Wednesday, June 20, 2007

Chất độc da cam, trách nhiệm, và nhân đạo



Xin được chia sẻ cùng các bạn một bài bình luận tôi viết trong ngày phiên tòa xét xử vụ chất độc da cam bên New York. Bài này tôi gửi cho Tuổi Trẻ, nhưng hình như họ không dám (hay không muốn) đăng, nên tôi gửi cho các anh chị ở Tia Sáng.

Trong bài này, tôi chỉ muốn nói rằng "vấn đề da cam" chẳng phải là cái gai gì cả trong quan hệ ngoại giao giữa Mĩ và Việt Nam, nếu (chữ nếu khổng lồ) phía Mĩ tỏ ra có trách nhiệm và thiện chí. Còn nếu họ không có trách nhiệm và thiện chí thì chẳng khác gì mình nói chuyện với không khí! Cái điều trớ trêu nhất mà tôi thấy là trong khi Mĩ hăng hái lên tiếng dạy đời về nhân quyền này nọ, nhưng cái vấn đề nhân quyền sờ sờ trước mắt họ (như vấn đề da cam) thì họ rất mắc cỡ, không dám nói. Ôi, sao mà đạo đức giả thế!

Tôi từng ở Mĩ và phải nói là rất thích cái xứ sở này, thích hơn Úc, nhưng đụng với mấy tay chính trị gia thì tôi phải nói là không ưa được.

Địa chỉ bài báo trên Tia Sáng: http://www.tiasang.com.vn/news?id=1653





Tuesday, June 19, 2007

Lệ Thu - tiếng hát để đời

Trong những tiếng hát thời trước, tôi mến mộ tiếng hát Lệ Thu nhất. Thời thập niên 1970s, Lệ Thu nổi tiếng với bài Nước mắt mùa thu và hàng loạt ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn.

Tôi thấy tiếng hát Lệ Thu sâu lắng, thiết tha, và mang chút âm điệu buồn bã. Chính vì thế mà Lệ Thu trình diễn các ca khúc buồn mới đạt. Nếu các bạn thử nghe Lệ Thu ca bài Hoài cảm (Cung Tiến sáng tác năm 1953) thì sẽ thấy chẳng có ca sĩ nào diễn đạt hay hơn chị ấy cả.

Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa

Thiết tha ngân lên lời xưa
Quạnh hiu về thấm không gian
Âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn

Chờ nhau hoài cố nhân ơi!

Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!
Thời gian tựa cánh chim bay,

Qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?

Có lẽ vì bị Lệ Thu mê hoặc, cho nên suốt 27 năm ở nước ngoài, tôi chưa bao giờ đi nghe những cái mà người ta gọi là “đại nhạc hội”, chưa bao giờ bước vào một show nhạc nào cả. Nhưng đọc tin tức thấy lần này Lệ Thu về Việt Nam hát. Ui chao, tiếc quá! Tôi đâu thể mua vé máy bay để chỉ về nghe Lệ Thu hát. Thôi thì đành một lần lở hẹn với người ca sĩ mà tôi hằng mến mộ.

NVT

http://www.vietimes.com.vn/vn/vanhoa/1946/index.viet

Lệ Thu: Đời tôi không đến nỗi "buồn tênh"

Thứ ba, 19/6/2007, 09:28 GMT+7

Trở lại quê nhà, Lệ Thu sẽ trình diễn tại TP.HCM trong vài ngày tới trong
chương trình âm nhạc Trịnh Công Sơn. Trong lần tái ngộ này, vẻ tươi tắn của người ca sĩ đã hơn 40 năm theo nghề hát khác hẳn với câu ca: “Một đời ca sĩ hát trong buồn tênh...” được viết tặng riêng cho chị một thời.

Lần trở về này có ý nghĩa thế nào với chị?

- Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là khán giả. Ở tuổi này vẫn còn được mong chờ, khao khát nghe mình hát thì lòng mình cũng có những cảm xúc nôn nao hệt như thế. Tôi đã đi nhiều nước, hát cho nhiều người nghe thì tại sao không trở về để hát cho khán giả trên quê hương của mình?

Chị nghĩ thế nào về thời điểm trở về sau hơn 30 năm?
- Một tí nữa thì trễ. Âm nhạc hiện đại luôn đi kèm với tiết tấu, vũ đạo, màu sắc...

Còn chị, hơn 40 năm, vẫn mang phong thái tĩnh để hút lòng người. Vì sao?
- Thật ra những ngày đầu tiên, lý do tôi đứng sững một chỗ là do tôi sợ quá chứ không có lý do gì đặc biệt như nhiều người nghĩ. Tôi hát nhạc buồn thì không có cách gì nhún nhảy cả, bạn có đồng ý với tôi không? Mỗi người có một sắc thái riêng biệt, giữa một “cái tĩnh” và “cái động” thì tôi vẫn phải giữ cái tĩnh của mình, nếu “động” thì chắc không làm lại người khác đâu.

Theo chị, điều gì đã tạo nên đỉnh cao của tiếng hát Lệ Thu?

- Có rất nhiều người hát hay, nhưng không phải ai cũng gặp may mắn để đi đến đỉnh cao của mình. Tôi không cho là mình hát hay, nhưng tôi có được cái may mắn... “khác người”. Vào khoảng năm 1960, khi các ca sĩ đàn chị Ngọc Lan, Thái Thanh... hát giọng mũi, tôi chọn hát giọng thật, có lẽ điều đó và phong cách “đứng sững một chỗ” cho tôi trở thành đặc biệt chăng?

Vào đời sớm trên một con đường thênh thang như vậy, chị có cảm thấy cô đơn?
- May mắn cho cuộc đời tôi, tôi có niềm đam mê sách, mê ghê gớm lắm. Tôi cứ ôm lấy sách mà đọc, như một “con mọt” nên gần như không có thời gian để... cô đơn. Khi mình đọc sách là mình nói chuyện với nhà thông thái, người ta phải dày công để cô đọng cuộc sống lại trong một tác phẩm, mình được đọc những cái đó, đọc được tư tưởng hay của họ thì còn gì quí giá hơn. Có thể nói đọc được nhiều tác phẩm hay là diễm phúc của tôi.

Còn bài Nước mắt mùa thu mà nhiều người nghĩ là viết cho nghiệp ca hát của chị?
- Đúng là nhạc sĩ Phạm Duy viết bài hát này để tặng riêng cho tôi, nhưng đó là cảm nhận của riêng ông. Đôi khi dưới ánh đèn màu mình có một cuộc sống khác, nhưng như tôi đã nói, cuộc sống của tôi không “buồn tênh” lắm đâu.

Còn điều gì chị chưa hài lòng trong cuộc sống và sự nghiệp của mình?
- Trong 40 năm theo nghề hát, điều mà tôi hối tiếc nhất có lẽ là tôi đã không giữ được hạnh phúc gia đình như những người phụ nữ khác. Tôi nổi tiếng sớm quá, được may mắn sớm quá nên nghĩ mình là cái rốn của vũ trụ vì thế đã không biết giữ gìn, nâng niu hạnh phúc riêng. Nếu làm lại từ đầu, có lẽ tôi sẽ thay đổi điều này.

Monday, June 18, 2007

Cần hiểu đúng về ung thư và nguy cơ ung thư

Hầu như ngày nào chúng ta cũng đều nghe qua một yếu tố nào đó có liên quan đến ung thư. Có tủ lạnh trong nhà, mặc soutien, tóc màu vàng, ở gần đường điện cao thế, sở hữu điện thoại di động, nghiện cà phê, ăn nhiều thịt nướng, v.v… đều từng được “tố cáo” là có liên quan đến ung thư. Thật ra, danh sách trên còn rất dài và nhiều đến độ chúng ta ăn bất cứ thực phẩm nào cũng đều dính dáng đến ung thư! Trong vụ nước tương đen mà công chúng quan tâm hiện nay, đã xuất hiện khá nhiều thông tin trái ngược nhau. Giới báo chí “xúm lại” tấn công các giới chức y tế với đủ thứ ngôn từ đầy cảm tính. Nào là “cố tình dấu diếm”, “né tránh”, thậm chí cả “ngụy biện”. Hình như giới báo chí không hiểu (hay không chịu hiểu rằng) trả lời câu hỏi ung thư không phải chỉ nói đôi ba câu là xong.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên, một bác sĩ chuyên về ung thư ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết “3-MCPD là chất có thể gây bệnh ung thư trên chuột như: ung thư tinh hoàn, ung thư vú, ung thư da bìu và ung thư thận.” Hai chữ “có thể” đó rất quan trọng, vì nó nói lên tình trạng bất định của kiến thức y khoa. Tuy nhiên, sự bất định của kiến thức y khoa lại mâu thuẫn câu trả lời mà bệnh nhân muốn biết về tác hại: có hay không. Trong bài này, tôi chỉ muốn công chúng, kể cả phóng viên báo chí, phân biệt cho được cụm từ “mắc ung thư” và “nguy cơ mắc ung thư”. Hiểu và phân biệt được hai cụm từ này sẽ giúp chúng ta tránh những hiểu lầm có thể dẫn đến những hành động cảm tính không cần thiết.


Hai chữ “ung thư” thường gieo vào công chúng một nỗi sợ hãi, bởi vì trong cách hiểu của nhiều người, đó là một căn bệnh kinh tởm. Ngay cả trong giới bác sĩ cũng sợ hãi ung thư. Tôi còn nhớ trong một seminar bàn về các bệnh nan y, diễn giả trình bày vấn đề bệnh tim mạch, loãng xương, đái tháo đường bằng những hình hoạt họa nhằm mục đích khuyến khích quần chúng thường xuyên tập thể dục, ăn uống điều độ, giảm lượng chất béo trong cơ thể để giảm nguy cơ bị bệnh tim. Có nhiều hình hoạt họa làm cho cử tọa cười thoải mái, và buổi giảng làm nhiều người hài lòng. Nhưng khi qua đến phần ung thư thì phòng họp im phăng phắc, chẳng thấy ai cười; ai cũng tỏ vẻ rất quan tâm.

Trong chúng ta, ai cũng nghe qua bệnh ung thư hay biết một người nào đó bị ung thư. Một người dượng tôi qua đời vì bệnh ung thư phổi. Ba tôi bị ung thư tiền liệt tuyến nhưng ông qua đời vì bệnh tim mạch. Một người bạn tôi quen biết bị ung thư vú. Nhìn qua nhìn lại, chúng ta thấy có khá nhiều người là nạn nhân của ung thư, và có lẽ vì thế hai chữ “Ung thư” có một lực ngầm nào đó rất đặc biệt làm cho người ta phải ngán sợ. Đó là một bệnh có độ cảm tính rất cao. Người ta cho rằng đó không phải là một bệnh đáng đùa như bệnh tim được. Vì thế, cũng là tự nhiên thôi, khi chúng ta tìm mọi cách để tránh nó. Nguyên tắc “phòng bệnh hơn chữa bệnh” rất phù hợp với bệnh ung thư.

Ung thư là bệnh có nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp. Nguyên nhân trực tiếp là qui trình sản xuất và tái sản xuất của tế bào bị rối loạn, dẫn đến một cơ phận trong cơ thể bị hư hỏng một cách tuyệt vọng. Tế bào phát triển nhanh nhưng “mất trật tự”, và lan sang các cơ phận khác trong cơ thể, và cuối cùng “ăn sống” cơ thể làm cho cơ thể phải chết. Hoạt động sản xuất và tái sản xuất của tế bào chịu sự điều khiển của gien. Cho đến nay, ngoài vài trường hợp ung thư vú và ung thư phổi, những bệnh mà giới khoa học đã tìm ra vài gien (như gien BRCA1, BRCA2 và vài gien mới phát hiện trong tháng qua), phần còn lại chúng ta vẫn không biết các gien này là gì và ở đâu. Một cách để “đo lường” mức độ ảnh hưởng của gien hay biết được tín hiệu của gien là xem xét trong gia đình có thân nhân nào từng bị ung thư hay không (giới y khoa gọi là “tiền sử gia đình”).

Nhưng gien không hoạt động một mình, mà chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường và hormone. Nói cách khác, gien chỉ kích hoạt gây ung thư khi bị phơi nhiễm với một yếu tố môi trường nguy hiểm nào đó. Yếu tố môi trường ở đây bao gồm thói quen ăn uống, thuốc lá, bia rượu, vận động cơ thể, môi trường làm việc, mức độ phơi nhiễm với các hóa chất trong cuộc sống, v.v… Do đó, các nguyên nhân gián tiếp gây ra ung thư là các yếu tố môi trường và hormone. Có nghiên cứu ước tính rằng khoảng 95% các trường hợp ung thư mà bác sĩ điều trị là do các yếu tố môi trường gây ra, và gien là nguyên nhân gây ra khoảng 5% các trường hợp ung thư.

Thật ra, ước tính như thế cũng quá đơn giản, vì khó mà qui bao nhiêu trường hợp ung thư do gien và bao nhiêu do môi trường, trong khi chúng ta chưa biết gien nào là “thủ phạm”. Tại sao những người có tiền sử gia đình ung thư nhưng lại không bao giờ mắc bệnh ung thư? Tại sao một số người không bao giờ hút thuốc lá lại bị ung thư? Chúng ta không có câu trả lời dứt khoát, mà chỉ có thể đặt giả thiết để giải thích vấn đề. Giả thiết đặt ra là do sự tương tác giữa gien và môi trường. Theo giả thiết này, người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư (tức có khả năng người đó mang trong người gien có hại) nhưng vì môi trường sống có lợi, cho nên người đó không mắc ung thư. Một người không bao giờ hút thuốc lá có thể bị ung thư vì người đó mang trong người gien nguy hại hay bị phơi nhiễm một yếu tố nguy cơ khác. Theo giả thiết tương tác này, phần lớn ung thư chỉ xảy ra khi đối tượng hội đủ hai điều kiện có nhiều gien (không chỉ một gien) nguy hại và sống trong một môi trường với nhiều yếu tố (không phải chỉ một yếu tố) nguy hiểm. Tuy nhiên, mối ảnh hưởng tương tác giữa gien và môi trường đến ung thư là một câu hỏi lớn, một bí ẩn khoa học, mà cho đến nay, vẫn chưa có ai có giải đáp thỏa đáng.

