Thursday, August 30, 2007

Bưởi không gây ung thư vú

Tuần qua, một số báo ở Mĩ và Anh chạy một bản tin đầy tính giật gân “Grapefruit linked to breast cancer” (Bưởi có liên hệ với ung thư vú) và một số báo chí trong nước dịch in lại. Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó thì không có gì phải bàn thêm, nhưng ở đây những bản tin như thế đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng kinh tế của một bộ phận nông dân Việt Nam. Giá bưởi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 10.000-16.000đ/kg xuống còn chỉ 8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg. Nhiều nông dân đang điêu đứng với sự giảm giá do thông tin trên. Đây là trường hợp khoa học hại dân. Do đó, cần phải thảo luận nghiêm chỉnh vấn đề. Tôi tin rằng báo chí Tây phương hiểu không đúng dữ liệu khoa học cho nên mới gây nên nhầm lẫn nghiêm trọng. Nói một cách ngắn gọn, tôi cho rằng chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng ăn bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú. Xin nhắc lại để nhấn mạnh: chưa có bằng chứng nào cho thấy ăn bưởi có liên hệ đến ung thư vú. Thật ra, ngược lại, nhiều bằng chứng khoa học cho thấy ăn bưởi có lợi ích cho sức khỏe.

NVT


Trong các loại trái cây, bưởi là một loại hoa quả có nhiều giá trị y học, vì giàu dung lượng sinh tố C, A, B1 và B2. Một vài nghiên cứu cơ bản cho thấy bưởi có khả năng ức chế lượng cholesterol trong máu và làm giảm lượng đường trong máu. Ngoài ra, vỏ và lá bưởi còn được sử dụng để điều trị ho, đờm trong cuống phổi, nói chung là những ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe. Người viết bài này có thể trình bày hàng chục nghiên cứu liên quan đến tác dụng của bưởi, nhưng vài nghiên cứu mới nhất tưởng cũng có thể làm cơ sở cho các phát biểu trên [1-3].

Tác dụng của bưởi còn nhiều và khó liệt kê hết ra trong bài viết ngắn này, nhưng bao nhiêu đó cũng để thấy bưởi không “có tội” như người ta đang gán ghép cho nó. Tuy nhiên, cũng như bất cứ thực vật nào, bưởi cũng có những phản ứng phụ cần lưu ý. Bởi vì bưởi hàm chứa lượng flavonoid naringin, và hoạt chất này có thể can thiệp vào sự kích hoạt của enzyme CYP3A trong gan (enzyme này được sản sinh bởi cơ thể chúng ta nhằm mục đích phân hóa một số hóa dược, nhất là những loại thuốc điều trị cholesterol và cao huyết áp). Nếu bệnh nhân vừa các uống thuốc này và vừa ăn buởi thì các flavonoid naringin sẽ ngăn chận sự chuyển hóa của thuốc, làm cho thuốc không chuyển hóa được, và hóa dược tồn đọng trong cơ thể, gây độc hại cho chơ thể [4-6].

Tuần qua, một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Nam California và Đại học Hawaii công bố một công trình nghiên cứu, mà trong đó họ kết luận rằng phụ nữ sau mãn kinh ăn bưởi có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú (nguyên văn: “Grapefruit intake may increase the risk of breast cancer among postmenopausal women”) [7]. Đáng lẽ họ phải viết cụ thể hơn rằng mối liên hệ (mà họ cho rằng vừa phát hiện đó) chỉ tồn tại ở phụ nữ sống ở Mĩ (cụ thể là bang California và Hawaii), chứ không phải phụ nữ người Á châu hay người Việt Nam.

Từ một nghiên cứu như thế, giới báo chí Tây phương chạy nhiều cái tít giật gân như “Grapefruit may increase your risk of breast cancer” (Bưởi làm tăng nguy cơ ung thư vú), “Grapefruit linked to breast cancer” (Bưởi có liên hệ với ung thư vú), thậm chí “Eating grapefruit can increase breast cancer risk by a third” (Ăn bưởi có thể tăng nguy cơ ung thứ một phần ba), v.v… Những bản tin này gây hoang mang không ít người trong cộng đồng, đến nổi Hội đồng Ung thư Anh phải ra một thông báo để trấn an người dân. Bản thông cáo của Hội đồng Ung thư Anh viết rằng những phát hiện về mối liên hệ giữa bưởi và ung thư vú chưa xác định. Thật ra, theo tôi, phải viết chính xác hơn là: chưa có mối liên hệ giữa bưởi và ung thư vú.

Để hiểu câu phát biểu trên của tôi, cần phải xem qua số liệu mà họ công bố trong bài báo khoa học một cách khách quan và có hệ thống. Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu theo dõi 46.080 phụ nữ sau mãn kinh (tức trên 48 tuổi) trong thời gian 1993 đến tháng 12 năm 2002. Họ thu thập số liệu về thói quen ăn uống của các phụ nữ này lúc ban đầu. Đối với bưởi các nhà nghiên cứu hỏi: “trong vòng 1 năm qua chị ăn uống bao nhiêu bưởi?” Trong thời gian 9 năm sau đó họ liên kết với cơ sở dữ liệu về ung thư của bang California và Hawaii để biết ai trong số này bị ung thư vú. Kết quả cho thấy như sau (Bảng 1):

Bảng 1. Tỉ lệ phát sinh ung thư vú phân theo nhóm ăn bưởi và không ăn bưởi

Thói quen Số trường hợp Số đối tượng không Tổng số Tỉ lệ phát sinh

ăn bưởi ung thư vú ung thư vú
Không ăn 794 22409 23203 3,4%
Có ăn 863 22014 22877 3,8%

Nguồn: xem tài liệu tham khảo số 7.

Như thấy trong bảng trên, có đến 50% các phụ nữ báo cáo rằng họ từng ăn bưởi (hay uống nước bưởi) trong vòng 1 năm qua (tức là năm 1993). Trong số 22.877 phụ nữ từng ăn uống bưởi, có 863 người bị ung thư vú sau đó, và tỉ lệ là 3,8%. Trong số 23.203 phụ nữ nói rằng họ không ăn uống bưởi trong vòng 1 năm qua, có 794 người mắc bệnh ung thư vú, và tỉ lệ phát sinh là 3,4%. Như vậy, nhóm ăn bưởi có tỉ lệ ung thư vú cao hơn nhóm không ăn bưởi là 0,4% (3,8% trừ cho 3,4%). Trong y học, một khác biệt chỉ có 0,4% không thể xem là có ý nghĩa lâm sàng được. (Chú ý rằng phần lớn báo chí đều tường thuật rằng ăn bưởi tăng nguy cơ ung thư vú 30%. Nhưng thông tin này quá sai, vì như tôi vừa trình bày, mức độ tăng chỉ 0,4% mà thôi.)

Đó là phần kết quả. Nhưng kết quả đó có đáng tin cậy hay không còn là một vấn đề quan trọng khác. Nghiên cứu này có nhiều vấn đề về phương pháp mà theo tôi có thể làm cho kết quả rất khó diễn dịch. Ở đây tôi chỉ nói đến 4 vấn đề nổi cộm sau đây:

Thứ nhất là vấn đề số liệu về ăn uống bưởi. Một câu hỏi rất đơn giản như vừa trình bày rất khó mà nói là chính xác được. Nên nhớ rằng các đối tượng tương đối cao tuổi (tuổi trung bình là 62), vấn đề “hồi tưởng” lại 12 tháng trước ăn uống bao nhiêu gram bưởi không phải là chuyện dễ dàng. Vả lại, số liệu về ăn uống bưởi chỉ là một loại “số liệu cắt ngang” (cross-sectional figure), nó chỉ cung cấp thông tin tại một thời điểm, chứ không phải xuyên suốt thời gian theo dõi. Nói cách khác, các nhà nghiên cứu không biết (và không thể biết) là có bao nhiêu đối tượng thay đổi thói quen ăn bưởi trong thời gian từ 1993 đến 2002 (thời gian mà họ theo dõi ai bị ung thư vú). Có bao nhiêu người không ăn bưởi trong thời gian 1992 nhưng sau đó lại ăn bưởi, hay có bao nhiêu người ăn bưởi trong năm 1992 nhưng sau đó không ăn bưởi hay giảm thói liều lượng ăn bưởi? Không có những con số này, không thể nói rằng ăn bưởi có liên quan đến ung thư vú.

Thứ hai là vấn đề chẩn đoán ung thư vú. Trong công trình này, các nhà nghiên cứu không trực tiếp chẩn đoán ung thư vú; họ chỉ dựa vào số liệu hành chính từ các cơ quan y tế chuyên về ung thư thuộc bang California và Hawaii. Ai làm nghiên cứu y khoa ở các nước Âu Mĩ đều biết rằng cơ sở dữ liệu của các cơ quan y tế này nổi tiếng là không chính xác. Có nhiều trường hợp bệnh nhân mắc ung thư nhưng không bao giờ báo cáo cho cơ quan y tế biết. Do đó, không ngạc nhiên khi trong vòng 9 năm mà tỉ lệ phát sinh ung thư vú chỉ 3,6% (tức trung bình 0,4% mỗi năm). Cần biết rằng trong độ tuổi này, tỉ lệ phát sinh ung thư vú thường khoảng 1% mỗi năm, chứ không thể quá thấp như trong công trình nghiên cứu này.

Chẩn đoán ung thư vú không đơn giản. Mỗi vú có khoảng 15 đến 20 “khu vực”, gọi là thùy (lobe); mỗi thùy được chia thành nhiều vùng nhỏ, gọi là tiểu thùy (lobules). Thùy và tiểu thùy liên kết với nhau bằng những ống dẫn nhỏ (ducts). Dựa vào cấu trúc này, ung thư vú được phân thành nhiều loại khác nhau, chủ yếu là: ung thư ống dẫn sữa có giới hạn (ductal carcinoma in situ hay còn gọi là DCIS), ung thư ống dẫn sữa lan rộng (invasive ductal cancer), ung thư miu-xin (mucinous carcinoma, một dạng bướu ác tính), và ung thư tiểu thùy lan rộng (invasive lobular carcinoma, một dạng ung thư thường hiện diện trong hai đầu ống dẫn sữa hay trong các tiểu thùy). Một số chuyên gia không xem DCIS là ung thư vú. Trong công trình nghiên cứu này, chúng ta không biết bệnh nhân thuộc loại ung thư nào. Do đó, số liệu về ung thư vú rất khó tin được.

