Thursday, July 5, 2007

Đi hội nghị như ra quân!

Mỗi lần đi “phó hội” là mỗi lần “ra quân”. Mà đã ra quân thì ít ai muốn mình chiến thắng, hay ít ra la không thua thiệt. Muốn thế thì phải có chiến lược cẩn thận để giảm nguy cơ bị thua trận. Thua thắng ở đây là chỗ mình truyền bá được việc làm của mình, hay nói trắng ra là làm cho người ta phải nhớ mình là ai, là phải đưa tên tuổi của mình vào hàng “hàng đầu” chứ không phải nằm trong đám đông được. Đó là một yêu cầu rất lớn mà bất cứ ai quan tâm đến khoa học đều phải nằm lòng.

Một hội nghị với hàng trăm hay hàng ngàn báo cáo, ban tổ chức chỉ chọn vài chục hay cao lắm là một trăm báo cáo bằng miệng (oral presentation), phần còn lại là báo cáo giấy (tức là poster). Báo cáo bằng miệng có giá trị hơn, và ai cũng cố gắng làm cho tốt để được chọn vào thể loại này. Ngoài ra, báo cáo miệng cũng là hình thức để tự quảng bá tên tuổi mình, là một cách đồng nghiệp trên thế giới “recognize” đóng góp của mình cho chuyên ngành ở tầm quốc tế.

Năm nay, nhóm của tôi có 2 báo cáo miệng và 1 báo cáo poster. Như vậy là một thành công khá đáng kể. Do đó, tôi phải cẩn thận sử dụng hai báo cáo này để quảng bá về nhóm của mình, và cũng là cơ hội để nâng đỡ một đồng nghiệp trẻ lên tầm quốc tế. Nhóm tôi đã bỏ ra khá nhiều thời gian để phát triển các mô hình tiên lượng gãy xương và chẩn đoán loãng xương. Tôi đề ra khái niệm individualization (cá nhân hóa) cho việc chẩn đoán loãng xương và muốn mọi người phải biết đó là công của tôi. Thế nhưng ngày đầu vào hội nghị, qua trao đổi với đồng nghiệp và theo dõi các “đối thủ” tôi mới biết có một đồng nghiệp sử dụng thuật ngữ individualization! Thành ra, nhiệm vụ rất quan trọng của tôi là bằng mọi giá phải làm cho người ta biết rằng nhóm tôi là tác giả của khái niệm này, còn cái tay đồng nghiệp kia chỉ mượn từ chúng tôi mà thôi (vì đâu thể ngăn cản họ sử dụng thuật ngữ ngày!) Không phải là nghi ngờ sự thiếu thành thật của đồng nghiệp, nhưng ông bà ta hay nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, tôi phòng ngừa cho chắc ăn. Kể ra thì cũng quá cẩn thận nhưng cạnh tranh mà, biết nói sao bây giờ ...

Thế là tôi phải bạn với N, postdoc trong nhóm tôi, thay đổi chiến lược. Chúng tôi điểm qua bài nói chuyện, xem xét lại từ ngữ, và quyết định nhấn mạnh đến thuật ngữ individualization, cũng như “nhét” vào những tài liệu tham khảo của chính chúng tôi, để khán giả không thể lầm tưởng được rằng chúng tôi mới là chủ cái khái niệm đó, là người đề suất đầu tiên, chứ không phải cái tay đồng nghiệp xỏ nhầm giầy kia! Tôi quyết định cho N trình bày báo cáo time-variant mà đáng lẽ tôi phải trình bày, còn tôi thì sẽ nói bài của N trong phiên họp “Hot Topic” (Chủ đề Nóng) và nhân dịp nhấn mạnh đến khái niệm individualization. Vả lại, khi đến chuyện đấu võ mồm với đồng nghiệp nước ngoài thì tôi có kinh nghiệm hơn N nên tôi phải phụ trách cái báo cáo quan trọng này.

Trình bày nghiên cứu trong một hội nghị quốc tế với hàng ngàn người tham dự đòi hỏi một số kĩ năng căn bản. Từ cách nói, câu chữ, hình ảnh, con số, biểu đồ, đến cách sử dụng các phương tiện kĩ thuật đều cần phải đọc kĩ và nhất định không để xảy ra “sự cố”. Đứng trên bục giảng đó trước hàng ngàn người đang chăm chăm nhìn mình, mà có sự cố thì chỉ có nước độn thổ! Ngoài ra, người trình bày còn phải tuyệt đối giữ đúng thời lượng cho phép. Nói quá thời lượng cho phép là một bất lịch sự đối với người nói sau mình và phiên họp sẽ kéo dài một cách không cần thiết. Theo thông lệ, các hội nghị y khoa chỉ dành 10 phút cho mỗi báo cáo (8 phút để trình bày và 2 phút thảo luận). Có nơi thì 10 phút để nói và 5 phút thảo luận. Trong hội nghị này đã có một cô bác sĩ nọ ở Đại học San Francisco bị yêu cầu ngưng nói chuyện chỉ vì cô ta nói quá thời lượng cho phép. Tôi thấy thật tội nghiệp cho cô ấy, và giận cho cái ông hay bà nào đó là sếp của cô ấy. Vì sự thất bại thê thảm của cô trên bục giảng (chẳng khác gì bị đuổi khỏi bục nói chuyện) là trách nhiệm của sếp cô ấy.

Đôi khi tôi nghĩ đi dự hội nghị như thế này cũng giông giống như ca sĩ đi trình diễn sô nhạc. Tức là cũng phải chuẩn bị, tập dược cẩn thận trước khi ra sân khấu. Chỉ có khác là khán giả ở đây toàn là những người có ăn có học cao, có khi là bậc thầy của mình đang ngồi phía dưới. Đêm trước khi trình bày, chúng tôi phải tiêu ra một thời gian trong khách sạn để tập dược trình bày. Chúng tôi còn phải nghĩ đến những câu hỏi mà khán giả có thể hỏi, và tất nhiên phải suy nghĩ đến câu trả lời sao cho thông. Nói tóm lại, chúng tôi tập dược cẩn thận sao cho “ra quân” là phải thành công.

Quá trình chuẩn bị và tập dược của chúng tôi quả có ích, bởi vì bài nói chuyện của chúng tôi đều trôi chảy. Câu hỏi nằm y chang trong dự tính, do đó cũng giải quyết êm thắm. Nói chung là thành công mĩ mãn. Chúng tôi tự thưởng mình bằng một chầu bia Canada chiều hôm đó ở khu phố cổ Montréal.

Nhưng như thế đâu phải là xong chuyện, là ngủ quên trên chiến thắng. Tôi từng nói với N và đồng nghiệp rằng chiếm giải này nọ là một chuyện, nhưng làm sao giữ cái giải đó, giữ tên tuổi của mình để không bị tuột trong tương lai mới là quan trọng. Xây một tòa nhà đã khó, duy trì cái tòa nhà đó lúc nào cũng sáng sũa còn khó hơn. Cuộc đời là một đấu tranh liên tục là thế, tôi nghĩ. Thành ra, sau cầu bia là đêm về phải vắt tay lên trán mà suy nghĩ cho ... năm tới. Đề tài gì đang "nóng" là gì? Ai là đối thủ của mình? Bọn nó đang làm gì? Đề tài năm tới của mình là gì? Ai làm? Cần có kĩ năng gì để học thêm? Làm gì để giữ vị thế của mình?