Chính vì sự bất định của khoa học như thế, nên không ai dám phát biểu dứt khoát rằng ăn nhiều nước tương đen chứa chất 3-MCPD, hay hút thuốc lá, hay uống rượu bia sẽ gây ung thư. Người nào nói như thế là thiếu thành thật tri thức, hay không biết mình nói gì. Nhưng chúng ta có thể nói rằng trong những người hút thuốc lá nhiều có nhiều người bị ung thư hơn trong nhóm người không hút thuốc lá. Nói cách khác, nguy cơ mắc bệnh ung thư ở những người hút thuốc lá cao hơn nguy cơ mắc bệnh ở những người không hút thuốc lá.

“Nguy cơ” là cụm từ rất quan trọng trong phát biểu trên. Nguy cơ là chữ xuất phát từ thuật ngữ risk trong tiếng Anh. Nguy cơ là một khái niệm toán học có liên quan mật thiết đến xác suất. Có thể lấy một ví dụ sau đây để minh họa cho khái niệm nguy cơ trong y tế. Chẳng hạn như trong một cộng đồng cư dân gồm 1000 người, có 20 người bị bệnh ung thư. Chúng ta có hai cách phát biểu về qui mô này: cách thứ nhất là dùng con số phần trăm: Tỉ lệ bệnh ung thư trong cộng đồng là 2 phần trăm; cách thứ hai là dùng tỉ số khả dĩ (likelihood ratio) bằng cách lấy số người bị ung thư chia cho số người không bị ung thư: 20 / 980 = 0,082 (tỉ số khả dĩ bị ung thư là 0,082). Tỉ số khả dĩ càng cao, xác suất bị ung thư càng cao. (Chú ý: nếu tỉ số này là 1, điều đó có nghĩa là xác suất bị ung thư là 50%). Nói tóm lại, nguy cơ ở đây chính là xác suất, là tỉ lệ, là phần trăm.

Như vậy, nguy cơ là tần số một sự kiện xảy ra. Chẳng hạn như nếu tôi nói “Nguy cơ mà bạn bị ung thư là 0,10 hay 10%” thì điều đó có nghĩa là trong 100 người như bạn, có 10 người bị ung thư, nhưng tôi không biết bạn có phải là một trong số 10 người đó hay không. Nói cách khác, nó là một con số áp dụng cho một quần thể, chứ không phải cho một cá nhân. Ấy thế mà câu phát biểu đó dùng cho một cá nhân! Do đó, có người cho rằng một phát biểu như thế hoàn toàn vô nghĩa, bởi vì một cá nhân là chỉ 1 cá nhân, mà 1 cá nhân thì không có mẫu số.

Cách hiểu về nguy cơ hay xác suất như vừa trình bày trên là cách hiểu theo trường phái xác suất dựa vào tần số (frequentist school of probability). Một định nghĩa xác suất thứ hai được đề xuất từ thế kỉ 17 là trường phái xác suất chủ quan (subjective probability). Theo trường phái này, xác suất là một diễn đạt cá nhân. Chúng ta sử dụng xác suất hàng ngày nhưng không để ý. Chúng ta vẫn thường nói “Hôm nay chắc trời mưa quá”, hay “Tôi thấy anh hình như bị cảm lạnh”. Đó là những cảm nhận cá nhân về một sự kiện, một tình trạng, nhưng là những cảm nhận bất định, không chắc chắn. Cách phát biểu như trên là một cách diễn đạt mối liên hệ của một cá nhân đối với một sự kiện, nó không phải là một đặc tính khách quan của sự kiện. Chính vì thế mà có người đề nghị chúng ta nên nói “xác suất về sự kiện” (probability for an event), chứ không nên nói “xác suất sự kiện” (probability of an event). Do đó, theo trường phái chủ quan này, xác suất, là một số đo về sự bất định (degree of uncertainty), hay một số đo về mức độ tin tưởng (degree of belief). Quay trở lại câu nói “Xác suất mà bạn bị ung thư là 10%”, theo cách hiểu này, là một cảm nhận chủ quan của cá nhân người phát biểu đến bệnh nhân. Không có cách gì để chứng minh câu phát biểu đó đúng hay sai (ngoại trừ xác suất là 0 hay 1).

Christiaan Barnard là nhà giải phẫu đầu tiên ghép tim (heart transplantation) trên thế giới. Ông thuật lại một câu chuyện mà tôi thấy cần phải viết ra đây để bàn về nguy cơ và xác suất. Bệnh nhân thay tim đầu tiên trên thế giới của Barnard là Louis Washkansky. Khi được đưa vào phòng giải phẫu, Washkansky đang say mê đọc sách trên giường như không để ý gì đến một sự kiện lịch sử y khoa sắp xảy ra. Barnard vào phòng giải phẫu, tự giới thiệu với Washkansky, và giải thích tường tận rằng ông sẽ cắt bỏ trái tim bệnh của Washkansky và thay vào đó là một trái tim mới lành mạnh hơn. Barnard nói thêm: ông sẽ có cơ may bình phục (there is a chance that you can get back to normal life again). Washkansky không hỏi cái cơ may đó là bao nhiêu, không hỏi ông có thể sống bao lâu nữa, mà chỉ nói “tôi sẵn sàng” và quay lại tiếp tục đọc sách! Barnard cảm thấy rất lo âu và bối rối, bởi vì Washkansky rõ ràng không ý thức được rằng đây là một sự kiện quan trọng trong đời của chính ông mà còn là một sự kiện lịch sử trong y học. Nhưng bà vợ của Washkansky hỏi: “Cơ may mà bác sĩ nói là bao nhiêu?” Barnard trả lời: “80 phần trăm”. Mười tám ngày sau cuộc giải phẫu, Washkansky qua đời. Ở đây, con số 80% phản ánh một độ tin tưởng, một cảm nhận cá nhân của bác sĩ Barnard. Trong quan niệm chủ quan, những bất định chính là những nguy cơ (risk). Câu trả lời 80% thành công là một cách nói gián tiếp rằng nguy cơ thất bại là 20%. Nguy cơ 20% này chính là nguy cơ tử vong cho Washkansky.

Quay lại mối liên hệ giữa nước tương đen có chứa chất 3-MCPD và ung thư, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có bằng chứng 3-MCPD trực tiếp gây ung thư, nhưng chúng ta có bằng chứng cho thấy chất 1,3-DCP (được hình thành từ chất 3-MCPD) làm đột biến gien trong chuột và gây ung thư. Nhưng không phải chuột nào ăn nhiều chất 3-MCPD đều bị ung thư. Thật ra, tỉ lệ mắc bệnh ung thư trong nhóm chuột ăn nhiều chất 3-MCPD cao hơn nhóm chuột không ăn chất 3-MCPD cao hơn chỉ 40%, và ngay cả con số này cũng còn nhiều bất định vì số lượng chuột sử dụng cho thí nghiệm chỉ trên dưới 10 con. Tuy có hạn chế về phương pháp, bằng chứng vẫn là bằng chứng. Vấn đề đặt ra là chúng ta nên hiểu và diễn dịch bằng chứng này như thế nào? Đây là một vấn đề mang tính triết lí khoa học và y đức.

Chuột không phải là con người. Một loại thuốc có thể chứng minh là an toàn trên chuột không có nghĩa là nó sẽ an toàn trong con người, và ngược lại. Tương tự, nếu yếu tố nào đó gây ra ung thư trong chuột không có nghĩa là nó sẽ gây ra ung thư ở con người. Suy luận từ những kết quả thử nghiệm trên chuột cho con người là một suy luận nguy hiểm. Chính vì thế mà các nghiên cứu trên chuột hay trong ống nghiệm được y khoa đánh giá là những nghiên cứu có giá trị thấp nhất, vì độ tin cậy thấp nhất trong các nghiên cứu y học.

Chúng ta không thể khái quát hóa những quan sát trên chuột sang con người. Nhưng trong thực tế, tiến hành thử nghiệm trên con người rất khó, có khi không thể làm được vì lí do y đức. Thử tưởng tượng xem: nếu chúng ta cho 1000 người ăn nửa lít nước tương có chứa chất 3-MCPD mỗi ngày trong suốt 50 năm, và theo dõi xem bao nhiêu người mắc bệnh ung thư. Không có ủy ban y đức nào cho phép chúng ta làm một nghiên cứu như thế, và chắc cũng không có một người nào có khả năng ăn nhiều nước tương như thế trong suốt 50 năm. Thành ra, chúng ta không có đạo đức nào khác hơn là đặt vấn đề về sức khỏe con người qua một nhóm chuột. Và chúng ta cũng không có đạo đức nào khác hơn là phòng ngừa. Phòng ngừa, đứng trên quan điểm của y tế công cộng, là làm giảm nguy cơ mắc bệnh, là không để cho một quần thể bị phơi nhiễm với những yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh. Do đó, cho dù kết quả nghiên cứu trên chuột có phần hạn chế, chúng ta vẫn có lí do để khuyến cáo rằng chất 3-MCPD có thể có hại cho sức khỏe, và nên tối thiểu hóa phơi nhiễm chất này khi có thể.

Vấn đề ở đây là nguy cơ là một đo lường cho cộng đồng có mẫu số, còn cá nhân thì không có mẫu số và do đó, khái niệm nguy cơ khó mà thuyết phục được bệnh nhân. Thật vậy, một người bệnh đơn giản muốn biết: tôi năm nay 60 tuổi, ăn nhiều nước tương chứa chất 3-MCPD, tôi hút thuốc lá, tôi hay uống bia, vậy tôi có bị ung thư không? Câu trả lời mà bệnh nhân muốn biết là “có” hay là “không”. Nhưng y khoa không thể nào trả lời rạch ròi như có hay không, trắng hay đen, mà chỉ có thể trả lời bằng ngôn ngữ “nguy cơ”. Câu trả lời cho bệnh nhân là “dựa vào bằng chứng nghiên cứu khoa học, cứ 100 người như anh (tức 60 tuổi, hút thuốc lá, uống bia, ăn nước tương hàm chứa chất 3-MCPD) thì có 3 người mắc bệnh ung thư trong vòng 20 năm, nhưng tôi không biết anh có nằm trong 3 trường hợp đó hay không. Tuy nhiên, vì anh đang phơi nhiễm các yếu tố dễ gây bệnh, tôi đề nghị anh bỏ hút thuốc lá, bớt rượu bia, và giảm lượng nước tương có chứa chất 3-MCPD đến mức thấp nhất”.

Do đó, lần sau nếu bạn có đọc một bài báo hay một bản tin hay phát biểu của một “chuyên gia” rằng một yếu tố nào đó gây ra ung thư, bạn nên biết rằng đó là một phát biểu thiếu chính xác, nếu không muốn nói là sai. Không! Không bao giờ có một mối liên hệ xác định trong ung thư, không có một yếu tố đơn thuần nào gây ung thư, không có một gien nào có thể gây ung thư; các yếu tố môi trường hay/và gien tương tác với nhau làm gia tăng (hay giảm) nguy cơ ung thư, chứ không gây ra ung thư.

Sunday, June 17, 2007

Hai công trình khoa học giống nhau 90 % !

Bình luận của tôi: Trường hợp này hơi khó nói dứt khoát có phải là đạo văn hay không, bởi vì tác giả bài báo này không nêu rõ vấn đề và quan hệ giữa ông Nguyễn Tiến Dũng (chủ nhiệm đề tài) và ông Nguyễn Ngọc Sơn (nghiên cứu sinh). Theo tôi hiểu ông Dũng là người hướng dẫn luận án cho ông Sơn.

Nếu đề tài nghiên cứu cấp bộ mà ông Dũng làm chủ nhiệm có sự tham gia của ông Sơn, thì ông Sơn hoàn toàn có quyền sử dụng đề tài làm luận án. Nếu ông Sơn viết báo cáo đề tài thì ông càng có lí do để dùng báo cáo làm luận án. Việc này bình thường thôi!

Ở nước ngoài, phần lớn luận án tiến sĩ, thạc sĩ của nghiên cứu sinh là một phần trong các đề tài nghiên cứu của người hướng dẫn luận án. Thật ra, người hướng dẫn luận án chỉ đứng tên làm chủ nhiệm đề tài, chứ trong thực tế các nghiên cứu sinh mới là người thực sự làm.

Thành ra, tôi cho rằng chưa thể kết luận đạo văn gì ở đây.

NVT


====

http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/6/105861/

Đại học Huế
2 công trình khoa học giống nhau 90 % !


là đề tài cấp bộ do ông Nguyễn Tiến Dũng - cán bộ giảng dạy của Trường ĐH Khoa học Huế - làm chủ nhiệm và luận văn thạc sĩ Triết học của ông Nguyễn Ngọc Sơn - Phó Giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo Thừa Thiên-Huế. Dù bị phát hiện rất giống nhau, nhưng tác giả hai công trình chẳng ai kiện ai, vì dường như đó là sản phẩm chung của hai người (!).

Đề tài cấp bộ “Vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên trong sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo ở Thừa Thiên-Huế hiện nay”, với mã số B2005-07-11 và luận văn thạc sĩ Triết học “Vấn đề bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục Thừa Thiên-Huế trong giai đoạn hiện nay”, mã số 60.22.80, là 2 công trình khoa học cùng được triển khai thực hiện vào năm 2006 tại Trường ĐH Khoa học Huế.

Mới đây, hai công trình bị phát hiện giống nhau đến 90%. Điểm đáng lưu ý, ông Nguyễn Tiến Dũng vừa làm chủ nhiệm đề tài cấp bộ (có sự tham gia của ông Sơn với tư cách thành viên), đồng thời là thầy hướng dẫn ông Sơn làm luận văn thạc sĩ. Kết quả từ quá trình “hợp tác” này là sự giống nhau gần như hoàn toàn của hai công trình khoa học, do hai “thầy trò” Nguyễn Tiến Dũng và Nguyễn Ngọc Sơn đồng thực hiện.

Đề tài cấp bộ do ông Dũng làm chủ nhiệm có 2 chương, 6 tiết. Luận văn thạc sĩ của ông Sơn gồm 2 chương, 7 tiết, kèm theo những phần mà đề tài cấp bộ của ông Dũng không có như: các kết luận chương, nội dung giới thiệu điều kiện tự nhiên- lịch sử xã hội của Thừa Thiên- Huế.

Cả hai công trình đều có phần “mào đầu” giống nhau hoàn toàn: Trong các phần tiếp theo, đề tài cấp bộ và luận văn thạc sĩ của hai ông Dũng và Sơn tiếp tục có những đoạn nội dung gần như trùng lặp. Đoạn kết 2 công trình này lại tiếp tục “y sao”.