Thứ ba là vấn đề các yếu tố trung gian. Ung thư vú có nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy cơ. Trong các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh nhiều lần có liên hệ với ung thư vú là sử dụng thuốc thay thế hormone (HRT), tuổi có kinh, sắc dân, và hút thuốc lá. Các yếu tố này có thể tương tác với nhóm người ăn (hay không ăn) bưởi. Thật ra, trong phân tích mối tương tác giữa HRT và thói quen ăn bưởi, các nhà nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa nào giữa ăn bưởi và ung thư vú trong ba nhóm phụ nữ chưa bao giờ sử dụng HRT, đã từng sử dụng HRT và đang sử dụng HRT.

Nhưng họ không phân tích mối tương tác giữa ăn bưởi và tuổi có kinh lần đầu hay sắc tộc. Nếu những người ăn bưởi cũng chính là những người có kinh sớm hay là những người thuộc sắc tộc gốc Á châu, thì kết quả mà các nhà nghiên cứu thu thập được không phản ảnh ảnh hưởng của bưởi mà chính là của các yếu tố lâm sàng và nhân trắc vừa kể. Rất tiếc là các nhà nghiên cứu không tìm cách phân tích vấn đề này cho có hệ thống. Ngay cả phương pháp phân tích thống kê của họ quá đơn giản và không thích hợp cho một vấn đề phức tạp.

Thứ tư là vấn đề thống kê và xác suất. Trong nghiên cứu khoa học, cứ mỗi lần nhà nghiên cứu kiểm định một giả thuyết họ phải chấp nhận một sai lầm 5%, và đúng là 95%. Trong trường hợp của nghiên cứu bưởi, điều này có nghĩa là nếu bưởi thật sự không có liên hệ gì với ung thư thì xác suất mà phương pháp kiểm định thống kê cho ra kết quả có ý nghĩa (significant) là 5%, hay nói theo ngôn ngữ chẩn đoán đó là tỉ lệ dương tính giả 5%. Nếu nhà khoa học kiểm định 2 giả thuyết thì xác suất mà họ sẽ “phát hiện” một giả thuyết có ý nghĩa thống kê là (1 – 0,95 x 0,95) = 0,0975 (gần 10%). Nhưng trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu kiểm định đến 30 giả thuyết liên quan đến bưởi, do đó xác suất mà họ phát hiện một mối liên hệ có ý nghĩa thống kê là (1 – 0.95^30) = 0.785. Nói cách khác, trong 30 lần kiểm định giả thuyết, xác suất mà họ có thể phát hiện ít nhất là một mối liên hệ [hoàn toàn ngẫu nhiên chứ chẳng phải sinh học gì cả] là 78,5%.

Để khắc phục tình trạng so sánh đa giả thuyết này (multiple comparisons), các nhà thống kê đề nghị lấy một chuẩn mực thấp hơn 5% để tuyên bố “có ý nghĩa thống kê”. Chuẩn mực này tùy thuộc vào số lần kiểm định giả thuyết. Trong trường hợp nghiên cứu này, trị số P để nhà nghiên cứu có quyền phát biểu có ý nghĩa thống kê là 0,05 / 30 = 0,0017 (chứ không phải 0,05). Tức là một mối liên hệ trong nghiên cứu phải có trị số P thấp hơn 0,0017 thì nhà nghiên cứu mới có thể phát biểu về ý nghĩa thống kê. Nhưng điểm qua hai bảng số liệu 2 và 3 trong bài báo, tôi không thấy bất cứ phân tích và so sánh nào đạt được chuẩn mực này (<0,0017) cả. Điều này rất quan trọng, vì nó cho chúng ta biết tất cả các mối liên hệ hay so sánh mà nhà nghiên cứu trình bày trong bài báo đều không có ý nghĩa thống kê. Nói cụ thể hơn, không có bằng chứng thống kê nào cho thấy bưởi có liên hệ đến ung thư vú.

Sau cùng, một điều quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là nghiên cứu này không cho phép bất cứ ai phát biểu gì về mối liên hệ nhân quả giữa bưởi và ung thư vú. Bởi vì đây là một công trình khoa học theo mô hình nghiên cứu quan sát (observational study) chứ không phải nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial), cho nên kết quả chỉ có giá trị khoa học trung bình và chỉ gợi ý, chứ không thể nói bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú. Ngoài ra, như tôi vừa trình bày những vấn đề về phương pháp rất nghiêm trọng không thể kết luận gì về kết quả này.

Nói về những sai lầm của các nghiên cứu quan sát, tưởng cần nhắc lại một sai lầm mang tính kinh điển trong y khoa: đó là công trình nghiên cứu của Cameron và Pauling (Tiến sĩ Linus Pauling là người từng chiếm giải Nobel hóa học năm 1954 và giải Nobel hòa bình năm 1962 do chống lại vụ thử nghiệm vũ khí nguyên tử]. Năm 1976, Cameron và Pauling công bố một nghiên cứu về mối vitamin C và ung thư, mà theo đó họ kết luận rằng bổ sung vitamin C cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối có thể kéo dài thời gian sống đến 4 lần so với nhóm không dùng vitamin C [8]. Nhưng sau đó, một công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (một mô hình nghiên cứu mang tính tiêu chuẩn vàng trong y khoa) ở Mayo Clinic hoàn toàn bác bỏ kết quả của Cameron và Pauling: bổ sung vitamin C không kéo dài thời gian sống các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối [9]. Tại sao Cameron và Pauling sai lầm nghiêm trọng như thế? Câu trả lời là họ dựa vào mô hình nghiên cứu quan sát và dù cẩn thận trong việc chọn nhóm, nhưng họ không chọn một cách ngẫu nhiên để quân bình các yếu tố trung gian. Đây là một sai lầm thuộc vào loại kinh điển trong nghiên cứu y khoa thường được đem ra làm ví dụ cho sinh viên.

Nói tóm lại, các vấn đề trên đây cho thấy kết quả của công trình nghiên cứu này không có giá trị khoa học cao, và cũng không đáng tin cậy. Nếu kết quả của công trình nghiên cứu này gợi một ý nào đó, thì tôi cho rằng ý đó là ăn bưởi không có liên hệ gì với ung thư vú.

Cần nói thêm rằng một nghiên cứu khác do các nhà khoa học thuộc Đại học Chicago (công bố chỉ 1 tuần sau nghiên cứu của Đại học Nam California) cho thấy bưởi có tác dụng phòng chống ung thư. Trong nghiên cứu này, các bác sĩ cho biết các bệnh nhân dùng thuốc lapatinib (một loại thuốc dùng điều trị ung thư vú) cùng với bưởi có lợi ích gấp 5 lần so với bệnh nhân chỉ dùng thuốc. Họ giải thích rằng nước bưởi có tác dụng gia tăng chuyển hóa thuốc trong cơ thể. Năm 1997, một nhóm khoa học thuộc Đại học Western Ontario (Canada) công bố kết quả cho thấy nước cam và nước bưởi có khả năng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú và giảm LDL cholesterol (tức loại cholesterol xấu) trong máu [10-11]. Các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng “vũ khí” phòng chống ung thư vú nằm trong tầm tay của chúng ta: trái bưởi và cam!

Để nhắc lại và nhấn mạnh một lần nữa: bưởi không gây ung thư vú. Ngược lại, nếu ăn bưởi điều độ và tránh can thiệp với thuốc, bưởi có lợi cho sứck khỏe.


Viết thêm:

[1] Viết xong bài này, tôi được biết Thủ tướng Chính phủ vừa yêu “cầu làm rõ và xử lý nghiêm cơ quan báo chí, ban biên tập và phóng viên đã viết, đăng thông tin sai sự thật nêu trên, báo cáo Thủ tướng trước ngày 15-9”. Tôi e rằng giới báo chí và phóng viên trong nước hoàn là nạn nhân của những bản tin báo chí Tây phương mà họ dịch và đăng, chứ họ không phải là thủ phạm trong việc này.

[2] Tôi thấy một vài đồng nghiệp trong nước phát biểu rằng bưởi mà họ nghiên cứu không liên quan gì đến bưởi Việt Nam, vì bưởi Việt Nam là trái lớn (pomelo), thuộc nhóm trái cây có tên khoa học là citrus maxima. Tôi e rằng điều này không chính xác, vì trong nghiên cứu mà tôi đề cập, các nhà nghiên cứu xem xét cả hai loại bưởi lớn và bưởi nhỏ (grapefruit, thuộc nhóm citrus paradisi).

[3] Để phản nghiệm kết quả của nghiên cứu bên Mĩ, có thể thực hiện một nghiên cứu đơn giản, không tốn kém gì nhiều. Bạn nào có ý định này có thể liên lạc tôi để biết thêm chi tiết. Email của tôi là
t.nguyen@garvan.org.au.

Tài liệu tham khảo:

[1] Gorinstein S, Caspi A, Libman I, Lerner HT, Huang D, Leontowicz H, Leontowicz M, Tashma Z, Katrich E, Feng S, Trakhtenberg S. Red grapefruit positively influences serum triglyceride level in patients suffering from coronary atherosclerosis: studies in vitro and in humans. J Agric Food Chem. 2006 Mar 8;54(5):1887-92

[2] Reshef N, Hayari Y, Goren C, Boaz M, Madar Z, Knobler H. Antihypertensive effect of sweetie fruit in patients with stage I hypertension. Am J Hypertens. 2005 Oct;18(10):1360-3.

[3] Folts JD. Potential health benefits from the flavonoids in grape products on vascular disease. Adv Exp Med Biol. 2002;505:95-111.

[4] de Castro WV, Mertens-Talcott S, Derendorf H, Butterweck V. Grapefruit juice-drug interactions: Grapefruit juice and its components inhibit P-glycoprotein (ABCB1) mediated transport of talinolol in Caco-2 cells. J Pharm Sci. 2007 May 31;96(10):2808-2817

[5] Bressler R. Grapefruit juice and drug interactions. Exploring mechanisms of this interaction and potential toxicity for certain drugs. Geriatrics. 2006 Nov;61(11):12-8.