Thế đã xong đâu, lại còn phải nghĩ làm gì ở Việt Nam nữa chứ? Nhưng đây là câu chuyện dài, bởi vì nói đến chuyện nhà thì chỉ biết ... thở dài. :-)



Những nhà khoa học không biết xấu hổ

Viết tiếp chuyến đi Montréal ...

Trong hội nghị nào cũng có những diễn viên và khán giả. Diễn viên thường là giáo sư, chuyên gia có tên tuổi trong ngành. Khán giả thì đủ loại, từ bác sĩ cấp thấp đến giáo sư cấp cao. Khán giả cũng có thể là các công ti thuốc, và ... "tình báo". Nói tình báo là quá đáng, vì họ không phải tình báo đúng nghĩa, mà chỉ muốn đến xem "đối thủ" của họ đang làm nghiên cứu gì, trình độ tới đâu ... Tình báo thường là các chuyên gia trong ngành và các công ti thuốc. Khán giả đến nghe ngoài những lời hay ý đẹp, còn là những nghiên cứu mới có thể giúp họ trong việc chăm sóc bệnh nhân.

Trong hội nghị thường có nhiều hội thảo (symposium), và hội thảo thường do các công ti thuốc hay một nhóm chuyên gia đứng ra tổ chức. Chương trình hội thảo năm nay dành một phần lớn cho thuốc bisphosphonates, những thuốc phòng chống gãy xương đang rất thịnh hành trên thị trường. Điều làm tôi chú ý trong hội nghị là thái độ của một giáo sư có tiếng và có quyền trong chuyên môn: giáo sư SC ở Hà Lan. Ông này là một chuyên gia nội tiết học, từng là chủ tịch hội loãng xương quốc tế, không phải vì ông tài giỏi xuất sắc, mà vì ông rất giỏi trong chính trị khoa học.

Cách đây 2 năm, trong một symposium do Merck (công ti sản xuất thuốc alendronate) tổ chức ở Mĩ, SC là người cổ động cho alendronate nhiệt tình nhất. Tôi còn nhớ trong một bài nói chuyện 20 phút, ông lặp lại cái điệp khúc “alendronate is better than risedronate” đến 5 lần! Một bác sĩ ngồi cạnh tôi hỏi tôi một cách mỉa mai: không biết thằng cha này là giáo sư của đại học Free hay là nhân viên tiếp thị của Merck? Tôi mỉm cười.

Đến năm nay, khi Proctor & Gamble (nhà sản xuất thuốc risedronate, một đối thủ của alendronate) tổ chức một symposium cũng về bisphosphonate, và SC cũng là một diễn giả. Lần này, SC quay 180 độ: ông trình bày số liệu cho thấy risedronate tốt hơn alendronate! Ông không hề tỏ ra ngượng ngùng khi nói câu “risedronate is better than alendronate” chút nào!

Tôi kinh ngạc với thái độ của SC. Thật ra, tôi rất khinh những người như SC, chẳng phải vì ông ta thiếu tài chuyên môn, mà vì ông ta thiếu cái đạo đức số 1 của khoa học: thành thật tri thức.

Sau khi SC trình bày tôi thấy chẳng ai hỏi han hay chất vấn gì, nên tôi muốn lấp cái khoảng im lặng đáng sợ này. Tôi đứng lên hỏi một câu mà tôi biết rất rõ rằng ông sẽ không có khả năng trả lời. Trong bài nói chuyện của ông, ông trình bày kết quả một nghiên cứu cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng risedronate có tỉ lệ gãy xương là 0.5%, còn nhóm giả dược là 1.2%, và do đó ông kết luận risedronate có hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương gần 60%. Một con số rất ấn tượng! Tôi đặt lại vấn đề: nếu bệnh nhân uống thuốc thì điều mà họ muốn biết không phải là xác suất bị gãy xương mà là xác suất không bị gãy xương. (Có ai uống thuốc mà kì vọng mình mắc bệnh đâu). Do đó, cách diễn tả của SC là bất hợp lí và phi thực tế. Tôi nói tỉ lệ không gãy xương trong nhóm được điều trị bằng risedronate là 99.5%, và trong nhóm giả dược là 98.8%; do đó, tỉ số lợi ích là khoảng 1.1. Nói cách khác, risedronate chỉ đem lại lợi ích 0.7% cho bệnh nhân mà thôi, chứ không phải 60% như ông thổi phồng!

Thật ra mô tả hiệu quả của một thuật điều trị là một vấn đề làm nhức đầu nhiều chuyên gia, mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Đây cũng là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị.

Tôi thấy SC chết lặng gần 1 phút, không trả lời được! Giáo sư chủ tọa vội vàng “chữa cháy” bằng cách tranh luận với tôi. Tất nhiên, dù ông có 3 đầu 6 tay cũng không tranh luận lại tôi về vấn đề này, nhưng vì tình đồng nghiệp với nhau và quan hệ sau này, cho nên sau vài trao đổi qua lại tôi quyết định “tha” cho ông ta. Đến giờ giải lao, nhiều người đến chúc mừng tôi và tỏ ra cảm phục với cách đặt vấn đề của tôi làm cho SC chết đứng. Thậm chí còn có đại diện của công ti Merck mời đi ăn cơm tối!

Thật ra thì thuốc bisphosphonate có hiệu quả chống gãy xương. Nhưng lợi ích của thuốc đã được thổi phồng bằng những con số thống kê quá lâu, chẳng ai chất vấn, cho nên ai cũng thấy đó là chuyện bình thường. Đến khi tôi đặt vấn đề thì người ta mới vở lẽ là còn có một cách nhìn khác thực tế hơn, lâm sàng hơn, và đặt trọng tâm vào lợi ích bệnh nhân hơn là những con số vô hồn. Tôi dự định sẽ viết một bài xã luận về vấn đề này sau khi đi Việt Nam về.

Qua câu chuyện này tôi muốn nói rằng có không ít chuyên gia, giáo sư ngoại quốc hành xử rất đáng khinh. Họ chỉ là những cái loa lặp lại những gì mà người khác nói chứ không chịu khó suy nghĩ và tìm hiểu xem họ nói có chính xác hay không. Y khoa là một ngành nghề đầy bất định, và không chịu nhận thức những bất định này là một sai lầm lớn của nghề y.


Buổi hòa nhạc ấn tượng

Kể tiếp chuyện Montréal ...

25/6/07

Khoa học và văn hóa là hai lĩnh vực tưởng như rất xa nhau, nhưng trong thực tế lại rất gần. Tôi nhớ Nhà văn người Anh Thomas Huxley (thế kỉ 19?) từng nói rằng làm khoa học mà không biết đến văn hóa nghệ thuật thì chẳng khác gì cái cỗ máy. Văn hóa là linh hồn của khoa học. Thành ra, cũng không ngạc nhiên khi giới làm khoa học rất quan tâm đến các văn hóa, kể cả văn học và nghệ thuật. Hầu như trong bất cứ hội nghị lớn nào, ngoài những chương trình hội thảo khoa học, đều có các chương trình văn hóa.

Đối với nước chủ nhà thì hội nghị cũng là một dịp để họ khoe văn hóa của dân tộc họ. Hội nghị loãng xương quốc tế năm nay tổ chức ở Thành phố Montréal, bang Québec, Canada. Người Québec chủ yếu nói tiếng Pháp. Do đó, thành phố Montréal cũng mang dánh dấp của một Paris. Thật ra, Montréal là một Paris ngoài nước Pháp, chỉ nhỏ hơn Paris ở Pháp mà thôi. Do đó, ban tổ chức cũng muốn nhân cơ hội để giới thiệu những nét độc đáo của thành phố.

