, mà còn là những hiệu trưởng và phó hiệu trưởng đại học, giáo sư đại học, vụ trưởng và thứ trưởng các bộ (kể cả các bộ được xem là “tứ trụ” của quốc gia), v.v… Cầm một tấm danh thiếp của một quan chức với đủ thứ học vị, học hàm, và li ti những chức vụ quan trọng, nhưng kèm theo địa chỉ email công cộng, tôi cảm thấy lúng túng. Nếu tôi giới thiệu một quan chức với người nước ngoài với một địa chỉ email như thế, họ sẽ nghĩ gì? Chắc chắn họ sẽ ngạc nhiên. Một đại học lớn mà không có website chính thức để hiệu trưởng phải sử dụng “email chùa”! Một bộ giáo dục hay bộ ngoại giao đại diện một quốc gia mà chẳng lẽ không có một website để các quan chức cao cấp phải sử dụng địa chỉ email công cộng ư? Chuyện khó tin quá!

Thật ra, các đại học và bộ ở nước ta đều có website. Nhưng có website là một chuyện, sử dụng website cho việc gì là một chuyện khác. Một website hữu dụng phải là một trung tâm thông tin và trung tâm cung cấp dịch vụ thông tin. Lấy ví vụ các đại học bên Mĩ, Âu châu hay Úc, website của họ không chỉ cung cấp thông tin về chương trình đào tạo, thành tựu nghiên cứu khoa học, mà còn là một thư viện điện tử, một trung tâm cung cấp dịch vụ internet cho các giáo sư và nhân viên của trường, kể cả dịch vụ cơ bản nhất là email.

Nhưng thấy gì qua các website của các đại học và bộ ở nước ta? Có thể nói ngay rằng phần lớn (không phải tất cả) các website hình như lập ra cho có, chứ không mang chức năng cung cấp thông tin thiết thực về hoạt động của cơ quan. Thật ra, rất nhiều website cung cấp những thông tin mà đồng nghiệp nước ngoài không muốn đọc (như cơ cấu tổ chức của khoa, ban, ngành), nhưng những thông tin họ cần biết thì lại không có trong các website (như thông tin về công trình nghiên cứu, bài giảng, và chương trình đào tạo)! Thậm chí, có website chỉ có thể mô tả là website chết, vì không có cập nhật hóa. Lại có nhiều website tuy mang tiếng là cơ quan thông tin chính thức của bộ hay trường đại học, nhưng lại được thiết kế thiếu tính nghiêm túc, mà tràn đầy với nhiều hình ảnh màu mè, những hoạt cảnh nhảy nhót, cứ như là những website của các công ti thương mại hay các website do học sinh tiểu học thiết kế!

Hệ quả là các quan chức, kể cả quan chức cao cấp, không sử dụng email từ website của cơ quan mình. Một website của một trường đại học hay bộ mà không cung cấp cho cán bộ, nhân viên của mình một địa chỉ email chính thức thì chỉ có thể nói là vô dụng, là một sự bôi bác cho trình độ công nghệ thông tin nước nhà.

Internet và email đã và đang trở thành một phương tiện liên lạc cực kì hữu hiệu và càng ngày làm cho cộng đồng thế giới thu nhỏ lại hơn và gần với nhau hơn. Nước ta đang trên đường hội nhập quốc tế, và các quan chức nước ta là những người đại diện cho quốc gia Việt Nam cần phải được trang bị với những phương tiện liên lạc cơ bản như email, nhưng phải là địa chỉ email chính thức từ các website Việt Nam. Email là chuyện quá nhỏ, nhưng ý nghĩa của nó không nhỏ chút nào, nhất là đối với các đối tác nước ngoài, bởi vì nó phản ảnh một phần bộ mặt và sỉ diện quốc gia.

Vài cảm nhận về nghệ thuật cải lương

Hồi nhỏ tôi lên tỉnh học tôi rất sợ thố lộ là mình mê cải lương, vì sợ bọn học trò thành thị chúng nó cứ xúm lại chê mình “quê” thì kì lắm. Nhưng sau này tôi thấy có gì đâu mà phải quê với không quê, bởi vì mình xuất thân từ nhà quê mà! Phải tự hào là dân nhà quê mới đúng chứ. Do đó, khi lên lớp đệ nhất hay đệ nhị (tức là lớp 11 hay 12 bây giờ) tôi không còn dấu diếm là mình thích nghe cải lương. Theo tôi cải lương mới chính là linh hồn của dân tộc, là nghệ thuật của Việt Nam; còn tân nhạc thì mình chỉ bắt chước Tây thôi, đâu phải của mình. Mà, đã bắt chước người thì không thể nào bằng người được.

Hồi đó tôi thích nhiều nghệ sĩ lắm, nhưng có lẽ Bạch Tuyết là người tôi nghe nhiều nhất. Không phải vì chị ta được bầu là “Cải lương chi bảo” đâu mà vì giọng ca đặc biệt tình cảm của chị. Cho đến bây giờ tôi vẫn xem Bạch Tuyết là nghệ sĩ cải lương số 1. Sau đây là mấy hàng tôi viết về BT nhân dịp xem qua vở tuồng Kim Vân Kiều. NVT

===

Nhạc sĩ Phạm Duy có một câu nhạc rất hay: Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời / Mẹ hiền ru những câu xa vời (Tình ca). Cái “tiếng nước tôi từ khi mới ra đời” với tôi chính là những làn điệu vọng cổ đã có mặt và tồn tại ở miền Nam từ hơn 100 năm qua [1]. Những làn điệu vọng cổ như lời hát ru của mẹ, đã đi vào tâm tưởng tôi một cách tự nhiên như tiếng nói, hơi thở, và trở thành hành trang tinh thần cho tôi cả 50 năm nay (và chắc chắn trong quãng đời còn lại).

Như cá sống trong nước, khi không có nước mới biết nước là cực kì cần thiết cho sự sống của mình, sinh ra và lớn lên với những câu hát, câu hò vọng cổ, tôi không cảm thấy trân quí những câu ca mà có người diễu cợt là “cải lương” đó. Nhưng từ khi đi định cư ở nước ngoài, một thời gian dài gần hai mươi năm tôi không có dịp nghe vọng cổ, mới thấy như mình thiếu một cái gì rất gần. Những câu hát rớt lướt thướt và ngậm ngùi như những mái chèo khuấy động dòng sông mặn mà trong đêm trăng sáng đưa lời ca tiếng nhạc chập chùng theo sóng nước đi xa tắp, mất hút sau rặng trâm bầu … tưởng như là những câu hát “tự tại”, nhưng khi vắng rồi mới thấy mình nhớ nhung da diết:

Tôi đã ra đi theo bải gió ghềnh trăng,
hay giữa đô thành hoa mộng;
Nhưng tôi quên làm sao khúc nhạc đồng quê
với tiếng hò tha thiết lẫn tiếng hát ru con não nuộc giữa đêm … tàn.
Mấy dãy bàng thưa lẳng lặng đứng mơ màng;
ánh trăng khuya trên nền trời trong vắt,
đang êm đềm soi lạnh bến đò ngang.
Nửa khuya rồi ai đứng nhìn trăng nghe tiếng chèo khua,
có tưởng nhớ một người bụi giang hồ đã nãn gót phiêu linh,
sao chưa thấy phản hồi nơi làng xưa cảnh cũ.

(Khúc nhạc đồng quê, Văn Hường ca).

Hơn ba mươi năm trước tôi lên tỉnh theo học trung học và cùng ba đứa em họ ở trọ trong một căn nhà khá rộng và thoáng. Hành trang của tôi lúc đó là cái radio hiệu Philip và những cuộn băng … cải lương. Những tuồng thuộc loại cổ điển như Lục Vân Tiên, Đắc Kỷ thọ hình, Lá trầu xanh, Phạm Công Cúc Hoa, Lưu Bình - Dương Lễ, Ni cô Diệu Liên, đến những tuồng dã sử như Áo vũ cơ hàn, Đêm lạnh chùa hoang, Đợi anh mùa lá rụng, Chuyện tình An Lộc Sơn, v.v… tôi đều nằm lòng! Thuở đó tôi không để ý đến ý nghĩa của tuồng, mà chỉ thích nghe hát. Sau này mới thấy mỗi tuồng cải lương đều hàm chứa một thông điệp về đạo đức xã hội – gia đình, và nhất là tình tự dân tộc. Mỗi tuồng cải lương dù gây cấn và éo le cách mấy cũng đều được kết thúc bằng một “đoạn kết có hậu” và mở ra một tia sáng mới. Người ngay thẳng, chính trực luôn luôn chiến thắng kẻ gian tà, cho dù phải trải qua trăm đắng ngàn cay. Cho đến nay, nghe lại những tuồng cải lương bất hủ trong thập niên 1970s, tôi thấy cái thông điệp đạo đức không hề lỗi thời chút nào. Nghệ thuật cải lương còn có một sức quyến rũ cực kì lớn, vì nó có khả năng khai thác, khám phá những góc tối, những nơi sâu kín trong tâm hồn con người, thậm chí lột trần được những mặt trái thối tha, tha hóa của con người.

Nhiều người, nhất là giới trẻ, không thích cải lương, vì họ cho rằng loại hình nghệ thuật này mang tính bi lụy, dìm người xem và nghe trong nước mắt. Nhưng tôi nghĩ nhận xét này không chính xác. Trong thực tế, nghệ thuật cải lương rất phong phú với hàng trăm bài bản, cách hát, có khả năng thể hiện những hỉ, nộ, ái, ố của con người. Ấn tượng về bi lụy có lẽ xuất phát từ những vở tuồng nổi tiếng như Đời cô Lựu, Tuyệt tình ca, hay Nửa đời hương phấn, mà nội dung là những câu chuyện éo le, buồn bã. Nhưng cải lương cũng có những vở tuồng để đời không mang tính bi lụy như Thái hậu Dương Vân Nga, thậm chí mang tính cách mạng như Đoạn tuyệt. Cải lương còn có thể diễn đạt cả kinh Phật như trong một DVD gần đây, Bạch Tuyết (có sự đóng góp của Lệ Thủy) đã chuyển lời kinh Pháp cú thành một trường ca cải lương. Tôi xem tác phẩm này của Bạch Tuyết như một tác phẩm để đời.

Có người cho rằng cải lương có vẻ khuếch đại quá. Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, trong cải lương có kịch tính (dĩ nhiên), có cường điệu hóa. Những ai xem qua Tuyệt tình ca có lẽ hơi “bực mình” vì thấy người vợ cũ không nhận ra ông chồng dù chỉ mới 20 năm xa cách, và đúng là tính cách của … cải lương. Nhưng khác với các loại hình nghệ thuật như tân nhạc hay hát chèo, cải lương còn mang tính chân chất, rất gần gũi với cách nói của người dân. Người ta có thể đang nói chuyện và vào câu vọng cổ một cách tự nhiên (không cần phải uốn giọng như hát bội hay tân nhạc). Thành ra, có thể nói cải lương là một nghệ thuật hát nói.

Vì là nghệ thuật hát nói, nên nghệ sĩ cải lương phải có chất giọng tốt. Về giọng hát, cải lương Việt Nam không bao giờ thiếu những nghệ sĩ tài ba. Có lẽ nói không ngoa rằng thập niên 1960 đến 1970s là thời vàng son của sân khấu cải lương, với sự xuất hiện của nhiều ngôi sao sáng chói mà cho đến nay đóng góp của họ đã trở thành một di sản văn hóa nghệ thuật. Thời đó, mỗi nghệ sĩ làm chủ một phong cách, chiếm lĩnh một giọng hát mà khi xem và nghe khán giả không thể nào lầm lẫn được. Từ những giọng ca mộc mạc của “Vua vọng cổ” Út Trà Ôn, đến những giọng ca mượt mà của Hữu Phước, trong trẻo của Thành Được, êm dịu của Hùng Cường, trầm ấm của Tấn Tài và Minh Cảnh, trong veo của Minh Phụng, réo rắt của Minh Vương, truyền cảm của Thanh Sang, hài hước của Văn Hường, ray rức của “sầu nữ” Út Bạch Lan, buồn man mát của Ngọc Giàu, ấm áp của Hồng Nga, sang trọng của Thanh Nga, liêu trai của Mỹ Châu, chứa chan của Phượng Liên, giọng thổ tha thiết của Lệ Thủy, ngọt ngào của Bạch Tuyết, v.v… (khó mà kể ra hết ở đây!) Những giọng ca mà nói theo Nguyễn Du là mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười, khó mà nói chất giọng của ai hay hơn ai.

Trong các nghệ sĩ thời đó, Bạch Tuyết là người tôi có ấn tượng nhiều nhất. Nếu nói tôi là “fan” của Bạch Tuyết cũng không sai. Báo chí Sài Gòn lúc đó từng trìu mến gọi Bạch Tuyết là “Cải lương chi bảo”, một danh xưng mà tôi nghĩ rất xứng đáng với tài năng của chị. Lúc đó tôi không biết gì về người nghệ sĩ tài hoa này, mà chỉ biết qua những tuồng cải lương chị thủ diễn. (Tôi gọi “chị” vì đoán là Bạch Tuyết hơn tôi khoảng năm bảy tuổi). Sau này đọc sách mới biết Bạch Tuyết quê quán ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, tức “dân miền Tây thứ thiệt”. Có lẽ vùng đất sông nước và đời sống chất phác bên bờ ruộng nương khoai này đã tạo cho Bạch Tuyết một phong cách hát và diễn rất thật của người dân quê Nam bộ.