[6] Mertens-Talcott SU, Zadezensky I, De Castro WV, Derendorf H, Butterweck V. Grapefruit-drug interactions: can interactions with drugs be avoided? J Clin Pharmacol. 2006 Dec;46(12):1390-416.

[7] Monroe KR, Murphy SP, Kolonel LN, Pike MC. Prospective study of grapefruit intake and risk of breast cancer in postmenopausal women: the Multiethnic Cohort Study. Br J Cancer. 2007 Jul 31;97(3):440-5. Epub 2007 Jul 10.

[8] Cameron E, Pauling L. Supplemental ascorbate in the supportive treatment of cancer: Prolongation of survival times in terminal human cancer. Proc Natl Acad Sci U S A. 1976 Oct;73(10):3685-9.

[9] Moertel CG, Fleming TR, Creagan ET, Rubin J, O'Connell MJ, Ames MM. High-dose vitamin C versus placebo in the treatment of patients with advanced cancer who have had no prior chemotherapy. A randomized double-blind comparison. N Engl J Med. 1985 Jan 17;312(3):137-41.

[10] So FV, Guthrie N, Chambers AF, Moussa M, Carroll KK. Inhibition of human breast cancer cell proliferation and delay of mammary tumorigenesis by flavonoids and citrus juices. Nutr Cancer. 1996;26(2):167-81.

[11] Guthrie N, Carroll KK. Inhibition of mammary cancer by citrus flavonoids. Adv Exp Med Biol. 1998;439:227-36.

Món ngon Sài Thành

Mỗi lần về nhà và có dịp ghé qua Sài Gòn là tôi tìm chỗ nào được được để ăn uống. “Được được” ở đây có nghĩa là môi trường sạch sẽ, món ăn ngon, và … giá mềm mềm. (Ấy, tôi không có đòi giá rẻ đâu nhé, chỉ “mềm” thôi – tiếng Việt mình có chữ này thật độc đáo!)

Anh bạn tôi là dân sành ăn uống cung cấp cho tôi danh sách này. Bạn nào biết xin bổ sung vào danh sách.

Tôi rất muốn một danh sách như thế ở Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Bạc Liêu, v.v… Hôm ghé quán Hai Lúa ở An Giang cũng được, nhưng mấy cô tiếp viên quán chưa có kinh nghiệm “quảng cáo”. Hỏi cái gì mấy cổ cũng nói cộc lốc: có và không. Thật là chán! Nhưng tôi cũng thông cảm cho họ, có lẽ làm lâu giờ quá, mệt nên nói cho mấy thằng cha khách này đi khỏi quán cho rảnh tay. :-)

NVT


====

Danh sách các quán ăn

1. BÁNH MÌ BÍT TẾT

a. Bánh Mì Bích Tết Nam Sơn: 200bis Nguyễn Thị Minh Khai F6 Quận 3
b. Bánh mì bích tết Nam Sơn: 188 Nam Kỳ Khởi Nghĩa Quận 1 - 9305 469
c. Bánh mì bích tết Hỏa Diệm Sơn: 41 Võ Văn Tần Quận 3 - 930 5242
d. Bánh mì bích tết Lệ Hồng: 489/27/29 Huỳnh Văn Bánh - Phú Nhuận - 9905 1064
e. Bánh mì tươi 62 Mạc đỉnh chi F.Đakao
f. Bánh mì Như Lan: 50-64-68 HÀM NGHI, P.BN, Q.1, TP. HCM - 8.29 29 70

2. BÁNH TRÁNG

a. Bánh tráng trảng bàng Hoàng Ty 1 : 691B Xô Viết Nghệ Tĩnh- Bình Thạnh - 8988789
b. Bánh tráng : 441 Nguyễn Tri Phương Quận 10 - 8561 268

3. BÁNH BAO

a. Bánh bao Cả Cần: 215 Nguyễn Tri Phương Quận 5 – 8561226
b. Bánh bao Hà Phát: 11B Phan Kế Bính Quận1 – 8220664 3-6k/cái

4. BÁNH XÈO

a. Bánh xèo Đinh Công Tráng : 49A Đinh Công Tráng Quận 1 – 8241110 (đối diện nhà thờ Tân Định là đường Đinh Công Tráng)
b. Bánh xèo Nhật Bản: 15B/11 Lê Thánh Tôn Quận 1
c. Bánh xèo Đinh Công Tráng: 251/3 Nguyễn Thiện Thuật Quận 3 - 833 0513
d. Bánh xèo Ngọc Hương: 398 Võ Văn Tần Quận 3 - 8331 839
e. Bánh xèo A Phủ: 10A 3tháng 2 Quận 10 – 8627632 (gần rạp hát Hòa Bình)

5. BÁNH BÈO

a. Bánh Bèo Chén : 68 Trần Mai Ninh F11 Quận Tân Bình
b. Bánh bèo Vỹ Dạ: 62 Lý Tự Trọng Quận 1 – 8221599
c. Bánh bèo Thôn Vỹ: 142 Sư Vạn Hạnh Nối Dài Quận 10 – 8628327
d. Quán bánh bèo bì Bà Ba: 106 Lý Thường Kiệt quận 10

6. BÁNH CANH

a. Bánh Canh Cua : 78A Thiên Phước F9 Quận Tân Bình
b. Bánh canh cua Nam Giao: 136/15 Lê Thánh Tôn Quận 1 – 8250261
c. Bánh canh cua: 45A Nguyễn Văn Đậu . Quận Bình Thạnh
d. Bánh canh cua: 59bis Nguyễn Thông Quận 3 - 9310661
e. Bánh canh Nam Phổ : 22b Nguyễn hữu cầu quận 1 - 8203795
f. Bánh canh trảng bàng Hoàng Ty : 32 trương quốc dung - quận phú nhuận – 9010212
g. Bánh canh Trảng Bàng: 182 Lý Thái Tổ (gần ngã 3 Nguyễn Đình Chiểu)
h. Bánh Canh Trảng Bàng 441 Nguyễn Tri Phương, P.8, Q.10, TP. HCM - 8561268
i. Bánh Canh Tôm Cua: 47 Tôn Thất Đạm Q.1 ( kế bên Hủ tiếu cá Nam Lợi ) Quán ăn lâu đời, nổi tiếng đến không cần bảng hiệu vẫn đông khách
j. Quán bánh canh cua giò heo , tôm đầu hẻm 568 Bà Hạt, quận 10.

7. BÁNH UỚT-BÁNH CUỐN

a. Bánh cuốn Hồng Phát: 17 Nguyễn Thị Minh Khai. Quận 1
b. Bánh cuốn Tây Hồ: 127 Đinh Tiên Hoàng Quận 1 - 8200 584
c. Bánh cuốn Hồng Hạnh : 17a nguyễn thị minh khai quận 1 – 8274252
d. Bánh cuốn Hiền: 19B Nguyễn Thị Minh Khai P.BN, Q.1, TP.HCM - 824 3570
e. Bánh cuốn Tây Hồ: 127 Đinh Tiên Hoàng, P.ĐK , Q.1, TP. HCM - 820 0584
f. Bánh cuốn Thiên Hương: 155 Nguyễn Thị Minh Khai, P.PNL, Q.1 - 8331 1590
g. Bánh Ướt Bảy Hiền : 12 Lý Thường Kiệt F11 Quận Tân Bình , đối diện BV thống nhất
h. Bánh Ướt Phú Kiệt: 513 Lạc Long Quân F5 Quận 11

8. BÁNH NẬM , chè , sinh tố : 106 Tô hiến thành f15 Q10 (số cũ 100)

9. BÁNH TÔM Hồ Tây: 20B Trần Cao Vân, P.ĐK, Q.1 - 824 38 14

10. BÁNH KHỌT

a. Bánh khọt Vũng Tàu: 218 Lê Lai. Quán lề đường
b. Bánh khọt Cô Ba: 59B Cao Thắng, Q3 - 8.323.362

11. BÁNH HỎI Bà Rịa:

Nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần ngã 4 NTP với 3/2, phía bên đường chạy về cầu NTP.

Ở đây còn có loại chả giò cá trích khá độc đáo ăn chung với bánh hỏi, nhưng rất tiếc là không có thường xuyên, vì lệ thuộc vào thời vụ đánh bắt loại cá này. Bên cạnh bánh hỏi, quán còn bán thêm nhiều món ăn khác, kể cả cơm trưa bình dân và nhiều loại bánh, nhưng đáng chú ý là những món có xuất xứ từ Bà Rịa-Vũng Tàu như bánh bèo bì Bà Rịa, bánh bò Bà Rịa, bánh khọt Vũng Tàu.