Một trong những nét độc đáo của Montréal là Nhà thờ Notre Dame Basilica (tạm dịch là Nhà thờ Đức Bà). Theo người hướng dẫn, nhà thờ này hàng năm thu hút hàng trăm ngàn du khách đến thăm và chiêm ngưỡng (chứ không phải đến để cầu nguyện!) Đây là nhà thờ lớn nhất ở Québec, nằm ngay trong khu phố cổ, chỉ cách hội trường 5 phút đi bộ. Nhà thờ được xây từ 1824 đến 1829, theo kiến trúc Gothic Phục hưng (Gothic revival). Từ ngoại thấy đến nội thất, người thiết kế đã gây một ấn tượng không thể nào nhầm lẫn được: nguy nga và tráng lệ. Nội thất nhà thờ được trang trí lộng lẫy, với tượng gỗ, vàng lá, và thiết kế theo kiểu Sacré-Coeur. Cũng là một cách phô trương thanh thế và sự giàu có của người Pháp Canada.

Nhà thờ được chọn làm địa điểm cho buổi hòa nhạc để phục vụ các đại biểu từ khắp thế giới về dự hội nghị loãng xương. Buổi hòa nhạc do dàn nhạc giao hưởng Orchestra Métropolitain du Grand Montréal trình diễn. Chương trình chỉ kéo dài 1 giờ 30 phút, với 4 bài (A Little Night Music của Mozart, Egmont Overture của Beethoven, Symphony #40 của Mozart, và Academic Festival Overture của Brahms).

Buổi hòa nhạc đầy ấn tượng vì khung cảnh trang nghiêm của nhà thờ và cách chơi nhạc của các nhạc công. Có khoảng 50 nhạc công trong dàn nhạc giao hưởng. Họ là những giáo sư hoặc nhạc sĩ tốt nghiệp từ Nhạc viện Québec. Do đó, dàn nhạc có những người trẻ (chỉ 20 – 30 tuổi) đến những người có tuổi (60). Nhạc trưởng là nhạc sĩ Jean Philip, chỉ độ 35 tuổi. Nhưng dù trẻ hay cao tuổi, họ đều chơi nhạc với một phong độ chuyên nghiệp rất cao. Dễ dàng thấy họ thả hồn và thân thể theo tiếng nhạc lúc du dương, lúc dữ dội, lúc bình an … Trong không gian nghiêm trang tuyệt với của nhà thờ mà thưởng thức nhạc cổ điển Tây phương cho chúng ta một cảm giác thanh thản và trầm tư. Dù cho người không quan tâm đến nhạc hay nghệ thuật mà vào đây thì cũng không thể nào bỏ tâm trí của mình vào những chuyện “thị phi” trong hoạt động khoa học hay ngoài xã hội. Âm nhạc đúng là một hình thái nghệ thuật đem lại cho con người một cơ hội để có thể tự mình giải thoát khỏi những tục lụy ưu phiền trong cuộc sống.

Điều đáng trách trong đêm hòa nhạc là có vài người hành xử như những kẻ vô văn hóa, vô minh. Ngồi phía sau tôi là một nhóm bác sĩ mà qua tiếng nói và khuôn mặt tôi biết là dân Nam Mĩ hay Mexico. Họ cực kì ồn ào, cười hô hố, nói oang oang như chỗ không người, đến nỗi mọi người chung quanh đều ném cho họ những cái nhìn bực dọc và khinh bỉ. Chính tôi, một người kiên nhẫn cao độ, mà cũng không chịu nỗi những hành động vô văn hóa, nên tôi phải nói thẳng cho họ biết: “Đề nghị mấy ông mấy bà trả lại yên lặng cho buổi hòa nhạc!” Hóa ra lời nói của tôi có hiệu lực. Nhưng hiệu lực chỉ 2 phút, và sau đó họ lại ồn ào cười nói oang oang! Bây giờ thì tôi mới hiểu một phần tại sao người Mĩ rất ghét và khinh bỉ dân Nam Mĩ và dân Mễ.

Xem qua buổi hòa nhạc làm tôi nhớ đến những xô ca nhạc video / DVD của các nhóm như Thúy Nga tổ chức. Họ cũng có dàn nhạc, cùng kèn, cũng trống, cũng violon, v.v… nhưng hình như họ làm thế chỉ để phô trương cho có vẻ “ta đây”, chứ trong thực tế thì các ca sĩ chỉ hát nhép, và các nhạc công chỉ chơi cho có, chứ tất cả đã được thu âm cả rồi. vả lại, nhạc pop Việt Nam thì cần gì đến dàn nhạc cổ điển. Đúng là một trò lố bịch!

Tuesday, July 3, 2007

Lên Bạch Mai chống độc !

Lượm bài blog này từ một người bạn chuyển đến. Bài này từ trang blog của Trang Hạ, chắc là phóng viên của báo Tiền Phong ở Đài Loan.
Đọc mà thấy buồn cho tình trạng y đức ở bệnh viện lớn nhất nhì nước này. Có anh bạn mỉa mai rằng y đức Việt Nam nay đã biến thành “y đô” rồi. Mấy người đang cố tình moi tiền của Tây (họ tưởng Tây nào cũng có đô la hay sao ấy!) có bao giờ nghĩ đến thể diện của nước Việt Nam không? Chắc họ không nghĩ rằng khi cô này về Đài Loan, cô ấy sẽ nói với giáo sư và đồng nghiệp của cô rằng bác sĩ, y tá và người Việt Nam là những kẻ ăn cướp có bài bản. Nhục.
Trong mấy bài bàn về vấn đề cổ phần hóa bệnh viện, tôi cũng nhấn mạnh đến vấn đề y đức, một vấn đề mà tôi cho là nhức nhối nhất, đau lòng nhất, nổi cộm nhất trong ngành y tế nước ta hiện nay. Đành rằng đồng lương thấp là một nguyên nhân, nhưng “nghèo cho sạch, rách cho thơm” chứ. Ông bà mình vẫn nói vậy mà.
NVT

http://blog.360.yahoo.com/blog-Vu7viS0laaeZd4RQ7woX3YU-?cq=1

Lên Bạch Mai chống độc !

Hơn tuần trước, bay về VN, ở chỗ bán vé máy bay gặp 1 cô Đài Loan cùng mua vé. Hôm sau về ngồi cùng chuyến bay, trao đổi danh thiếp. Cô này 34, sắp Tiến sĩ, sang VN nghiên cứu về môi giới hôn nhân cô dâu Việt.
Thứ 2 tuần trước 25/6, 3h chiều cô ấy gọi điện nhờ tôi, nói bị ngộ độc thức ăn vì cái bánh mì buổi sáng. Nôn đi ngoài 3 lần, không đau bụng nhưng dạ dày co bóp nhiều. Mà hôm sau phải về nước rồi. Và cô không hề quen biết ai ở VN.