Mấy năm gần đây có dịp về nước, tôi nghe lại và xem các vai diễn của Bạch Tuyết trong các vở tuồng sáng tác sau năm 1975, mà lòng hâm mộ vẫn không suy giảm chút nào. Tôi thấy tiếng hát của chị bây giờ có vẻ còn điêu luyện hơn, tự tin hơn, thoải mái hơn vài thập niên trước đây. Nghe Bạch Tuyết hát, tôi có cảm giác như người nghệ sĩ hoàn toàn làm chủ cách nhả chữ, gieo câu, hoàn toàn điều khiển làn điệu trầm bổng, luyến láy như người giáo sư đứng trên bục giảng làm chủ bài giảng của mình. Cách phát âm chuẩn xác theo cách nói của người miền Nam làm cho người nghe rất gần gũi với cảm xúc của câu chuyện người nghệ sĩ muốn truyền đạt. Nghe Bạch Tuyết hát vọng cổ tôi có cảm giác hình như chị được sinh ra chỉ để … hát vọng cổ!

Nhưng nghe Bạch Tuyết hát không thích bằng xem chị diễn trên sân khấu. Đã nhiều lần, từ thuở còn là học sinh cho đến nay, Bạch Tuyết đã làm cho tôi phải nhiều lần sụt sùi trong các vở tuồng để đời như Đời cô Lựu, Nguyệt khuyết, Tuyệt tình ca, v.v… và sau này là những tuồng Kim Vân Kiều, Má hồng phận bạc, Hoàng hậu của hai vua, v.v… Tôi xem đi xem lại vở tuồng Nguyệt khuyết cả chục lần, và càng xem tôi càng thán phục Bạch Tuyết trong vai người đàn bà góa phụ, người mẹ, người bệnh trong nhà thương một cách rất thật, như là chính chị đã hóa thân mình vào nhân vật ngoài đời. Xem Kim Vân Kiều mới thấy Bạch Tuyết nhập vai một nàng Kiều tài hoa nhưng bạc phận một cách suất sắc, làm mê hoặc khán giả từ đầu chí cuối vở tuồng. Viết về Bạch Tuyết, Nhà văn Sơn Nam có một nhận xét chính xác rằng “Bạch Tuyết là nghệ sĩ định hình ... Cô có nét quyến rũ, đưa người nghe, người xem vào thế giới riêng, mà thực và mộng không có ranh giới nữa.

Mấy năm gần đây, công chúng tỏ ra quan tâm về sự suy sút của nghệ thuật cải lương ở trong nước, và tôi nghĩ quan tâm này cũng có cơ sở. Tôi đã xem qua khá nhiều tuồng cải lương gần đây do các nghệ sĩ trẻ trình diễn. Tuy các nghệ sĩ trẻ ngày nay có chất giọng cực kì tốt, nhưng hình như họ chưa tạo cho mình một phong cách hay một làn hơi riêng như những người đi trước trong thập niên 1960 – 1970. Rất khó phân biệt giọng ca của các nghệ sĩ trẻ bây giờ vì họ đều có giọng hát giông giống nhau. Tuồng cải lương ngày nay có vẻ nhiều hơn trước, nhưng chất lượng thì không cao như khán giả kì vọng. Một số vở tuồng được dàn dựng, theo tôi là, quá hấp tấp và chất lượng nghệ thuật giống như một tác phẩm loại “mì ăn liền”. Cũng có thể đây là “thời kì quá độ” để nghệ thuật cải lương Việt Nam tìm một định hướng mới hơn.

Có người cho rằng cải lương không còn khả năng thu hút khán giả trẻ như thời thập niên 1970s. Nhưng lấy kinh nghiệm cá nhân, tôi có thể nói nghệ thuật cải lương sẽ phát triển trong tương lai, khi đời sống kinh tế được nâng cao và người ta sẽ tìm về những giá trị văn hóa dân tộc, trong đó có nghệ thuật cải lương. Thuở còn đi học, dù rất mê cải lương, tôi ít khi nào dám thố lộ với bè bạn vì sợ bị chê là “dân cải lương”, tức đồng nghĩa với quê mùa. Nhưng bây giờ tôi lại thấy cải lương mới đích thực là một nghệ thuật của dân tộc, và không ngần ngại nói tôi yêu cải lương.

Thật ra, đó cũng chỉ là một tình cảm tự nhiên. Càng sống trong thế giới văn hóa của người khác, người ta có khao khát tìm về nguồn cội, về bản sắc văn hóa của mình, mà cải lương là một bản sắc văn hóa dân tộc. Ở phương Tây người ta có nghệ thuật opera, một loại hình nghệ thuật thuộc vào hàng trưởng giả; còn ở Việt Nam chúng ta có hát bội, chèo, và cải lương thu hút mọi thành phần trong xã hội. Nói như một số nhà phê bình văn học Tây phương, nếu hát bội phản ánh chủ nghĩa anh hùng, chèo nói lên cái trào lộng, thì cải lương thể hiện cái trữ tình của dân tộc.

Giới trẻ trong nước ngày nay thích chạy theo phong trào nhạc hip hop, và một ngày nào đó trong tương lai, họ cũng sẽ như giới giới trẻ ở nước ngoài hiện nay đang có xu hướng về nguồn và tìm về với tình tự dân tộc qua các giai điệu cải lương. Tất cả các nghệ sĩ cải lương trong nước ra ngoài trình diễn đều được đón nhận nồng nhiệt. Có người phải lái xe hàng trăm cây số chỉ để nghe lại những “giọng ca vàng” một thời như Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Thanh Sang. Đáng chú ý là trong thời gian 5 năm qua, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, nhiều “ngôi nhà” cải lương đã xây dựng trong xa lộ internet [1], cung cấp cho giới hâm mộ nhiều thông tin có ích. Khán giả thậm chí có thể nghe và xem một số trích đoạn cải lương trực tuyến.

Theo tôi nghệ thuật cải lương là một trong những bộ môn nghệ thuật thuần Việt Nam. Chỉ người Việt Nam mới có vọng cổ. Nó cần phải được bảo tồn và phát huy thành một môn “vọng cổ học” hay “cải lương học” nghiêm chỉnh. Qua theo dõi báo chí, tôi còn biết Bạch Tuyết đã bảo vệ xong luận án tiến sĩ nghệ thuật sân khấu ở Bungari. Hi vọng nghệ thuật cải lương sẽ được “hàn lâm hóa” nay mai khi một đội ngũ nhà nghiên cứu về cải lương như Bạch Tuyết đã hình thành. Tôi mong ước một ngày nào đó, các nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật khảo cứu thêm về vọng cổ để đưa bộ môn này vào một di sản văn hóa của thế giới như trường hợp của nhã nhạc Huế.

Ghi chú:

Các website có nhiều thông tin về cải lương gồm có:

(a) www.cailuong.org.vn là website chính thức của Nhà hát Trần Hữu Trang, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung phong phú, với tiểu sử nghệ sĩ và nhiều tài liệu về lịch sử nghệ thuật cải lương.

(b) www.cailuongvietnam.com có nhiều thông tin về hoạt động của nghệ sĩ cải lương, chân dung nghệ sĩ, và tâm tình khán giả.

(c) www.nsbachtuyet.com, là website cá nhân của nghệ sĩ Bạch Tuyết, với rất nhiều thông tin về nghệ thuật cải lương. Website được thiết kế khá màu mè, quá nhiều hình ảnh, nên thời gian truy nhập rất chậm. Một số nối kết bị hỏng.

(d) www.nslethuy.com, là website cá nhân của nghệ sĩ Lệ Thủy, với rất nhiều trích đoạn cải lương trước và sau 1975. Website cũng khá màu mè, nhiều hình ảnh, và thời gian truy nhập có khi rất chậm.


Wednesday, May 30, 2007

Nước tương, 3-MCPD và ung thư

Hôm nọ đọc trên báo Tuổi Trẻ thấy có người tên Nguyễn Văn Tuấn (hông phải tôi đâu nhé!) hỏi: "Tôi ăn chay trường. Nhiều năm qua tôi dùng nước tương thường xuyên. Qua báo chí tôi mới biết loại nước tương lâu nay sử dụng có chứa chất gây ung thư 3-MCPD cao quá mức cho phép. Tôi rất lo lắng không biết sau này có bị ung thư hay không? (Nguyễn Văn Tuấn và nhiều bạn đọc ở TP.HCM)"
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=203068&ChannelID=12

TS.BS Lê Trường Giang - phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM trả lời "Các nhà khoa học khi nghiên cứu về chất 3-MCPD trong nước tương thường nói là có nguy cơ bị ung thư. Chữ “nguy cơ” ở đây được hiểu là không khẳng định, chưa kết luận nhưng mang tính cảnh báo là phải cảnh giác với chất này. Có thể hiểu cảnh báo này như sau: ở chỗ đó rất nguy hiểm, bạn đi tới đó là phải coi chừng chuyện đó. Còn chuyện đó có xảy ra hay không thì không thể biết được. Do đó, để trả lời có bị ung thư hay không khi ăn lâu ngày loại nước tương có chứa chất gây ung thư 3-MCPD quá mức cho phép thì không ai dám nói và khẳng định chắc chắn là có hay không."

Nếu tôi là cái ông Nguyễn Văn Tuấn kia chắc tôi phải bức tóc suy nghĩ xem câu trả lời đó có thông tin nào không. Tôi không thấy thông tin trong câu trả lời. Tuy nhiên, câu trả lời không sai; ngược lại, câu trả lời hoàn toàn đúng. Cái khó là ông sử dụng khái niệm dịch tễ học cho một người thường dân ngoài y khoa nên rất khó ... cãi lại được. Ông này có nghề!

Sau đây là bài trả lời của tôi. Đã gửi cho TT, xem họ có đăng không.

====

Nước tương, 3-MCPD và ung thư

Một bạn đọc hỏi trên Tuổi Trẻ: Ăn nước tương có 3-MCPD có bị ung thư hay không? Một câu hỏi đơn giản, nhưng câu trả lời không thể nào đơn giản được. Khoa học không có câu trả lời rõ ràng như trắng với đen, mà chỉ có những dữ liệu mang tính bất định. Cho đến nay, vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy 3-MCPD gây ung thư trên con người. Tuy rằng bằng chứng về mối liên hệ giữa 3-MCPD và ung thư trên chuột khó có thể suy luận cho con người, nhưng ngừa bệnh hơn chữa bệnh, cho nên cần phải có nghiên cứu và qui định chính thức về nồng độ an toàn của 3-MCPD để đảm bảo sức khỏe người dân.

3-MCPD (3-monochloropropane-1,2-diol) và 1,3-DCP (1,3-dichloro-2-propanol) là hai hóa chất thuộc nhóm hóa chất có tên là chloropropanols. Chất 1,3-DCP được hình thành từ hóa chất tiền thân là 3-MCPD. Khi chuột trong phòng thí nghiệm được cho ăn rất nhiều chất 3-MCPD, một số chuột bị ung thư, nhưng 3-MCPD không gây đột biến gien. Có bằng chứng cho thấy 1,3-DCP có thể gây tổn hại đến cấu trúc DNA và do đo gây ra đột biến gien dẫn đến ung thư.

Vấn đề đang gây hoang mang trong dư luận xã hội (một phần nhờ giới báo chí) là chất 3-MCPD được phát hiện trong nước tương đen với nồng độ khá cao, do một qui trình và điều kiện sản xuất. Nhưng cần phải nói thêm rằng 3-MCPD không chỉ có mặt trong nước tương, mà còn trong nước xốt sò (oyster sauce), sốt nấm (mushroom sauce), và một số loại thực phẩm khác.

Thật ra, vấn đề nồng độ 3-MCPD trong nước tương và sốt sò không phải mới vì đã được nhắc đến 6 năm trước ở các nước Âu châu, Úc và Canada. Năm 2001, giới chức y tế Úc xét nghiệm ngẫu nhiên các loại nước tương của một số công ti thực phẩm từ Á châu, và phát hiện nồng độ 3-MCPD trong nước tương của công ti Golden Mountain (Thái Lan) dao động 73 đến 148 mg/kg, và của công ti Wanjasham (Đài Loan) dao động từ 0,4 mg/kg. Mức độ mà Úc chấp nhận là 0,2 mg/kg hay thấp hơn. Áp dụng nguyên tắc “nguyên tắc phòng ngừa”, các giới chức y tế Úc cho thu hồi các loại nước tương có nồng độ vượt quá qui định.

Câu hỏi mà nhiều người trong nước đang thắc mắc là nếu ăn nước tương nhiều (chẳng hạn như những người tu hành) có bị ung thư hay không. Thật ra, câu hỏi đáng lẽ phải đặt ra nếu không ăn nước tương nhiều có bị ung thư hay không. Câu trả lời cho câu hỏi sau là “có”. Do đó, ăn nước tương nhiều không có nghĩa là sẽ bị ung thư. Vấn đề không phải là bị hay không bị ung thư, mà là nguy cơ bị ung thư cao hay thấp. Nguy cơ mà một người trung bình, bất kể là ăn hay không ăn nước tương, bị ung thư rất thấp: chỉ khoảng 0,13%. Nói cách khác, trong 10.000 người, có 13 người bị ung thư -- theo thống kê hiện hành ở nước ta. Nếu ăn nước tương với liều lượng nhiều, trong một thời gian dài liên tục (như 50 năm), và nếu nước tương tăng nguy cơ ung thư 20%, thì nguy cơ ung thư có thể tăng lên khoảng 0,16% (hay 16 người trong số 10.000 người ăn nước tương lâu dài bị ung thư). Đó có phải là nguy cơ rất nhỏ, nhưng nó có đáng quan tâm hay không thì còn tùy thuộc vào cảm nhận cá nhân.

Cần phải nhận thức rõ rằng: con người không phải là chuột. Do đó, không thể lấy nghiên cứu trên chuột mà suy luận cho con người. Xin nhấn mạnh rằng các bằng chứng về ung thư và 3-MCPD dựa vào các nghiên cứu trên chuột với một liều lượng rất lớn mà có lẽ chưa có người nào dung nạp nổi. Cho đến nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy 3-MCPD có thể gây ung thư trên con người, vì chưa có ai theo dõi một quần thể suốt 50 năm để xem có bao nhiêu người mắc ung thư do ăn nước tương. Cần phải nói thêm rằng các thực phẩm từ đậu nành nói chung, kể cả nước tương, là có lợi cho sức khỏe. Nhiều nghiên cứu tổng hợp từ Nhật, Hàn Quốc, và Trung Quốc cho thấy một cách nhất quán rằng người tiêu thụ thực phẩm từ đậu nành có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến thấp hơn trung bình trong dân số.