CƠM

a. Nam Sơn: 211 Âu Cơ F5 Quận 11
b. 17 Mạc Đĩnh Chi Quận 1 - 8229 168
c. 41 Đinh Tiên Hoàng Quận 1 - 8243 849
d. 46 Trương Định Quận 1 - 8223 574
e. Nam Sơn: 702 Nguyễn Đình Chiểu Quận 3 - 8325 208
f. Hoàn Kiếm: 89 Nguyễn Du Quận 1 - 8293995
g. Hải Nam: 269B Trần Quang Khải Quận 1 - 8480 634
h. Lâm Viên: 131 Nguyễn Cư Trinh Quận 1 - 836 9406
i. Hải: 177 Võ Văn Tần Quận 3 - 8396 293
j. Ngon: 88 Nguyễn Du Quận 1 - 825 8827
k. Quán số 7: 7 Nguyễn Văn Tráng Q.1 , ngay ngã 4 với Lê Lai Buổi trưa rất đông khách, quán bình dân, canh chua, cá kho tộ là món ruột, thứ 5 có mắm kho
l. Quán cơm Minh Đức: 35 Tôn Thất Tùng Q.1 ,gần Sương Nguyệt Ánh Quán đông khách nhờ chổ ngồi thoải mái, sạch đẹp

2.CƠM trái dừa: 80/68 Trần Quang Diệu

3. CƠM NẾU - Quán Sài Gòn: 6C Tú Xương Q.3-8.203.188 Người phục vụ đập nêu điệu nghệ, tung hứng. Cơm 3 miền, cá kho, canh rau, mắm đồng. Giá cao

4.CƠM HẾN
a. Cố Đô: 367 An Dương Vương Quận 5 - 8356 367
b. Ngự Viên: 40 Kỳ Đồng-Quận 3 - 8437 670
c. Nam Giao: 26/b13-14 sư vạn hạnh quận 10 - 8621203

5.CƠM TẤM
a. Thuận Kiều: 24 Thuận Kiều Quận 11 (Bì chả ở đây làm rất là đặc biệt)
b. Thuận Kiều: 24 Tôn Thất Tùng Q.1, trước nhà thờ Huyện Sĩ
c. 144 Võ Thị Sáu Quận 1 - 8243 891
d. Cơm Tấm Hạnh Dung: 111 Âu Cơ, P.14, Q.11, TP. HCM - 9.693.081. Quán rộng rãi, sạch sẽ, phục vụ chuyên nghiệp, món ăn ngon như thịt kho tàu, chuyên bán các món của người Hoa, ngoài ra còn có lẩu, cháo… Giá thấp nhất là 12000/dĩa cơm

6.CƠM GÀ
a. Cơm Gà Tôn Thọ Tường: quán cơm Vân Ký, Hà Ký, Phùng Nguyên hay Kim Tân ở khu phố bán gà, vịt quay ở đường Tạ Uyên, quận 11 (gần ngã tư giáp với đường Ba Tháng Hai). Theo thói quen của người Hoa, gà luộc được chấm nước xì dầu ăn kèm tương gừng băm nhuyễn với ớt xắt khoanh. Cơm lại được nấu bằng nước luộc gà trộn thêm chút dầu mè khiến thực khách ăn no vẫn còn muốn lần sau đến ăn nữa. Không những thế, bên cạnh đĩa cơm gà, chủ quán thường đặt đĩa dưa chua trông rất bắt miệng.
b. Cơm gà bà luận tam kỳ : 43B1 Chu Văn An P. 26, Q. Bình Thạnh
c. Cơm Gà Thiên Nhiên: 379 Minh Phụng, P.10, Q.11, TP. HCM - 960 68 56
d. Cơm gà Ðông Giang : Trần Quý, quận 11 (gần chợ Thiếc)
e. Cơm gà Thượng Hải: 21 Võ Văn Tần Q.3 , giữa Lê Quý Đôn và Trần Quốc Thảo
f. Cơm gà Đông Nguyên: 89 Châu Văn Liêm Q.5 - 8.557.662 , ngay ngã 4 với Nguyễn Trãi- 1801 Nguyễn Trãi Q.5 (cách 2 căn trên đường Nguyễn Trãi) Gà ta luộc, cơm nóng, nước chấm ngon và 1 tô canh cải ngọt. Ngoài ra còn các món như gà ác tiềm thuốc bắc, canh óc heo, canh củ sen, dưa cải chua và xá xíu
g. Hải Nam - 8218 759
h. Hồng Thắng: 378 Hai Bà Trưng Quận 1
i. Dân Ký: 697 Lê Hồng Phong Quận 10 - 927 1773
j. Kim Tân: 237 Tạ Uyên Quận 11 - 856 16 21

7. CƠM BẮC
a. Cơm bà cả Đọi : 11 Tôn Thất Hiệp Quận 1 - 8225 328
b. Cơm Bắc: 70 Ngô Đức Kế Quận 1- 829 8954
c. Cơm Bắc Đồng Nhân: 42 Trương Định Q.1 (ngay ngã 4 Lê Thánh Tôn) Quán cơm với những món bắc phổ thông. (của quán bà Cả Đọi nổi tiếng trước kia)

BUFFET
1. Buffet A1: 76 Hai Bà Trưng Q1 - đoạn giữa Lý Tự Trọng và Lê Thánh Tôn. Nhà hàng chuyên về buffet với 40 món đủ Nhật, Hoa, Hàn, Việt. Giá vào hạng mềm nhất, buổi trưa 35.000/người, tối 55.000
2. Buffet Hào Bàng: 38 Phạm Ngọc Thạch Q3
3. Buffet Quê Hương 1: 49 Nguyễn Đình Chiểu (ngã 4 Hai Bà Trưng )- 8294443. Có buffet buổi trưa 30.000/người, buổi tối 79.000/người
4 . Buffet nhà hàng Thanh Niên: gần nhà thờ Đức Bà, buổi tối 89.000 /người
5. Buffet Đồng Khánh: 2 Trần Hưng Đạo Q5 - 8352 410
6. Buffet làng du lịch Bình Quới 1: 1147 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bình Thạnh- 8994 104,Đi đường vào Thanh Đa đến gần bờ sông. Một nơi lý tưởng để tổ chức họp mặt bạn bè. Chỗ rất rộng, có cây xanh, hồ nước, đi dạo được, món ăn tự chọn miền Nam
7. Buffet nhà hàng Port Orient: 19 Công Trường Lam Sơn - 8234 999 (trong khách sạn Caravelle) (khoảng $US 25)
8. Buffet nhà hàng Atrium Café: 2A Tôn Đức Thắng Q1 - khách sạn Legend (khoảng $US 35)
9. Buffet khách sạn Sheraton - 88 Đồng Khởi (khoảng $US 30)
10. Buffet khách sạn New World - 76 Lê Lai (khoảng $US 23)

____________ _________ _______
SUSHI NHẬT BẢN
a. Sushi bar: 2Lê Thánh Tôn Quận 1 - 8238 042
b. Hương Hoa: 71-73 Pasteur Quận 1 - 8244 996
c. Nhà Hàng Ý: 283 Lê Lợi Quận 1- 8234 621
d. 144 Nguyễn Văn Trỗi - Phú Nhuận - 844 3295
____________ _________ ________

PHỞ
1. Hữu: 1bis Lô L Cư Xá Bắc Hải Quận 10 - 86564 70
2. Quyền: 520 A5 Nguyễn Tri Phương Quận 10
3. Tàu Bay: 435 Lý Thái Tổ Quận 10
4. Quảng Ký: 158/5 Hàn Hải nguyên Quận 11
5. Như Ý: 981 3-2 Quận 11
6. Phở Khu Phố 4: Đi đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đến gần ngã 3 Lý Chính Thắng, vào hẻm 288 (đây là con hẻm cụt, trước kia có tấm bảng "Khu Phố 4″). Quán phở ở cuối con hẻm cụt này. Quán chỉ bán buổi sáng, quán bình dân nhưng phở lại đắt nhưng xứng đáng là phở Bắc thuần tuý. Nghĩa là vị không lai qua vị ngọt kiểu của miền nam, nước phở trong thơm. Chủ quán sẽ thấy xúc phạm nếu bạn gọi thêm giá hay rau.
7. Hòa: 260C Pasteur Quận 3 (cuối đường, đối diện viện Pasteur) Phở của thời mở cửa, có hương vị quốc tế , việt-tây đều ăn được. Mặc dù các tín đồ của phở có thể nhíu mày vì ngửi không nặng mùi bò. Cách nấu, gia vị có một hương vị riêng biệt, một trường phái hiện đại hoá
8. Phở 2000: 1-3 Phan Chu Trinh Q.1- 8 222 788 (Quán ở cửa Tây chợ Bến Thành)
9. Tại Đa Kao: 64 Võ Thị Sáu - 8231 643. Phở kiểu thịt sạch, nước sạch, rau sạch, bàn ghế sạch, inox sáng bóng
10. Phở 24: 5 Nguyễn Thiệp Q.1 (đường này nối Đồng Khởi và Nguyễn Huệ, nếu đi Đồng Khởi vừa quá Nhà Hát Thành Phố ,rẽ phải ngay, chỗ Brodard. 24 là giá tô phở (24.000). Nếu không màng đến giá tiền, đây là nơi phở rất ngon, không gian máy lạnh yên tĩnh
11. Phở Gà: 14/1 Kỳ Đồng (đầu con hẻm số 14) Rất đắt khách từ sáng đến chiều, chủ quán phải thuê 2 căn mới đủ chỗ ngồi. Ngon, rẻ, món phở gà khô ăn rất hay
12. Quán phở KIM LIÊN: 131/1A Trường Chinh, Khu phố 6 - phường Đông Hưng. Quán hơi xa, nếu có đi đâu về phía Củ Chi hay Tây Ninh thì tiện hơn! Nằm ở ngay mặt tiền. Phục vụ khá nhanh, vệ sinh tạm ổn.
13. Phở Bích: 85 Cống Quỳnh Quận 3 - 8.343.234
14. Phở OSO: 37 Đồng Khởi, quận 1 Đầu bếp Nhật, phở nấu theo các gia vi của Nhật Bản. Trước cửa quán là tấm biển "No delicious no pay" (không ngon không lấy tiền) như lời khẳng định của quán
____________ _________ ________