Tôi đi mua than hoạt tính ko được, đành tới khách sạn chở cô đi cấp cứu. Việt Đức không nhận, chở thẳng xuống Bạch Mai, làm thủ tục, cho vay tiền để đủ tiền Việt đặt cọc. Mua vài thứ lặt vặt cho 1 người nằm viện, 1 cái thẻ Vỉettel để cô gọi về ĐL. Đêm lại quay lại để xem tình hình ra sao.
Sáng hôm sau xuất viện, ngoài tờ Chi phí thuốc, phòng bệnh, thử xét nghiệm đủ loại là hơn 400 nghìn đồng, Trung Tâm Chống Độc của bệnh viện Bạch Mai đã xé một mẩu giấy loại, ghi vào đó dòng chữ: "Bệnh nhân người nước ngoài, thu thêm 200 USD/ một ngày nằm viện".

Cô Tseng nằm viện đúng 12 tiếng, tổng chi phí phải trả là khoảng 3.620.000 đồng trong đó chi phí điều trị thực tế chỉ chiếm vẻn vẹn 11% số tiền đó mà thôi. Còn lại 89% khoản tiền cô phải trả cho việc... cô là người nước ngoài.

Tôi chưa bao giờ vào bệnh viện Bạch Mai khám bệnh nhưng tôi biết rằng ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, việc "moi tiền Tây" đã chấm dứt lâu rồi. Vé vào cửa những danh lam thắng cảnh, vé máy bay, phí dịch vụ ở sân bay, tiền thuê phòng khách sạn, tiền taxi v.v... từ hình như nhiều năm nay đã không còn có thể "hai giá" để xảy ra tình cảnh "moi tiền Tây" như hồi thế kỷ trước.

Đã rất nhiều những bài báo nói, ta đang kỳ thị người nước ngoài, ta đang bất công với những người không phải bản địa, ta đang đuổi những du khách một đi không trở lại và ta cho đó là công bằng. Vì bạn là người nước ngoài, và bạn đang ở VN. Chắc những bài báo đó không bán được vào Bạch Mai hay Trung Tâm Chống Độc.

Người bệnh đã trót chọn Bạch Mai, chứ Bạch Mai đâu có chọn người bệnh đâu, đúng không?
Cô Tseng cho rằng, nếu đó đúng là quy định của bệnh viện, thì cô sẵn sàng tuân thủ. Tuy nhiên, nên cho cô một giấy thu phí nghiêm túc chứ đừng là một tờ giấy thải, viết trên giấy tận dụng một mặt và còn xé nham nhở còn có nửa trang. Ngoài ra, vì sắp về nước, cô không còn nhiều tiền mặt, chỉ còn 1 chi phiếu đích danh 100 USD và 1 thẻ Visa Card rút tiền USD. Liệu có thể giúp cô ra ngoài để đổi chi phiếu hoặc rút tiền bằng máy ATM không?

Y tá chạy xuống chỗ thu phí bệnh viện để dặn dò rồi bảo, cứ xuống mà nộp tiền. Nhưng những người thu viện phí cũng không thể cho chúng tôi một đáp áp rõ ràng rằng, đây là tiền gì, bệnh viện có quy định thu hay không?

Tôi gọi điện về toà soạn hỏi xem, Bộ Y Tế có quy định là thu viện phí của người nước ngoài thêm 200 USD/ một ngày không? Đồng nghiệp liên hệ với anh Chi, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai hộ tôi và bảo, chị đưa cô Đài Loan lên gặp Phó giám đốc phụ trách tài chính của Bạch Mai đi nhé. Anh ấy đang chờ.
Anh Chi cực kỳ nhiệt tình và nói, mọi khoản thu của bệnh viện đều phải có quyết định của Ban giám đốc, mà tôi không hề biết khoản thu này. Phó giám đốc cử trợ lý xuống phòng Thu viện phí, sau đó là xuống Trung Tâm Chống Độc để tìm hiểu.

Tseng nói, với cơ sở vật chất và giường bệnh như thế này, tôi phải điều trị với điều kiện vệ sinh và điều kiện y tế như mọi người dân thường khác, thì tại sao thu thêm tiền của tôi theo giá phòng khách sạn cao cấp của Khách sạn Daewoo?

(Thực ra tiền phòng khách sạn Daewoo Hà Nội chỉ có 138 USD/1 ngày thôi, nằm giường Bạch Mai còn đắt gấp rưỡi Daewoo cơ!)

Tôi làm sao trả lời được câu hỏi này, tôi chỉ bảo, vì mày trót là người nước ngoài, mày không nhịn cái cơn đau bụng đi.
Cô trợ lý vào tìm hiểu càng lâu, hy vọng của chúng tôi càng giảm xuống. Nếu họ ra ngay, tức là đen trắng đã rõ ràng, chúng tôi phải nộp ngay 200 USD hoặc không phải nộp gì cả. Còn họ ngồi thương lượng càng lâu, tức là cái sự bấp bênh của món lệ làng 200 USD càng lớn, tức là khoản lệ phí đó "tình" nhiều hơn "lý". Tức là "lệ" có khả năng hơn "luật". Tức là sự thoả hiệp giữa "quy định" bệnh viện và "lệ" của tờ giấy tận dụng xé nham nhở kia đang giằng co nhau khá lâu.

Cô trợ lý ra, nói, Trung tâm chống độc bảo họ chỉ nhận người Việt Nam, họ đã không đuổi sang Việt Pháp mà cho cấp cứu ở đây là rất đàng hoàng rồi. Giờ họ linh động giảm cho xuống còn 100 USD.

Cuối cùng, cái cớ đó cũng vẫn là: Vì mày đã chọn bệnh viện tao, chứ bệnh viện tao đâu có chọn mày? Ai bảo mày phải đi cấp cứu làm gì.Tôi nhớ lại những lần đi khám, đi siêu âm đi làm xét nghiệm, những ngày tôi xoay quanh cái bệnh viện ở Đài Loan. Thật may mắn làm sao khi ở nước ngoài không có bệnh viện Bạch Mai, nếu không chắc tôi đã nai lưng ra trả nợ cho mỗi lần ốm ở Đài Loan.

Chả biết nói gì nữa, tôi chỉ biết cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám đốc Bệnh viện Bạch Mai và xin chào tạm biệt cô, cho tôi gửi lời cảm ơn Bác sĩ Phó giám đốc đã cho chúng tôi một cơ hội.

Tôi hôm đó cũng chả có tiền, còn vài chục nghìn trong túi, đi dép lê mặc quần áo tồi tàn vào bệnh viện định đón cô bệnh nhân ra, tôi không dám vác sự xuềnh xoàng lên toà soạn vay tiền triệu. Gọi cho anh bạn trên blog mới gặp chiều hôm trước, thì anh ấy không may lại không ở gần đó. Ngân hàng từ chối chi phiếu của Mỹ, đã trưa, con tôi đang chờ tôi đến đón ở lớp. Mẹ tôi đang chờ tôi mang cơm vào bệnh viện. Và tôi cũng không thể bỏ mặc một cô gái mới quen nhưng không biết tiếng Việt ở giữa bệnh viện lớn nhất miền Bắc này.Thu xếp rồi cũng xoay ra tiền, tôi bảo cô ấy bao giờ về Đài Bắc thì trả tiền cho tôi cũng được.

Tôi biết là cô bệnh nhân không may Tseng kia suốt đời sẽ có những ý nghĩ không ra gì về Việt Nam. Mặc dù cô đang làm những việc rất có ý nghĩa cho hàng vạn cô dâu Việt ở Đài Loan. Có thể sau này cô vẫn giúp đỡ cô dâu Việt, cô vẫn nỗ lực để xoá bỏ chế độ môi giới hôn nhân Việt Đài, cô vẫn sẽ còn sang Việt Nam. Nhưng cô sẽ mãi mãi có những kinh nghiệm không ra gì ở Việt Nam.