Thật đáng buồn, khi 2 công trình nghiên cứu khoa học trên bị phát hiện quá giống nhau, khiến nhiều người phải suy nghĩ về vấn đề đạo đức của người làm khoa học, thì bên trong nội dung cả hai đề tài, tác giả của chúng không ngừng lên tiếng cảnh báo về sự sa sút của đạo đức nghề giáo, bằng một đoạn văn trùng lặp đến từng câu, từng chữ: “Như vậy, một trong những nguyên nhân dẫn đến yếu kém của giáo dục nước ta hiện nay là do một bộ phận đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thiếu trau dồi, học tập đạo đức cách mạng nên sa sút về nhân cách, lối sống”(?).

Được biết, tham gia đề tài cấp bộ do ông Dũng làm chủ nhiệm, ngoài thành viên Nguyễn Ngọc Sơn, còn có nhiều cán bộ hiện đang công tác tại Thừa Thiên-Huế như: Ông La Đình Mão - Giám đốc Sở Nội vụ, bà Nguyễn Thị Thu Hà- Giám đốc Sở GD-ĐT, ông Hoàng Đức Bình - Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Thừa Thiên- Huế, Nguyễn Đăng Minh- Trưởng phòng GD huyện Phong Điền. Có người trong số này khi được hỏi đã không thể trả lời được đã tham gia vào nội dung nào của đề tài cấp bộ (?).

Sau khi phát hiện có sự trùng lặp nội dung đến kỳ lạ, Trường ĐH Khoa học Huế đã tiến hành kiểm tra, xác minh vụ việc. Theo xác nhận của ông Nguyễn Văn Tận- Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Huế, nội dung trùng lặp giữa luận văn thạc sĩ và đề tài khoa học chiếm khoảng 90%. Vẫn theo ông Tận, việc làm của ông Nguyễn Tiến Dũng là có sai sót, vì ông là chủ nhiệm đề tài, vừa đóng vai trò người hướng dẫn khoa học cho học viên Nguyễn Ngọc Sơn làm luận văn thạc sĩ Triết học.

Theo một lãnh đạo Bộ GD-ĐT, khi công trình khoa học giống nhau. Ngoài việc xử lý vi phạm nghiêm khắc, người làm đề tài phải bồi hoàn tiền cho nhà nước.

Monday, June 11, 2007

Một lần đi phỏng vấn và những bài học (phần cuối)

Nhìn người lại nghĩ đến ta

Tình hình hoạt động khoa học ở nước ta trong những năm gần đây bắt đầu có nhiều chuyển biến tích cực. Các bộ liên quan đến hoạt động khoa học đã bắt đầu áp dụng những chuẩn mực quốc tế để trong việc đào tạo tiến sĩ và đánh giá năng suất của các nhà khoa học. Nhưng cách tổ chức các hoạt động khoa học ở nước ta, theo tôi, vẫn còn nhiều bất cập. Trong khi cả nước có một trung tâm khoa học và công nghệ, thì các bộ, thậm chí các cục thuộc chính phủ, cũng có những viện nghiên cứu riêng. Các nghiên cứu khoa học vẫn chủ yếu được thực hiện tại các viện nghiên cứu, trong khi đó đóng góp các đại học còn quá khiêm tốn dù ở đây có đội ngũ giáo sư và nghiên cứu sinh khá hùng hậu. Đó là chưa kể đến tình trạng chảy máu chất xám rất trầm trọng ở trong nước, với nhiều nghiên cứu sinh không chịu (hay không được tạo điều kiện & cơ hội) về nước tham gia nghiên cứu. Rõ ràng, nhu cầu tổ chức lại đội ngũ nghiên cứu khoa học là rất cấp bách trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

Hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ, Âu châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có ích. Theo các mô hình này, các viện nghiên cứu nhỏ hay trung bình (dưới 50 người) của các bộ và cục nên sáp nhập với các đại học, nhưng vẫn giữ định hướng nghiên cứu của họ. Cách làm này vừa tạo ra môi trường để các giáo sư trong trường cộng tác với viện nghiên cứu, và sử dụng các nhà khoa học của viện trong công tác giảng dạy và đào tạo nghiên cứu sinh.

Qui trình phân phối ngân quĩ cho nghiên cứu khoa học cũng cần nên xem xét lại, hay tốt nhất là thay đổi. Hiện nay, các bộ như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu như “đơn đặt hàng” và các nhà nghiên cứu đệ đơn xin ngân sách nghiên cứu. Theo tôi, cách làm theo kiểu đơn đặt hàng này quá máy móc, công thức hành chính, làm hạn chế tầm hoạt động của nhà nghiên cứu. Với cách làm này, nếu một nhà nghiên cứu không có kinh nghiệm làm theo đơn đặt hàng của bộ chắc sẽ … thất nghiệp. Các nhà nghiên cứu nên được khuyến khích tự do tìm tòi và thực hiện những nghiên cứu mà họ muốn. Tất nhiên, dự án các nghiên cứu này phải được duyệt nghiêm chỉnh, và cho dù họ có muốn theo đuổi công trình nghiên cứu, nhưng không chứng minh được khả năng và triển vọng thành công thì công trình sẽ không được yểm trợ.

Một trong những vấn đề mà Nhà nước hay nhắc đến trong năm qua là phương thức nào để thu hút các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài về nước tham gia nghiên cứu. Bàn thảo cũng đã nhiều, nhưng việc thực hiện vẫn chưa đi đến đâu. Theo tôi, một cách để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước là làm như Úc, tức là thiết lập các chương trình fellowship. Các fellow được bổ nhiệm sẽ được sung vào các trường đại học và viện nghiên cứu, và họ được tạo điều kiện ưu tiên cho nghiên cứu khoa học. Tất nhiên, các fellow này phải có chương trình nghiên cứu khả thi và các chương trình này phải được bình duyệt một cách nghiêm chỉnh như cách làm ở Úc hay ở Mĩ.

Trong hoạt động văn hóa nghệ thuật, chúng ta có những danh hiệu như “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” để ghi nhận những đóng góp của các nghệ sĩ có đóng góp quan trọng vào đời sống văn hóa nghệ thuật của quốc gia. Trong hoạt động giáo dục, các trường đại học ngoài những những chức danh như “giáo sư”, “phó giáo sư”, “giảng viên”, còn có những danh hiệu như “nhà giáo ưu tú”, “nhà giáo nhân dân” để ghi nhận những cống hiến của họ cho xã hội. Nhưng trong hoạt động khoa học, chúng ta chưa có một chương trình nuôi dưỡng các nhà khoa học ưu tú. Tôi không đề nghị Nhà nước phải có những danh hiệu như “Nhà khoa học ưu tú” hay “Nhà khoa học nhân dân” (vì tôi nghĩ những danh hiệu như thế mang tính hình thức quá); tôi chỉ đề nghị Bộ khoa học và công nghệ cùng với Bộ Y tế hay Bộ Giáo dục và Đào tạo lập ra những chương trình để nôi dưỡng các nhà khoa học ưu tú, những người đóng vai trò “hoa tiêu” cho nghiên cứu khoa học của nước nhà.

Như có lần phát biểu trước, nước ta đang hội nhập quốc tế, và theo tôi hội nhập phải bắt đầu từ nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ. Chúng ta đang có một lực lượng nhà khoa học trẻ được đào tạo từ nước ngoài, nhưng tiềm năng của họ chưa được khai thác vì nhiều người chưa có cơ hội nghiên cứu khoa học. Chúng ta cần có một ngân quĩ hay chương trình để tập trung các nhà khoa học trẻ và nâng đỡ họ thành những nhà khoa học quốc tế. Ở các nước tiên tiến và Tây phương, Nhà nước có khá nhiều chương trình huấn luyện hậu tiến sĩ, và các quĩ dành cho các nhà khoa học trẻ “đang lên”, tức có tiềm năng trở thành lãnh đạo trong tương lai. Tôi tin rằng những tiêu chuẩn của Úc rất cần được tham khảo khi thiết lập một chương trình như thế.

Hết.

Một lần đi phỏng vấn và những bài học (phần 2)

Viết tiếp ...

Phỏng vấn

Năm năm trước tôi đã từng trải qua một lần phỏng vấn, và lần đó tôi thất bại. Tất nhiên, một lần thất bại là một kinh nghiệm chẳng mấy gì vui, nếu không muốn nói là rất “đau”. Đau chẳng phải vì mất việc làm (chẳng có ứng viên nào mất việc, vì họ đều là những giáo sư thành danh cả) nhưng vì một lần thất bại như thế làm tổn thương đến danh dự và niềm tự hào của họ, nhất là đối với những giáo sư cao tuổi và có tiếng trên trường quốc tế (giáo sư nào mà không có tự hào). Nên nhớ rằng hầu hết các ứng viên đều là những giáo sư, có không ít người là chủ nhiệm một bộ môn, lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, thậm chí có người là viện trưởng viện nghiên cứu, v.v… Riêng tôi thì phải nói là có “đau”, nhưng chẳng thấy tổn thương gì cả vì tôi không mang trong người cái “tôi” quá lớn như nhiều đồng nghiệp khác. Có lẽ lớn lên với câu nói của ông bà “thua keo này, bày keo khác”, nên tôi vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu “lấy” cho được cái NHMRC fellow. Sau khi chuẩn bị cẩn thận cả 5 năm trời, lần này tôi quyết định đệ đơn xin chức fellow của NHMRC. Sau 4 tháng chờ mong bình duyệt, tôi nhận được thư mời đi phỏng vấn, kèm theo một vé máy bay. (Hội đồng NHMRC sẵn sàng trả vé máy bay và khách sạn để phỏng vấn ứng viên ở xa).

Năm nay, ngoài tôi ra, trường tôi có 6 ứng viên khác cũng được mời phỏng vấn, mà trong số này 4 người xuất phát từ Viện nghiên cứu Garvan của tôi. Được tin này và rút kinh nghiệm từ mấy năm trước, trường đại học chuẩn bị cho “gà nhà” rất cẩn thận. Vì có liên quan đến danh dự của trường, cho nên trường đại học rất quan tâm và hết lòng giúp đỡ chúng tôi. Trước hết, trường mời một chuyên gia về truyền thông (communication) đến giảng cho chúng tôi về những kĩ thuật, kĩ năng trong việc trả lời phỏng vấn, thậm chí cách thức, điệu bộ trong khi phỏng vấn. Sau đó, trường cho mời một NHMRC fellow đến nói về kinh nghiệm của ông sau các cuộc phỏng vấn, và trực tiếp hướng dẫn chúng tôi cách trả lời những câu hỏi cụ thể. Sau cùng, trường tổ chức những cuộc phỏng vấn diễn tập (rehearsal interview) cho từng ứng viên. Nói là “diễn tập”, nhưng cách thức họ làm hoàn toàn giống như một cuộc phỏng vấn thật! Qua những diễn tập này, chúng tôi học rất nhiều kinh nghiệm, có người thậm chí còn viết ra hàng chục câu hỏi khả dĩ và … học thuộc lòng cách trả lời! Trước khi đi phỏng vấn, hiệu trưởng đại học còn gửi cho chúng tôi mỗi người một email với lời chúc may mắn!

Qua nhiều tuần chờ đợi, ngày phỏng vấn thật cũng đến. Dậy sớm từ 4 giờ sáng và ôn bài. Trên đường lái xe ra phi trường trong lúc cả thành phố còn ngủ, tôi không cách nào xua đuổi được những câu hỏi sẽ gặp phải trong kì phỏng vấn này. Thật là khổ! Tôi đón chuyến bay sớm nhất để đến Thành phố Melbourne. Buổi sáng ở phi trường Melbourne nhộn nhịp làm sao. Hình như ai cũng quá bận bịu với công việc của họ, chẳng ai quan tâm đến một kẻ đang đi tìm sự nghiệp như tôi! Trên đường từ phi trường về khách sạn (lần này, NHMRC tổ chức phỏng vấn tại một khách sạn 5 sao), tôi tìm cách bắt chuyện với anh tài xế taxi để tìm cách quên một cuộc “chiến đấu” sắp đến. Anh tài xế taxi tử tế chia tay tôi với câu nói đầy tình cảm: “Tôi thành thật chúc giáo sư may mắn và hi vọng ông sẽ thành công”. Tôi cám ơn anh và thầm nhủ lòng có ai muốn thất bại đâu, nhưng cuộc đời này thành bại là chuyện thường tình mà!

Tôi vẫn còn sớm 45 phút. Nhân viên tiếp tân của NHMRC mời tôi chờ trong đại sảnh với các ứng viên khác. Chỉ có 3 ứng viên người Á châu, còn lại là dân “Tây” cả. Phòng chờ rất tiện nghi, với các điểm truy cập internet, cà phê, trà, thức ăn sáng, báo chí, tivi, v.v… Tôi để ý thấy chẳng ai xem tivi hay đọc báo cả; ai cũng chăm chú đọc tài liệu, mà tôi đoán là các bài phỏng vấn mẫu hay đang … ôn bài. Nhiều người trẻ tỏ ra bồn chồn, dù vẫn cố giữ trên mặt một nụ cười tươi. Cũng có những vị tóc bạc trắng đang chăm chú nhìn vào màn ảnh máy tính với vẻ nghiêm nghị thường ngày của các sếp. Tôi bắt chuyện với một đồng nghiệp cỡ tuổi tôi, đến từ Nam Úc, và được biết đây là lần phỏng vấn thứ 3 của anh, nhưng anh thú thật là vẫn thấy hồi hộp. Riêng tôi thì không thấy hồi hộp gì cả, vì đã qua một lần phỏng vấn, và tôi cũng từng phỏng vấn người khác. Hơn thế nữa, lần này tôi được các chuyên gia “tập huấn” quá kĩ càng, và trước khi đi phỏng vấn, tôi đã tìm hiểu về 6 thành viên trong ủy ban phỏng vấn, xem qua thành tích khoa học của họ, kể cả những bài báo và tập san họ công bố, và thấy mình tự tin hơn, bởi vì nếu nói về khía cạnh thành tựu khoa học và đẳng cấp thì 4 trong 6 người này có thể là cấp dưới của tôi, còn 2 người kia thì cao hơn tôi một cái đầu. Có được sự tự tin hay niềm “kiêu hãnh” này cũng quan trọng trong việc đương đầu với thành viên của ủy ban phỏng vấn.