CHÁO
a. Cháo mực : 10 phó đức chính.
b. Cháo Lòng Lê Thánh Tôn - 6h-17h
c. Cháo lòng Hồng: 72C Trần Quốc Toản (quán ngay ngã 3 với Pasteur) Người Bắc làm lòng thơm, trắng và giòn. Buổi sáng có bán các loại rượu : bìm bịp, nếp đục, nếp bắc…
d. Cháo vịt Thu Nga: 7/1 Xô Viết Nghệ Tĩnh- Bình Thạnh - 8991138
e. Cháo Vịt Thu Nga: 20/1 Bình Quới, Bình Thạnh, đường vào khu Thanh Đa, vừa qua khỏi cây cầu nhỏ (cầu Kinh) Món cực kỳ đơn giản, chỉ thịt vịt luộc chấm nước mắm gừng và cháo. Đặc biệt ở đây là vịt đúng tuổi, vừa ăn, thịt không nhão mà cũng không dai. Quán mở cửa từ 16h, đông khách
f. Cháo vịt : 189 Lê Văn Sĩ -Phú Nhuận
g. Cháo cóc: 52/6 Cao Thắng Quận 3 Không bản hiệu, chỉ 4 bộ bàn ghế, diện tích nhỏ nhưng cũng là 1 quán có tiếng lâu đời. Cháo cóc, cóc xào lăn, lưỡi vịt phá lấu, pín, cá ngựa
h. Cháo lòng: 221 Mai Xuân Thưởng Quận 6
i. Cháo lòng: 374 Lê Văn Sĩ- Phú Nhuận <<< cực ngon
j. Cháo gà Cấm Chỉ: 29 Hải Triều Quận 1- 8293920
k. Cháo thái: 16 Thái Văn Lung Quận 1- 824 1457
l. Cháo thái STK: 100A Nguyễn Thị Minh Khai Quận 1- 8294 020
m. Cháu Trắng Lá Dứa: 77 Lý Chính Thắng (đoạn giữa Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Hai Bà Trưng). Chỉ bán buổi chiều và tối. Cháo trắng với cá kho, thịtt kho, hột vịt muối, dưa mắm, cà pháo, ba khía…. Món lành tính, lúc nào cũng ngon
n. Cháo cá bánh tầm bì (đặc sản Cà Mau): 370 Hai Bà Trưng (đối diện nhà sách Tân Định) Cháo cá lóc rau đắng và các món ăn vặt như bánh tầm bì, bánh gan, bánh khoai mì, bánh đúc, bánh củ cải, chuối hấp, bánh bò, bánh khọt chiên giòn, gỏi cuốn…
____________ _________ ________


a. Mì vịt tiềm Bội Ký: 50 Nguyễn Huy tự Quận 1- 820 1642
b. Mì vịt tiềm Chú Tắc: 20/6A Kỳ Đồng Quận 3- 9318466
c. Mì vịt tiềm Cai Ký : 255 Cao Đạt Quận 5- 8366 069
d. Mì vịt tiềm Hải Ký: 349-351 Nguyễn Trãi Quận 5 - 836 3408 (trước bệnh viện Nguyễn Trãi) - quán lâu đời
e. Mĩ Vị Mì Gia: 107 Đinh Tiên Hoàng Quận 1 - 822 4226
f. Mì vịt tiềm Không Tên: 14 Cao Thắng Quận 3 - 8341 583
g. Mì Cật: 62 Trương Định Q.1 (đối diện chùa Bà) Quán không bảng hiệu nhưng lúc nào cũng đông. Ngon là nhờ sợi mì là mì tươi, phải tiêu thụ ngay trong ngày không để lâu được . Món ăn ít mỡ, không ngán
h. Mì Nước Miss Saigon: Ngay góc Pasteur và Lê Thánh Tôn, cửa ở phía Lê Thánh Tôn Quán phục vụ mì tươi, trên bảng hiệu ghi rõ "man made noodle" và có người nhồi bột, kéo sợi mỳ ngay trước cửa. Chỗ Ngồi lịch sự
i. Mì xào dòn Phong Ký: 100 Cao Thắng Q3 Quán rộng, đông, thực đơn phong phú
j. Quán mì vịt tiềm và hủ tiếu 686 Lê Hồng Phong, quận 10
k. Mì Hưng Ký: đường Nguyễn Huệ, Q1
____________ _________ ________

MÌ QUẢNG
a. Mì quảng Yên Đỗ: 252/66B Lý Chính Thắng Quận 3
b. Mì quảng Thành Đạt: 213 Bàu Cát -Tân Bình - 8490 810
c. Mì Quảng :Quán chợ đo đo (món Quảng Nam) : 10/14 Lương hữu Khánh,hẻm 177 Nuyễn Thị Minh Khai
____________ _________ ________

BÚN- MIẾN
1. Bún gỏi vịt Mạc Thị Bưởi bên hông Vietnam House 11h-15h
2. Bún Mọc: 14 Trương Định Q.1 (đối diện công viên 23-9) Quán lề đường nhưng rất ngon và sạch sẽ, giá cả bình dân . Quán lúc nào cũng, ăn ngon và rẻ.
3. Bún mọc, bún bò ngã 4 Bà Hạt - Ngô Gia Tự , Q10 - 10h hết
4. Bún Mọc quán Xinh Xinh: 19 Tú Xương Quán ăn sáng rất chuyên nghiệp. Sạch sẽ phục vụ tốt, chỗ ngồi cũng khá. Bún mọc ở đây ăn rất được, một món nhẹ nhàng. Quán có cách món ăn khác như bún thịt nướng, miến gà, bánh cuốn cà cuống, cơm tấm đều trên trung bình

5. BÚN BÒ HUẾ
a. Bún 30: 30 Đinh Tiên Hoàng Q1 - 822 9997 Bún bò Huế, Bún Thịt Nướng, Mì Quảng: thơm ngon quyến rũ. Gỏi Cuốn, v.v…nói chung nhiều thịt và tôm. Giá cả khá rẻ . Ngoài ra tại đây còn có bán các sản phẩm lưu niệm do các em khuyết tật thực hiện.
b. Bún bò bên hông ĐH sư phạm (222lê văn sĩ) hẻm 264 thì phải, đi hết hẻm
c. bún bò huế, bún thịt nướng, mỳ quảng: 30 Dinh Tien Hoang Q1
d. Bún bò, mì quảng : 46 Vĩnh Viễn Q10 gần Ngô Gia Tự

1. LẨU DÊ
a. 294 Cô Bắc Quận 1 - 8367 857
b. Tư Trì: 18/1A Thanh Đa -Bình Thạnh - 8 998 873 và 1121 đường Bình Quới, Q. Bình Thạnh .Trong các kiểu chế biến, canh thịt dê được hấp thụ tốt và có hiệu quả chửa bệnh cao nhất. Duy có điều chưa thấy quán nào công bố "bảo đảm thịt dê 100%". Ông Ngô Minh Hải, chủ quán Tri Nhân, Bình Thạnh kể, một số bạn thân của một quán dê nổi tiếng tại địa phương nói, "chỉ có khách thân hữu, khi kêu mới có dê 100%, bằng không chỉ 50% đã quý, còn lại là heo với heo mà thôi". Chế biến dê bây giờ trên cả chục món: lẩu, hấp, nướng, rựa mận, hầm sả, cà ri, bóp thấu, nhúng giấm, xào satế, xào lăn, tủy óc chưng, ngọc dương tiềm…
c. 304 Lê Văn Sĩ - Quận 3 - 8449 389
d. Dê Trương Định: 105 Trương Định , ngay góc Hồ Xuân Hương Q.3 Quán đông khách, thực đơn vài món, lẩu dê là chính. Rượu huyết dương ở đây dễ uống
e. Dê Bàu Sen: 132 Lê Hồng Phong - 8354.132 , đoạn gần ngã tư Nguyễn Trãi Thực đơn phong phú, đôi khi còn có cả ngọc dương
f. Dê Lộc Ấn: 41B Nguyễn Thị Diệu Q3. Giá cao, du khách là chính
g. Quán Lẩu dê HAI HOÀN: 789 Cách mạng Tháng Tám, P.15, Q.10 - 9.701.017
h. Lẩu dê XƯƠNG KÝ - ngã sáu Gò vấp Quán ăn nổi tiếng có truyền thống lâu năm với những phương pháp nấu ăn gia truyền ngon và bổ. Là một trong những quán rất ít ở TP Hồ Chí Minh nấu thịt dê chính gốc, ngon và rẻ.

2. LẨU CÁ KÈO:
Cả một dãy quán quanh chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan và đường Sư Thiện Chiếu. nhờ gần chùa mà không khí mát mẻ, giá cả dễ chịu. Lẩu cá kèo là món đầy ắp phong vị khẩn hoang miền nam. Cứ gọi thêm một phần cá để xem cách ăn mới hồn nhiên chừng nào. Người phục vụ sẽ mang ra một tô cá bống đang giẫy dụa, gạt nhanh vào lẩu rồi đậy nắp lại liền, vậy rồi ăn. Ruột cá đăng đắng rất được dân nhậu ưa chuộng. Ăn kèm với những loài rau hoang dã: rau đắng, lá giang…Món cá kèo nướng mọi cũng con cá còn sống, nướng, chấm muối ớt
a. 67 Bà Huyện Thanh Quan quận 3 – 9307687
b. 6 Sư Thiện Chiếu quận 3 - 9300636
c. 10a Sư Thiện Chiếu quận 3 – 9308089

3. LẨU BÒ
a. Hai Hoàn: 789 cách mạng tháng 8 quận 10 – 9101017
b. Tái Ngộ: 9 Lê Lợi F9 Gò Vấp - 8955 129
c. Lẩu bò Minh: 107 Trương Định Q.3 ngay góc Ngô Thời Nhiệm
d. Bê thui Bê Vàng: 52 Nguyễn Thông Q.3 - 9311.684 Trước quán là một con bê nướng vàng trên lò than. Kêu phần ăn theo đơn vị lạng
e. Bò tùng xẻo Tư Xoài: 522/ A1 Nguyễn Tri Phương Quận 10
f. LƯƠNG SƠN QUÁN: 31 Lý Tự Trọng, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM - 8252330 Nổi tiếng hơn 11 năm với đặc sản Bò Tùng Xẻo
____________ _________