Tôi hy vọng cô còn hiểu rằng, còn có những người Việt Nam khác sẵn sàng chìa tay ra giúp cô khi cô khó khăn, giúp đỡ hết mình, hy sinh thời gian và công sức cho dù chỉ là người quen qua đường như tôi. Cô sẽ nhờ đó có những tình cảm tốt đẹp với Việt Nam. Mặc dù tôi cảm thấy, tôi không có trách nhiệm phải giữ gìn danh tiếng và xây dựng hình tượng tốt đẹp cho Bệnh viện Bạch Mai.
Trách nhiệm đó là của những người khác, ngoài tôi.

Chú thích thêm: Giấy thu tiền cấp cho cô ấy cũng vẫn ghi rõ: Lý do thu - Bệnh nhân là người nước ngoài.

Hải quan Canada

Tôi vừa về nhà từ một chuyến công tác bên Canada. Nói là công tác, nhưng cũng là lúc thư giản sau những tháng làm việc mệt nhoài, nhức đầu. Chuyến đi lần này thật thú vị và tôi, như là một thói quen, ghi chép những gì mình đã kinh qua hay cảm nhận được …


- Ông vô Canada làm gì ?

Câu hỏi có tác động làm tôi sực tỉnh rằng mình đang ở trên đất của Canada, mà trước khia tôi được biết là Gia Nã Đại. Tôi nhìn anh chàng nhân viên hải quan để biết người mình đang đối thoại. Đó là một thanh niên còn trẻ (hay nói theo người mình là mặt non choẹt), nước da nâu (có thể là người bản xứ hay bà con của Loretta Sanchez, tức dân Mễ), người có vẻ mập mạp (chắc do ngồi một chỗ và thiếu vận động lâu ngày), khuôn mặt vuông, trán rất thấp, với mái tóc cắt hơi “ấn tượng” (để một khoảng trống tròn trước trán). Anh ta mặc đồng phục màu đen, đeo cái walkie-talkie trên vai, miệng thì nhai kẹo chewing-gum. Có lẽ do tính “bảo thủ” nên thoạt nhìn qua là tôi thiếu cảm tình. Kinh nghiệm giao tiếp trong xã hội cho tôi thấy đây đây là công chức thiếu tư cách, một người thuộc giai cấp thấp trong xã hội (thể hiện qua hình ảnh miệng nhai kẹo chewing-gum). Tôi trả lời vừa cụt ngủn vừa sẵn giọng:

- Dự hội nghị.

- Hội nghị gì?

Anh ta hỏi lại. Tôi nghĩ trong đầu: chà, chắc thằng nhóc này muốn kiếm chuyện. Ok, mình sẽ đùa chơi xem nó làm gì. Nghĩ thế tôi nói:

- Bone diseases (hội nghị về các bệnh xương)

- Ạ, bác sĩ hả? Air bone disease?

Đến đây thì máu trong người tôi bắt đầu nóng lên rồi. Cái câu hỏi “Air bone disease” là một kiểu nói móc, kiểu nói hàm ý mỉa mai rằng tôi nói tiếng Anh không rành, và đó là một xúc phạm. Có lẽ hắn nghĩ rằng tôi người tóc đen nên giả định rằng tôi nói tiếng Anh không rành chăng? Hay là thằng nhóc này không rành tiếng Anh, vì đây là nơi nói tiếng Pháp. Bất kể là gì, tôi không chấp nhận cái tính trịch thượng, cái thái độ “cà chớn” của hắn. Nói tóm lại, tôi nghĩ thằng nhóc này muốn kiếm chuyện, nên tôi nghiêm nghị nói:

- I am not joking with you. It is a conference on bone disease, is it clear? (Tao ông đùa với mày đâu nghe. Đó là một hội nghị về bệnh xương, nghe rõ chưa?)

Hình như hắn biết tôi đang nóng máu, nhưng hắn cũng muốn tỏ ra mình là người có quyền, nên hắn nhìn thẳng vào mắt tôi như muốn dò hỏi. Riêng tôi thì có thể nói là “bất cần”. Tôi không cần phải vào cái xứ sở này. Muốn thì đi, không muốn thì thôi, chứ xa xôi quá, thì ham cái nỗi gì. Tôi cũng nhìn lại hắn một cách thách thức. Trong giây phút, hắn thay đổi thái độ khác và quay sang hỏi mấy câu vớ vẩn khác:

- Ông ở đây bao lâu?

- Bảy ngày.

- Lâu dữ vậy sao?

- Bảy ngày mà lâu nỗi gì?

- Có định đi đâu chơi không?

- Không, tao bận suốt ngày đêm.

- Ồ, ông phải đi chơi để biết xứ Canada của tôi đẹp chứ!

Tiên sư mày, tôi nghĩ thầm, tên này chắc là nhân viên tiếp thị du lịch chăng, sao mà nó “nhiều chuyện” thế! Mà, cũng phải thôi, chắc nó phải quảng bá cho hình ảnh của đất nước nó để người ta vào tiêu tiền. Nghĩ thế tôi nói:

- Thôi tao biết xứ mày đẹp rồi. Nhưng tao đã từng ghé qua Canada hồi xưa rồi.

- Vậy sao? Hồi nào, ở đâu ?

- Ừ, cũng 9, 10 năm về trước lận, ở Toronto.

Đến đây thì bộ mặt của hắn thay đổi, tay đóng cái mộc, và nhoẽn miệng cười nói:

- Mến chúc ông một chuyến đi thành công.

Nhân viên hải quan ở đâu cũng … khó ưa. Riêng Canada thì đây là lần đầu tôi mới đối mặt với họ, vì mấy lần trước lái xe từ Mĩ sang Toronto chẳng có “ma” nào hỏi han gì đâu. Tôi cứ tưởng Canada là xứ sở hiền lành, không gun-hô như các chú Sam láng giềng, nên có thể họ “dễ thương” hơn.

Tôi lầm to.

Nghe qua vài câu chuyện khác của anh đồng nghiệp và hai bà cháu Mĩ đen, tôi có thể nói nhân viên hải quan Canada rất đáng ghét. Trường hợp anh đồng nghiệp, N, cùng đi với tôi làm tôi nổi nóng. Anh ta kể, nhân viên hải quan Canada hỏi những câu đại loại như:

- Vào đây làm gì?

- Nói chuyện có 1 ngày mà ở đến 6 ngày à?

Trời ơi, tay nào mà hỏi tôi câu này chắc tôi cho hắn một bài học ngay. Tôi sẽ nói “Này, tao đâu có cần xin vào cái xứ của mày; tao được ban tổ chức mời vào. Nếu mày không muốn cho tao vào thì tao sẽ bay về nước tao ngay bây giờ. Không có vấn đề gì cả. Đừng có hỏi kiểu đó.”