Tôi bắt chuyện một ứng viên khác từ Sydney, đang giữ chức giáo sư y khoa ở Đại học Sydney, và được biết nhiều chuyện bi hài trong phỏng vấn mà anh từng trải qua với tư cách là thành viên trong ủy ban phỏng vấn. Chẳng hạn như có một cuộc phỏng vấn hi hữu, mà trong đó ứng viên là một giáo sư 68 tuổi, một tên tuổi lớn (hay nói theo ngôn ngữ ta là thuộc vào hàng “cây đa cây đề”). Cuộc phỏng vấn trôi chảy, đến khi một thành viên trong ủy ban hỏi nửa đùa nửa thật rằng bao giờ thì ông định về hưu. Ông ứng viên giáo sư nổi nóng, tay đập mạnh xuống bàn một cái “rầm”, ông đứng lên chỉ tay vào vị đặt câu hỏi và giận dữ quát: “Tại sao ông dám hỏi tôi câu đó? Ai cho phép ông hỏi câu đó? Ông có biết phân biệt tuổi tác là bất hợp pháp không? Ông muốn về hưu thì cứ về, đứng có hỏi tôi bao giờ về hưu, nghe chưa? Đó là một sự xúc phạm! Ông nợ tôi một lời xin lỗi. Trời ơ! Nếu không có gì để hỏi tiếp thì tôi sẽ bước ra khỏi phòng này. Tôi còn nhiều việc phải làm.” Vị thành viên đặt câu hỏi xúc phạm đó tái mặt, ủy ban im lặng cả phút đến khi vị chủ tọa chính thức xin lỗi, ông ứng viên mới chịu ngồi xuống. Ấy thế mà ông giáo sư đó được bổ nhiệm chức NHMRC fellow. Câu chuyện thật thú vị và cho thấy ủy ban tuyển dụng không quan tâm đến vấn đề xung đột cá nhân, và họ hoàn toàn công minh.

Đang vui vẻ với câu chuyện tôi gần quên giờ mình sắp được phỏng vấn! Người đến mời tôi vào phỏng vấn là một giáo sư tên GL ở Melbourne. Tôi nhận ra ngay vì trước khi phỏng vấn, NHMRC công bố danh sách, hình ảnh, nơi công tác và chuyên môn của 6 thành viên trong ủy ban phỏng vấn. Giáo sư GL tự giới thiệu, thân mật bắt tay tôi, và hướng dẫn tôi vào phòng họp. Trên đường đi, anh ta nói đùa chuyện thời tiết, chuyện bầu cử liên bang sắp tới, hoàn toàn không đã động gì đến chuyện tôi sắp đối phó.

Phòng phỏng vấn khá rộng, được bố trí một cách ấm cúng. Đèn “downlight” với ánh sáng vừa phải, máy sưởi đang chạy (Úc đang vào mùa đông), và trên bàn được bày biện các loại nước uống (tất nhiên là không có rượu bia). Cách họ bố trí bàn ghế cũng đáng ghi nhận ở đây. Tôi được bố trí ngồi một bàn riêng; đối diện tôi là bàn của vị chủ tọa cuộc phỏng vấn (tức là chair), hai bên là bàn của các thành viên, trong đó có một người là phát ngôn viên (spokesperson) của cuộc phỏng vấn. Phía góc trái của phòng là một người thư kí với máy tính cầm tay và máy thu âm. Nhiệm vụ của người thư kí này là thu âm lại tất cả những trao đổi trong cuộc phỏng vấn, để phòng sau này nếu có người khiếu nại thì họ sẽ có bằng chứng để giải quyết thỏa đáng và công bằng cho đôi bên.

Sau khi mời ngồi và tự giới thiệu, người phát ngôn nói qua về các qui định trong cuộc phỏng vấn. Theo các qui định này, cuộc phỏng vấn chỉ diễn ra đúng 30 phút (tuy trong thực tế có khi dài hơn khoảng 5 phút là tối đa); ứng viên (tức là tôi) có quyền phản đối câu hỏi, nhưng không có quyền cãi lại với ủy ban (vì họ không có thì giờ đễ tranh luận); ứng viên phải trả lời ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, không nên dài dòng lí giải hay biện minh; ứng viên có 5 phút để hỏi ủy ban về những vấn đề mình quan tâm; v.v… Tôi để ý thấy mỗi người đều có một chồng khá dầy về hồ sơ của tôi với những tờ giấy vàng, đỏ, xanh khắp nơi, mà tôi đoán có lẽ họ đang “chấm” đơn mình đâu đó hay vấn đề gì đó.

Mở đầu cuộc phỏng vấn, giáo sư chủ tọa yêu cầu tôi trình bày lí do tại sao tôi đệ đơn xin bổ nhiệm NHMRC fellow, và ông còn nói thêm rằng tôi chỉ có 2 phút để trình bày câu chuyện của mình! Theo kinh nghiệm cá nhân và của nhiều người khác, đây là “câu hỏi” không có câu trả lời, và họ muốn đánh giá cách tôi trình bày ý tưởng có mạch lạc, khúc chiết, và hệ thống không. Vì biết rằng họ muốn đánh giá xem tôi có đáp ứng các tiêu chuẩn của một NHMRC fellow hay không, nên tôi phải sử dụng 2 phút này để trình bày trường hợp của mình hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu mà chương trình fellowship đã đề ra.

Theo sau câu hỏi đó, là hàng loạt câu hỏi từ các giáo sư thành viên trong ủy ban phỏng vấn. Vị giáo sư chủ tọa chăm chú nhìn tôi, đôi khi khoanh tay nhìn tôi trả lời với ánh mắt cười thân thiện (chắc là đang thông cảm cho tôi chăng), và thỉnh thoảng ghi xuống giấy điều gì đó. Tôi thấy ông thường xuyên nhìn xuống đồng hồ một cách kín đáo, như để kiểm tra xem tôi có quá giờ hay không. Họ hỏi tôi những câu hỏi như sau:

Nói cho chúng tôi nghe 3 công trình tiêu biểu của ông đã làm thay đổi hay khác biệt (made a difference) trong chuyên ngành. Ông có 2 phút để nói!

Những bài xã luận và review này là do ông tự nguyện viết hay tập san mời ông viết? Ông có bằng chứng nào cho chúng tôi thấy là họ mời ông viết không?

Các nhóm nào trên thế giới đang là đối thủ cạnh tranh của ông, và ông đánh giá khả năng cạnh tranh của ông trên trường quốc tế ra sao?

So với những người làm trong ngành của ông trên thế giới, ông có biệt tài gì hay kĩ năng gì đặc biệt để đảm bảo tính độc nhất vô nhị trong các công trình của ông?

Nếu tự đánh giá, ông có thể cho chúng tôi biết ông đứng vào hạng nào trên thế giới trong chuyên ngành của ông?

Ông có nghĩ rằng chất lượng các ấn phẩm khoa học của ông đáp ứng yêu cầu của một NHMRC fellow không? Tại sao?

Ông có kế hoạch gì để nâng cao năng suất khoa học hay chất lượng nghiên cứu trong tương lai?

Chiến lược trong 5 năm tới trong việc đào tạo của ông là gì?

Ông có kế hoạch nào khác để nâng cao tài trợ cho nghiên cứu không?

Nói cho chúng tôi nghe về hoạt động của ông trong các hội đoàn chuyên môn?

Ông phục vụ trong nhiều ban biên tập, vậy thời gian đâu để làm nghiên cứu? Nếu chúng tôi nói “Ông chẳng làm gì cả, phần lớn là nghiên cứu sinh làm và ông chỉ đứng tên” như thế có công bằng không?

Trong các hội nghị ở nước ngoài mà ông tham dự với tư cách người nói chuyện hay khách mời, ai trả chi phí cho ông?

Quan hệ giữa ông và các công ti dược như thế nào?

Tại sao chúng tôi phải cung cấp tài trợ và bổ nhiệm ông vào chức vụ NHMRC fellow, khi ông đang giữ chức giáo sư ở trường ông?

Ông viết trong đơn rằng ông từng về và giúp cho đồng nghiệp Việt Nam. Tại sao ông giúp Việt Nam? Có công bằng không nếu chúng tôi cung cấp tiền fellowship cho ông để ông đi giúp cho Việt Nam?

Nghiên cứu của ông đem lại lợi ích gì cho y học và khoa học của Úc?

Ông có đóng góp gì vào chính sách khoa học của Úc hay nước ngoài?

Nói chung, những câu hỏi không khó trả lời và đều nằm trong dự kiến của tôi. Thật ra, tôi đã chuẩn bị cho những câu hỏi khó hơn, gai góc hơn về tài trợ, nhưng may mắn thay họ không hỏi. Vấn đề tài trợ rất quan trọng vì nó liên quan đến vận mệnh của một nhóm nghiên cứu. Nếu liên tiếp mất tài trợ cho nghiên cứu, nhóm của tôi có thể bị xóa bỏ trên bản đồ khoa học thế giới, sẽ có người mất việc, và chính tôi cũng có thể mất việc vì không có tiền để trả lương cho nhân viên, và không có ai sẽ đứng ra điều hành các dự án của nghiên cứu sinh. Chính vì thế mà hiện nay, một phần lớn thời gian của những người như tôi tiêu ra viết đơn xin tài trợ, chứ trực tiếp làm nghiên cứu rất ít. Đó là chưa kể mỗi năm phải kí hợp đồng với viện nghiên cứu và trường đại học. Nếu trong năm, nhóm của tôi không làm ra “sản phẩm” (tức là bài báo khoa học hay bằng sáng chế), đến khi kí hợp đồng sẽ bị “hỏi thăm” ngay, và nếu trong vòng 2 năm mà vẫn không có sản phẩm thì họ sẽ không kí tiếp hợp đồng và nhiều rắc rối sẽ xảy ra sau đó. Nói chung áp lực tài trợ và ấn phẩm khoa học lúc nào cũng đè nặng lên vai người đứng đầu nhóm nghiên cứu. Hai áp lực này biến một giáo sư đứng đầu nhóm thành một doanh nhân khoa học, và nhóm nghiên cứu thành một đơn vị kinh doanh tri thức nhỏ.

Năm ngoái hai đơn xin tài trợ cho nghiên cứu của tôi đều thất bại. Đó là lần đầu tiên tôi bị thất bại thê thảm, vì mấy năm trước năm nào tôi cũng được tài trợ ít nhất là một dự án. Tôi chuẩn bị cho và nghĩ họ sẽ chú tâm vào sự thất bại năm ngoái của tôi, và họ sẽ nêu vấn đề nếu tôi thất bại một lần nữa thì việc họ bổ nhiệm tôi làm fellow cũng chẳng khác gì bổ nhiệm một người có chức danh mà chẳng có việc gì để làm! Tôi biết khía cạnh yếu của tôi, nhưng họ lại không xoay quanh khía cạnh này. Tôi hơi ngạc nhiên khi họ không lấy điểm yếu này để tấn công! Cũng có thể họ biết tôi sẽ thành công trong việc xin tài trợ cho năm nay, hay cũng có thể họ cho rằng tôi vẫn còn đủ kinh phí để tiếp tục “sống sót” thêm vài năm ...

Tôi từng biết trong quá khứ, họ có thể xoáy mạnh vào phần ấn phẩm khoa học với những câu hỏi rất “trực tiếp” như “chúng tôi thấy thành tích khoa học của ông mõng quá, ông nghĩ sao?”, hay “với chất lượng tập san như thế này, ông nghĩ là mình xứng đáng với chức danh NHMRC fellow không?”, hay “tình trạng tài trợ nghiên cứu của ông còn quá kém và có thể trong tương lai ông sẽ mất tài trợ, vậy nếu chúng tôi cho ông cái fellowship này, ông đâu có chuyện gì để làm, phải không?”, hay “trong vài năm gần đây ông công bố ít bài báo, vậy ông có bằng chứng nào để đảm bảo ông sẽ nâng cao năng suất trong mấy năm tới?” Trong trường hợp tôi, họ không hỏi tôi những câu như thế. Tôi đoán lí do họ không tập trung vào điểm này vì đó là “điểm mạnh” của tôi. Thật ra, như đã đề cập trên, 4 trong 6 người trong ủy ban phỏng vấn có số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học thấp hơn tôi khoảng 40-50%, chỉ có hai vị kia là hơn hẳn tôi đến 50%. Có lẽ họ thấy không thể “tấn công” tôi ở điểm này nên họ tìm cách làm cho rõ vị trí quốc tế của tôi.

Riêng hai câu hỏi về Việt Nam tôi thiếu chuẩn bị, và hơi chút lúng túng khi trả lời. Đến câu thứ hai về chuyện “công bằng” thì máu trong tôi bắt đầu nóng lên, và hỏi lại theo kiểu trả đũa là “tại sao tôi không giúp Việt Nam” vì đã định là sẽ “phản công” dữ dội, nhưng vị giáo sư chủ tọa đã kịp nhắc tôi: “Giáo sư Nguyễn, ông chỉ trả lời hay phản đối câu hỏi, ông không có quyền hỏi lại ủy ban!” Họ không xoáy thêm vào khía cạnh này.

Về thái độ, tôi đã được cảnh báo nhiều lần rằng, trong cuộc phỏng vấn, người ta sẽ rất thẳng thắn, và những khái niệm như lịch sự hay sỉ diện sẽ không có trong phòng phỏng vấn. Nói cho cùng, nhiệm vụ của ủy ban là tìm lí do để … loại bỏ ứng viên để đạt chỉ tiêu ngân sách do chính phủ đề ra. Tuy nhiên, lần này tôi thấy ngược lại: các thành viên trong ủy ban phỏng vấn rất thân thiện, lịch sự và lúc nào cũng cố gắng tạo ra một không khí hòa nhã, thân thiện với ứng viên. Có lẽ tùy thuộc vào cá tính của các thành viên trong ủy ban. Cũng có lẽ các thành viên trong ủy ban biết vị trí của mình trong mối tương quan với vị trí của ứng viên (tức là tôi) nên họ hành xử khác chăng? Tôi không biết, nhưng ngay cả những câu hỏi có thể xem là “tế nhị”, họ cũng sử dụng từ ngữ rất nhẹ nhàng, và nhất là cái “body language” (ngôn ngữ cơ thể) làm cho “cường độ tấn công” của câu hỏi giảm đi rất nhiều. Điều tôi chú ý trong lần phỏng vấn này là họ không trực tiếp phê bình về ứng viên, mà họ lại để cho ứng viên tự đánh giá mình. Chẳng hạn như trong lần phỏng vấn 5 năm về trước, họ hỏi tôi rằng “Ông công bố rất nhiều bài báo, nhưng có phải thật sự ông là người chủ trì các công trình đó hay chỉ là người tham gia công trình”, nhưng lần này, họ không hề đã động đến các ấn phẩm khoa học và vai trò của tôi, mà chỉ hỏi tôi tự đánh giá chất lượng ra sao. Có lẽ họ muốn chính mình nói ra, và sử dụng phát biểu của mình để đánh giá mình theo cái nhìn của họ.

Thành bại ...