QUÁN HUẾ
a. Phú Xuân: 128 Đinh Tiên Hoàng Quận 1- 8200 329
b. Bến Ngự: 77 Huỳnh Tịnh Của Quận 3- 8201345
c. Bích Liên: 386/71D Lê Văn Sĩ Quận 3- 843 6616
d. Huế Chừ: 55bis Phạm Ngọc Thạch Quận 3 - 825 1706
e. Quán Đo Đo 10/14 Lương Hữu Khánh, Q.1 - 9.254.159 .Vào hẻm 177 Nguyễn Thị Minh Khai (ngay ngã 3 Nguyễn Thượng Hiền) Quán bán suốt ngày, yên tĩnh ,thoáng, chỗ ngồi lịch sự .Có mì quảng, bún bò huế, cơm hến, bánh bèo, bánh đập mắm cái, mít trộn….
f. Quán Phú Hương: 21 Sao Mai Q.Tân Bình . Từ trung tâm thành phố đi theo đường CMT8, qua ngã 3 ông Tạ (ngã 3 Phạm Văn Hai) chừng 100m, ngang số 145 CMT8 thì rẽ trái vào đường nhỏ Sao Mai. Quán ấm cúng, bán suốt ngày, đồ ăn rất ngon . Mì quảng, cao lầu hội an, hến trộn, mít trộn, thịt heo luộc cuốn bánh tráng, cá nục cuốn bánh tráng, bún cá ngừ. Đúng mùa có cá chuồn
g. Nam Giao: 136/15 Lê Thánh Tôn (vào 1 ngõ cụt sau chợ Bến Thành) . Một góc yên tĩnh ở trung tâm thành phố. Quán bình dân nhưng trên bàn vẫn có hoa tươi. Đủ các món như bún bò, bánh bèo, nậm, bột lọc, cơm hến, hến trộn……
h. Kim Long: 80/86 Trần Quang Diệu Q.3 - 8.436.498. Quán trong hẻm, lịch sự, yên tĩnh. Thực đơn khá đầy đủ : bánh khoái, nem lụi, chả tôm, chè khoai tía. Riêng cơm hến chỉ có thứ 7 và Chủ Nhật
i. Quán Ruốc: 158 Trần Huy Liệu P15 Q.PN-8.457.874. Gần ngã 4 Hoàng Văn Thụ, Bún bò Huế, bánh canh cá lóc, bánh canh chả cua, Bánh khoái, Nham Huế, Lẩu cá ngạnh, Cá dìa, Cá hanh…
Chỉ mới mở ra chừng hơn mười ngày, nhưng quán Ruốc đã được nhiều người sành ăn món Huế tìm đến. Bởi vì theo họ món ăn ở đây đúng là Huế. Món đinh của Ruốc chính là bánh khoái được giới thiệu là nguyên mẫu ở cầu Ðông Ba. Quán không sang trọng, cầu kỳ, chỉ hơi sang hơn quán bình dân một chút. Nhưng ở đây, ngoài bánh khoái cùng các món ăn quen thuộc của Huế như bún bò, bún chả cua, nem lụi, tôm chua thịt luộc, bánh nậm, lọc, ram ít…, người ta còn tìm được những món phải dùng nguyên liệu được giới thiệu là chở từ Huế vào như hến trộn, vả trộn hay các món lẩu um cá ngạnh, cá dìa, cá hanh… Ngày chủ nhật còn có món cơm hến với cả nước luộc hến cũng được chuyển từ Huế vào. Quán còn có bán loại rượu làng Chuồn, một loại rượu nổi tiếng ở Huế, rượu nồng mà không cay, khi uống vào cứ ấm người thật dễ chịu.
k. Quán Đông Ba: 10A Nguyễn Du . Quán có bún bò, bánh canh cua
l. Quán Gia Hội
+ 45A Lý Chính Thắng (gần ngã 3 Huỳnh Tịnh Của) Q.3 - 8.480.001
+ 14A Đường số 2, cư xá Lữ Gia Q.11 - 8.662.827. đường đối diện ĐH Bách Khoa
m. Quán Đất Phương Nam: 82 Huỳnh Tịnh Của Q.3 Ngoài các món nhậu miền nam,có món Huế, bánh lọc, bánh nậm rất ngon. Gọi món này phải chờ vì quán mới hấp bột, bánh đưa ra nóng hổi, thơm phức mùi lá. Chả bò cũng ngon
n. Quán Ái Mỹ: 1163 Bình Quới - 5.563.390 . Quán nằm giữa Bình Quới 1 & Bình Quới 2, đến đây rẽ vào đường đi vào quán càfê Bình An. Những món Huế như hến, trái vả, con nuốt, cá sòng…bia Huda. Chỗ ngồi thoải mái, những dãy nhà rường bao quanh 1 khoảng sân. Khá nhiều món như vả, nuốt, cá chình, cá bống thệ…
o. Ngự Viên: 40 Kỳ Đồng, gần hồ bơi Kỳ Đồng . Giá hơi cao
p. Quán Tib: 187 Hai Bà Trưng .Q3 - 8.297.242 (giữa Điện Biên Phủ và Nguyễn Đình Chiểu). Mở cửa trưa và chiều tối, đây là quán đầu tiên trình bày món ăn rất nghệ thuật
____________ ________
PHÁ LẤU
a. Phá lấu : bờ kè kênh nhiêu lộc đường hoàng sa gần thảo cầm viên
b. Phá lấu : ngã 4 Khánh hội - hoàng diệu , gỏi bò dở tệ
c. Phá lấu chiên: hẻm 243 Tôn Đản Q4.
____________ ________

GỎI KHÔ BÒ
a. Gỏi khô bò Đạt Thành: 227 Võ Văn Tần Quận 3 - 8334 980
b. Gỏi khô bò quán 85: 85 Trần Quang Diệu Quận 3 - 8436 485
c. Gỏi khô bò công viên Lê Văn Tám : trước CV LVT đường Hai Bà Trưng
____________ ________
CHẢ GIÒ
a. Chả giò Cổ Ngư : 222 Pasteur Quận 3
b. Chả giò Nhà Hàng Á: 19 Công Trường Lam Sơn Quận 1 - 8234 999
____________ ________
CHẢ CÁ HÀ NỘI
a. Chả cá Lã Vọng: 31 Nguyễn Thị Diệu Chủ quán là con của chính chủ quán Lã Vọng gốc ở Hà Nội .Người Hà nội nhận xét phải ăn vào mùa đông lạnh lẽo mới cảm nhận được cái ngon của món này
b. Chả cá Hà Nội: 5A Trần Nhuật Duật (gần ngã 3 Trần Quang khải) Tân Định Q.1 - 8.484.240
____________ ________
NEM Ninh Hòa - Trường Tiền : 9A Kỳ Đồng