Ung thư là hệ quả của sự rối loạn trong quá trình tái sản xuất tế bào. Qui trình sản xuất và tái sản xuất tế bào được kiểm soát bởi gien. Như nói trên, bằng chứng nghiên cứu trên chuột cho thấy 3-MCPD không ảnh hưởng đến sự hoạt động của gen, do đó nếu (xin nhấn mạnh “nếu”) 3-MCPD có liên quan đến ung thư ở con người thì đó phải là một mối liên hệ gián tiếp chứ không phải trực tiếp. Nói cách khác nếu mối liên hệ giữa 3-MCPD và ung thư là thật, thì 3-MCPD phải tương tác với một hay nhiều yếu tố khác. Và, cho đến nay, chúng ta chưa biết “các yếu tố khác” đó là gì. Thật ra, chúng ta chưa biết mối liên hệ giữa 3-MCPD và ung thư ở con người.

Thật ra, vấn đề không phải là 3-MCPD gây ung thư hay không gây ung thư; vấn đề là nồng độ 3-MCPD an toàn có thể chấp nhận được. Trong bất cứ thực phẩm nào mà chúng ta ăn uống hàng ngày cũng đều hàm chứa hóa chất mà theo lí thuyết là có tác hại đến sức khỏe. Chúng ta phải ăn uống để tồn tại. Vì thế, có thể nói rằng hóa chất là một phần trong cuộc sống con người. Hóa chất có lợi nhưng cũng có hại, và lợi hay hại tùy thuộc vào điều kiện và hàm lượng dung nạp cho từng cá nhân.

Đứng trên quan điểm y tế “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, chúng ta không phải chờ đến khi người ta bị ung thư rồi mới bàn tán hay phân tích nguyên nhân, mà phải phòng bệnh cho dù với sự bất định về kiến thức. Cho nên, các giới chức y tế vẫn phải kiểm soát nồng độ 3-MCPD trong nước tương và đảm bảo mức độ an toàn có thể chấp nhận được cho người dân.

Trong khi chưa có các chuẩn mực cho người Việt Nam, chúng ta có thể xem qua kinh nghiệm ở nước ngoài. Ở Nhật (nơi mà người dân tiêu thụ nhiều nước tương), sau khi điều chỉnh cho mức tiêu thụ và cân nặng của người Nhật, giới y tế đề ra hàm lượng an toàn của 3-MCPD là 0,54 mg/ngày. Nồng độ 3-MCPD trong nước tương được cho phép là 1mg/kg, và nếu nồng độ này được duy trì, thì lượng nước tương an toàn mà một người có thể ăn hàng ngày là dưới 0,54 kg. Rất ít ai ăn nhiều nước tương như thế! Nếu nồng độ 3-MCPD trong nước tương là 100 mg/kg (tức quá mức cho phép 100 lần), thì lượng nước tương an toàn mà một người có thể ăn hàng ngày là dưới 5,4 g.

“An toàn” là một khái niệm phức tạp, và tương đối. Thiên nhiên và sản phẩm kĩ nghệ ít khi nào đem lại cho chúng ta những lợi ích (hay những tác hại) tuyệt đối. Một hóa chất có thể đem lại lợi ích cho một nhóm, nhưng cũng có thể làm hại cho một nhóm khác. Mặc áo ngực, sử dụng băng vệ sinh (tampon), chất tạo mùi vị và màu cho thực phẩm (food additives), chất làm ngọt, microwave, thuốc chống mồ hôi, v.v… cũng từng một thời bị gán ghép là gây ung thư. Nhưng đây chỉ là những “huyền thoại” hay sản phẩm tưởng tượng của một số người vì chưa có bằng chứng khoa học nào để nói như thế. Thật vậy, cơ quan nghiên cứu ung thư Canada xếp những đồn đại về nước tương và ung thư là “myths” (hoang đường).

Quay trở lại câu hỏi ăn nước tương có 3-MCPD có bị ung thư hay không, bằng chứng khoa học hiện nay chưa cho phép chúng ta kết luận rằng chất 3-MCPD gây ung thư trên con người, nhưng vì lí do phòng ngừa, đối với một cá nhân lượng tiêu thụ nước tương cần nên điều chỉnh sao cho mức độ nguy cơ thấp nhất.

Boris Yeltsin từng được một bác sĩ Mĩ cứu mạng

Cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin vừa qua đời vì bệnh suy tim ở Moscow hôm 23/4/2007. Ông thọ 76 tuổi. Người ta bàn cãi về những “di sản” chính trị của Yeltsin (1), nhưng hình như rất ít người biết rằng Yeltsin từng được một bác sĩ cứu mạng hơn 10 năm trước. Có thể nói không ngoa rằng một trang lịch sử Nga được viết bằng một cuộc phẫu thuật nơi tim (bypass surgery) khá hi hữu, mà người quyết định là một bác sĩ Mĩ. Bài viết này tôi tổng hợp thông tin từ New York Times và tạp chí y khoa Mĩ JAMA.

===

Mùa thu năm 1996, Boris Yeltsin tranh cử tổng thống. Nhưng ông phải đương đầu với một khủng hoảng cá nhân rất nghiêm trọng, nghiêm trọng hơn bất cứ đe dọa nào từ các đối thủ chính trị của ông: ông mắc bệnh tim rất trầm trọng. Trước đó, Yeltsin từng bị chứng nhồi máu cơ tim, và trong thời gian tranh cử, ông lại bị đau tim. Điều trớ trêu là tất các các chuyên gia y tế hàng đầu của Nga đều nhất trí rằng Yeltsin cần phải được điều trị bằng phẫu thuật nơi tim (nối mạch vành tim, coronary artery bypass surgery), nhưng các bác sĩ Nga cho rằng ông sẽ không qua khỏi một cuộc đại phẫu như thế.

Bác sĩ Michael E. DeBakey là một nhà phẫu thuật tim nổi tiếng trên thế giới, làm việc tại Thành phố Houston, bang Texas (Mĩ). Năm 1973, bác sĩ DeBakey có sang Nga giảng dạy và từng giải phẫu tim cho Giáo sư Mstislav V. Keldysh, một nhà khoa học hạt nhân và chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ. Năm 1974, bác sĩ DeBakey được kết nạp thành viên của Viện hàn lâm y học Liên Xô. Tuy giữ vị trí danh dự như thế, nhưng trong thời Chiến tranh Lạnh, các quan chức trong điện Kremlin chưa bao giờ chính thức nhờ ông cố vấn hay yêu cầu ông giúp đỡ điều gì.

Trong tình trạng tuyệt vọng, Yeltsin bèn tham vấn bác sĩ DeBakey. Việc Yeltsin phải nhờ đến một bác sĩ nước ngoài như DeBakey làm cho một số chuyên gia y khoa Nga cau mày, nhưng việc đó đủ cho biết tình trạng của Yeltsin nghiêm trọng như thế nào!

Bác sĩ DeBakey, lúc đó đã 87 tuổi, bay sang Moscow và trực tiếp khám Yeltsin. Sau khi cẩn thận đánh giá tình trạng sức khỏe của Yeltsin, ông cho rằng Yeltsin không thể sống nổi nếu không giải phẫu, nhưng quan trọng hơn hết, ông đánh giá rằng Yelstin có thể sống sau cuộc giải phẫu. Bác sĩ DeBakey cho biết sở dĩ ý kiến của ông khác với ý kiến các bác sĩ Nga là vì ông khám rất cẩn thận và lâu hơn các bác sĩ Nga khám.

Yeltsin đòi được giải phẫu tại bệnh viện tư (tại Moscow) của bác sĩ Renat S. Akchurin. Bác sĩ Akchurin là người từng được DeBakey huấn luyện trong khi ông sang Houston thực tập một thời gian ngắn. Tuy nhiên, bác sĩ DeBakey hơi ngại giải phẫu ở đây, vì các thiết bị y khoa cần thiết cho cuộc phẫu thuật không đầy đủ như ông mong muốn, nhưng DeBakey rất tin tưởng vào kĩ năng của Akchurin, và hứa với Yeltsin rằng ông cùng với các đồng nghiệp Mĩ khác sẽ quan sát cẩn thận cuộc phẫu thuật. Sau vài giờ chuẩn bị và giải phẫu trực tiếp bởi bác sĩ Akchurin, cuộc phẫu thuật được tuyên bố là thành công.

Sau đó, Yeltsin đắc cử và làm việc bình thường. Nhưng vài năm trước khi qua đời, Yeltsin còn có vấn đề tim mạch khác và phải qua một cuộc phẫu thuật khác để đặt stent do bác sĩ Roland Hatzer ở Đức tiến hành.

Về quan hệ cá nhân, bác sĩ DeBakey, qua một cuộc phỏng vấn gần đây, cho biết Yeltsin là người rất khó tính với các bác sĩ Nga, nhưng lại rất chăm chú nghe những lời khuyên của ông. Yeltsin nói với bác sĩ DeBakey rằng: “tôi sẽ nghe theo lời của ông, nếu tôi có thể giúp tôi trở lại làm việc nhanh chóng”. Trong lần khám năm 1996, câu hỏi đầu tiên mà Yeltsin hỏi bác sĩ DeBakey là ông có khả năng quay lại làm việc sau giải phẫu hay không. Bác sĩ DeBakey trả lời rằng trong vòng 2 tuần sau giải phẫu Yeltsin có thể trở lại làm việc bình thường. Sau đó, Yeltsin yêu cầu Bác sĩ DeBakey không được cho giới truyền thông biết về các chi tiết bệnh trạng và trao đổi giữa hai người.

Người ta không biết Yeltsin nghĩ gì về bác sĩ DeBakey, nhưng trong cuốn hồi kí “The New Living Heart” (xuất bản năm 1997), Yeltsin và Antonio Gotto mô tả bác sĩ DeBakey như là một “ảo thuật gia của trái tim” và “một người với khả năng trời cho để ban những phép lạ”.

Nếu Yeltsin không gặp bác sĩ DeBakey, có thể ông sẽ không ra tranh cử (chứ nói đến việc chờ chết!) và có thể cũng không có Putin làm tổng thống Nga như ngày nay. Do đó, các sử gia cho rằng việc bác sĩ DeBakey cứu sống Yeltsin không chỉ cứu cái ghế tổng thống cho ông mà còn góp phần viết một trang sử Nga thời hiện đại.


Chú thích:

[1] Báo chí Tây phương viết về “di sản” của Yeltsin thường ở hai thái cực: mộg mặt đề cao vai trò của ông trong việc thay đổi chế độ chính trị ở Nga, mặt khác phản ảnh ý kiến của dân Nga xem ông như là một lãnh đạo đáng khinh bỉ hơn là được kính trọng. Khi được hỏi về cảm tưởng trước sự kiện Yeltsin qua đời, một chuyên gia Nga trả lời: “Tại sao [ngày chết của Yeltsin] lại là ngày buồn? Tất cả những vấn nạn mà Nga đang gánh phải ngày nay là di sản của Yeltsin. Ông ta đã nói láo chúng tôi. Ông ta đã cướp của chúng tôi, làm cho nước Nga trở thành một trò hề trên thế giới. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho Yeltsin là quên phứt đi ông ấy” (Vyacheslav Sovalyev). Hỏi một bác sĩ Nga nghĩ gì về cái chết của Yeltsin, bà trả lời: “Mức sống bị xuống thấp và xã hội bị phân hóa dưới thời của Yeltsin. Khoa học không được tài trợ, làm cho nhiều nhà khoa học bỏ nước ra đi và một số còn tự tử. Chúng tôi có cảm tưởng rằng ông ấy đại diện cho quyền lợi của nước Mỹ trước tiên, rồi mới tới quyền lợi của chúng tôi”.

Thursday, May 24, 2007

Tiếng hát Phương Thanh

Hôm qua tôi đã nhận xét về tiếng hát của Cẩm Ly. Hôm nay, tôi muốn có đôi dòng về tiếng hát của Phương Thanh. Dù đã nghe tiếng PT từ lâu và cũng biết rằng cô là ca sĩ có tiếng, được nhiều người hâm mộ, nhưng tôi vẫn ngại nghe cô hát vì tôi sợ loại nhạc … hip hop quá! Nhưng cách nhìn đó phiến diện và sai lầm. Sau khi mua được một CD của PT tôi đã dành nhiều giờ (qua nhiều ngày) nghe qua và nghe nhiều lần PT hát. Nhận xét đầu tiên của tôi là cô ấy có giọng hát -- nói theo ngôn ngữ thời thượng bây giờ -- là rất “ấn tượng”.

Nghe PT hát những bài của Trịnh Công Sơn (Thương một người, Tình xa) và nhất là bài Hoa học trò (hát với Quang Dũng), tôi đi đến nhận xét về tiếng hát của PT như thế này: đó là tiếng hát nửa đàn bà, nửa con gái. Có lẽ bạn đọc rất ngạc nhiên với nhận xét quái gở này, nên xin cho tôi vài phút giải thích. Giọng hát của PT nằm giữa hai thái cực khàn đục và âm cao trong trẻo. Ở những nốt nhạc thấp, giọng khàn của PT rất hợp, và ở những nốt nhạc cao hơn thì giọng trong rất hay.

Dù chưa thấy Phương Thanh biểu diễn trên sân khấu lần nào, nhưng qua những bài nhạc do cô hát, tôi có thể nói cô làm chủ được tiếng hát của mình. Giọng hát PT rõ ràng, luyến láy điêu luyện, cách nhả chữ và ngân nga vừa phải (tức không cố gắng kéo dài như khoe giọng). Theo tôi, đó là những đặc điểm đáng quí của một ca sĩ.