Theo thống kê, mỗi năm NHMRC nhận được khoảng 2000 đơn, nhưng chỉ có 500 ứng viên loạt vào vòng 2 (phỏng vấn). Sau khi phỏng vấn, chỉ có 50 đến 100 ứng viên (tùy theo ngân sách trong năm và tùy theo chương trình) được bổ nhiệm làm NHMRC fellow. Tuy con số không nhiều, nhưng nó cũng tốn chính phủ từ 50 triệu đến 100 triệu đôla, một số tiền rất lớn. Tất nhiên, những người phụ trách điều hành NHMRC phải nói rằng nếu ứng viên không được bổ nhiệm thì điều đó không có nghĩa là ứng viên không thuộc vào hàng ưu tú. Nhưng có mấy ai nghe lời giải thích (mang chút an ủi) này! Trong thực tế, sự thất bại chẳng làm thay đổi công việc hay vị thế của ứng viên, vì họ vẫn là giáo sư, vẫn là những người lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, vẫn hoạt động bình thường; có khác chăng là họ không được -- hay thất bại trong phấn đấu để được -- “kết nạp” vào câu lạc bộ các nhà khoa học ưu tú.

Hoạt động khoa học ở Úc mang tính cạnh tranh rất cao. Vì là nước nhỏ, cho nên việc cạnh tranh còn gay gắt hơn các nước lớn như Mĩ hay Anh. Nhưng là người sinh đẻ và trưởng thành từ nước ngoài như Việt Nam, sự cạnh tranh để được công nhận còn có phần cao hơn so với các ứng viên người bản xứ. Nói cách khác, để bằng người bản xứ, ứng viên người nước ngoài phải cao hơn họ ít nhất là một “cái đầu”. Tôi vẫn tự an ủi rằng điều đó mình phải chấp nhận thôi, vì đây đâu phải là xứ sở của mình, và nếu họ có làm khó mình thì cũng có thể hiểu được.

Tôi phải chờ đến tháng 9 mới biết kết quả. Không ai biết tương lai sẽ ra sao, và tôi cũng không biết kết quả là mình thành công hay thất bại. Tuy nhiên, tôi vẫn tự tin, và nghĩ rằng mình đã phấn đấu hết khả năng mình cho phép; do đó, dù có được bổ nhiệm làm NHMRC fellow hay không, tôi vẫn không có gì đáng tiếc. Cuộc đời này vô thường mà! Tuy nhiên, tôi muốn nhân cơ hội này kể lại kinh nghiệm của mình để đồng nghiệp có thể học hỏi. Có lẽ tôi là người đầu tiên thuật lại những kinh nghiệm “hậu trường” trên giấy trắng mực đen để đồng nghiệp đi sau học hỏi. Nếu tôi không thành công thì tôi vẫn hi vọng kinh nghiệm của tôi có thể giúp cho các bạn đồng nghiệp học hỏi và thành công. Nếu được như thế thì tôi vui mừng lắm rồi.


(Còn tiếp một phần nữa ...)

Một lần đi phỏng vấn và những bài học (phần 1)

Tôi vừa đi phỏng vấn NHMRC fellow về. Đủ thứ vui buồn mà tôi sẽ thuật lại trong bài này. Nói là thuật, nhưng sự thật thì tôi cũng muốn nhắn vài lời và bài học về chương trình này cho Việt Nam. Xin các bạn đừng gửi bài này đi đâu, vì chỉ có một số rất ít biết được blog này.

Dù danh chính ngôn thuận là một cuộc “thảo luận” về đơn xin chức danh “NHMRC fellowship” của tôi, nhưng trong thực tế đây là một cuộc phỏng vấn hay thẩm vấn. Có lẽ cái khác giữa xin việc và xin chức danh ở đây là những người xin việc không phải là những người đang thất nghiệp hay muốn chuyển chỗ làm, mà là những giáo sư đã thành danh, những nhà khoa học lãnh đạo một nhóm nghiên cứu. Vì thế, qui trình và “luật chơi” trong phỏng vấn cũng rất khác với một cuộc phỏng vấn xin việc, và do đó có rất nhiều điều đáng nói. Tôi xem đây là một kinh nghiệm mà tôi muốn thuật ra ở đây để các bạn đồng nghiệp khác lấy đó làm bài học cho các cuộc phỏng vấn khác. Ngoài ra, tôi muốn nhân câu chuyện này để nói đến một cách tổ chức hoạt động khoa học ở Úc mà có thể là một trường hợp để Việt Nam tham khảo trong quá trình tổ chức lại hoạt động khoa học ở nước ta.


Nhu cầu cho chương trình NHMRC fellowship

Nước Úc chỉ có 20 triệu dân, nhưng có những thành tựu rất đáng tự hào về hoạt động khoa học trên trường quốc tế, với nhiều người đoạt giải Nobel. Nhưng đó là là những thành tích của 40 hay 50 năm về trước, còn trong thời gian gần đây thì tình trạng xuống dốc trong các đại học và viện nghiên cứu đã được báo động nhiều lần. Tình trạng chảy máu chất xám càng ngày càng trầm trọng, Ngoài con số hàng ngàn chuyên gia bỏ xứ sang Mĩ và Âu châu làm việc, còn có hàng trăm các nhà khoa học trình độ tiến sĩ, giảng sư, và giáo sư bỏ Úc sang làm việc tại Mĩ với khả năng hồi hương rất thấp vì thiếu ngân sách cho nghiên cứu khoa học và cơ cấu sự nghiệp không rõ ràng. Chẳng riêng gì Mĩ, mà ngay cả nước láng giềng đang lên như Singapore cũng đang chiêu dụ các nhà khoa học Úc sang làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu của họ.

Hệ quả là hoạt động khoa học của Úc xuống cấp. Có người so sánh rằng những ngành mũi nhọn mà Úc từng đi tiên phong mấy mươi năm về trước nay lại sau Mĩ đến 10-20 năm! Chính phủ ý thức được tình trạng khoa học nước họ đang trên đà tụt hậu, nên năm nay Quốc hội dự trù một ngân sách lên đến 5 tỉ đôla để chấn hưng và phát triển khoa học. Ngân sách khổng lồ này được dự trù cho 5 năm, với nhiều chương trình cụ thể như xây dựng cơ sở vật chất, chấn chỉnh đội ngũ giáo sư, cung cấp học bổng cho nghiên cứu nước ngoài làm nghiên cứu tại Úc, và cung cấp ngân quĩ cho các nhà khoa học Úc thực hiện các dự án nghiên cứu ở nước ngoài, nhất là các nước Á châu.

Một trong những phương cách để chấn hưng và phát triển khoa học là chấn chỉnh lại đội ngũ nhà khoa học. Chính phủ Úc thiết lập một số chương trình Fellowship (giống như cấp “học bổng” hay nói đúng ra là lương bổng và chi phí nghiên cứu cho các nhà khoa học chuyên nghiệp). Các chương trình này bao gồm NHMRC Fellowship (National Health and Medical Research Council) chủ yếu dành cho các nhà khoa học thực nghiệm như y sinh học, ARC Fellowship (Australian Research Council) chủ yếu dành cho các nhà khoa học tự nhiên, Australia Fellowship chủ yếu dành cho việc “chiêu dụ” các nhà khoa học Úc đang ở nước ngoài, và nhiều chương trình cho các nhà khoa học trẻ.

Cần nói thêm rằng ở Úc ARC và NHMRC là hai cơ quan có trách nhiệm quản lí ngân sách khoa học. Thật ra, đây không phải là “cơ quan” đúng nghĩa, mà là một hội đồng khoa học, mà thành viên là các nhà khoa học trong nước thay nhau đứng ra quản lí và điều hành. Mỗi năm, chính phủ giao cho hai hội đồng một ngân sách, và việc phân phối tiền cho các dự án nghiên cứu được tiến hành theo những qui trình được cộng đồng khoa học nhất trí. Do đó, chương trình fellowship cũng do hai hội đồng này quản lí. Chính phủ hoàn toàn không can thiệp vào quyết định của hai hội đồng này.

Chương trình NHMRC fellowship này nhắm vào 5 mục tiêu chính như sau: Thứ nhất là khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú cho Úc. Thứ hai là đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”). Thứ ba là xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ. Thứ tư là khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành lâm sàng, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của Úc. Thứ năm là khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của chương trình fellowship là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” cho Úc để nâng cao tính cạnh tranh của Úc trên trường quốc tế.

Cụm từ “nhà khoa học ưu tú” không phải dễ định nghĩa và cũng chẳng ai qui định trên giấy trắng mực đen như thế nào, nhưng qua trao đổi cá nhân với nhau, các nhà khoa học đều nhất trí rằng nhà khoa học ưu tú là người đứng trong nhóm “top 5%” trong một lĩnh vực chuyên môn ở bình diện quốc tế (chứ không phải quốc gia). Xuất phát từ định nghĩa bất thành văn này, NHMRC đề ra những tiêu chuẩn chung và cụ thể cho từng loại fellow. Các tiêu chuẩn chung nhấn mạnh đến năng suất khoa học, khả năng lãnh đạo, đóng góp cho chuyên ngành ở bình diện quốc tế, huấn luyện và đào tạo các thế hệ nhà khoa học trẻ, và hợp tác quốc tế. Các tiêu chuẩn cụ thể bao gồm số lượng ấn phẩm khoa học (tức bài báo nghiên cứu khoa học, sách chuyên môn, tất nhiên là không kể đến những bài báo trong hội nghị), chất lượng các công trình nghiên cứu, giải thưởng quốc tế, có hoạt động tích cực trong các hội đoàn quốc tế, có đóng góp vào việc phát triển chuyên ngành qua các hoạt động trong ban biên tập tập san chuyên môn, v.v…

Vấn đề đặt ra là tuyển dụng những nhà khoa học ưu tú này từ đâu? Nguồn thứ nhất là từ các giáo sư đang công tác tại đại học và viện nghiên cứu của Úc. Tất nhiên, cũng có thể tuyển từ nước ngoài, đặc biệt là Mĩ và Âu châu. Mỗi năm, NHMRC gửi thông báo đến những nơi vừa kể để mời các giáo sư và giảng sư đệ đơn xin làm fellow của NHMRC. Chữ fellow rất khó dịch, nên tôi đành để nguyên văn. Có 3 loại fellow chính (từ thấp đến cao): research fellow, senior research fellow, và principal research fellow. Người đệ đơn lần đầu không có quyền xin chức principal research fellow, cho dù người đó từng chiếm giải Nobel, vì chức danh này chỉ dành cho những senior research fellow xin đề bạt. Người được bổ nhiệm các chức danh này có quyền (hay vinh dự) đề cụm từ “NHMRC fellow” trước tên mình.

Được bổ nhiệm NHMRC fellow, do đó, không chỉ là một vinh dự cho cá nhân nhà khoa học, mà còn là một niềm hãnh diện của trường đại học nơi ứng viên công tác. Thật ra, đối với trường đại học họ “rảnh tay” và tiết kiệm một số tiền khá lớn, vì họ không phải trả lương cho nhà khoa học khi nhà khoa học đã được bổ nhiệm NHMRC fellow! Còn đối với nhà khoa học, họ không phải kí hợp đồng mỗi năm với trường đại học, vì mỗi fellowship được chính phủ nuôi dưỡng đến 5 năm. Nói tóm lại, cả đôi bên – đại học và nhà khoa học – đều có lợi!

Qui trình bình duyệt (phản biện)

Nói chung qui trình xét duyệt đơn fellowship cũng không khác gì qui trình xét đơn tài trợ, tức phải qua bình duyệt (hay nói theo ngôn ngữ trong nước là “phản biện”). Trong qui trình này, tờ đơn fellowship đóng một vai trò cực kì quan trọng. Cũng như bất cứ chương trình nào đem lại lợi ích cũng kèm theo những điều kiện và khó khăn. Đó là những khó khăn, hay có thể nói là rất khó khăn, trong quá trình chuẩn bị đơn fellowship. Cái khó khăn không chỉ vì những qui định bất di bất dịch về số chữ, số trang, nhưng ở chỗ ứng viên phải đi ngược về quá khứ cả hai mươi năm về trước để tìm những chi tiết về các công trình nghiên cứu mình từng làm, để thống kê hết những chỉ số liên quan đến những ấn phẩm khoa học. Vì quá chi tiết như thế, đối với nhiều người, soạn thảo một đơn xin fellow của NHMRC là một cơn ác mộng (nightmare).

Do đó, việc chuẩn bị đơn rất công phu và tốn đến 2-3 tháng trời. Trung bình một đơn xin làm fellow của NHMRC dài khoảng 100 trang. Trong đơn, ngoài những chi tiết cá nhân, ứng viên còn phải liệt kê tất cả những ấn phẩm khoa học (không tính những bài báo trong hội nghị khoa học) đã công bố, hệ số ảnh hưởng của tập san (impact factor) là bao nhiêu, số lần trích dẫn bao nhiêu, và trong trường hợp bài báo có nhiều tác giả, ứng viên phải nêu rõ vai trò của mình trong bài báo là gì. Ngoài phần ấn phẩm khoa học, ứng viên còn phải liệt kê tất cả những lần được các hội nghị khoa học nước ngoài mời giảng, nói chuyện, hay chủ tọa; giải thưởng cấp quốc gia và quốc tế, hoạt động gì trong các hội đoàn khoa học quốc tế; đóng vai trò gì trong bình duyệt bài báo hay tham gia ban biên tập tập san nào, ở đâu, chỉ số ảnh hưởng ra sao; đào tạo bao nhiêu thạc sĩ và tiến sĩ (không kể cử nhân); đào tạo bao nhiêu hậu tiến sĩ; thành tích thu hút tài trợ từ nước ngoài và trong nước ra sao; có đóng góp gì cho chính sách khoa học quốc gia và quốc tế; có đóng góp gì cho cộng đồng và quần chúng; v.v…

Trường hợp của tôi, đơn fellowship được chuẩn bị kĩ càng (vì tôi đã có kinh nghiệm) ngay từ những tuần nghỉ hè ở Bệnh viện Kiên Giang. Đơn của tôi được 3 đồng nghiệp đọc kĩ và góp nhiều ý thẳng thắn nhưng rất có ích. Phải nói rằng các đồng nghiệp này rất tận tình giúp đỡ, chỉ ra những lỗ hổng trong đơn, những “điểm nhấn” cần chú trọng, cách trình bày, thậm chí những sai sót chính tả. Không có họ, tôi không thể nào có một đơn hoàn chỉnh được. Cần nói thêm rằng, mẫu đơn của NHMRC cực kì máy móc, chứ không phải “tự do” viết gì thì viết. Chẳng hạn như có chỗ họ qui định chỉ mô tả trong vòng một trang với kiểu chữ Times New Roman 12, nếu không tuân theo qui định này thì họ sẽ tự động trả lại đơn và chờ đến năm sau nộp! Không có ngoại lệ. Không phân biệt ứng viên là ai. Thành ra, nếu không có đồng nghiệp đọc và góp ý, tôi nghĩ khó mà có một đơn fellowship hoàn chỉnh được.