Còn câu chuyện hai bà cháu người Mĩ da đen còn làm cho tôi không ưa nhân viên hải quan Canada hơn nữa. Hai bà cháu đi từ Boston sang Toronto bằng xe điện, và từ đó cũng bằng xe điện đi Montréal. Trên đường hai bà cháu bị nhân viên hải quan Canada hoạnh họe, bắt bẽ từng câu chữ, và vẫn với những câu hỏi quen thuộc: qua đây để làm gì, ở bao lâu, tại sao không đi đây mà đi đó, địa chỉ ở Mĩ ở đâu, v.v… nói tóm lại toàn là những câu hỏi mang tính kéo dài thì giờ. Nhưng câu “có dính dáng vào khủng bố không” thì bà da đen chịu hết nổi và hét lớn rằng: nếu ông không muốn tôi vào thăm Canada thì cứ nói, đừng có hỏi láo cá như vậy. Phải đến độ đó thì họ mới để cho bà yên thân.

Tôi thấy hình như bọn hải quan ở các nước nhỏ nhưng giàu có như Canada và Úc thường có thái độ trịch thượng, kì thị, và khinh miệt người da màu, nhất là người từ các nước Á châu còn nghèo như Việt Nam ta. Trong cái đầu của họ, người mang họ Nguyễn, Lê, Trần, Huỳnh, v.v… là đám dân nghèo, đến xứ họ là muốn trốn ở lại, là muốn giành công ăn việc làm của họ, hay mua bán ma túy, v.v… Đó là một thành kiến có thật. Mà, cũng không trách họ, bởi vì trong thực tế có những trường hợp này. Người Việt Nam ở Úc quá nổi tiếng với trồng cần sa, buôn bán ma túy … nổi tiếng đến nỗi nhiều khi bọn nó hỏi “Mày họ gì” làm tôi hơi ngượng.

Từ ngượng, tôi đâm ra ngổ ngáo trước những câu hỏi mà tôi cho là trịch thượng và “cà chớn”. Tôi sẵn sàng đấu võ mồm với họ, sẵn sàng đập bàn vỗ ghế với họ để cho họ biết rằng không phải người Việt Nam nào cũng như họ nghĩ trong cái đầu không mấy nhiều tế bào trí tuệ.

Tôi chỉ mong ngày nào đó nước Việt Nam mình giàu có lên, người dân mình không còn nghèo nữa, tạo ra hình ảnh một nước Việt Nam cường thịnh trên thế giới như Nhật hay Hàn Quốc ngày nay để bọn hải quan các nước nhỏ không còn trịch thượng nữa. Mỗi người Việt Nam mình phải ghi lòng rằng mình đã và đang bị chúng nó làm nhục, phải khắc sâu trong dạ rằng sẽ có một ngày chúng ta hay con cháu chúng ta trả lễ lại những tên hải quan trịch thượng. Muốn trả lễ thì mình phải giàu và mạnh. Hi vọng mỗi cá nhân chúng ta phấn đấu cho lí tưởng đó.

Sunday, July 1, 2007

Bàn chuyện tiếng Anh trong website của Tòa đại sứ

Hôm nay đọc báo thấy Bộ Ngoại giao tuyên bố có trang web của các tòa đại sứ VN ở nước ngoài. Tôi vội vào trang nhà của Tòa đại sứ VN tại Úc và thấy như sau:

http://www.vietnamembassy.org.au

“Dear friends,


Welcome to the official website of the Embassy of the Socialist Republic of Vietnam in Australia. I hope you will find it interesting and useful.

The launch of this website is aimed at further promoting understanding and friendship between the people of Vietnam and Australia. It would, hopefully, help update users of latest information about Vietnam and her people while at the same time, provide a background knowledge about our country. The website would also assist in consular matters (visa, marriage etc.) so that this Mission might be of more help to you.

Please have a browse into this page and we would appreciate your comments and suggestions.

Thank you,”



Thấy gì qua lá thư này? Nhận xét đầu tiên của tôi khi đọc qua bức thư này là hơi thất vọng. Một lá thư ngắn như thế này mà có quá nhiều nhầm lẫn và thiếu sót. Xin chỉ ra vài điều không bình thường:

1. Lá thư không có người kí tên! Người đọc sẽ phải hỏi người xưng “I” (tôi) trong lá thư này là ai? Đại diện một quốc gia chứ đâu phải chuyện đùa mà không có danh tính.

2. Về hình thức, chẳng hiểu sao người ta lại chọn viết chữ nghiêng. Thông thường viết chữ nghiêng là để nhấn mạnh, hay viết cho vui, nói chung là không mấy nghiêm chỉnh.

3. Còn về tiếng Anh còn nhiều sai sót về văn phạm và chính tả. Câu đầu “the official website of the Embassy of the Socialist Republic of Vietnam in Australia” đọc đã khó thông vì có quá nhiều “the” làm cho câu văn lượm thượm. Người viết có vẻ thích sử dụng động từ “would” nhưng không đúng chỗ và cũng không thích hợp. Câu “The website would also assist in consular matters” là bậy nhất. Chỉ có con người mới làm mấy dịch vụ di trú, chứ website đâu phải là con người mà “assist”! Rồi câu “Please have a browse into this page” Trời ơi, “browse” mà đi với “into” à? Tiếng Anh gì mà kì thế. Nói chung là sai nhiều quá.

Thiệt tình!

Tôi đề nghị viết lại như sau (viết chữ thẳng đứng đàng hoàng chứ không có nghiêng):

“Welcome to the internet website of the Vietnamese Embassy in Canberra, Australia. This site contains a broad range of information on the Embassy's activities and services.


I hope that that the information in this website will help promote and foster multilateral relations between Vietnam and Australia. The site also contains links to other websites in Vietnam and elsewhere. These links are designed to assist those looking for information on trade, culture, aid and other governmental services.

The website is regularly reviewed and updated to ensure its currency and usefulness. I would, of course, welcome feedback and suggestions from visitors on ways to further improve the website.


Tên họ ông đại sứ
Ambassador”

Để tôi gửi mấy góp ý cho họ xem sao.

NVT



Ông Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn báo VW

Thấm thoát mà đã đến tháng Bảy! Thời gian đi nhanh quá! Mười ngày qua tôi đi dự hội nghị loãng xương ở Montréal (Canada). Có nhiều điều thú vị trong hội nghị và chuyến đi mà tôi hi vọng sẽ viết lại để các bạn đọc cho biết.

Hôm nay thấy trên mạng có một bản tin đáng chú ý: đó là chuyện Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn của báo Việt Weekly bên California. Mấy tháng trước, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng có dành cho phóng viên tờ này một cuộc trò chuyện thẳng thắn. Theo tôi, những trò chuyện như ông Triết và ông Kiệt với báo chí người Việt bên này rất đáng khen và khuyến khích. Báo VW là một trong những tờ báo hiếm thấy ở hải ngoại, vì họ làm việc tương đối đàng hoàng (VW không như hàng ngàn tờ lá cải ngoài này suốt ngày chửi bới quá khứ -- hay nói như ông nhà văn gì tôi quên mất - Lê Lựu ? - là ăn mài dĩ vãng). VW do một nhóm bạn trẻ lớn lên trong xã hội Mĩ nên họ có cái nhìn thoáng, không vướng bận quá khứ mà chỉ hướng đến tương lai. Gần đây, VW bị các tờ báo chống cộng và Nguyễn Chí Thiện đem ra đấu tố rất dã man, nhưng họ vẫn sống sót.