Tuy nhiên, bài mà tôi thích nhất có lẽ là bài Hoa học trò mà cô hát chung với Quang Dũng. Phải nghe bài này để có thể cảm nhận những nhận xét “tích cực” của trên của tôi. Bài này cực hay và làm cho tôi trẻ lại 30 tuổi :-). Không ngờ nhạc mới bây giờ mà cũng có bài hay! Giọng hát mang chút “nhựa” Phương Thanh rất thích hợp cho giai điệu tình cảm nhẹ nhàng của bài hát. Xin chép ra đây lời bài hát (không biết của ai ?):

Bây giờ còn nhớ hay không

Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa
Ngây thơ anh rủ em ra
Bảo nhặt hoa phượng về nhà chơi chung

Bây giờ còn nhớ hay không
Bây giờ còn nhớ hay không

Bây giờ còn nhớ hay không
Anh đem cánh phượng tô hồng má em
Để cho em đẹp như tiên
Nhưng em không chịu sợ phải lên trên trời

Sợ phải lên, sợ phải lên trên trời
Sợ phải lên, sợ phải lên trên trời

Lên trời hai đứa hai nơi
Nhưng em chỉ muốn làm người trần gian
Hôm nay phượng nở huy hoàng
Nhưng chừ hai đứa lỡ làng duyên nhau

Rưng rưng phượng đỏ trên đầu
Tìm anh em biết tìm đâu bao giờ
Bây giờ tìm kiếm em đâu
Bây giờ mình mãi xa nhau

Người ta nói Phương Thanh hát hay … gào. Nhận xét này có lẽ đúng. Tôi nghe Phương Thanh hát bài Café một mình (Phương Thảo – Ngọc Lễ), và thấy cái phong cách “gào” cũng xuất hiện. Theo tôi, Phương Thanh hát bài này chưa đạt vì hát hơi nhanh (bài này đáng lẽ phải hát chầm chậm), và nhất là ở phần điệp khúc, Phương Thanh hát cao quá, không phù hợp với lời nhạc chan chứa và tình cảm. Vả lại, phần hòa âm với những đàn điện nghe rất chói tai (đáng lẽ bài này nên đơn giản với đàn guitar thùng mà thôi).

Nói tóm lại, tôi thấy tiếng hát Phương Thanh hay, và cô xứng đáng với sự hâm mộ của giới trẻ. Phương Thanh chắc có nhiều “fan” nên có hẳn một website:
http://www.phuongthanhfc.com.

Wednesday, May 23, 2007

Vài hàng ghi nhanh sau khi nghe Cẩm Ly hát

Mấy hôm nay, tôi được dịp nghe nhạc do Cẩm Ly và Phương Thanh hát, nên vội ghi vài hàng để nhớ và sau này có dịp viết cho hoàn chỉnh. Thú thật là trước khi nghe hai cô này hát, tôi đã nghe đến tên tuổi họ, nhưng có lẽ vì ngại loại nhạc “hip hop” nên tôi không chịu nghe họ. Phải nói chính xác hơn là tôi tránh nghe họ. Nói như thế e rằng không công bằng cho ca sĩ trẻ, nhưng …. Nhưng cuối tuần qua, tôi dạo phố Bankstown và thấy họ “sale” CD nhạc từ Việt Nam nên cũng mua vài CD để nghe. Nghe đi và nghe lại rất nhiều lần, có lễ cũng hơn 10 lần. Tính tôi vẫn thế, muốn nhận xét gì cũng phải “làm bài tập” cho kĩ.

Tôi đi đến nhận xét rằng Cẩm Ly là cô ca sĩ láng giềng. Tôi nói thế là vì giọng ca của Cẩm Ly quá tự nhiên, không làm dáng, không luyến lái, không gào thét … như vài ca sĩ trẻ bây giờ (và ngày xưa). Nghe Cẩm Ly hát cứ như là nghe … cô hàng xóm hát. Bình dị. Dễ thương. Thật thà.

Nhưng Cẩm Ly có chất giọng đặc biệt, vì giọng hát của cô không lẫn lộn với ai. Nói theo tiếng Anh là “unique”. Đó là đặc điểm tôi rất thích, vì theo tôi mỗi ca sĩ nên tạo cho mình một phong cách riêng, hơn là bắt chước theo người khác. Tôi nghĩ tiếng hát của Cẩm Ly có phong cách riêng, và điều đó rất đáng duy trì. Phong cách và giọng hát riêng rất quan trọng. Đó là đặc điểm làm nên những cái tên lớn trong làng cổ nhạc như Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Út Bạch Lan, Thanh Sang, Thanh Tuấn, Minh Phụng, Minh Vương, Tấn Tài, v.v... và nhất là "vua vọng cổ" Út Trà Ôn. Tìm phong cách riêng ngày nay rất khó vì tôi có cảm giác ca sĩ họ bắt chước giọng nhau quá nhiều. Do đó tôi trân quí tiếng hát Cẩm Ly ở đặc điểm này.


Có lẽ một phần vì có chất giọng đặc biệt nên nghe Cẩm Ly ca hoài không thấy chán. Có khi nào các bạn nghe thử Khánh Ly hát không? Tôi không đủ can đảm để nghe cô này hát đến 3 bài, vì nó quá nhàm, quá monotone, quá xoàng. (Tôi chưa bao giờ xem Khánh Ly là một ca sĩ hay, chứ đừng nói đến hai tiếng “danh ca” như báo chí tâng bốc. Nghe cô này nói chuyện lại còn vô duyên hơn nữa!) Còn Cẩm Ly thì hoàn toàn khác, nghe cô hát những bài mang tính “nhí nhảnh”, đến những bài “trẻ”, và thậm chí mấy bài “sến” vẫn không thấy nhàm. Tôi nghiệm ra sở dĩ không nhàm là vì Cẩm Ly hát quá tự nhiên. (Nếu cố tự mình bắt chước hay làm dáng thì không thể kéo dài cái làm dáng được, nên dễ chán).

Nếu bạn hỏi tôi thích nhất Cẩm Ly hát bài nào, tôi phải nói ngay đó là bài Vọng cổ buồn. Bài này mang âm hưởng ngũ cung mà kèm theo một đọan cải lương cuối bài hát làm cho nó hoàn toàn khác với mấy bài nhạc xoàng. Ngay cả hòa âm cũng đặc biệt, hòa nhịp giữa đàn kìm và đán guitar hiện đại. Hãy nghe thử vài đoạn:

Đêm dài nghe tiếng vọng cổ buồn
Nức nở vầng trăng khuya cung đàn buông tiếng khóc
Tiếng gõ nhịp song lang ai oán khúc tơ lòng
Như tiếng lòng chim quyên đang đón gió thu về


Và đoạn điệp khúc:

Hò ơi, chín nhánh sông phù sa
Mù u con bướm đặng quay về
Về đâu con nước lớn nước ròng
Đìu hiu như khúc hát tình em

Hò ơ, cóng cóng xê … xàng xê
Mình ên em đứng đợi anh về
Còn thương còn nhớ bóng con đò
Về nghe câu hát lí chờ mong

Tác giả bài này phải là một người rất Nam bộ mới viết đưa được những câu chữ như trên vào nhạc. Mình ên. Mù u. Đặng. Toàn những câu chữ mộc mạc của người dân miền Tây Nam. Những câu chữ tưởng như rất quê mùa ấy, hóa ra lại đem đến người nghe một dấu ấn sang trọng.

Ủa, mà tôi đang nói về Cẩm Ly mà. Thôi hẹn dịp khác sẽ nói tiếp.

Tôi còn phải viết vài hàng về Phương Thanh nữa.

NVT


Sau đây là tiểu sử của cô Cẩm Ly
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A9m_Ly
Nhìn qua quê quán, hóa ra cô này cùng quê với tôi - Bình Định. Thôi nói một hồi nữa, chắc có người sẽ nghĩ tôi "thấy người sang bắt quàng làm họ" thì nguy!


Tên thật: Trần Thị Cẩm Ly

Ngày sinh: 30 tháng 03

Nơi sinh: Sài Gòn

Nguyên quán: Bình Định, Quy Nhơn

Gia đình: Cẩm Ly là con thứ tư trong gia đình gồm 6 anh chị em, trong đó có ca sĩ Minh Tuyết và Hà Phương. Sở thích: nghe nhạc, chơi game và shopping. Màu sắc yêu thích: trắng và đen. Món ăn yêu thích: đồ biển Ca sĩ yêu thích: Cẩm Vân, Whitney Houston.

Thành tích:

- Giải nhất song ca cùng Minh Tuyết tại nhà hát Hoà Bình,1993
- Top 5 ca sĩ của Kim Lợi Production.
- Top ten Làn Sóng Xanh, 2001-2002
- Ca sĩ được yêu thích của báo Mực Tím, 2001-2002
- Ca sĩ được yêu thích của CLB Chiều Thứ 5, 2001-2002
- Giải Mai Vàng do Báo Người Lao Động tổ chức, 2002
- Top ten ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh, 2002-2003
- Top ten ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh, 2003-2004
- Giải VTV-Bài Hát Tôi Yêu - “ Em Chưa Biết Yêu ”, 2003-2004
- Top ten ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh, 2004-2005
- Giải VTV-Bài Hát Tôi Yêu - “ Tình Ngỡ Là Mơ ” - 2005
- Giải Mai Vàng do Báo Người Lao Động tổ chức, 2005

Tuesday, May 22, 2007

Lại chuyện biên tập (Tia Sáng)!

Trong cái post "thông tin khoa học" trước, tôi có phàn nàn về vụ Tia Sáng cắt xén bài của tôi. Thật ra, đây không phải là lần đầu họ làm như thế, mà đã nhiều lần qua nhiều năm nay. Tuy nhiên, tôi rất thông cảm cho họ, vì đất "có giới hạn", nên đàng phải dùng đến cắt xén thôi. Tôi chỉ tiếc là nếu họ đọc lại kĩ thì chuyện cắt xén vẫn có thể duy trì ý chính của tác giả; còn đằng này, tôi thấy họ đọc không kĩ nên cắt nhiều chỗ rất buồn cười.

Nhưng tôi không phải là "nạn nhân" duy nhất của Tia Sáng. Sáng nay đọc trên Văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long thấy ông nhà thờ Inrasara (bút danh ngồ ngộ!) cũng phàn nàn gay gắt về chuyện này. Xin đọc bài của ông ấy mà tôi đăng lại dưới đây để thấy rõ vấn đề.

Tôi thấy vui vui khi nhà văn hay nhà thơ mà viết bài có mục A, B, C, v.v... và trích ra từng đoạn, này nọ, đọc cứ như là học trò đang làm bài tập! Xin các bác hãy làm người trưởng thành.

NVT

===

http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=6357&LOAIID=15&LOAIREF=5&TGID=730

Chuyện buồn [Hết] …Cười [Nổi] : Về bài Văn chương mạng của Inrasara trên báo Văn nghệ số 20, 19.05.2007.

Bài Văn chương mạng là tham luận của Inrasara ở Bàn tròn văn chương kì7: Văn chương mạng và Website vannghesongcuulong.org, của Ban công tác Nhà văn trẻ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, tại Tp.HCM ngày 21.04.2007. Tạp chí Tia sáng số 09, 05.05.2007 đã đăng toàn văn http://tiasang.com.vn/news?id=1526. Nay được báo Văn nghệ in lại với những sửa đổi rất cơ bản – không qua ý kiến của tác giả, người phụ trách trang báo đã chế biến đầy “tùy nghi tiện dụng” đến không còn là của Inrasara nữa!

Tôi đã gởi bản đính chính đến BBT Văn nghệ, nhưng vì phải đợi đến số báo kì tới mất một tuần – quá chậm, nên tôi phải nhờ mạng đăng trước. Khéo với phản ứng nhanh của cư dân mạng, các ý kiến “được” sửa chữa sẽ bị nhận những phản ứng không đáng có. Từ đó, nó hứa hẹn sẽ kéo nhằng nhì vài đính chính khác nữa!

Cụ thể như sau:

A. Không kể vài “nhầm lẫn đáng tiếc” về kĩ thuật, như bỏ hết dấu gạch ngang (–) trong đoạn văn sau [mà cũng không buồn thêm cho cái dấu (,)]:


“Internet đã thay đổi cách viết – công bố – đọc – nghĩ – cảm của cả người sáng tác lẫn kẻ thưởng thức văn chương”. Bên cạnh tự ý thay đổi từ ngữ trong vài câu, đoạn, người phụ trách trang báo còn tùy tiện gia công thay đổi, thêm thắt đến đảo ngược hoàn toàn quan điểm của tác giả về Mạng và văn chương mạng.


Nhiều lỗi nghiêm trọng, chẳng những làm biến đổi nội dung bài viết thôi (biên tập khiến câu văn trở nên ngô nghê, vô nghĩa) mà còn ảnh hưởng đến cá nhân tác giả nữa.

B.
1. Nguyên văn là:


“Trên Website, người đọc đọc nhanh, đọc nhiều và đọc hợp lí hơn. Hợp lí, bởi người đọc chủ động trong chọn nội dung, phân đoạn liên quan, các từ cần thiết,… chúng xuất hiện ngay tức thời, chỉ bằng cái nhấp chuột.”, bị chế biến thành:


“Trên Website, người đọc đọc nhanh, đọc nhiều và đọc …ẩu hơn. Ẩu, bởi người đọc quá dễ dàng trong chọn nội dung, phân đoạn liên quan, các từ cần thiết,…”

2. Nguyên văn:


“Chẳng những coi văn chương trên mạng là “không chính thống”, “ngoài luồng”, mà…”, được thay bằng:


“Chẳng những coi văn chương trên mạng là không chính danh, lánh đời, mà…”

3. Nguyên văn viết:


“Văn chương không chọn hình thức tồn tại. Nếu ngày trước ca dao tồn tại vô ảnh trong “khẩu” được thì sáng tác hôm nay vẫn có thể có mặt vô hình trên màn hình”, bị gia công thành ngô nghê, vô nghĩa như sau:


“Văn chương không chọn hình thức. Nếu ngày trước ca dao vô ảnh trong sử thì sáng tác hôm nay vẫn hiện hình trên màn hình.”