____________ ________
QUÁN NHẬU
1. Nhà hàng - tàu thủy: Bến Bạch Đằng có các tàu nhà hàng mở cửa từ 3 giờ chiều. Chỗ ngồi lộng gió , mỗi đêm từ 8h tàu khởi hành từ bến Bạch Đằng đi 1 vòng bến cảng, trở lại bến khoảng 9h30. Tàu Sài Gòn, Bến Nghé có nhạc sống khá ồn ào. Mỹ Nhân Ngư chỉ chơi nhạc máy, yên tĩnh. Từ 6h chiều các tàu- nhà hàng đậu ở bến Bạch Đằng bắt đầu đón khách . Vào giờ này ngồi uống nước, hóng gió lý tưởng. Từ 8h30 đến 9h30 tàu chạy 1 vòng sông sài gòn, thông thường về hướng Nhà Bè, để khách ngắm cảnh bến cảng ban đêm. Tàu có nhiều tầng, tầng dưới chơi nhạc sống khá ồn ào, muốn yên tĩnh chọn tầng Lộ Thiên
a. -Tàu du lịch Sài Gòn : 8230 393
b. -Tàu du lịch Bến Nghé : 8231 475
c. -Tàu du lịch 168: 8296 820
d. -Tàu du lịch Mỹ Cảnh: 8223 299
2. Nhà hàng xoay Hoàng Gia: 12D Cách Mạng Tháng Tám Q.1 gần ngã sáu Phù Đổng Nhà hàng mở cửa suốt 24h trêN nóc một khách sạn cao 40m. Độ cao này không đủ để nhìn toàn cảnh thành phố được. Nhà hàng xoay 1 vòng trong 1 tiếng. Ngoại trừ chuyện xoay ra, ăn uống không có gì đặc biệt
3. Vườn Cò - Quận 9: Qua cầu xa lộ, đến ngã 3 Cát Lái rẽ phải. Đi tiếp qua cầu Giồng Ông Tố rẽ trái vào đường Nguyễn Duy Trinh. Con đường này rất dài, qua 4 cây cầu (xây dựng, ông nhiêu, võ khế, trao trảo). Vừa qua cầu Trao Trảo bên trái là cây xăng với bảng hiệu Vườn Cò. Đối diện cây xăng là con đường nhỏ, vừa đủ cho xe gắn máy đi vài trăm mét là đến. Quán ăn ở ven sông, có thể mắc võng thư giản hoặc mướn đò máy đi chơi sông Tắc. Cò số lượng ít nhiều tuỳ mùa, muốn xem cò phải đến khoảng 6h chiều cò về ngủ ở đám dừa ngay sát quán
4. Bia tươi Pacific: 43 Nguyễn Thị Minh Khai đoạn giữa Pasteur và Phạm Ngọc Thạch và 15 Lê Thánh Tôn. Quán bia lớn, rẻ, đông vui
5. Quán Ngã Ba Sông: 12 Nguyễn Hữu Cảnh, Bình Thạnh .Từ Lê Thánh Tôn, qua cầu Nguyễn Hữu Cảnh, đi 200m là hồ bơi hải quân, quán ngay bên cạnh. Nên đi vào chiều tối, ngày không mưa. Tại đây ngắm sông Sài Gòn lộng gió rất đẹp. Ngoài các món nhậu còn có nem nướng Nha Trang
6. Đặc sản miền Bắc: Hai Bà Trưng, Pasteur, Võ Thị Sáu, Trần Quốc Toản
a. Đường Hải Triều Q.1. Đây là con đường nhỏ nối Nguyễn Huệ và Hàm Nghi, phía bến Bạch Đằng. Rất đông vào chiều tối .Con đường có nhiều quán như Cấm Chỉ, Thăng Long….
b. Quán Nga: 23 Tôn Đức Thắng Q.1, gần đầu Lê Thánh Tôn Quán thành danh với món riêu cá chép, một món khó nấu của miền Bắc, và những món khác như chân giò giả cầy, ốc nấu chuối….
c. Hương Xưa: 43 Lý Tự Trọng Q.1 (gần ngã 4 Hai Bà Trưng)
d. Dáng Xưa: 33 Cao Thắng Q.3-8.331.640 Có chả cá Lã Vọng, gỏi cá, mắm rươi
7. Đặc sản Bình Định: rượu Bàu Đá, bánh tráng, mắm thu đường Cô Bắc, Cô Giang
8. Đặc sản Huế: chợ Bà Hoa, chợ Tân Bình, ga Hòa Hưng
9. Quán ăn dinh dưỡng - Quán H20: 216 Pasteur Q.3 Bán sáng đến tối , quán chủ trương ăn theo kiểu dinh dưỡng, cũng có các món ăn thông dụng nhưng chú trọng số calo, ít mỡ, giảm bột ngọt, giảm cholesterol… Nước giải khác là nước ép trái cây bổ sung khoáng chất, vitamin
10. Quán Ngon : 136 Nam Kỳ Khởi Nghĩa Quận 1 - 825 7129 .
Ưa chuộng bởi Việt Kiều và người hải ngoài. Lịch sự và sạch sẽ. Giá cả phải chăng.
11. Quán Cua 9 món: 290/3 Nam kỳ khời nghĩa Q3 - 8 480.636
11. Quán Sông Hương: 452A Lũy Bán Bích, Q. Tân Phú , ĐT: 9734525. Độc chiêu ở Sông Hương là món chả Bạc Liêu. Thịt heo còn nóng được quết thật mịn trộn với da heo, lỗ tai heo, gia vị và màu vàng của trứng vịt muối và màu xanh lục của rau thơm. Tất cả được cuộn lại thành đòn, nấu chín như những đòn chả lụa bình thường. Chả khi cắt ra từng khoanh có đủ nhiều màu trông thật bắt mắt. Nhưng cái hấp dẫn nhất của món này là mỗi miếng chả khi nhai, khẩu vị được thay đổi bởi hương của rau thơm, vị béo của trứng vịt muối. Một trong những món nướng ở đây phải kể đến là chuột đồng quay. Chuột đồng miệt Đồng Tháp đưa về quán còn sống, nhà bếp làm lông, giữ lại da. Sau khi ướp gia vị cho thấm, từng chú chuột được xiên vào thanh nướng và phết lớp mật ong lên da. Đầu bếp giữ nhiệm vụ quay chuột phải thật nhanh tay, cứ trở thanh nướng liên tục không để lớp da bị cháy; chuột quay đạt yêu cầu là lớp da phải căng, bóng vàng ươm màu mật ong. Kiểu quay này giúp cho miếng thịt vẫn mềm nhưng lớp da bên ngoài giòn tan, lớp mỡ bên trong cũng chẳng còn bao nhiêu nên ăn nhiều cũng vẫn không thấy ngán. Để dằn bụng, ngoài món lẩu, quán còn có món cháo lươn đọt môn ngọt lừ, chỉ cần húp một chén là tỉnh người. GIÁ THAM KHẢO: Chả cá thác lác chiên cốm: 30.000đ/ phần Chả Bạc Liêu: 30.000đ/ phần Chuột đồng quay: 12.000đ/ con Cháo lươn đọt môn: 35.000đ/ phần Lẩu: 50.000đ/ phần
12. Phố Ôc Trần Hưng Đạo: Hẻm 391 Trần Hưng Đạo Q.1 (giữa Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Văn Cừ, sát bên Saigon Food Center) Chỉ bán chiều và tối, gồm nghêu sò ốc hến, sò huyết rang me, cháo nghêu, cháo mực, ốc chấm me. Món được ưa thích ở đây là hột vịt lộn chiên, nóng sốt
13. Phố thịt chó: 2A Nguyễn Thị Minh Khai Q.1 ,gần sở thú, đối diện nhà hàng Hoa Viên . Thịt chó được chế biến kiểu bắc, bán vào chiều tối. Các quán trương bản 11,12 món (hấp, nướng, dồi, chả đùm, chả chìa, lá lốt, nhựa mận, cháy cạnh, xáo măng …) rồi thêm rượu Kim Sơn, Làng Vân, Nếp Cái…..
14. Phố Nướng Cali: 168 Nguyễn Đình Chiểu Q.3 - 9.300.825 , ngay ngã tư với Nam Kỳ Khởi Nghĩa -bên hông siêu thị coop Nguyễn Đình Chiểu. Có 150 món nướng: bò, ếch, gà tre, lươn, kangourou….
15. Phố Gà nướng Gò Vấp: 314 Nguyễn Văn Nghi (Lê Quang Định nối dài) Giá mỗi loại chỉ từ 24.000 - 35.000đ/con. Gà nướng ở đây có hai kiểu: nướng lu và nướng trên bếp than lộ thiên (còn gọi là gà nướng vỉ nguyên con). So với gà nướng vỉ, gà nướng lu còn lạ hơn. Chiếc lu phải được làm từ đất sét, dày, đáy thủng, chụp trên một lò than vừa tròn bên dưới có khoét rãnh xung quanh. Xung quanh phía trong lu gắn từ 5 - 8 chiếc móc sắt, gà cứ treo lên đấy, mỡ gà áp lửa sẽ chảy xuống rãnh mà không làm ngợp than. Gà nướng vỉ có da giòn, thịt khô, gà do áp lửa nóng trực tiếp nên ứ ngược vào trong, chỉ chảy ra một ít nên da còn tương đối dày. Nhiều người nhận xét gà nướng lu ăn mềm hơn, do mỡ chảy xuôi xuống dưới nên thịt ngọt hơn. Tuy nhiên những người trong nghề cho biết "cái ngon hơn" là do ở cách ướp gia vị. Gà nướng lu thường được ướp đến hai lần. Trước khi nướng được ướp qua một lần cho thấm trong 30 phút, sau khi nướng thịt đã bay mùi thơm, da gà vàng đều phải ướp thêm một lớp nữa. Khi nào khách hàng dùng thì cho vào lu hâm lên cho nóng; hầu hết các khách đến quán gà nướng lu đều không quên yêu cầu được cho xem qua một lần cách nướng. Gà nướng lu nguyên thủy là món "gà quay lu" của Trung Hoa. Ðây là kỹ thuật quay gà bằng hơi nóng. Sở dĩ chọn lu là vì lu làm bằng đất, hơi nóng được ủ lâu bên trong, quay trong lu kín thì hương gà dễ hấp thụ vào từng thớ thịt bên trong tạo vị thơm nồng. Phổ biến của người Hoa là các món gà quay lu mật ong, gà quay lu ketchup. Cách quay trong lu còn thể hiện mục đích chắn gió và tạo hơi ấm, nhất là đối với những tháng mùa đông. Gà nướng lu hay nướng vỉ đều chọn loại gà tre, nhỏ con nhưng thịt dai, ngọt mà không bở, da mỏng ít mỡ.
16. Quán Nhật Sài Gòn: Nằm tọa lạc ngay góc ngã tư Lê Văn Sỹ - Phạm Văn Hai. Quán mở cửa cả ngày từ 11g -14g dành cho cơm trưa. Buffet Nhật bắt đầu từ 18 - 23g. Quán có tổ chức buffet với gần 70 món Nhật chỉ với giá khá bình dân 70.000 đồng/người. Ngoài ra, khách đến quán còn có cơ hội thưởng thức món lẩu nhúng shabu shabu hoặc món thịt nướng yosenabe, yakiniku với giá khá bình dân khoảng 35.000 đồng/người lớn và 15.000 đồng/trẻ em, nếu muốn dùng cơm trưa tại quán, thực khách có thể thưởng thức các món ăn Việt như thịt kho, tép rang, cơm chiên, gà quay… và một số món ăn Nhật khác chỉ với giá bình dân từ 14.000 đồng/1 phần trở lên.
17. Quán Hà Phú - Thịt nướng kiểu Nga: B2A Bửu Long P15 Q10 - 8 64 77 38 Quán có các món ăn độc đáo, các loại lẩu , nướng, các loại thủy hải sản tươi sống, thịt rừng, đặc biệt là thịt nướng kiểu Nga. Giá cả phả chăng.
18. Cừu nướng Thuận Tuấn: 284 Nam Kỳ Khởi Nghĩa Q.3 - 8.435.589 và 3/6 Nguyễn Văn Thủ Q.1 - 8.244.051 , gần đầu đường Nguyễn Đình Chiểu, phía bờ kênh Nhiêu Lộc. Cừu nướng theo kiểu sa mạc Trung Đông. Chủ quán nghe nói từng là đầu bếp cho Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu. Quán còn có cơm cháy chiên bơ, cá nướng trui…
19. Thịt Nướng Chiều Nay: 28 Võ Văn Tần Q.3 , gần bảo tàng chứng tích chiến tranh Quán chỉ độc món nướng và chỉ bán từ 4h chiều. Chủ quán đi nga về học được món này, bò heo bừu nướng, giá 1 dĩa 1$ , nay có thêm kangourou nướng, ngồi lề đường
20. Tiết canh Vịt -Cây Tràm: 292 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, đối diện chùa Vĩnh Nghiêm Một quán nhậu nổi tiếng với tiết canh vịt, vịt xáo măng. Vịt ở đây là vịt cỏ, nhỏ con, ít mỡ
21. Lẩu cá Dân Ích: 790 Nguyễn Trãi Q5 , góc Châu Văn Liêm, đối diện cơm gà Đông Nguyên
Mở cửa từ 4h chiều, tiệm ăn 3 tầng lầu lúc nào cũng tấp nập và ồn ào. Món ăn người Triều Châu (người Tiều). Lẩu nấu cá biển như cá gộc, tôm, mực đặc biệt có rau xanh, món hiếm khi xuất hiện trong món ăn người Hoa

22. QUÁN DON
a. 132 Hồ Bá Kiện Q.10 Đi từ CMT8 rẽ Tô Hiến Thành, chạy qua nhà thờ rẽ phải (đường đi ra công viên Lê Thị Riêng) Quán bình dân, nhỏ bé. Con Don là một loài hến nhỏ tí, chỉ có ở bãi bồi sông Trà khúc, Quảng Ngãi
b. 61A Bình Giã Q.Tân Bình . Đi CMT8 qua Ngã Tư 7 Hiền khoảng 1,5km .Đường nằm phía bên tay phải. Con đường có rất nhiều quán nghêu sò ốc hến , Quán Don ở cuối đường
23. Bò 7 món AU PAGOLAC
a. 19 Nguyễn Đình Chiểu Q.1-9.104.404 , góc Phan Kế Bính
b. 490 An Dương Vương Q.5-8.356.369
c. 978 Trần Hưng Đạo Q.5-8.362.992

Quán bò 7 món xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1930 tại sài gòn, nằm gần 1 cái chùa (tiếng pháp Pagode) và 1 cái hồ (Lac), từ đó có tên là Pagolac. Chủ quán gốc Ấn Độ, ở Việt Nam lâu đời, tên quán chữ Tây, đủ để nói hương vị món ăn là một tổng hợp khá quốc tế. Như tên gọi, 1 phần gồm 7 món: bò nhúng dấm, bò nướng lá cách, bò mỡ chày nướng, bò sa tế, bò bích tết, chả đùm, cháo bò
24. Đặc sản Campuchia: 5 Nguyễn Thiệp Quận 1 - 8226 278

25. Lẩu mắm: 140/13 Trần Huy Liệu - Phú Nhuận - 8444484 (gần tới Hoàng Văn Thụ) Ông Đoàn Giỏi (nhà văn Nam Bộ) ca ngợi món lẩu mắm:" khách sành ăn thưởng thức lẩu mắm bằng tất cả năm giác quan. Mắt trông đĩa rau sống giàu màu sắc.Mũi đón mùi thơm lừng của mắm quyện sả ớt. Tai nghe tiếng mắm sôi sòng sọc. Tay cầm ngắt những cọng rau xanh mát lạnh, tay nâng đũa gắp tùy hỉ các thứ"
26. Phố pín bến Hàm Tử: Góc Nguyễn Tri Phương Q5. Có pín xắt lát, thịt bò, tủy bò….