Quay trở lại bài phỏng vấn mà tôi đăng lại dưới đây, tôi thấy ông Triết trả lời rất thật. (Thật ra, nhìn mặt ổng cũng thấy người thật tình). Hoan nghênh. Nhưng tôi nghĩ để cho bà Tôn Nữ Thị Ninh trả lời thì chắc còn thẳng thắn hơn. Mai đây mốt nọ nếu tôi về hưu, tôi sẽ về Việt Nam xin làm người phát ngôn cho Bộ ngoại giao. :-) Nói gì chứ cái nghề "đấu võ mồm" với bọn báo chí Tây phương thì tôi cũng có nghề và chưa thấy thua ai bao giờ. Không biết lúc đó người ta có cho tôi việc làm này không. :-)

NVT

===
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw5n27/nmtVietWeekly.html

Ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nhà nước Việt Nam trả lời báo Việt Weekly

Ô Quan Hạ thực hiện

Lời giới thiệu của Việt Weekly: Việt Weekly ngỏ ý muốn được phỏng vấn ông Nguyễn Minh Triết trong dịp ông ta công du Hoa Kỳ. Phía tòa đại sứ Việt Nam tại Washington D.C. yêu cầu làm đơn xin và kèm theo những câu hỏi hay đề tài muốn hỏi. Việt Weekly làm đúng thủ tục này và đã gởi vào 15 câu hỏi, bao gồm 3 lãnh vực quan hệ Việt Mỹ, tình hình Việt Nam và quan hệ với cộng đồng. Việc được tiếp xúc với ông Nguyễn Minh Triết để thực hiện cuộc phỏng vấn đã không được xác nhận cho tới giờ chót, vào lúc gần trưa ngày 23 tháng 6, trước lúc ông lên đường trở lại Việt Nam. Khi được gặp, ông Triết giải thích vì vấn đề thì giờ bị giới hạn của chuyến đi cho nên đã trả lời trước 12 trong 15 câu hỏi đã được đặt ra. Và đồng thời, trong thời gian ngắn ngủi của buổi gặp mặt, ông cho phép phóng viên của Việt Weekly được đặt thêm một câu hỏi trực tiếp và ông sẽ trả lời ngay tại chỗ. Sau đây, câu hỏi đầu tiên được trả lời trực tiếp. Tiếp theo đó là 12 câu hỏi được trả lời qua văn bản soạn trước, được trao cho phóng viên Việt Weekly trong dịp gặp mặt.

VW: Hiện nay, sản phẩm báo chí từ phía Việt Nam được tự do phát hành tại hải ngoại, trong khi đó sản phẩm báo chí của cộng đồng hải ngoại lại bị cấm phát hành tại Việt Nam, ông nghĩ sao về vấn đề này?

NMT: Vấn đề báo chí rồi cũng sẽ thông thương thôi. Bởi vì, hiện tại, báo chí nước ngoài tại Việt Nam cũng tương đối phong phú chứ không phải là không có đâu. Nhưng mà cũng phải nói rằng có những bài báo, thậm chí có những tờ báo nữa, thiếu thiện chí, cho nên, có khi cũng phải sàng lọc lại một tí. Cho nên tôi nghĩ rằng về lâu về dài thì cái chuyện thông thương, báo trong nước ra ngoài, báo ngoài nước về Việt Nam là chuyện bình thường.

VW: Ông nghĩ rằng thời gian để chuyện đó xảy ra là bao lâu? Vài năm hay nhiều năm nữa?

NMT: Mọi chuyện không thể nói được, nhưng mà cái xu hướng nó là như thế. Gia nhập vào WTO, mình đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới rồi. Không phải chỉ hội nhập về kinh tế thôi đâu. Mọi việc có những cái bước đi theo đó thôi. Tôi mong là quý anh em cũng vậy. Bởi vì có những thông tin, tôi nói thật là không khách quan. Không khách quan mà đương nhiên là đưa về phổ biến trong nước thì nó sẽ gây một cái tác hại không hay.

VW: Nhiều người cho rằng một nền chính trị đa đảng và một xã hội có tự do ngôn luận sẽ phát triển tiềm năng dân tộc Việt Nam tốt hơn. Đây cũng là mô hình mà rất nhiều nước khác trên thế giới đã áp dụng để đưa nước họ trở nên hùng mạnh. Ông có đồng ý với suy nghĩ đó không?

NMT: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết thể chế chính trị của mình, mỗi nước có quyền lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với hoàn canûn văn hóa, lịch sử, kinh tế xã hội của mình. Nói cách khác, việc lựa chọn chế độ một Đảng hay nhiều Đảng lãnh đạo là sự lựa chọn của mỗi dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ nhân dân mà ra, Đảng đã lãnh đạo, dìu dắt nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Vì vậy, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và lựa chọn theo Đảng. Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng trong hơn 20 năm qua đã thực sự làm thay đổi diện mạo đất nước, tăng cường cả thế và lực cho Việt Nam cả ở trong nước và trên trường quốc tế. Các quyền tự do dân chủ cơ bản của nhân dân Việt Nam, trong đó có quyền tự do ngôn luận, được qui định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật và được tôn trọng trên thực tế. Với đường lối đúng đắn của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự huy động được sức mạnh toàn dân, đồng lòng nhất trí hướng mục tiêu xây dựng một đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

VW: Đối với những người ở bên trong Việt Nam lên tiếng đòi dân chủ, ông nghĩ gì về họ và sẽ đối xử với họ ra sao?

NMT: Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân về mọi lĩnh vực, kể cả những vấn đề còn tồn tại trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.
Điều tôi muốn nói ở đây là, Việt Nam có đủ cơ chế, chính sách đảm bảo các quyền tự do dân chủ của người dân. Các quyền đó được ghi trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp quy. Nhà nước cũng thực thi nhiều chính sách nhằm bảo đảm và phát huy các quyền tự do, dân chủ của người dân với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để người dân thực hiện tốt quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tham gia công việc chung của đất nước. Ơ Việt Nam không có ai bị bắt giữ vì lý do chính kiến, chỉ có những người vi phạm luật pháp sẽ bị xét xử theo đúng qui định của pháp luật.

VW: Nền công lý của Việt Nam có bị điều khiển bởi chính quyền hay đảng Cộng sản Việt Nam không? Làm sao để người dân và giới đầu tư yên tâm rằng nếu có tranh tụng, họ sẽ được xét xử một cách công bằng?

NMT: Pháp luật Việt Nam có những qui định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như vai trò của các cơ quan này trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Trong quá trình tố tụng, các cơ quan thực thi pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của pháp luật về trình tự thủ tục điều tra, giam giữ, xét xử, bảo đảm quyền lợi cho những người bị truy tố và xét xử.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình cải cách tư pháp, hoàn thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, thiết lập môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, cạnh tranh cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Việc các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng tăng đầu tư vào Việt Nam đã cho thấy sự tin tưởng của họ của môi trường làm ăn, kinh doanh ở Việt Nam.

VW: Về mặt cơ cấu chính trị, Việt Nam sẽ đi theo khuynh hướng nào? Nếu tiếp tục đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, có nguy cơ xảy ra bạo động lật đổ chính quyền như đã xảy ra ở Đông Âu không?

NMT: Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại. Điều đó thể hiện sự đúng đắn trong việc lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.
Sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đã được toàn thể nhân dân Việt Nam ủng hộ. Việc hơn 99% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua đã cho thấy lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Nhà nước Việt Nam và con đường phát triển của Việt Nam. Con số biết nói này là câu trả lời rõ ràng nhất cho câu hỏi này.

VW: Tham nhũng có phải là một nguy cơ trầm trọng hiện nay không? Làm sao để có thể giải quyết được vấn đề này mà không có một cơ chế chính trị thực sự có khả năng giám sát và phân quyền?