4. Nguyên văn chính xác như sau:


“đa số…nông dân và công nhân nghèo đang sinh sống ở khu vực chưa phát triển, chưa đủ điều kiện sắm máy vi tính hay nối mạng.” được thay bằng:


“người Việt phần đa nông dân và công nhân, sinh sống ở nơi lạc hậu, chưa…”

5. Và nhất là ở đoạn kết luận, trong khi bản văn chính viết:


“Sợ duy nhất là báo mạng đột ngột thay Ban biên tập, ông/bà chủ mới nổi hứng xóa bỏ các bài đã từng đăng trước đó (như đã xảy ra ở vài Website) khiến kẻ làm việc nghiên cứu gần như mất trắng tài liệu tham khảo và, …mất hứng luôn.


Nhưng với lối làm ăn như thế, cư dân mạng sẽ nghỉ chơi với nó, đó là điều chắc chắn.”

Không hiểu sao người phụ trách chế biến thành:


“Sợ duy nhất là báo mạng …chết đói, khiến kẻ nặng lòng gần như mất trắng tài liệu tham khảo và, …mất hứng luôn.

Nhưng với tương lai, cư dân mạng sẽ biết cách tìm về chỗ khỏe, đó là điều chắc chắn.”

C. Cuối cùng, ngay trong bài viết này tôi đã nhấn rất rõ:


“Chế độ kiểm duyệt của Website cũng khá thoáng và ít định kiến. Ví dụ: tôi gởi một tiểu luận cho một tờ báo [giấy] có uy tín. BBT không đánh giá bài viết qua chuyên môn mà xét nó qua ý thích tùy tiện của người phụ trách trang mục đó. Một vị trong BBT kêu: tôi không đồng ý với quan điểm của anh này. Thế là ách! Dù bài viết đã bị gọt giũa cẩn thận. Cũng có bài dù đã lên khuôn, nhưng giờ chót bị lột xuống, chỉ bởi nguyên do bá vơ và cực kì cảm tính. Thế là tiểu luận công phu, bài thơ tâm đắc tôi đều dành cho Website.”

Trong Hội nghị lí luận-phê bình tại Đồ Sơn vừa qua, tôi phát biểu: đến 90% tiểu luận của tôi đăng trên mạng cũng chỉ bởi lí do đó.


Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ưu tiên đăng báo Hội mới phải lẽ; nhưng nếu bộ phận biên tập cứ làm ăn kiểu như thế, hỏi có đồng bào nào còn …cười nổi không? Và có nhà văn nào còn đầy đủ sức chịu đựng gởi bài đăng báo nhà nữa không?

Sài Gòn, 19.05.2007

Giải pháp nào cho thông tin khoa học ở nước ta

Bài viết sau đây đã đăng trên Tia Sáng (số tháng 6/07), nhưng họ cắt nhiều quá, nên đọc chẳng ra đầu đui gì cả. Họ trình bày bài viết cũng rất ... tồi. Làm ăn như thế thì sao gọi là nghiêm túc được. Mà, đáng lẽ khi cắt bớt, họ cũng nên hỏi mình một tiếng (có khó gì đâu), nhưng ở đây họ chẳng hỏi han gì cả. Ấy thế mà lâu lâu mình không gửi bài, họ hỏi "sao dạo này không thấy anh có ý kiến gì". Nếu trả lời thật (vì mấy ông không lịch sự) thì họ sẽ phật lòng, mà không nói thì họ cứ vô tư cắt! Thôi kệ, mấy bài này có liên quan gì đến sự nghiệp mình đâu mà, cần gì phải làm lớn chuyện. NVT

===

Vấn đề thông tin khoa học

Ở nước ta, tình trạng thiếu thốn thông tin khoa học rất trầm trọng. Thư viện đại học còn quá nghèo nàn, chẳng những thiếu sách vở, mà quan trọng hơn, thiếu những tập san khoa học quốc tế. Tình trạng này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu khoa học và tác động tiêu cực đến nền khoa học nước nhà. Trong thời kì hội nhập quốc tế, chúng ta cần phải cấp bách xây dựng một hệ thống thư viện khoa học hoàn chỉnh để góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Ứng dụng công nghệ thông tin, mà đặc biệt là internet, là một giải pháp khắc phục tình trạng thiếu thông tin hiện nay.

Vấn đề thiếu thông tin

Những ai làm nghiên cứu khoa học đều biết rằng thông tin đóng một vai trò không thể thiếu được trong nghiên cứu khoa học. Người làm nghiên cứu khoa học không có hay thiếu thông tin chẳng khác gì người mù đi trong đêm tối, vì không biết được những gì đã, đang hay sắp xảy ra trong lĩnh vực chuyên môn.

Vì thế, thiếu thông tin thường dẫn đến những hệ quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, năng suất và tiềm năng khoa học quốc gia. Bởi vì thiếu thông tin, cho nên rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học chỉ đơn thuần lặp lại những gì người khác đã làm. Thật vậy, đại đa số các nghiên cứu y học ở trong nước mà người viết có dịp điểm qua đều lặp lại những gì những nhà nghiên cứu nước ngoài, thậm chí trong nước, đã làm từ hơn 20 năm về trước [1]. Nói cách khác, vì thiếu thông tin cho nên chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta còn thấp, và đó cũng chính là một trong những lí do tại sao các công trình nghiên cứu ở nước ta rất ít xuất hiện trên các tập san khoa học quốc tế [2].

Thiếu thông tin cũng có thể dẫn đến hao tổn ngân sách một cách không cần thiết. Chẳng hạn như năm ngoái, có người đề nghị tiến hành một nghiên cứu với ngân sách 444 tỉ đồng nhằm nâng cao chiều cao người Việt, vì theo họ, “so với người trưởng thành ở Nhật Bản cùng nhóm tuổi thì người Việt Nam vẫn còn thấp hơn 10 cm” (Thanh Niên Online 13/3/2006) và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố di truyền đến chiều cao chỉ 23%. Nhưng các thông tin làm cơ sở cho dự án nghiên cứu này không đúng. Chỉ cần truy nhập vào thư viện y khoa quốc tế, có thể thấy ngay rằng sự khác biệt về chiều cao trong một quần thể do các yếu tố di truyền ảnh hưởng từ 65% đến 87% [3]. Ngoài ra, chiều cao hiện nay ở người Việt cũng tương đương với chiều cao ở người Nhật, Trung Quốc và Thái Lan. Nếu có đầy đủ thông tin thì ý tưởng của dự án đó đáng lẽ không nên có, chứ chưa nói đến việc viết thành một đề án! Nếu không có thông tin và dự án được tiến hành, kinh tế quốc gia đã phải phí đến 26 triệu USD!

Có thể nói ngay rằng tình trạng thiếu thông tin đã làm cho nền khoa học nước ta không phát triển đúng với tiềm năng của nhân lực, nếu không muốn nói là làm cho khoa học nước nhà dẫm chân tại chỗ, không sánh vai được cùng các nước trong vùng (chứ chưa nói đến các nước tiên tiến). Trong một bài tổng quan về nghiên cứu y học ở trong nước [1], tôi phát hiện rằng tính trung bình mỗi bài báo y học từ Việt Nam chỉ có khoảng 9 tài liệu tham khảo (ở phía Bắc) đến 17 ở phía Nam. Không rõ tại sao lại có sự khác biệt khá lớn về con số tài liệu tham khảo giữa hai miền như thế, nhưng ở nước ngoài, một bài báo nghiên cứu y học thường có trung bình 25 tài liệu tham khảo. Ngoài ra, tôi còn phát hiện phần lớn tài liệu tham khảo mà đồng nghiệp trong nước trích dẫn thường 20 năm và là những bài báo trong các hội nghị. Sự thật này cho thấy các nhà nghiên cứu trong nước chỉ sử dụng tài liệu tham khảo mà họ có sẵn hay có thể truy nhập được, và do đó, thường chậm đến 20 năm. (Trong y học, theo một qui luật “bất thành văn”, những bài báo nào trích dẫn tài liệu trên 10 năm được xem là “lạc hậu”, và đánh giá là nhà nghiên cứu chưa cập nhật hóa đầy đủ).

Tại sao các nhà nghiên cứu nước ta thiếu thông tin? Câu trả lời là do thiếu cơ sở vật chất và trường đại học cũng chưa quan tâm (hay chưa nhận thức) đúng mức đến tầm quan trọng của thông tin trong nghiên cứu khoa học. Trong bài Chổ đứng nào cho giảng viên trẻ (Vietnamnet 8/3/2007), nhiều giảng viên đại học cho biết “Cơ sở dữ liệu nội địa đang ở tình trạng báo động”, vì “chưa có một cơ chế để tích lũy và công khái hóa dữ liệu. Các thế hệ đi trước đã không làm dữ liệu khoa học một các khoa học để lại cho thế hệ mai sau.” Một giảng viên trẻ bức xúc nói: “Những người muốn làm nghiên cứu như tôi phải bỏ tiền ra mua. Tôi chi một số tiền tương đối lớn để làm thành viên của các tổ chức cung cấp tài liệu, để được đọc các tài liệu. Đáng lẽ những việc như vậy trường có thể hỗ trợ bằng cách mua.” Trong bối cảnh thiếu thốn thông tin như mô tả trên đây, thật là không công bằng nếu ta đòi hỏi các nhà khoa học trong nước phải có những công trình nghiên cứu chất lượng cao, nghiên cứu tiền phong. Với tình trạng thiếu thông tin như thế, làm sao chúng ta có thể kì vọng các nhà khoa học nước ta sánh vai cùng các đồng nghiệp ở các trường lớn trên thế giới.

Tình trạng trên rất tương phản với tình hình ở các trường đại học hay viện nghiên cứu khoa học Tây phương, nơi mà thông tin được xem là một loại cơ sở vật chất (infrastructure). Trong các tiêu chuẩn dùng để xếp hạng và đánh giá danh tiếng của các trường dại học, ngoài các tiêu chuẩn khoa bảng, hệ thống thư viện và tập san khoa học là một tiêu chuẩn rất quan trọng. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các trường đại học “khoe” hệ thống thư viện của mình để cạnh tranh nhau thu hút sinh viên hay nghiên cứu sinh. Xin đơn cử trường hợp Viện nghiên cứu Garvan (nơi tôi đang công tác), có khoảng 400 nhà khoa học, nhưng ngân sách dành cho các tập san khoa học hàng năm dao động từ 700 ngàn đến 1 triệu đô-la, kể cả lương bổng cho hai nhân viên thư viện làm việc toàn thời gian. Bất cứ bài báo nào, từ đâu, công bố năm nào (kể cả vào thế kỉ 19) nếu có nhu cầu chính đáng, viện sẵn sàng dành chi phí để truy cập cho được, và phải truy cập nhanh. Yếu tố thời gian rất quan trọng, vì đối với những trường hợp lâm sàng hiếm hay có thể đe dọa đến tính mạng bệnh nhân, việc truy tìm thông tin khoa học xảy ra trong vòng vài phút, chứ không phải vài giờ, và bất kể ngày hay đêm, ngày thường hay ngày cuối tuần.

Mô hình xuất bản “cổ điển”

Trong thời đại kinh tế tri thức, thông tin và tri thức càng ngày càng được xem là một loại hàng hóa. Nhưng loại hàng hóa này càng ngày càng đắt giá và các nhà khoa học ở các nước đang phát triển khó có khả năng tài chính với đến. Điều này dẫn đến tình trạng “Information Divide” (Khoảng cách thông tin) giữa các nước Tây phương và các nước đang phát triển. Trong khi các nước Tây phương thì tràn đầy (và có thể nói là thừa) thông tin, thì các nước đang phát triển như nước ta lại “khát” thông tin. Nhiều nhà khoa học cho rằng khoảng cách thông tin này chính là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến việc phát triển và cải thiện sức khỏe ở các nước nghèo khó.

Nguyên nhân chính của khoảng cách thông tin giữa các nước nghèo và giàu một phần do mô hình xuất bản ấn phẩm vì lợi nhuận vốn tồn tại trong suốt 70 năm qua. Theo mô hình cổ điển này, các nhà xuất bản lớn quản lí các tập san (trên thế giới có khoảng 24 ngàn tập san khoa học) và qua các tập san buôn bán thông tin kiếm lời. Kiếm lời bằng cách nào? Hiện nay, những người như người viết bài này (tác giả từ các nước đã phát triển) khi công bố một bài báo phải trả cho các nhà xuất bản trung bình là 800 USD (ấn phí trung bình cho mỗi trang dao động từ 70 USD đến 150 USD, tùy theo loại giấy và có màu hay không). Cần nói thêm rằng, các tập san chỉ đóng vai hành chính trung gian, vì tất cả biên tập và chuẩn bị cho việc xuất bản bài báo đều do tác giả đảm nhiệm, còn trách nhiệm bình duyệt cũng thuộc về cộng đồng khoa học và hoàn toàn miễn phí. Các tập san công bố bài báo khoa học và bán thông tin cho độc giả (tức cộng đồng nghiên cứu khoa học)! Đó là chưa kể các tập san còn có thêm thu nhập lớn từ quảng cáo.

Với mô hình “cổ điển” này, nhà khoa học vừa là người sản suất ra thông tin, vừa là người mua thông tin! Nhà khoa học vất vả làm nghiên cứu, phân tích kết quả, viết báo cáo, và phải trả tiền để được công bố thông tin, và phải mua lại thông tin mà mình vừa công bố! Nhiều người không quen với mô hình này thoạt đầu nghe qua thì quá vô lí, nhưng thực tế là như thế.

Mô hình này đi ngược lại với lí tưởng của khoa học, đó là thông tin khoa học là tài sản của nhân loại, và mọi người có quyền truy nhập thông tin. Tuyên bố thiên niên kỉ (Millenium Declaration) ghi nhận quyền được truy cập thông tin. Tuy nhiên, thông tin khoa học ngày nay chịu sự kiểm soát của các tập đoàn xuất bản quốc tế, chủ yếu là Mĩ và Âu châu. Các tập đoàn này đứng đằng sau các tập san khoa học ở các nước Âu Mĩ ngày nay để kiếm lời, và đó chính là một trong những khó khăn cho việc phổ biến thông tin, và lí tưởng khoa học vẫn chưa trở thành thực tế mà chỉ còn là … lí tưởng.