Tất cả các tiêu chuẩn và qui trình duyệt đơn đều được công bố trên mạng. Theo qui trình này, khi nhận được đơn, NHMRC sẽ thành lập một số ủy ban chuyên ngành để duyệt đơn. Mỗi ủy ban có 6 thành viên, được tuyển chọn từ các nhà khoa học. Thông thường những thành viên này là những người đã được bổ nhiệm fellow của NHMRC, nhưng cũng có khi chính những thành viên này cũng là những người đang đệ đơn xin chức fellow. Như đề cập trên, chính sách của chính phủ Úc là các quan chức nhà nước không can thiệp vào qui trình bổ nhiệm; tất cả việc bổ nhiệm và điều hành ngân quĩ đều do chính các nhà khoa học cùng nhau thực hiện theo các qui tắc đã được cộng đồng khoa học chấp thuận.

Nhiệm vụ chính của các ủy ban này là tuyển duyệt các đơn và thực hiện cuộc phỏng vấn. Khi nhận được đơn từ các ứng viên, ủy ban sẽ gửi đơn đến 4 chuyên gia (trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để bình duyệt. Cũng như phản biện một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ nghiên cứu, ứng viên sẽ không biết các chuyên gia này là ai. Ứng viên có quyền đề cử chuyên gia bình duyệt và phải nêu lí do. Những người từng đứng tên tác giả với ứng viên trong các ấn phẩm khoa học hay những người có quan hệ mật thiết (như thầy / cô cũ) sẽ không có tư cách để bình duyệt đơn. Ứng viên cũng có quyền liệt kê các chuyên gia mà ứng viên không muốn họ duyệt đơn mình và phải nêu lí do. Tuy nhiên, rất ít khi nào ủy ban gửi đơn cho các chuyên gia mà ứng viên đề cử, vì họ thừa biết các chuyên gia này là bạn bè hay đồng nghiệp thân cận với ứng viên, nên chắc chắn họ sẽ có những ý kiến thiếu khách quan. Đôi khi (rất hiếm), ủy ban lại gửi đơn cho chính chuyên gia mà ứng viên đề nghị không nên duyệt đơn!

Dựa vào đề nghị của 4 báo cáo bình duyệt, ủy ban sẽ loại những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Thông thường, số ứng viên bị loại bỏ trong vòng một này là 70-80%, tức chỉ có 20-30% được mời phỏng vấn (hay vào vòng hai). Cuộc phỏng vấn rất quan trọng, vì nó có thể đem lại thành công hay thất bại cho ứng viên. Có thể xem cuộc phỏng vấn là một cơ chế để sàng lọc ứng viên. Nên nhớ rằng, tất cả các ứng viên được mời phỏng vấn đều là những người đã đạt tiêu chuẩn fellow, nhưng đơn giản vì NHMRC không đủ ngân sách cho tất cả ứng viên, nên họ phải sử dụng cuộc phỏng vấn để … loại bớt ứng viên sao cho vừa đủ ngân sách.

Nếu ứng viên được bổ nhiệm là NHMRC fellow, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm (lên đến gần 1 triệu đôla). Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu. Nói cách khác, với một NHMRC fellowship trong tay, ứng viên bây giờ là người chọn đại học, chứ không phải đại học chọn ứng viên. Vì số tiền khá lớn và kéo dài đến 5 năm, cho nên ủy ban bình duyệt xem đây là một sự đầu tư tri thức, hay một cuộc đánh bạc. Mà, đã là đầu tư, thì họ phải cẩn thận xem xét khả năng đầu tư sẽ đem lại tối đa lợi ích. Chính vì thế mà họ phải xét đến thành tựu trong quá khứ, hiện tại và tương lai của ứng viên. Những thông tin trong đơn cũng chưa đủ, nên họ cần phải trực tiếp phỏng vấn ứng viên để xác định và xác minh các thông tin, cũng như tư cách của ứng viên xem có xứng đáng với chức danh hay không. Do đó, cuộc phỏng vấn đóng vai trò rất quan trọng, vì kết quả phỏng vấn có thể là yếu tố chính quyết định sự thành bại của ứng viên.

còn tiếp ...

Thursday, June 7, 2007

Bàn về thơ Quang Dũng

Chẳng hiểu sao lúc này, lúc tôi bận lu bù và chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn rất quan trọng, tôi thích nói chuyện thơ văn. Có lẽ nói chuyện văn nghệ văn gừng này làm cho tôi bớt căng thẳng ... Hôm nọ tôi đã bàn về vài tiếng ca trẻ và vọng cổ; bây giờ tôi sẽ bàn về một nhà thơ mà tôi rất mến mộ: Nhà thơ Quang Dũng.

Tôi nghe và biết đến Quang Dũng lần đầu cũng mấy mươi năm rồi, qua một nhạc phẩm của Phạm Đình Chương: bài Đôi mắt người Sơn Tây. Theo tôi, đây là một trong những tuyệt tác của nhà thơ.

Đọc tiểu sử thấy họ viết rằng Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu (hay Diệm), sinh năm 1921, mất năm 1988. Ông sinh ra ở Hà Nội, và nguyên quán ở làng Đan Phượng (Hà Đông), nhưng trong thơ thì ông là người của Sơn Tây. Thật vậy, rải rác trong thơ ông, Sơn Tây và vùng phụ cận được đề cập thường xuyên đến nổi có người lầm tưởng ông quê quán ở Sơn Tây! Có người giải thích rằng Đan Phượng là làng giáp ranh giữa Hà Đông và Sơn Tây. Ngoài ra, Hà Đông và Sơn Tây được phân chia bằng con sông Đáy. Có lẽ vì thế mà trong thơ của Quang Dũng, những Sơn Tây, Sông Đáy, Phủ Quốc xuất hiện khá nhiều.

Quang Dũng làm thơ không nhiều, nhưng bài nào cũng có giá trị văn chương. Nói đến nhà thơ này, phần lớn chúng ta nghĩ ngay đến bài Đôi mắt người Sơn Tây mà Phạm Đình Chương đã phổ thành nhạc mang cùng tựa đề mà tôi vừa đề cập.

Về bài ĐMNST, tôi thấy có thể tóm gọn vài nét chính như sau. Nội dung: một câu chuyện buồn, chạy giặc. Không gian: Sơn Tây. Thời gian: vào thời kháng chiến chống Pháp, khoảng 1949. Nhân vật: người tình mà thi sĩ gọi là “em”, và tác giả, một người lính xa thành đi chiến đấu. (Thời đó, Quang Dũng làm Đại đội trưởng trong đoàn quân Tây Tiến.) Tôi từ chinh chiến cũng ra đi là thế.

Bài thơ được sáng tác theo cảm hứng lãng mạn. Những yếu tố cường điệu, phóng đại đã tạo nên cái phi thường, cao đẹp, không rơi vào sáo ngữ, giả tạo mà chỉ tô đậm thêm vẻ đẹp của hình tượng người con gái Sơn Tây theo phong cách lãng mạn: Đôi mắt người Sơn Tây / U uẩn chiều luân lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây.

Ở vài đoạn, nhà thơ dẫn dắt người đọc đi sâu vào những kỉ niệm đẹp nhất và cũng mờ ảo sương khói nhất của cái thực và mơ, của cảnh vật quyến luyến và hồn vương vấn: Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt / Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, nhưng phần lớn dùng câu 7 chữ. Thơ 7 chữ là một dạng nới rộng từ thể thơ thất ngôn Đường luật. Với 7 chữ trong mỗi câu, nhà thơ có nhiều tự do hơn là thơ 4 hay 5 chữ để mô tả câu chuyện. Thơ 7 chữ cũng có cái lợi là nhịp điệu có thể thay đổi nhiều và liên tục, có thể là nhịp 4/3 (vd: Em đã bao ngày em nhớ thương) hay nhịp 2/2/4 (như: Từ đó thu về hoang bóng giặc), hay thậm chí 4/2/1 (không có trong bài này). Cũng chính vì đặc tính này làm nên nhạc điệu đặc biệt trong bài ĐMNST. Nhạc điệu của cuộc sống của tâm hồn. Mỗi đoạn thơ mang theo một nhạc điệu riêng vừa mạnh mẽ, vừa uyển chuyển khi đưa người đọc về với những kỉ niệm xa nên thơ và gợi cảm, khi dồn dập trong những tiết tấu mạnh: Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc / Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng. Do đó, không ngạc nhiên khi phổ thành nhạc, nó trở thành một tác phẩm bất hủ. Nhờ hồi còn là sinh viên, lúc nào tôi cũng ngâm nga vài đoạn trong ĐMNST và Áo anh sức chỉ đường tà (Phạm duy phổ từ Đồi tím hoa sim của Hữu Loan). (Cả hai bài hát, nhạc điệu phong phú, luân chuyển liên tục, lúc buồn, lúc vui, lúc hoài niệm, v.v... rất sát với ý thơ.)

Phân tích kĩ hơn, tôi thấy không những giàu nhạc điệu, bài thơ còn dùng rất nhiều chữ mang phụ âm vang và nguyên âm bổng. Trung bình, tiếng Việt ta có khoảng 11% từ mang phụ âm vang và nguyên âm bổng (hãy gọi tắt là “vang-bổng”), nhưng trong bài thơ này, có đến 21% chữ vang-bổng! Nhưng bài thơ còn dùng nhiều thanh bằng hơn bình thường (59% so với thông thường là 55%). Điều này giải thích tại sao bài thơ vừa trầm buồn, nhưng lại rất ngân nga. Để ý những câu như Vầng trán em mang trời quê hương / Mắt em dìu dịu buồn Tây phương / Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em đã bao ngày em nhớ thương những chữ cuối toàn là những từ trầm-bổng, cộng với cách gieo vần rất nhịp nhàng, làm cho câu thơ cứ bay bổng lên, bay bổng lên, gây ra tác dụng lôi cuốn người đọc.

Nhưng ĐMNST không phải là bài thơ hay của Quang Dũng. Có một bài khác của Quang Dũng ít ai biết đến có tựa đề là “Tây Tiến”, được sáng tác vào năm 1948, tức trước ĐMNST một năm. Đứng trên khía cạnh văn học nghệ thuật mà nói, Tây Tiến mới là tuyệt tác của Quang Dũng. Thực vậy, trong giới phê bình văn học, Tây Tiến là Quang Dũng, và nói đến Quang Dũng là nói đến Tây Tiến.

Trong Tây Tiến, Quang Dũng viết về những cảm nghĩ và kỉ niệm của ông trong đoàn quân nổi tiếng này. Bài thơ đọc lên cho thấy một khí thế oai hùng, hừng hực lửa chiến tranh, nhưng lại rất lãng mạn. Khổ đầu của bài thơ diễn tả cảnh rừng núi mà đoàn quân hoạt động với núi cao trùng điệp. Câu thơ hun hút đi lên mãi với rừng núi (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm), nhưng cũng có câu thơ như gấp khúc giữa chiều cao và chiều sâu (Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống). Núi rừng được khắc họa với bút pháp lãng mạn: thiên nhiên vừa dữ dội, lại vừa hùng vĩ như đang thử thách với con người qua từng chặng đường hành quân. Chốn rừng núi ấy đã được diễn tả rất xa xôi, mờ ảo, chơi vơi trong kỉ niệm nhưng lại hiện thực như khung cảnh mà người lính Tây Tiến đang trực tiếp trải qua trong hiện tại. Thiên nhiên hiểm trở mà đẹp. Tác giả như tô đậm mặt gian khổ của những thử thách nhưng không ngại ngùng lo sợ.

Mạch thơ chuyển sang phần II đi sâu vào những kỉ niệm tình quân dân trong những ngày đóng quân ở vùng quê với những đêm hội đuốc hoa, với điệu kèn gợi cảm và dáng người mềm mại trên độc mộc lặng lẽ xuôi dòng:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Đoạn thơ làm dịu hẳn cái không khí dữ dội của vùng rừng núi hiểm trở mà chan hòa trong hình ảnh đẹp của bản làng.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lao nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ họa đông đưa

Hình ảnh của người chiến binh được miêu tả trong giai đoạn này qua nhiều bài thơ còn nhiều vất vả gian truân. Sốt rét, rụng tóc, da xanh, v.v. là những căn bệnh được Quang Dũng tả khá đầy đủ. Tuy vậy, bên trong con người chiến binh vẫn là những tấm lòng sắt đá, mạnh mẽ, vẫn “dữ oai hùm”.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Đoàn quân Tây Tiến được hình thành từ những thanh niên Hà Nội. Họ đi chiến đấu mà vẫn nén lại bao thương nhớ nơi thành phố, nơi có những “dáng kiều thơm”. Có thời những câu thơ như thế được xem là “tiểu tư sản”, là “mơ mộng”. Nhưng làm sao mà ngăn được tâm hồn con người mơ đến hình ảnh của một người con gái xa xôi. Tình cảm ấy không hề làm cho họ yếu, nản lòng. Ấy thế mà cũng vì hai câu thơ này mà Quang Dũng phải lận đận lao đao cả 30 năm sau vụ Nhân văn giai phẩm.

Tôi thấy trong thơ của Quang Dũng, bài nào cũng giàu nhạc điệu. Cái độc đáo của Quang Dũng là cái dấu ấn của phong cách thơ, chỉ cần đọc vài hàng, người yêu thơ ta có thể đoán ngay đó là thơ của Quang Dũng. Tôi nghiệm ra, cái dấu ấn đó là những nốt nhạc trong thơ. Chẳng hạn như trong không khí hùng tráng của chiến đấu, chữ sông Mã, vần trắc gợi liên tưởng đến hình ảnh những con ngựa đang phi nước đại, chắc chắn đắc địa hơn những chữ sông Hồng, sông Thương, hay sông Hương. Những chữ Sài Khao, Mường Lát, tự chúng trong người Việt chả có gì gần gụi, mà rất xa lạ, man dại và bất trắc. Nhưng cái man dại đó làm tăng thêm hình ảnh rừng núi mù mịt. Tương tự, chữ Pha Luông hay vì nó là hai vần bằng, một vần bằng mở (kết thúc bằng nguyên âm a) và một vần bằng vang (kết thúc bằng phụ âm ng) khiến cho nhạc điệu câu thơ trở thành ngân nga, vang hưởng dìu dặt.