NMT: Tham nhũng là vấn đề mà hầu hết mọi quốc gia đều gặp phải. Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm chống và đẩy lùi tham nhũng. Chống tham nhũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và giữ vững ổn định chính trị. Nếu không chống tham nhũng sẽ không thể huy động được nguồn lực cho phát triển và làm xói mòn lòng tin của nhân dân.

Việt Nam hiện có hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế để thực hiện phòng chống tham nhũng như Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương… Chúng tôi chủ trương điều tra, xử lý nghiêm minh và công khai các vụ tham nhũng đã được phát hiện.

Bên cạnh đó, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, nhà nước khuyến khích nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng tham gia tích cực giám sát, phát hiện và ngăn ngừa các hành động tham nhũng.

VW: Mỹ là siêu cường duy nhất còn của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời cũng từng là một đối thủ của Việt Nam trong chiến tranh. Tính chất quan hệ Việt – Mỹ hiện nay như thế nào? Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam được lợi và hại gì?

NMT: Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Trong thời gian qua, quan hệ giữa hai nước đã phát triển tốt đẹp và đạt được những kết quả to lớn. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, tôi và ngài Tổng thống Bush đã thảo luận các biện pháp phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước, đưa quan hệ hai nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới trên nền tảng sâu rộng, ổn định và hiệu quả.

Việt Nam và Hoa Kỳ có những lợi ích và quan tâm chung từ những lợi ích kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục – đào tạo… đến lợi ích trong hợp tác duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, chống khủng bố, ngăn chặn vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoạt động mang tính nhân đạo nhằm phòng chống các bệnh thế kỷ HIV/AIDS, dịch cúm gia cầm và khắc phục hậu quả chiến tranh. Việc phát triển hơn nữa quan hệ song phương là phù hợp với lợi ích của cả hai nước và có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Việc thiết lập quan hệ mà nhiều người cho là có tính cách chiến lược với Mỹ có làm cho Trung Quốc khó chịu không?

NMT: Việt Nam thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, việc phát triển quan hệ với một nước này sẽ không làm ảnh hưởng đến quan hệ của Việt Nam với nước khác.

Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai nước lớn, có ảnh hưởng quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế. Việt Nam mong muốn có quan hệ hữu nghị và hợp tác với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ vì lợi ích của hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Trong quan hệ với Trung Quốc, vấn đề biên giới đất liền và lãnh hải có phải là một việc khó giải quyết hay không? Và còn có những vấn đề khó khăn nào khác nữa?

NMT: Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững với Trung Quốc. Quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt – Trung thời gian qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả thiết thực cho cả hai nước.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, hai nước thống nhất về nguyên tắc giải quyết những khác biệt một cách hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

Thời gian qua, việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ đã đạt được kết quả tích cực. Hai nước tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, quyết tâm hoàn thành toàn bộ việc phân giới cắm mốc trên biên giới Việt – Trung và ký văn kiện mới về quy chế quản lý biên giới chậm nhất vào năm 2008. Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ đã đi vào cuộc sống và được các bên tuân thủ, thực hiện tương đối tốt. Hai bên thỏa thuận cùng nhau giữ gìn ổn định tình hình biển Đông, tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều chấp nhận được.

VW: Trong môi trường cạnh tranh sau khi gia nhập WTO, làm thế nào để các công ty trong nước có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả với các công ty lớn trên thế giới có nhiều ưu thế về kỹ thuật, nhân sự và tài chính?

NMT: Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đem lại những cơ hội lớn đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam. Một trong những thách thức đó là môi trường kinh doanh sẽ trở nên cạnh tranh hơn, gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của nhà nước.

Bên cạnh những chính sách hỗ trợ của nhà nước để giúp các doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải biết nắm bắt những cơ hội do WTO mang lại như thu hút đầu tư, mở rộng thị trường để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần phát huy những lợi thế so sánh của mình so với doanh nghiệp nước ngoài như sự hiểu biết về thị trường nội địa, khả năng tiếp cận các nguồn nguyên liệu và phân phối… để cạnh tranh. Tôi cũng rất vui khi thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã rất năng động, sáng tạo, tranh thủ được những cơ hội do WTO mang lại và phát huy được lợi thế của mình. Những doanh nghiệp này không những cạnh tranh có hiệu quả với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa mà còn mở rộng được hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình ra thị trường bên ngoài.

VW: Thử thách lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm tới và 10 năm tới là gì?

NMT: Thách thức lớn nhất với Việt Nam trong 5 và 10 năm tới là làm sao tiếp tục duy trì phát triển nhanh và bền vững nhằm đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực.

20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử nhưng vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực. Vì vậy, điều quan trọng là làm thế nào để phát triển nhanh, mạnh hơn nữa, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt nam cơ bản thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020, xây dựng thành công một nước Việt nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Một nước Việt Nam như vậy là mục tiêu và khát vọng chung của toàn thể dân tộc Việt Nam trong đó có cá nhân tôi.

VW: Chuyến viếng thăm Mỹ lần đầu tiên của một chủ tịch nhà nước Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt gì đối với Việt Nam? Ông có nhận xét gì về nước Mỹ?

NMT: Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ George Bush, tôi đã thăm chính thức Hoa Kỳ từ 18 đến 23/06/2007. Chuyến thăm này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước, đưa sự họp tác nhiều mặt giữa hai nước sang một giai đoạn mới, trên một nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Trong chuyến thăm lần này, tôi đã có nhiều gặp gỡ tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ, gửi đến bà con những thông tin mới nhất tình hình trong nước, thúc đẩy mối liên hệ gắn bó giữa bà con Việt kiều ở Hoa Kỳ với quê hương đất nước.

Như những người Việt Nam khác, tôi rất ấn tượng trước sự năng động, sáng tạo và sự cởi mở của người dân Mỹ.

VW: Ông nghĩ sao về tập thể cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đa số ra đi từ miền Nam Việt Nam, đã từng đứng bên kia chiến tuyến và vẫn còn đang có chính kiến khác biệt với ông? Quan hệ Việt Nam muốn có với những cộng đồng này như thế nào?

NMT: Tôi muốn khẳng định là bà con ta ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đa số đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nói chung và ở Mỹ nói riêng, luôn hướng về quê hương đất nước, mong muốn chung lòng góp sức cùng nhau xây dựng quê hương.Tuy nhiên, tôi cũng lấy làm tiếc là do hệ quả của lịch sử, một số rất ít kiều bào vẫn có sự chia rẽ về chính trị, và một số nhóm người vẫn còn giữ thái độ cực đoan không chấp nhận những chuyển biến to lớn đang diễn ra ở trong nước.

Tôi muốn nói thế này, những ai còn có những suy nghĩ băn khoăn, ngờ vực hãy về thăm đất nước, tận mắt chứng kiến thực tế của nước nhà, gặp gỡ, trao đổi với những người dân trong nước. Hãy đến với nhau, chúng ta sẽ hiểu nhau hơn, thu hẹp được sự cách biệt.

Tổ quốc Việt Nam là quê hương thân yêu của mọi người Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ luôn luôn thực hiện trách nhiệm của mình đối với mọi người Việt Nam. Đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và nhà nước cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đổi mới các chủ trương, chính sách liên quan đến kiều bào, đáp ứng mong muốn của bà con và yêu cầu phát triển của đất nước.