Giải pháp internet

Một cuộc tranh luận “nóng” đã diễn ra trên các diễn đàn khoa học quốc tế về mô hình xuất bản ấn phẩm khoa học hiện nay [4]. Một số nhà khoa học cho rằng việc các tập san (và tập đoàn xuất bản) làm lời trên thông tin từ cộng đồng khoa học là phi đạo đức. Không hài lòng với mô hình xuất bản hiện hành, một nhóm nhà khoa học Mĩ và Âu châu đứng ra thiết lập một hệ thống xuất bản trực tuyến có tên là Public Library of Science (PLoS) [5], nơi mà tất cả các nhà khoa học khắp thế giới có thể công bố kết quả nghiên cứu, và bất cứ ai trên thế giới đều có thể truy nhập và hoàn toàn miễn phí. Một nhóm khác, BioMedical Central (BMC) [5] cũng theo mô hình “Open Access” này, mà theo đó, các nhà khoa học ở các nước đang phát triển có thể công bố kết quả nghiên cứu hoàn toàn miễn phí, và bất cứ ai trên thế giới cũng đều có thể truy nhập thông tin hoàn toàn miễn phí.

Hai năm trước đây, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization) khởi xướng chương trình Health InterNetwork Access to Research Initiative (HINARI), mà theo đó, WHO sẽ tài trợ một ngân khoản cho cho các nước có thu nhập thấp (kể cả Việt Nam). Dưới chương trình này, các trung tâm nghiên cứu và đại học y dược ở nước ta cũng như các nước đang phát triển có thể truy cập thông tin từ khoảng 2000 tập san hàng đầu trên thế giới. Đây là một phát triển quan trọng trong việc làm giảm khoảng cách thông tin giữa các nước nghèo và giàu, nhưng vẫn chỉ là giải pháp tạm thời, mang tính vá víu, chứ không giải quyết tuyệt đối vấn đề thiếu thông tin.

Năm ngoái, dưới sự hỗ trợ tài chính từ một số tổ chức từ thiện, Đại học Yale khởi xướng một chương trình có tên là Online Access to Research in the Environment (OARE), mà theo đó, các nhà khoa học từ 70 nước có thu nhập đầu người thấp (dưới 1000 USD) sẽ truy nhập thông tin miễn phí trong các lĩnh vực môi trường học, kinh tế học, luật, hóa học, sinh học, khí tượng học, hải dương học, địa lí học, nông nghiệp và thủy sản, kĩ thuật, năng lượng từ các tập đoàn xuất bản lớn như Elsevier, Blackwell, Taylor & Francis, Springer, John Wiley, Cambridge University Press, Oxford University Press, National Academy of Sciences, Amaerican Association for the Advancement of Science, Nature Publishing Group, Annual Reviews, v.v…

Một số tập đoàn xuất bản “hào hiệp” (như nhóm Bristish Medical Journal và BioMed Central chẳng hạn – cả hai đều ở Anh) có chính sách “lấy tiền người giàu chia cho người nghèo” (theo kiểu Robin Hood). Bởi vì phần lớn các nghiên cứu công bố trên các tập san này xuất phát từ những nước đã phát triển, do đó họ bắt buộc các nhà khoa học có bài đăng trên những tập san do họ quản lí phải trả tiền ấn phí. Họ đưa toàn bộ những bài báo khoa học lên internet, và tất cả các nước trên thế giới đều có thể truy nhập hoàn toàn miễn phí.

Trước những thử thách mới của các tập đoàn hào hiệp này, các nhà xuất bản lớn bắt đầu nhận thức được sự đe doạ của cuộc cách mạng thông tin do internet đem lại. Một số thay đổi chính sách xuất bản và tỏ ra “từ thiện” với các nước nghèo hơn. Vì hiện nay hầu hết các tập san khoa học đều công bố ấn phẩm khoa học trên hai hình thức internet và giấy (gần đây, thậm chí có một số tập san chuyển hẳn sang hình thức công bố ấn phẩm trên hệ thống internet), cho nên các tập san đồng ý cho các nhà khoa học từ các nước truy nhập thông tin trên internet (không phải tạp chí giấy) có giới hạn. Một số tập san (như Science chẳng hạn) có chính sách miễn phí cho những bài báo đã công bố trên 1 năm. Tuy đây là một chính sách “có hậu”, nhưng nghiên cứu khoa học, với tính cạnh tranh cao độ, truy nhập được thông tin trên 1 tuổi thì cũng đồng nghĩa với việc thua kém!

Giải pháp nào cho Việt Nam

Quay trở lại với tình trạng thiếu thông tin ở nước ta, một tình trạng mà một nhà nghiên cứu mới đây cho rằng “không thể chấp nhận được” [6]. Tôi cũng đồng tình với cảm nghĩ của đồng nghiệp này. Ở đây, tôi để nghị vài biện pháp cụ thể như sau:

Thiết lập một cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia. Hiện nay, nước ta có nhiều tập san khoa học, tuy chất lượng chưa cao, nhưng cũng cung cấp nhiều thông tin có ích và liên quan đến khoa học trong nước. Nhưng các thông tin này chưa được hệ thống hóa, và tình trạng này gây không ít khó khăn cho nhiều nhà nghiên cứu trẻ, kể cả nghiên cứu sinh, vì họ không truy tìm được tài liệu cần thiết. Một vài nghiên cứu sinh phàn nàn với người viết bài này rằng khi họ trình bày đề cương nghiên cứu trước thầy cô, họ bị phê bình rằng chỉ trích dẫn các báo cáo ở nước ngoài mà “coi thường” nghiên cứu từ trong nước, nhưng trong thực tế, rất khó mà biết các nhà nghiên cứu trong nước đã làm gì vì không có cơ sở dữ liệu.

Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu rất quan trọng. Trước đây, trước những lo ngại về chất anthrax trong chiến dịch chống khủng bố, các nhà khoa học truy tìm tài liệu khoa học và may mắn thay, vào lúc đó, chỉ có Thư viện Anh (British Library) là cơ quan duy nhất có hệ thống hóa dữ liệu khoa học trước năm 1950. Qua truy cập tài liệu, các nhà nghiên cứu mới phát hiện rằng chưa có nghiên cứu gì về anthrax trong suốt 47 năm! Nếu không có cơ sở dữ liệu của Thư viện Anh, có lẽ người ta phải tốn rất nhiều thời gian và công sức để biết về anthrax. Qua kinh nghiệm này, ở Mĩ và một số nước như Anh và Úc, các thư viện quốc gia có chương trình hệ thống hóa toàn bộ các bài báo khoa học trong một cơ sở dữ liệu và đưa lên internet. Chẳng hạn như hệ thống dữ liệu Pubmed Central (PMC, www.pubmedcentral.nih.gov) của Mĩ có mục đích tập hợp và hệ thống hóa các bài báo khoa học từ các tập san khoa học trong và ngoài nước Mĩ. Với PMC, chúng ta có thể truy nhập những bài báo công bố từ đầu thế kỉ 20. Nước ta có thể học từ PMC để phát triển một cơ sỡ dữ liệu nội địa và qua đó giúp cho thế hệ sau trong nghiên cứu khoa học.

Chủ động liên lạc với chương trình OARE và WHO để đảm bảo Việt Nam nằm trong danh sách của họ. Việc làm này đòi hỏi sự chủ động của một số tổ chức đại diện trong nước (chẳng hạn như Bộ Y tế hay Bộ Khoa học và môi trường). Những thành viên chính trong chương trình OARE là Kimberley Parker (Giám đốc thư viện Đại học Yale), Barbara Aronson (Giám đốc chương trình HINARI của WHO).

Tích cực tham gia vào chương trình Open Access để đảm bảo các nhà khoa học trong nước có thể truy nhập vào các tập san do chương trình này quản lí. Chương trình Open Access có mục tiêu chính là tạo điều kiện cho các nhà khoa học trên khắp thế giới, kể cả ở các nước đang phát triển, có thể truy nhập thông tin khoa học miễn phí. Chương trình này đang được rất nhiều đại học trên thế giới ủng hộ và rất thành công, không chỉ trong xuất bản ấn phẩm khoa học mà cả lĩnh vực phần mềm máy tính như ngôn ngữ R chẳng hạn [7]. Chúng ta có thể tranh thủ mời các nhân vật chính trong chương trình này (chẳng hạn như Leslie Chan, Barbara Kirsop, Stevan Harnard) đến Việt Nam để thảo luận về cách Việt Nam có thể tham gia hay đóng góp vào chương trình Open Access.

Quan trọng hơn hết là mở rộng và đầu tư vào công nghệ thông tin và internet. Phải nói ngay rằng hệ thống internet tại các trung tâm nghiên cứu và đại học nước ta chưa hoàn chỉnh, và trong tình trạng đó, tất cả các giải pháp trên sẽ không thể nào và không bao giờ thành hiện thực, bởi vì tất cả các giải pháp Open Access, OARE hay HINARI đều dựa vào internet. Do đó, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải trước hết kiện toàn hệ thống internet và thư viện. Nếu chưa có hai cơ sở vật chất này, chúng ta chưa thể thảo luận gì được với các nhóm mà tôi vừa nêu.

Như nói trên, đa số các tập san khoa học quốc tế hiện đang nhanh chóng chuyển sang xuất bản trực tuyến, và trong vòng 10 năm tới, tất cả các tập san khoa học ở các nước phát triển sẽ chuyển sang hình thức trực tuyến. Ngay cả hiện nay, rất nhiều thư viện đại học ở các nước Tây phương chỉ đặt mua (hay nói đúng hơn là truy nhập) các tạp chí khoa học qua mạng. Thế nhưng ở nước ta, điều đáng buồn hiện nay là các nhà nghiên cứu trong nước chưa được cập nhật hóa với các tài liệu khoa học quốc tế, mà một trong những nguyên nhân chính là truy nhập internet còn quá hạn chế, quá chậm. Nhiều trường đại học có lắp đặt internet nhưng hình như chỉ làm cho có và để đó, chứ chưa đưa vào khai thác sử dụng. Cụ thể là phần lớn những trang nhà của các trường đại học nước ta là những trang nhà chết. Hệ thống internet của các đại học nước ta chưa chiếm được lòng tin của người trong trường. Thậm chí, phần lớn (có thể nói 100%) giáo sư và nhân viên đại học, kể cả hiệu trưởng và hiệu phó, không dùng địa chỉ email của trường mà chỉ dùng các địa chỉ email công cộng như yahoo hay google!

Vì thế, một trong những nhu cầu cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học là phải tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu truy nhập internet để có thể truy cập các tài liệu nghiên cứu khoa học mới nhất, giúp cho việc phát triển ý tưởng và học hỏi phương pháp trong nghiên cứu. Internet đang mở ra một hướng đi rất quan trọng và có thể nói không ngoa là một cuộc cách mạng khoa học. Nếu chúng ta không phát triển internet cho các trường đại học thì mãi mãi chúng ta sẽ chỉ là người đi theo sau.

Để hội nhập quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức, nước ta cần phải “sản xuất” tri thức qua nghiên cứu khoa học, phổ biến tri thức qua giáo dục, và ứng dụng tri thức qua phát triển công nghệ. Ở bất cứ lĩnh vực nào, tất cả các nghiên cứu khoa học đều dựa vào những nghiên cứu trước và tùy thuộc vào khả năng truy cập thông tin và chia sẻ thông tin của nhà nghiên cứu. Không có thông tin cập nhật, các nhà khoa học nước ta sẽ mãi mãi là những người đi bên lề bên lề thế giới khoa học, và mãi mãi “dưới cơ” đồng nghiệp Tây phương. Có người bi quan cho rằng tình trạng “dưới cơ” là đương nhiên, vì cái vòng luẩn quẩn: nghèo dẫn đến thiếu tiền; thiếu tiền dẫn đến thiếu thông tin; thiếu thông tin dẫn đến chất lượng nghiên cứu nghèo nàn; và nghiên cứu nghèo nàn dẫn đến thiệt thòi kinh tế, nghèo khó. Chúng ta cần phải mở một nút thoát trong cái vòng luẩn quẩn này!

Chú thích:

[1] Xem bài “Nghiên cứu y học ở Việt Nam: đặc điểm, thiếu sót, và sai sót” của tôi, đăng trên Tạp chí Thông tin Y học thuộc Hội Y học Thành phố Hồ Chí Minh, số tháng 1,2 và 3/2007. Web: http://203.162.99.91/thoisuyhoc

[2] Xem bài “Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học Việt Nam: các nhà khoa học nghĩ gì qua những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế” của Phạm Duy Hiển, đăng trên Tập san Hoạt động Khoa học, số tháng 1, 2006.
Web: www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033

[3] Xem bài “Di truyền, sự tương tác giữa di truyền và môi trường – yếu tố quyết định chiều cao của con người” của tôi, đăng trên Tập san Hoạt động Khoa học, số tháng 6, 2006. Web: http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2188.

[4] Xem loạt bài tranh luận về quyền truy nhập thông tin khoa học trên Tập san Nature số 293, 412, năm 2001; và Tập san New England Journal of Medicine, số 344, năm 2001.

[5] Địa chỉ của PLoS:
www.plos.org, và BioMed Central: www.biomedcentral.com.

[6] Xem bài “Cấp thiết xây dựng thư viện số” của Đào Tiến Khoa, đăng trên Tia Sáng, số 17/4/2007. Website: www.tiasang.com.vn/news?id=1488.