Tóm lại, Tây Tiến hay Đôi mắt người Sơn Tây là những bài thơ có giá trị về nghệ thuật cao. Cả hai bài được viết ra với màu sắc thẩm mỹ phong phú. Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, và vẻ đẹp bình dị nên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hòa hợp với chất trữ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ.

NVT

Xin chép lại ba bài thơ của Quang Dũng

Đôi Bờ

Quang Dũng (1948)

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai ?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai ?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia ?
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Quạnh vắng chiều sông lạnh bến Tề.

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mợ

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?


Đôi Mắt Người Sơn Tây

Quang Dũng (1949)

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương ?

Mẹ tôi, em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có một thằng em nhỏ
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông !

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn !
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan ?

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Tôi gửi niềm nhớ thương
Em mang dùm tôi nhé
Ngày trở lại quê hương
Khúc hoàn ca rớm lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta ?

Tây tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngưởi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lao nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ họa đông đưa

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm mặt chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi


Wednesday, June 6, 2007

Lại chuyện cổ phần hóa bệnh viện

Định không phát biểu thêm về vấn đề cổ phần hóa bệnh viện, nhưng đọc bài này thấy tác giả phân tích chí lí quá.

Như vậy là Bv Bình Dân có diện tích trên 20.000m2, tại vị trí "nằm mơ cũng không thấy", với giá trị gần 2.086 tỉ đồng. Trong khi đó, vốn điều lệ của bệnh viện 150 tỉ (mà vốn Nhà nước đến 90 tỉ + vốn huy động từ tư nhân 60 tỉ). Như vậy rõ ràng cổ phần hoá là lấy đất của Nhà nước rồi! Nếu cổ phẩn hóa, người dân sẽ mất gần 1000 tỉ đồng.

Trời ơi, họ làm ăn kiểu gì mà kì cục thế? Phải nghĩ đến người dân nghèo chứ. Tôi sẽ có 1 bài nữa về vấn đề này nhưng nhìn qua lăng kính y tế.

NVT


Đọc các bài sau đây mới thấy vấn đề:

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=204358&ChannelID=11
Bệnh viện Bình Dân giá “rẻ như cho”!


Nhiều người nhảy vào trục lợi


Một chuyên gia thẩm định giá cho rằng đối với ngành dịch vụ như Bệnh viện Bình Dân, thương hiệu thường có giá cao hơn những ngành khác; việc bệnh viện để các “cổ đông tương lai” tham gia quá trình định giá tài sản là không khách quan, mà phải có một cơ quan thẩm định độc lập.
Tính không chính xác không những làm thất thoát tài sản nhà nước mà còn tạo điều kiện cho những người trục lợi nhảy vào. “Ở một bệnh viện tư không mấy tiếng tăm, hiện giá cổ phiếu gấp 5-6 lần mệnh giá thì với Bệnh viện Bình Dân, người ta sẵn sàng chấp nhận mua giá cao hơn nhiều lần như vậy vì tài sản không được tính đúng giá trị thực”, chuyên gia này cho biết thêm.

Và:

http://vietnamnet.vn/kinhte/2007/06/703114/


Giáo sư Trần Đình Bút dùng từ “khuất tất” để nói về phương án tính toán, xác định giá trị bệnh viện (tức xác định giá trị doanh nghiệp). Giáo sư chỉ ra: đề án không tính đến giá trị đất đai và giá trị thương hiệu.


“Nếu bỏ ra ngoài khoản giá trị đất mặt bằng, là một sự ngụy biện trắng trợn, biến tài sản lớn của toàn dân thành tài sản của cá nhân”. Giáo sư tính toán: Với diện tích trên 20.000m2, tại vị trí “nằm mơ cũng không thấy”, mặt bằng của bệnh viện có giá trị gần 2.086 tỷ đồng. Trong khi đó, vốn điều lệ của bệnh viện 150 tỷ, trong đó vốn Nhà nước 90 tỷ, vốn huy động từ tư nhân 60 tỷ.


“Nếu so với giá trị đề án nêu, thì mua 1 cổ phần sẽ lãi là 2.086/90, bằng 23 lần” - giáo sư tính toán.
Cũng theo lý luận của đề án, thì thương hiệu Bệnh viện Bình Dân đã không được tính vào giá trị doanh nghiệp. Theo Sở Y tế TP.HCM, do Bộ Tài chính có quy định “thương hiệu chưa được quy định là tài sản vô hình, vì không phải là nguồn lực xác định được, không đánh giá được một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp không kiểm soát được”. Và theo Sở Y tế, “hiện nay chưa có hướng dẫn hạch toán, các doanh nghiệp không được góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu”.


Giáo sư Trần Đình Bút cho biết, hiện nay trên thế giới đã có phép tính giá trị thương hiệu. Và ở VN cũng đã có nhiều công ty thương lượng thỏa thuận với nhau về giá trị thương hiệu của công ty. “Nếu cần tôi sẽ giới thiệu công ty tình nguyện nhận nhiệm vụ này” - vị giáo sư này nói.


Trong đề án CPH, bệnh viện CPH này được hưởng quá nhiều ưu đãi. Đó là miễn hoàn toàn tiền thuê đất, miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp từ 3 năm đến 5 năm, lại còn đề nghị nguồn tài chính hỗ trợ hàng năm để phục vụ chính sách an sinh xã hội.


Trong khi đó, đề án lại đưa ra rất nhiều ưu đãi bán cổ phiếu cho CBCNV bệnh viện. Ngoài chính sách cho mua ưu đãi theo Nghị định 187, là mỗi năm làm việc được mua 100 cổ phần giảm 40% so với giá đấu bình quân, CBCNV sẽ được mua 100 cổ phần bằng giá đấu bình quân. Ngoài ra các lãnh đạo cao cấp, những người có chuyên môn cao còn được mua thêm mỗi năm làm việc 100 cổ phần giảm 20% so với giá đầu bình quân.


Bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh, nguyên Phó Giám đốc bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM, nói thẳng ra rằng cách tính toán của Sở Y tế có mục đích tư lợi. "Không minh bạch là cơ hội, không trước thì sau cá nhân sẽ lợi dụng", ông nói.


Ông Trần Thành Long, Chủ tịch UBMTTQ TP phải đứng ra giải thích, thanh minh cho Sở, rằng có thể cách tính toán của dự án chưa phù hợp, chứ các lãnh đạo Sở Y tế không có ý tư lợi chia phần trong việc này.

Tuesday, June 5, 2007

Khoa học Việt Nam qua những công bố quốc tế

Bài này rất thú vị, dù với những ai theo dõi hoạt động khoa học ở trong nước thì chẳng có gì ngạc nhiên. Bản thân Gs Phạm Duy Hiển cũng nêu vài lân rồi. Lần này chắc ổng chán quá hay nản quá (nói hoài mà không có người lắng nghe chăng), nên ổng không thèm bình luận nữa, mà để cho con số nói! :-))

Thôi thì tôi sẽ thay Gs Hiển bình luận tạm vậy.

Thứ nhất là các nghiên cứu do nội lực giảm, trong khi các nghiên cứu hợp tác với nước ngoài gia tăng. Điều này có thể phản ảnh rằng hoặc là (a) đầu tư cho nghiên cứu khoa học ở nước ta giảm, hoặc (b) đầu tư không giảm nhưng các nhà khoa học ta … lười biếng, hoặc (c) các nghiên cứu của ta chất lượng càng ngày càng thấp. Tôi tin (b) và (c) hơn, vì ngân sách cho khoa học rõ ràng là có tăng. Vậy thì mình cần phải xét lại xem các nhà khoa học của ta đã và đang làm gì. Tại sao họ không công bố báo cáo khoa học? Tại vì tiếng Anh kém, hay tại nghiên cứu dỏm quá không ai chịu đăng?

Thứ hai là tuy năm 2006 chúng ta có 550 bài báo khoa học, tất nhiên phần lớn do hợp tác với nước ngoài. Hai chữ “hợp tác” ở đây có nhiều nghĩa. Có loại hợp tác bình đẳng (tức Ta và Tây cùng đóng góp vào nghiên cứu tương đương nhau), có loại làm mướn (tức Tây nó chỉ bỏ tiền ra thuê Ta thu thập số liệu, và Tây phân tích & viết báo rồi lịch sự cho Ta vào bài báo). Vậy thì câu hỏi đặt ra là trong số này, bao nhiêu bài báo do hợp tác bình đẳng và bao nhiêu do làm mướn cho Tây. Không nói ra, nhưng tôi nghi là làm mướn nhiều hơn quá!

Thứ ba là mấy con số thống kê so sánh giữa Ta và Thái Lan thật thú vị. Số bài báo khoa học của Thái Lan cao gấp 3.7 lần (1406 vs 375) của VN! Chưa hết, 53% bài báo nghiên cứu của Thái Lan là hợp tác với nước ngoài, còn ở nước ta con số này là 81%. Điều này cho thấy chúng ta kém quá, lúc nào cũng nhờ cậy vào (hay làm mướn cho) nước ngoài.

Thứ tư, có dấu hiệu cho thấy Thái Lan làm nghiên cứu có chất lượng hơn Ta. Số lần trích dẫn trung bình các bài báo từ Thái Lan là 4.3 lần, trong khi đó ở nước ta con số này là 1.7. Gần 50% các bài báo từ VN chẳng ai thèm đọc hay trích dẫn, và con số này cao hơn 2 lần so với Thái Lan (21%).

Thứ năm, phần lớn nghiên cứu ở nước ta chỉ xoay quanh hai ngành toán và vật lí (chiếm 53% tổng số bài báo khoa học), tức chỉ lí thuyết, trong khi đó Thái Lan họ tập trung làm nghiên cứu ứng dụng về y khoa và nông học. Các bài báo khoa học ứng dụng ở VN chỉ chi61m 14% tổng số bài báo công bố, trong khi đó con số này ở Thái Lan là trên 80%.

Nói tóm lại, các con số này cho thấy nghiên cứu khoa học ở nước ta chẳng những năng suất thấp, mà chất lượng cũng thấp, và phần lớn là nhờ vào nước ngoài.

NVT


==============


http://www.tiasang.com.vn/news?id=1627
Khoa học Việt Nam qua những công bố quốc tế 14:15:51 01/06/2007

Dựa trên các công bố quốc tế để đánh giá thành tích khoa học của đất nướcSo sánh hai nhà khoa học với nhau dựa trên các công bố quốc tế có khi chưa ổn. Nhưng để so sánh trình độ khoa học của các quốc gia với nhau thì không có tiêu chí nào khả dĩ, khách quan và chính xác hơn là dựa trên các công bố quốc tế, mà trước hết là các bài báo (article) đăng trên những tạp chí có phản biện đồng nghiệp (peer review).


Trình độ khoa học trong từng lãnh vực có thể được đánh giá qua số bài báo và số lần được trích dẫn. Gần đây, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã lên tiếng về việc chúng ta phải nhìn nhận công bố quốc tế như tiêu chí trung thực đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, và thống nhất sử dụng cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học ISI, Thomson Scientific để tìm kiếm thông tin và tài liệu khoa học. Được biết, Bộ KHCN VN cũng đang xem xét khả năng mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu này trong thời gian tới.

Theo thông báo mới nhất, ISI cập nhật thông tin từ 9080 tạp chí quốc tế có hệ thống phản biện đồng nghiệp nghiêm ngặt bao gồm:

Science Citation Index Expanded - 6200 tạp chí có từ năm 1900
Social Science Citation Index - 1743 tạp chí có từ năm 1956
Art and Humanities Citation Index -1137 tạp chí có từ năm 1975.

Hiện nay chưa có tạp chí khoa học nào bằng tiếng Anh của Việt Nam được lọt vào danh sách trên. Không phải vì người ta kỳ thị mình mà vì chất lượng các tạp chí hàng đầu của ta chưa vẫn ngang tầm quốc tế. Số tạp chí nói trên lại phân theo 55 ngành khoa học rất đa dạng, có nhiều ngành hầu như chưa ai nghiên cứu ở nước ta, không giống như một số người thường ngộ nhận "oan uổng" rằng tạp chí quốc tế chỉ là sân chơi của giới nghiên cứu cơ bản. Hiện nay, ngày càng có nhiều hướng nghiên cứu liên ngành, nên những phân loại theo ngành trong ISI nhiều khi chỉ mang tính chất tương đối.

Thành tích mười năm của Việt Nam

Công bố quốc tế có tên các tác giả Việt Nam trong mười năm qua tăng từ 256 bài năm 1997 lên 550 bài năm 2006, theo cấp số nhân, trung bình mỗi năm tăng 9-10% (hình 1). Nhưng sự tăng trưởng này chủ yếu là qua hợp tác với nước ngoài, số bài báo có địa chỉ thuần tuý Việt Nam (do nội lực) vẫn dẫm chân tại chỗ quanh con số trung bình 77 bài trong suốt mười năm qua (đường dưới cùng, hình 1). Tỷ lệ bài báo do nội lực và do hợp tác liên tục giảm từ 30% năm 1997 xuống còn 13% năm 2006 (hình 2).

Hình 1. Số bài báo quốc tế của Việt Nam dùng nguồn nội lực và qua hợp tác quốc tế trong mười năm gần đây

Bài báo dùng nguồn nội lực khác bài báo do hợp tác với các nước tiên tiến từ đầu tư kinh phí, cơ sở hạ tầng, đội ngũ để làm ra công trình, cho đến khả năng trực tiếp đào tạo sinh viên và tác động đến sản xuất đời sống trong nước qua thực hiện đề tài. Hợp tác với nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, nhất là các nước tiên tiến, để đào tạo nhân lực trình độ cao là việc rất đáng khuyến khích. Nhưng để xem xét hiệu quả đầu tư cho khoa học, nhất là các khoa học thực nghiệm và ứng dụng, có nhiều tác động đến sản xuất đời sống, không thể căn cứ trên số lượng áp đảo các bài báo được thực hiện ở nước ngoài, với phương tiện nghiên cứu hiện đại hơn nhiều và thương hiệu đã nổi tiếng từ lâu. Trên thực tế, chất lượng của bài báo do nội lực hiện nay nói chung thấp hơn hẳn bài báo do hợp tác, xét theo số lần được trích dẫn (xem bảng 1).