[7] Trước đây các phần mềm phân tích thống kê có mặt trên thị trường rất đắt tiền, các trường đại học Tây phương phải trả hàng trăm ngàn USD để sử dụng cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Nhưng gần đây, qua cộng tác giữa các nhà thống kê học trên toàn cầu, một hệ thống ngôn ngữ phân tích số liệu có tên là R đã được phát triển và đang trở thành một phần mềm phân tích số liệu phổ biến nhất trên thế giới. R hoàn toàn miễn phí, và bất cứ ai trên thế giới với nối mạng internet có thể tải xuống máy tính cá nhân bất cứ lúc nào, và bất cứ ở đâu trên thế giới. Về R, có thể xem sách “Phân tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R” của tôi do Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật phát hành năm 2007.

Sunday, May 20, 2007

Có nên cổ phần hóa bệnh viện công

Có nên cổ phần hóa bệnh viện công? Đó là một câu hỏi thời sự mà nhiều người trong nước đang bàn (hay đang cổ phần hóa!) Sau đây là ý kiến của tôi đăng trên Tuổi Trẻ hôm

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=201903&ChannelID=3

Thứ Bảy, 19/05/2007, 18:24 (GMT+7)

Tự trị, chất lượng và y đức thay vì cổ phần hóa bệnh viện công

Ở Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM


TTCT - Vấn đề cổ phần hóa bệnh viện công đang được xã hội quan tâm, vì y tế là dịch vụ an sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân.


Xã hội hóa y tế, nâng cao chất lượng và phát triển y tế là ba biện luận cho định hướng cổ phần hóa.


Nhưng cổ phần hóa chỉ là một giải pháp cấp thời, cần phải nâng cao đầu tư của Nhà nước cho ngành y tế và trao quyền tự trị cho bệnh viện mới là giải pháp lâu dài.


Trong thực tế, hệ thống y tế công và tư ở nước ta, nhất là ở phía Nam, đã song song tồn tại từ hơn một thập niên qua. Gần đây, hệ thống y tế tư, kể cả các bệnh viện nhỏ và trung bình, phát triển rất nhanh. Đó là một dấu hiệu đáng mừng cho nền y tế nước nhà, phản ánh một phần tốc độ phát triển kinh tế nói chung. Người dân càng ngày càng quan tâm đến sức khỏe, và nhìn qua lăng kính kinh tế, nhu cầu sức khỏe tạo ra một thị trường y tế rất lớn cho những nhà đầu tư.


Sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân, do đó, có thể xem là một tiến trình tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Nhưng biến bệnh viện công thành bệnh viện tư qua hình thức cổ phần hóa có lẽ là một định hướng táo bạo, rất ít thấy ở các nước trong vùng hay ngay tại các nước có nền kinh tế thị trường lâu đời như Mỹ hay Úc. Theo tôi, những lý do đưa ra để cổ phần hóa bệnh viện công có vẻ thiếu tính thuyết phục. Ở đây, tôi muốn bàn qua vài lý do đó.


Xã hội hóa y tế


Định hướng này được đưa ra nhiều lần làm cơ sở cho lập luận cổ phần hóa bệnh viện. Đây là một định hướng đúng, nhưng biến bệnh viện công thành bệnh viện tư thì khó mà cho rằng đó là “xã hội hóa” y tế được, bởi vì thực chất chỉ là thay đổi tên nhưng vẫn với một êkip cũ (hay gần cũ).
Có lẽ vấn đề là tự trị, chứ không phải cổ phần hóa.


Ở Úc, phần lớn bệnh viện tư lớn do các tổ chức tôn giáo và từ thiện quản lý với định hướng bất vụ lợi. Các bệnh viện tư tồn tại song song và đóng vai trò tương trợ với các bệnh viện công. Chẳng hạn như hệ thống Bệnh viện St Vincent's ở Sydney (nơi người viết bài này cộng tác) có hai bệnh viện công và tư.


Bệnh viện St Vincent's công được xây dựng hơn 100 năm do Bộ Y tế quản lý về mặt chính sách nhưng được điều hành trực tiếp bởi một hội đồng quản trị. Bệnh viện St Vincent's tư do một hội đồng quản trị độc lập khác điều hành, nhưng vẫn hợp tác chặt chẽ với bệnh viện công. Một số lớn giáo sư, bác sĩ và chuyên gia của bệnh viện công cũng làm việc cho bệnh viện tư qua hình thức hợp đồng. Mô hình này đã hoạt động hữu hiệu suốt hơn hai thập niên qua.


Sự thành công của mô hình này một phần là do nhà nước chỉ đóng vai trò chỉ đạo, chứ không can thiệp vào việc điều hành bệnh viện. Hội đồng quản trị bệnh viện hoàn toàn có quyền tự trị trong các lĩnh vực như quản lý tài chính (tự do chi tiêu theo ngân sách, định các thang bậc lương bổng cho nhân viên, chuyển ngân sách giữa các khoa trong bệnh viện và mua bán bất động sản); quản lý nhân sự (như đặt ra điều kiện và lương bổng, phần thưởng, kỷ luật và trách nhiệm cho nhân viên, quyền mướn hay sa thải nhân viên); và phát triển dịch vụ, sản phẩm, như cung cấp hay ngưng cung cấp các dịch vụ làm tổn hao đến ngân sách.


Trong mô hình công - tư song song, bệnh viện công vẫn đóng vai trò chủ đạo vì có tài nguyên khá hơn, kể cả các thiết bị y khoa, để có thể cung ứng cho các bệnh nghiêm trọng so với bệnh viện tư. Chẳng hạn như đối với các ca giải phẫu lớn, bệnh nhân từ bệnh viện tư vẫn phải được chuyển sang bệnh viện công để tiến hành phẫu thuật. Ngoài ra, các nghiên cứu khoa học và sinh viên y khoa chỉ được thực hiện hay thực tập ở bệnh viện công, chứ không phải ở bệnh viện tư.


Chất lượng


Có ý kiến cho rằng cổ phần hóa để nâng cao chất lượng y tế. Nhưng ý kiến này dựa vào giả định rằng chất lượng y tế ở các bệnh viện tư cao hơn các bệnh viện công. Có thể giả định này đúng, nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những bằng chứng nghiên cứu cụ thể để chứng minh điều đó. Và, chúng ta không thể quản lý vấn đề nếu không “đo” được vấn đề qua nghiên cứu.
Cần phải định nghĩa “chất lượng” trong bối cảnh bệnh viện là gì. Theo giới nghiên cứu y tế, chất lượng bệnh viện bao gồm thực phẩm cho bệnh nhân; môi trường bệnh viện (bàn ghế, tủ, giường, sạch sẽ, ánh sáng); dịch vụ chuyên môn (y khoa, điều dưỡng, thiết bị); tiện nghi phòng (riêng tư, giờ thăm bệnh, tiện nghi); phục vụ cá nhân (riêng biệt, thông tin, chú ý đến nhu cầu cá nhân); và sự đáp ứng của hệ thống cấp cứu khi có sự cố. Các khía cạnh này có thể phát triển thành những “chỉ tiêu” cụ thể để đo lường chất lượng bệnh viện. Ngoài những chỉ tiêu định tính, còn có một chỉ tiêu quan trọng nhất: đó là tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày hay sau khi xuất viện 30 ngày.


Nghiên cứu từ Thái Lan và các nước Nam Mỹ cho thấy nói chung, về mặt thực phẩm, tiện nghi và môi trường bệnh viện, bệnh viện tư có chất lượng cao hơn bệnh viện công; nhưng về các khía cạnh lâm sàng như điều trị, khả năng chuyên môn, thời gian chăm sóc, thậm chí ngay cả thái độ bác sĩ và điều dưỡng, các bệnh viện công và bệnh viện tư không vị lợi (non-profit private hospitals) có chất lượng vượt xa các bệnh viện tư vị lợi (for profit private hospitals).


Một nghiên cứu qui mô khác ở Mỹ trên 16,9 triệu bệnh nhân nhập viện từ năm 1984-1993 cho thấy bệnh nhân từ các bệnh viện công và bệnh viện tư không vị lợi có số ngày nằm viện lâu hơn và tỉ lệ tử vong thấp hơn các bệnh viện tư vị lợi.


Nếu kinh nghiệm từ nước ngoài là những bài học, rất khó mà nói rằng cổ phần hóa bệnh viện công có thể nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân. Thật ra, phần lớn những chỉ trích và phàn nàn về “chất lượng” phục vụ các bệnh viện công hiện nay là thái độ của bác sĩ và điều dưỡng, tức là những vấn đề thuộc về y đức, chứ không hẳn thuộc về chất lượng.


Phát triển cơ sở vật chất


Có ý kiến cho rằng phải cổ phần hóa để thúc đẩy phát triển cơ sở vật chất cho ngành y tế. Điều này cũng không có gì sai, nhưng chúng ta cần phải xem qua đầu tư cho y tế của Nhà nước trong thập niên qua để nhìn ra vấn đề.


Hiện nay, chi tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ chiếm 6,1% tổng chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này là thấp nhất so với các nước láng giềng như Campuchia (16%), Lào (khoảng 7%), Malaysia (6,5%), Trung Quốc (10%) và Nhật (16,4%). Đầu tư của Nhà nước cho y tế còn quá khiêm tốn. Thật vậy, trong tổng chi tiêu cho y tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%, phần còn lại (72%) là từ dân hay tư nhân.


Theo số liệu của Bộ Y tế, tổng số giường bệnh trong năm 1997 khoảng 198.000, nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống còn 197.000. Trong cùng thời gian cả nước, tổng số cơ sở y tế giảm từ 13.269 vào năm 1997 xuống còn 13.243 vào năm 2005. Vì gia tăng dân số, cho nên số giường bệnh tính trên 10.000 dân số giảm từ 26,6 năm 1997 xuống còn 23,7 năm 2005. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện đều quá tải. Nhiều bệnh viện, hai thậm chí ba bệnh nhân phải nằm cùng một giường!


Nhìn qua các con số thống kê này, vấn đề chính có lẽ không phải cổ phần hóa bệnh viện, mà là tăng đầu tư của Nhà nước cho ngành y tế. Bệnh viện và các công trình phúc lợi xã hội (như trường học và đại học) là hiện thân, là thể hiện sự quan tâm của một chính phủ đến sự an sinh của người dân. Nhà nước cần phải tăng đầu tư cho ngành y tế, và qua đó tạo điều kiện sao cho người nghèo có thể được điều trị như mọi thành phần khác trong xã hội, và từng bước nâng cao công bằng xã hội.


Mục tiêu tối hậu của bất cứ hệ thống y tế nào là nâng cao sức khỏe người dân. Dù là bệnh viện công hay tư, mục tiêu đó vẫn là kim chỉ nam để hoạch định chính sách. Ở nước ta, mặc dù hệ thống y tế đã đạt được những thành tựu lớn (như giảm tỉ lệ trẻ sơ sinh, nâng cao tuổi thọ người dân, thành công xóa bỏ hay gần xóa bỏ một số bệnh truyền nhiễm...) nhưng ở bình diện vi mô, vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề nghiêm trọng. Năm 1996, 34 triệu người không có khả năng mua bảo hiểm y tế hay thanh toán bệnh viện phí.


Khoảng một phần ba người dân có thu nhập thấp không có khả năng tài chính để theo đuổi điều trị tại các bệnh viện. Trong thực tế, những ai làm việc trong các bệnh viện ở các tỉnh đều biết rằng có một số không nhỏ bệnh nhân trốn viện (trong tình trạng sức khỏe chưa ổn định) chỉ vì không có khả năng thanh toán viện phí. Đối với những bệnh nhân này, việc cổ phần hóa bệnh viện công có lẽ sẽ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ, và do đó khó mà đáp ứng mục tiêu tối hậu của y tế.


Nói tóm lại, để đạt được mục tiêu tối hậu (và cũng là lý tưởng) của ngành y tế, cổ phần hóa bệnh viện công chỉ là một giải pháp tạm thời mà lợi ích khó thấy trước được; giải pháp lâu dài hơn, theo tôi, là Nhà nước nên từng bước tăng cường đầu tư cho ngành y tế sao cho tương đương với các nước trong vùng, kể cả chương trình bảo hiểm y tế cộng đồng, trao quyền tự trị cho các bệnh viện công và giáo dục y đức.

Thursday, May 17, 2007

Vắcxin ngừa viêm gan B: nhiễu thông tin!

Tuổi Trẻ mới đăng một bài về vắcxin phòng viêm gan B, mà trong đó họ lấy thông tin từ trang web của ông Mercola. Nhưng rất tiếc những thông tin trong trang web này rất sai lầm và từng bị các giới chức y tế Mĩ cảnh cáo. Đây là một ví dụ "nhiễu thông tin" từ internet. Tôi gửi cho TT bài sau đây, hi vọng sẽ se đăng để bà con biết được đâu là thật và đâu là ... dỏm. NVT

Vắcxin ngừa viêm gan B: cẩn thận với “nhiễu thông tin”

Tuổi Trẻ (17/5/2007) có bài viết “Hàng trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ” với nhiều thông tin không chính xác. Phần lớn bài viết lấy thông tin từ trang web của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ý kiến “phi chính thống” và nổi tiếng chống đối các chương trình tiêm chủng ngừa. Ngay cả những “trung tâm” như “Trung tâm thông tin văcxin quốc gia Mỹ” tuy mới nghe qua có vẻ như là một trung tâm y tế nghiêm chỉnh, nhưng không được các hội đoàn y khoa chính thống công nhận, vì thực chất đây là một nhóm người “lobby” (chuyên tuyên truyền vận động) chống chương trình tiêm ngừa vắcxin ở Mĩ.

Những ai còn nghi ngờ về nhận xét đó của tôi có thể đọc qua một số bài viết của ông Mercola và của “trung tâm” này sẽ thấy rất nhiều phát biểu của họ hoàn toàn không dựa trên một cơ sở khoa học nào, nhưng lại sử dụng tối đa cảm tính hóa vấn đề. Cần nói thêm rằng trang web của ông Mercola đã bị Bộ Y tế Mĩ (Department of Health and Human Services) cảnh cáo vì những thông tin sai lạc [1].

Có quá nhiều thông tin trong bài viết hoặc thiếu cơ sở khoa học hoặc không đúng với tình hình thực tế ở Việt Nam. Ở đây, tôi chỉ xin nêu vắn tắt những điểm chính có thể dễ gây ra ngộ nhận ở những bạn đọc thiếu thông tin về vấn đề này:

Thứ nhất, phát biểu rằng “Khác với các bệnh truyền nhiễm khác, viêm gan B không phổ biến ở trẻ em và không dễ lây truyền” có thể đúng ở Mĩ, nhưng không đúng ở Việt Nam, vì hiện nay ở nước ta có khoảng 13% trẻ em mới sinh (9 đến 18 tháng) và 18% trẻ em tuổi từ 4 đến 16 bị nhiễm viêm gan B [2]. Ngay cả ở độ tuổi vị thành niên và trưởng thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B cũng khoảng 20%. Đó là một tỉ lệ rất cao. Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị tiêm ngừa viêm gan B ở những vùng có tỉ lệ cao hơn 2%. Chương trình tiêm ngừa viêm gan B đã được triển khai trên 150 nước trên thế giới, kể cả nước ta, từ hơn 20 năm qua và đã đạt được nhiều thành tựu ngoạn mục [3,4].

Thứ hai, phát biểu rằng “Văcxin viêm gan B đã được Cơ quan thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) cấp phép mà không có bằng chứng đầy đủ về tính an toàn dài hạn” là cực kì sai lầm. Ngược lại, có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy vắcxin ngừa viêm gan B rất hữu hiệu trong việc ngăn ngừa căn bệnh nguy hiểm này. Xin lấy chương trình tiêm ngừa ở Đài Loan, được xem là một thành công tiêu biểu, làm ví dụ. Ở Đài Loan, chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B được triển khai toàn quốc từ năm 1984, và chỉ trong vòng 10 năm sau khi triển khai chương trình tiêm chủng, tỉ lệ trẻ em mới sinh với viêm gan B giảm từ 10% xuống còn 1%. Trong cùng thời gian, tỉ lệ ung thư gan ở trẻ em giảm gần 50% [5,6]. Thành công này cũng được ghi nhận ở các nước Phi câu và Á châu.

Thứ ba, cho rằng “Chưa tới 5% những người bị nhiễm virus viêm gan B sẽ mang bệnh mãn tính” cũng quá sai. Viêm gan B là một bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân dẫn đến các bệnh mãn tính như xơ gan, ung thư gan và tử vong. Số liệu nghiên cứu cho thấy từ 8 đền 20% những trẻ em bị viêm gan B sẽ mắc nhiều bệnh mãn tính, kể cả ung thư gan khi trưởng thành [7]. Tuy ung thư gan thường thấy ở bệnh nhân 40 tuổi trở lên, nhưng ở những vùng có tỉ lệ viêm gan cao như Đông Nam Á, ung thư gan cũng được phát hiện khá nhiều ở trẻ em vị thành niên. Nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy gần 100% trẻ em ung thư gan là do viêm gan B [8].

Thứ tư, tôi không thấy bất cứ bằng chứng nào làm cơ sở cho phát biểu “… trong khoảng 1990-1998 có 25.000 báo cáo cho thấy 439 trường hợp bị chết, hơn 9.000 tai biến nghiêm trọng”. Như trình bày trong một bài trước, một nghiên cứu ở Mĩ về sự cố và hiệu ứng của tiêm vắcxin cho thấy tính từ 1991 đến 1998, có 18 trường hợp trẻ em (8 nam, 9 nữ và 1 trường hợp không rõ giới) mới sinh chết sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Phân tích chi tiết nguyên nhân tử vong cho thấy có 12 trường hợp chết do đột tử (sudden infant death syndrome hay SIDS), 3 trường hợp do nhiễm trùng, 1 trường hợp do xuất huyết não, và 1 trường hợp không rõ nguyên nhân. Trong cùng thời gian, có hơn 86 triệu liều vắcxin được tiêm cho trẻ em. Các tác giả nghiên cứu kết luận rằng “các số liệu này cho thấy tiêm ngừa viêm gan B không làm gia tăng nguy cơ tử vong ở trẻ em” [9].

Tuy chương trình tiêm ngừa vắcxin ở nước ta đang gặp khó khăn trước 4 trường hợp tử vong và chưa rõ nguyên nhân, nhưng kinh nghiệm từ nước ngoài cho thấy chương trình này đem lại lợi ích lớn cho cộng đồng. Chúng ta có thể làm một vài tính toán đơn giản để thấy lợi ích này. Mỗi năm, có khoảng 1,5 triệu trẻ em mới sinh, và với tỉ lệ nhiễm 13%, chúng ta có thể ước tính có đến 202.000 em nhiễm viêm gan B. Nếu không tiêm vắcxin, số trẻ em này sẽ mắc bệnh khi trường thành, và khoảng 15% đến 25% sẽ bị chết vì các bệnh mãn tính liên quan đến gan và ung thư gan. Nhưng tiêm vắcxin lúc mới sinh có thể xóa bỏ khoảng 90% đến 95% các trường hợp viêm gan B, và do đó, có thể cứu sống cho hơn 38.000 người.

Quay trở lại vấn đề thông tin, có thể nói rằng cuộc cách mạng thông tin ngày nay đã đem lại cho bác sĩ và bệnh nhân một cơ hội và cũng là một lợi ích mà họ chưa bao giờ có được trong vài thập niên trước đây: đó là sự tiếp cận với thông tin y khoa qua internet. Internet là một thư viện thông tin vĩ đại, nhưng cũng như các phương tiện truyền thông khác, có rất nhiều thông tin trên internet chưa bao giờ qua kiểm chứng, không rõ nguồn gốc, nhưng được truyền đi với một mục tiêu vì lợi ích cá nhân. Sàng lọc thông tin có ích từ từ “đống rác” này đòi hỏi vài kĩ năng chuyên môn. Như nói trên, trang web của ông Mercola mà Tuổi Trẻ trích dẫn đã từng bị Bộ Y tế cảnh cáo hai lần và Cơ quan quản lí thực phẩm và thuốc của Mĩ (FDA) yêu cầu ông ngưng tuyên truyền sai.

Trong khoa học, niềm tin và kinh nghiệm cá nhân không thể xem là khách quan, và không thể làm nền tảng để hành động, nếu những kinh nghiệm đó chưa qua thử nghiệm khách quan. Do đó, y học trong thế kỉ 21 là “y học thực chứng” (evidence-based medicine). Theo đó, tất cả các phương pháp điều trị, các chương trình y tế công cộng, và thực hành y khoa phải nên dựa vào bằng chứng khoa học [10]. Bằng chứng khoa học khách quan nhất và đáng tin cậy nhất là những báo cáo trong các tập san khoa học quốc tế của các hội đoàn chuyên khoa, chứ không phải những phát biểu cá nhân không có cơ sở khoa học. Chúng ta phải hành xử và phán xét dựa trên cơ sở dữ kiện nghiên cứu, những dữ kiện được thu thập một cách khách quan, chứ không dựa vào cảm tính hay theo phong trào hay áp lực.


Chú thích: Để cung cấp cho bạn đọc quan tâm và đồng nghiệp y khoa vài thông tin chính, những phát biểu của tôi trong bài này dựa vào những công trình nghiên cứu khoa học sau đây (số thứ tự chỉ nguồn tham khảo cho từng phát biểu quan trọng trong bài viết):

1. Xin xem lá thư cảnh cáo “Warning Letter” ngày 16/2/2005 của Bộ y tế gửi ông Mercola trong trang web này: http://www.casewatch.org/fdawarning/prod/2005/mercola.shtml. Đến năm 2006, Bộ y tế Mĩ lại cảnh cáo ông một lần nữa (xem thư “Warning Letter đề ngày 21/9/2006 tại http://www.casewatch.org/fdawarning/prod/2006/mercola2.shtml)

2. Hipgrave DB, et al. Hepatitis B infection in rural Vietnam and the implications for a national program of infant immunization. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene 2003; 69:288-94.

3. Francois G, et al. Vaccine safety controversies and the future of vaccination programs. Paediatric Infectious Disease Journal 2005; 11:953-61.

4. Shepard CW, et al. Hepatitis B virus infection: Epidemiology and vaccination. Epidemiologic Review 2006;28:112-125.

5. Chang MH, et al. Universal hepatitis B vaccination in Taiwan and the incidence of hepatocellular carcinoma in children. New England Journal of Medicine 1997; 336:1855-9.

6. Chang MH, et al. Hepatitis B vaccination and hepatocellular carcinoma rates in boys and girls. JAMA 2000; 284:3040-2.

7. World Health Organization. Hepatitis B. www.who.int/vaccines-diseases/hepatitis_b.htm.

8. Chang MH, et al. Maternal transmission of heptatitis B virus in childhood hepatocellular carcinoma. Cancer 1989; 64:2377-80.

9. Niu MT, et al. Neonatal deaths after hepatitis B vaccine. Archives of Pediatric Adolescent Medicine 1999; 153:1279-82.

10. Về y học thực chứng, xin xem cuốn “Hai mặt sáng tối của y học hiện đại” của Nguyễn Văn Tuấn, Nhà xuất bản Trẻ in lần thứ 2 năm 2006.

Khổng Tử phục hồi

Nhà hiền triết Khổng Tử là một trong những nhân vật tôi thích. Thỉnh thoảng trong nghiên cứu khoa học và giảng bài, tôi vẫn trích mấy câu nói của ông ấy. Tuy nhiên, không phải ông ấy nói gì tôi cũng nghe theo, mà chỉ lựa chọn những câu và triết lí tôi thấy có thể "phản nghiệm" được mà thôi. Bài sau đây nói về sự phục hồi triết lí Khổng Tử ở Trung Quốc. Tại sao không?

Ngoài ra, bạn nào thích Khổng Tử, có thể đọc bài này của Hoàng Văn Lân rất hay:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9415&rb=0306
"7 luận điểm về kẻ sĩ trong học thuyết Khổng tử"



Confucius makes a comeback
From The Economist print edition
May 17th 2007 BEIJING


You can't keep a good sage down

“STUDY the past”, Confucius said, “if you would define the future.” Now he himself has become the object of that study.

Confucius was revered—indeed worshipped—in China for more than 2,000 years. But neither the Communist Party, nor the 20th century itself, has been kind to the sage. Modern China saw the end of the imperial civil-service examinations he inspired, the end of the imperial regime itself and the repudiation of the classical Chinese in which he wrote. Harsher still, during the Cultural Revolution Confucius and his followers were derided and humiliated by Mao Zedong in his zeal to build a “new China”.

Now, Professor Kang Xiaoguang, an outspoken scholar at Beijing's Renmin University, argues that Confucianism should become China's state religion. Such proposals bring Confucius's rehabilitation into the open. It is another sign of the struggle within China for an alternative ideological underpinning to Communist Party rule in a country where enthusiasm for communism waned long ago and where, officials and social critics fret, anything goes if money is to be made.

Confucius's rehabilitation has been slow. Explicit attacks on him ended as long ago as 1976, when Mao died, but it is only now that his popularity has really started rising. On topics ranging from political philosophy to personal ethics, old Confucian ideas are gaining new currency.

With a recent book and television series on the Analects, the best-known collection of the sage's musings, Yu Dan has tried to make the teachings accessible to ordinary Chinese. Scholars have accused her of oversimplifying, but her treatment has clearly struck a chord: her book has sold nearly 4m copies, an enormous number even in China.

Further interest is evinced by the Confucian study programmes springing up all over the Chinese education system. These include kindergarten classes in which children recite the classics, Confucian programmes in philosophy departments at universities, and even Confucian-themed executive-education programmes offering sage guidance for business people.

But perhaps the most intriguing—albeit ambivalent—adopter of Confucianism is the Communist Party itself. Since becoming China's top leader in 2002, President Hu Jintao has promoted a succession of official slogans, including “Harmonious Society” and “Xiaokang Shehui” (“a moderately well off society”), which have Confucian undertones. On the other hand, says one scholar at the party's top think-tank, the Central Party School, official approval is tempered by suspicions about religion and by lingering concern over the mixture of Buddhism and other religious elements in Confucian thinking.

The relevance of Confucian ideas to modern China is obvious. Confucianism emphasises order, balance and harmony. It teaches respect for authority and concern for others.

For ordinary Chinese, such ideas must seem like an antidote to the downside of growth, such as widening regional disparities, wealth differentials, corruption and rising social tension. For the government, too, Confucianism seems like a blessing. The party is struggling to maintain its authority without much ideological underpinning (Deng Xiaoping questioned the utility of ideology itself when he said that it doesn't matter if a cat is black or white so long as it catches mice). Confucianism seems to provide a ready-made ideology that teaches people to accept their place and does not challenge party rule.

As an additional advantage, Confucianism is home-grown, unlike communism. It even provides the party with a tool for advancing soft power abroad. By calling China's overseas cultural and linguistic study centres “Confucius Institutes”, the party can present itself as something more than just an ideologically bankrupt administrator of the world's workshop.

Yet despite this, Confucianism is not an easy fit for the party. It says those at the top must prove their worthiness to rule. This means Confucianism does not really address one of the government's main worries, that while all will be well so long as China continues to prosper, the party has little to fall back upon if growth falters.

Writing last year, Professor Kang argued that a marriage of Confucianism and communism could nevertheless be made to work. He argued that the party has in reality allied itself with China's urban elite. “It is”, he wrote, “an alliance whereby the elites collude to pillage the masses,” leading to “political corruption, social inequality, financial risks, rampant evil forces, and moral degeneration.” The solution, he argued, was to “Confucianise the Chinese Communist Party at the top and society at the lower level.”

But Stephen Angle, a Fulbright scholar at Peking University and a philosophy professor at Wesleyan University in America, argues that Confucianism may not be as useful to the party as it thinks. For a start it has little to say about one of the party's biggest worries, the tension in urban-rural relations. More important, a gap in Confucian political theory should alarm a government seeking to hold on to power in a fast-changing environment. “One big problem with Confucianism”, says Mr Angle, “is that it offers no good model for political transition, except revolution.”