Diện mạo khoa học Việt Nam so với Thái lanVới những thành tích trên hình 1, ta không thể định lượng được liệu Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới nếu không so sánh với một nước khác, như Thái Lan chẳng hạn, nước láng giềng chưa thể xem là có đẳng cấp đáng kể về KHCN. Thông tin trên bảng 1 rút ra từ số liệu thống kê năm 2001. Chọn năm 2001 để so sánh vì thời gian 5 năm từ đó đến nay không quá lâu để mất tính thời sự, lại không quá ngắn để giới học giả đủ thời gian nghiên cứu và trích dẫn các công trình sau khi được công bố. Ngoài các thông tin về công bố quốc tế, hai dòng trên cùng có đưa thêm số liệu về dân số và bình quân GDP để làm căn cứ so sánh.

Hình 2. Tỷ lệ giữa số bài báo do nội lực và do hợp tác giảm liên tục trong mười năm gần đây.
Số bài báo phân theo các ngành khoa học trên bảng 2 cho ta bức tranh về diện mạo rất tương phản nhau của các ngành khoa học được nghiên cứu ở hai nước. Hai ngành mạnh nhất của Việt Nam là Toán và Vật lý lại nằm trong số những ngành yếu nhất ở Thái Lan về số bài báo quốc tế lẫn số lần trích dẫn. Còn những ngành vượt trội nhất và có tác động trực tiếp nhất đến sản xuất và đời sống của Thái Lan là y học, sinh hoá và công nghệ sinh học, thì hầu như Việt Nam không có công trình nào đáng kể.


Bảng 1. So sánh Thái Lan và Việt Nam trong năm 2001. Số lần trích dẫn được cập nhật tháng 12/2006

Thái Lan Việt Nam
Dân số 63 79
Bình quân GDP (USD) 2000 420
Tổng số bài báo quốc tế trong ISI
1406 375
Do hợp tác
Số bài 757 305
Số trích dẫn trung bình 8.6 7.6

Do nội lực
Số bài 649 70
Số trích dẫn trung bình 4.3 1.7
Số bài không được trích dẫn 21% 49%
Số lần trích dẫn nhiều nhất cho 1 bài báo 30 16
Đóng góp của các trường đại học 91% 39%

Bảng 2. Diện mạo các ngành nghiên cứu dùng nguồn nội lực ở Việt Nam và Thái Lan năm 2001. Số lần trích dẫn trung bình cho từng ngành được cập nhật váo tháng 12/2006

Ngành khoa học Thái Lan Việt Nam
Số bài Số lần trích dẫn trung bình Số bài Số lần trích dẫn trung bình
Y học 203 4.9 2 0.5
Ung thư 10 10.3
Miễn dịch học 15 6.8
Sản khoa 20 5.4

Công nghệ/năng lượng 66 1.8 3 3.3
Hóa học 47 7.2 9 0.6
Khoa học vật liệu / polyme 45 5.3 4 0.3
Sinh học phân tử / sinh hóa 31 7.5 0
Nông nghiệp / nông học 36 3.1 2 0.5
Sinh học / vi sinh học 30 5.4 0
Khoa học máy tính 24 1.5 5 1.2
Thủy sản 20 3.4 0
Y tế công cộng 17 3.9 0
Khoa học môi trường 17 3.8 3 6.7
Thực vật học 15 4.2 0
Dược học 12 5.0 0
Công nghệ sinh học 12 7.1
Vật lí 7 1.0 13 1.8
Toán học 4 0.7 24 2.0
Các ngành khác 65 5
Tổng cộng 649 4.3 70 1.7



Sunday, June 3, 2007

Bàn về ca từ trong các bài hát mới

Cuối năm 2006, Tạp chí Thời báo Kinh tế Sài Gòn có tổ chức tiệc tất niên tại Thành phố Hồ Chí Minh, với sự tham dự của nhiều cộng tác viên trong và ngoài nước. Nhân dịp về thăm nhà, tôi cũng hân hạnh được mời tham dự buổi tiệc đầy ấn tượng. Tôi còn có cơ duyên ngồi bên cạnh một anh cộng tác viên mà sau một lúc “trà dư tửu hậu” tôi mới biết đó là Nhà thơ Đỗ Trung Quân. Chúng tôi say sưa nói chuyện làm nhiều anh chị em trong bàn tưởng rằng chúng tôi là đôi bạn quen nhau tự thuở nào! Từ chuyện dịch cúm gà, chẳng hiểu sao chúng tôi nhảy tót sang nói chuyện văn hóa và văn nghệ. Khi biết người mình đang nói chuyện là tác giả bài thơ Quê hương, tôi nói đùa rằng anh làm tuyên truyền giỏi quá. Thật vậy, thời đó (thời “Việt kiều” chúng tôi còn nhiều khó khăn về thăm quê) mà nghe những câu Quê hương là chùm khế ngọt / cho con trèo hái mỗi ngày / Quê hương là đường đi học / Con về rợp bướm vàng bay hay Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi ? quê hương nếu ai không nhớ / Sẽ không lớn nổi thành người làm xao xuyến và rung động con tim của biết bao nhiêu người xa quê.

Có lần tôi đọc trên Thanh Niên về những tranh luận xung quanh nhạc sến, một cậu sinh viên trẻ nói thẳng với Nhà thơ Đỗ Trung Quân rằng “Xin lỗi, nói ra chú đừng buồn nhé, bài Phượng hồng của chú sến lắm!” Tôi quả thật sốc khi đọc nhận xét này, vì tôi nghĩ ca khúc đó có nhiều đoạn văn với những ca từ mà tôi cho là rất đẹp:

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
em chở mùa hè cũa tôi đi đâu ?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18,
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu.

Mối tình đầu của tôi
Là cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp,
Là áo ai bay trắng cả giấc mơ
Là bài thơ còn hoài trong vở,

Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.


Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu,
Nên có một gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.


Nhân dịp vui vẻ, tôi hỏi anh nghĩ gì về nhận xét của cậu sinh viên trẻ. Anh cho biết anh rất thông cảm với cậu sinh viên đó và những người trẻ hiện nay, vì thời đại bây giờ giới trẻ sống vội vàng, họ không có thì giờ để trao chuốc câu văn hay lời thơ. Họ phải tiết kiệm thì giờ để đi thẳng vào vấn đề. Họ trao đổi bằng “message” và điện thoại di động, chứ không viết thư tình bằng giấy như ngày xưa. Trong môi trường đó, họ phải nhanh: yêu thì nói là yêu, không có lòng vòng gì cả. Lớn lên trong môi trường như thế họ không cảm nhận những lời thơ mượt mà, không cảm nhận được những ý tưởng đằng sau ca từ của thế hệ trước.

Đi thẳng vào vấn đề. Đó là xu hướng tôi thấy xuất hiện rất nhiều trong các ca khúc mới đang thịnh hành trong giới trẻ Việt Nam. Tôi chợt nhớ đến một bài ca (không dám gọi đây là “nhạc phẩm”) do Cẩm Ly ca, có giai điệu hay, nhưng với ca từ rất lạ lùng. Xin viết ra đây vài hàng để các bạn hiểu tại sao tôi nói “lạ lùng”:

Sao anh bỏ ra đi, em nào có tội tình gì
Sao anh bỏ ra đi, em nào có lỗi lầm chi
Sao anh bỏ ra đi, để em thương nhớ hoài
Ôm kỉ niệm, buồn lên mấy nẽo hẹn hò,
Anh biết không.

Sao anh bỏ ra đi, bỏ quên em giữa dòng đời xuôi ngược
Giờ đây mất nhau rồi,
Tình mồ côi …

Trong bơ vơ, trong nỗi đau vùi
Em chợt nhớ rằng: tội em nghèo rớt trái mồng tơi
Mà trèo cao, vướng sợi tình rồi
Nên té giữa đời, ôm trái sầu
Buồn đơn côi

Em mang tội si mê, nên đường yêu lạc nẽo về
Em mang tội yêu anh, khi đời em trắng bàn tay
Nay anh bỏ ra đi, đèn đêm hiu hắt sầu
Ngơ ngẩn buồn
Buồn lên mấy nẽo đường tình,
Buồn nào nguôi …

Theo tôi hiểu, cô này yêu say đắm một anh chàng nào đó, nhưng anh chàng này bỏ cô (theo duyên mới chăng ?). Trong bơ vơ và đau vùi, cô tự vấn mình “có tội tình gì”, “lỗi lầm chi” để anh chàng này phải bỏ cô. Rồi cuối cùng thì cô chợt nhận ra rằng tại cô “nghèo rớt trái mồng tơi” mà ham “trèo cao” nên bị té đau!

Nghe qua thì cũng tội nghiệp cho cô ta, và giận cho cái anh chàng nào mà bạc bẽo thế! Hồi nào đến giờ tôi chỉ nghe nhạc sĩ mô tả tâm trạng đàn ông, con trai thất tình vì bị các nàng phụ bỏ, nhưng đây là lần đầu nghe một nhạc sĩ mô tả tâm sự của một nàng bị chàng (sở khanh) phụ tình!

Còn có ca từ nào mà trực tiếp và “đi thẳng vào vấn đề” hơn như bài trên? Chắc hiếm lắm.

Nhưng có phải ca từ như thế là hay không? Tôi ngờ lắm. Tôi thấy trong bài ca trên, ca từ quá dung tục và tủn mủn. Tình yêu gì mà lẩm cẩm thế, trần trụi thế. Con gái gì mà chẳng biết mắc cỡ, si tình cứ như là điên thế? Chả lẽ con gái ngày nay lại “open” đến nỗi than vãn trước công chúng rằng cô ta yêu và bị ruồng bỏ như thế sao? Rồi lại còn than thân trách phận là nghèo rớt mồng tơi nữa chứ! Ôi, thật là không hiểu nổi, không tưởng tượng nổi rằng đó là một ca khúc!

Theo tôi, ca từ trong các bài ca ngày nay thiếu tính nghệ thuật, và nhất là hạ thấp sự sang trọng của âm nhạc. Có thể định nghĩa âm nhạc là thơ trong không khí. Mà, đã nói đến thơ thì phải nói đến giai điệu, ý tưởng, từ ngữ, tượng hình, chứ đâu thể dung tục được. Không ai nói “Em muốn chồng quá” cả. Nói như thế là dung tục. Cùng một ý người con gái có thể nói kín đáo hơn như (chỉ ví dụ thôi nhé) “Thân em như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” thì hay hơn không?

Âm nhạc là một nghệ thuật, mà nghệ thuật là một “ngôi đền” của cuộc sống tinh thần. Nếu cuộc sống mà không có nhạc và thơ thì đời này chẳng có ý nghĩa gì hay là một nhầm lẫn. Thật vậy, tất cả những cái gì thuộc về chiều sâu thường được mô tả qua nhạc và thơ. Vì thế, đâu thể và không nên đùa giỡn với nghệ thuật!

Xin các bạn đọc trẻ thông cảm: tôi phải viết mấy dòng này, chứ nếu không thì tôi ấm ức lắm, và có hại cho sức khỏe! Thế hệ của tôi lớn lên với những bài nhạc của những nhạc sĩ như Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Phạm Mạnh Cương, v.v… Như là những hành trình trong cuộc sống, những nhạc phẩm như Tình ca, Tình hoài hương, Quê nghèo, Bà mẹ Gio Linh, Áo anh sức chỉ đường tà, Ngậm ngùi, Kiếp nào có yêu nhau, Trương Chi, Bến xưa, Buồn tàn thu, Cát bụi, Diễm xưa, Ca khúc da vàng, Đôi mắt người Sơn Tây, Xóm đêm, Mộng dưới hoa, Thương hoài ngàn năm, Thu ca … (nhiều quá, khó kể hết ra đây) là những ca khúc tôi mang trong tâm tưởng cho đến nay và có lẽ đến ngày tôi nhắm mắt. Tôi gọi đây là những tác phẩm âm nhạc (hay “nhạc phẩm”) vì theo tôi những bài ca này được sáng tác với sự trân trọng về ca từ và giai điệu của các nhạc sĩ vừa kể.

Xin trả lại tính sang trọng và nghệ thuật cho âm nhạc Việt Nam!

NVT

Mỗi chẩn đoán là một bản án!

Người Tây phương có câu “A diagnosis is a sentence”. Chữ sentence trong tiếng Anh ở đây phải hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa thứ nhất là một câu văn, nghĩa thứ hai là bản án. Một chẩn đoán chỉ một câu văn vài ba chữ đối với người bác sĩ, nhưng đối với bệnh nhân một chẩn đoán là một bản án, nhất là chẩn đoán ung thư và HIV. Trường hợp thương tâm sau đây xảy ra cho thấy bệnh viện Hà Tĩnh có vấn đề về y đức. NVT



http://vietnamnet.vn/xahoi/2007/06/702054/

"Tuyên án" HIV sai, BV Hà Tĩnh bồi thường 14 triệu đồng
10:46' 03/06/2007 (GMT+7)


(VietNamNet) - Số tiền trên là kết quả của việc Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh tiết lộ danh tính 1 bệnh nhân bị nghi nhiễm HIV, trong khi đây là kết quả xét nghiệm sai.

Ngày 31/5, TAND thị xã Hà Tĩnh (Hà Tĩnh) đã công khai mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh tiết lộ thông tin sai lệch: bệnh nhân Nguyễn Thị Thanh bị nhiễm HIV ra ngoài.Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thanh (trú quán tại phường Tân Giang, thị xã Hà Tĩnh), bị đơn là Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh.


Phiên tòa đã thu hút đông đảo người dân Hà Tĩnh đến theo dõi diễn biến. Căn cứ vào lời khai của các nhân chứng và kết quả tranh tụng tại toà, TAND thị xã Hà Tĩnh xét thấy: Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh đã có lỗi trong việc để lọt thông tin sai lệch về chị Nguyễn Thị Thanh bị nhiễm HIV ra ngoài, chậm gửi mẫu máu sang Trung tâm Y tế dự phòng Hà Tĩnh theo như quy định, thiếu sự đốc thúc Trung tâm Y tế dự phòng Hà Tĩnh trả lời nhanh kết quả xét nghiệm…


Những sai phạm trên đã dẫn tới việc chị Thanh bị khủng hoảng tinh thần, vợ chồng nghi kỵ lẫn nhau, con chị Thanh vừa sinh ra đã không được bú sữa mẹ....


TAND thị xã Hà Tĩnh đã tuyên: Buộc bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh phải bồi thường: 3.600.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 10.958.000 đồng tiền mua sữa nuôi con cho chị Nguyễn Thị Thanh. Tổng cộng, bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh phải bồi thường 14.558.000 đồng.


Tòa cũng tuyên buộc lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh phải trực tiếp xin lỗi gia đình chị Nguyễn Thị Thanh tại nhà chị Thanh, có sự chứng kiến của cán bộ khối phố và chính quyền địa phương.