27. Quán Phong Lan - nơi dân nuôi chim hay tụ tập: 215 Lý Thường Kiệt Q11, gần ngã 4 với 3tháng2, kế bên hồ bơi Phú Thọ . Nhà hàng có sân rộng, cây xanh. Buổi sáng sớm đây là nơi dân nuôi chim tụ tập, tiếng chim hót vang lừng. Trưa, tối thì chuyên về tiệc cưới. Thực đơn sáng có hủ tiếu, hủ tiếu cá, các món dimsum há cảo, xíu mại, uống trà Bảo Lý hay Thiết Quan Âm


Wednesday, August 29, 2007

Nhớ Sài Gòn

Xin giới thiệu các bạn một bài bút kí rất hay về Sài Gòn. Tôi cũng định viết một bài, nhưng thấy tác giả này viết hay quá và trùng ý mình quá, nên đăng lại ở đây để bạn đọc và chia sẻ.

Tôi thích nhất đọan tác giả viết về mưa. Ôi mưa ở Việt Nam mình nó lạ lùng và lãng mạn lắm, chứ không phải như mưa ngoài này rất "dã man". Tháng tôi về là cuối tháng 7 đầu tháng 8, cái thời gian mà thi sĩ Nguyên Sa viết "Trời chợt nắng chợt mưa chẳng vì đâu". Có lần tôi đi phố về và trời chợt đổ mưa, tôi tạt vào một quán trú mưa. Nhưng chả lẽ trú mưa hoài cũng kì, nên tôi kêu một chai bia và bò bía ra nhâm nhi với tên bạn. Mưa càng lúc càng nặng hạt và nước mưa bắt đầu "tấn công" vào bàn chúng tôi. Bà chủ kêu thằng nhỏ ốm nhom cầm dù ra để che cho "thượng đế", nhưng tôi nói không cần, vì tôi đang muốn hưởng cảm giác mưa mà. Nước mưa ở Việt Nam nó âm ấm, chứ không lạnh như bên này. Mưa bên Việt Nam rất tình cảm. Cười nhất là khi thằng nhỏ vào trong, bà chủ hỏi sao vậy, thì nó nói: "Mấy ổng muốn hưởng cảm giác mưa, nên kêu con vào đi." Tôi đoán chắc bà chủ nghĩ bọn tôi khùng. (Mà, nói nghiêm chỉnh nhé: ai mà không có chút điên khùng trong một thoáng giây nào đó).

NVT

===

Nhớ Sài Gòn

Ninh Kiều

Nguồn: http://www.diendan.org/sang-tac/nho-sai-gon

Đêm đầu tiên trở về nhà ở Paris, sau mấy tháng ở Sài Gòn, bỗng nửa khuya thức giấc ngồi dậy thảng thốt không biết mình hiện đang ở đâu. Mấy giây sau mới tỉnh hồn, lặng lẽ nằm xuống trăn trở đến sáng, hoá ra mình nhớ Gài Gòn.

Nhớ buổi chiều trời đổ mưa, thấy có gánh bánh dừa núp trong một buồng điện thoại không cửa, bên lề đường. Gồng gánh không vào lọt bên trong song chị bán bánh ngồi chồm hổm nửa trong nửa ngoài, cho đỡ ướt. Một Euro hai chục cái bánh dừa, nhỏ bằng ngón út. Dây chuối cột bánh thành từng chùm treo lủng lẳng trên đòn gánh. Bứt rời ra một đòn, tháo dây, bóc mối lá dừa trên đầu bánh hơi trũng xuống rồi xoay mối lá theo chiều ngược kim đồng hồ, thế là lộ ra đòn nếp trắng nhỏ xíu, nhai trong miệng, nếp trộn dừa thơm thơm. “Tui núp mà cô cũng thấy”. Thấy chớ, chị bán bánh ơi, thấy từ lâu lắm rồi, nhiều ngày và nhiều đêm, nay mới có dịp dừng lại, đứng duới tàn cây me có giọt mưa rơi trên tóc theo kẽ lá, để thưởng thức và để thán phục bàn tay nào đó khéo quá, kiên nhẫn quá. Gói nếp bằng tấm lá dừa vàng tươi, quấn tỉ mỉ từng vòng từng vòng một, lớp lang, theo chiều kim đồng hồ. Rồi dằn mối lá trên đầu bánh hơi trũng xuống để dễ cho người ăn tháo lá.

Nhớ buổi trời sụp tối đón chuyến xe buýt cuối cùng ở trạm xe chật hẹp cạnh bùng binh trước cửa chợ Bến Thành, cửa chợ có cái đồng hồ hướng về phương Nam đó mà. Người và xe buýt đan nhau. Chỗ chật cứng, nhỏ xíu mà không thiếu thứ gì. Tôi mua vé buýt, một tập ba chục, hơn 3 Euro một chút cũng ở chỗ đó. Mua cái lược nhỏ, khăn giấy hỉ mũi cũng ỡ chỗ đó. Đi tiểu có nơi chốn đàng hoàng thì cũng ở chỗ đó. Cứ xuống tại đó rồi đổi xe buýt để đi đến bất cứ nơi nào mình muốn trong Sài Gòn và luôn cả ngoại ô. Tấm bản đồ đường đi xe buýt cho không cũng ở đó mà hỏi xe buýt nào để đi cũng ở tại đó. Có nhân viên túc trực ngồi sau bàn giấy, đông không thua khách hàng, hỏi đâu chỉ đó như thuộc nằm lòng mọi ngõ ngách của thành phố. Chật như nêm mà từ sau đứng bóng vẫn có chỗ cho chiếc xe đẩy bốc khói từ bốn vun xôi bốn màu khác nhau trụ đó. Ngày nào có dịp đi xe buýt ngang qua cũng thấy xe xôi đứng đó, cũng tại chỗ đó. Xôi đen nếp than thiệt, xôi đỏ có màu đỏ của gấc, xôi đậu có đậu trắng và xôi vàng nhạt hơi giống xôi vò. Hôm ấy đang trả tiền mua mấy gói xôi thì chuyến xe buýt cuối cùng của tôi cũng vừa trờ tới. Vậy rồi sau tiếng kêu thất thanh “công an” không biết từ đâu đến, cậu bán xôi nói với tôi thiếu điều như ra lịnh “Cô đứng yên, đợi đó”. Xôi thì chưa lấy, tiền thì chưa kịp thối, tôi đứng tần ngần nhìn cậu bán xôi đẩy chiếc xe băng băng ra giữa lộ, ngó dáo dác, quay xe qua quay xe lại, nửa như muốn chạy trốn nửa như muốn nán lại để xem động tĩnh. Xe cộ vẫn xoáy quanh bùng binh không ngừng, tránh chiếc xe xôi như nước chảy tránh hòn đá giữa dòng. Ngập ngừng, do dự giây lát rồi cậu bán xôi mạnh dạn quay xe trở về chỗ cũ và cũng là lúc chuyến xe buýt của tôi sắp chạy. Tôi chỉ còn kịp vồ lấy cái bao nóng hổi đưa vói phóng lên xe buýt qua cánh cửa đang từ từ khép lại. Ngồi yên chỗ rồi tôi mới mở bao để nhìn thấy bốn gói xôi và tiền thối đầy đủ.

Nhớ những ngày ngồi trên xe buýt, nghe Céline Dion hát, nghe nhạc nước ngoài, nghe những bài hát trữ tình xưa và nay, nghe kịch vui, nghe mục gỡ mối tơ lòng, nghe mục giáo dục thanh thiếu niên vv. Bên ngoài có khi thì mưa như cầm chĩnh mà trút, có khi thì nắng đổ lửa, có khi thì kẹt xe, mà trong xe buýt vẫn mát lạnh, bình yên. Tha hồ cho tôi bấm điện thoại di động, trò chuyện, hẹn hò. Có thể bấm gọi cả tổng đài xe buýt để hỏi đường đi nước bước. Trong 45 phút nếu không kẹt xe, cùng một chuyến buýt mà tôi có thể đi từ quận 7 ở hướng đông-nam Sài gòn qua tận chợ Bà Chiểu quận Bình Thạnh ở hướng đông-bắc, dọc theo bến cảng Gài Gòn trên đường Nguyễn Tất Thành, xuyên qua quận 4, vào quận 1 bởi đường Nguyễn Thái Học, ghé bùng binh chợ Bến Thành rước khách, qua dinh Thống nhất bằng đường Pasteur, đi ngang qua nhà Văn Hoá Thanh Niên rồi mới đến chợ Tân Định, chợ Phú Nhuận để cuối cùng tôi xuống cái trạm trước cửa nhà thương gần Lăng Ông Bà Chiểu.

Trong khoảng thời ấy, tôi nhìn thấy đường phố Sài Gòn sống như trong phim câm tô màu.
Ở chỗ ngã tư kia, dưới ngay cột đèn xanh đỏ, lúc nào cũng thấy một chị ngồi bào bắp tươi, bình thản, nhiều thau bắp bào rồi để dưới chân, hàng đống bắp tươi ngồi chờ chung quanh.
Có một cô đi xe vespa, tóc xoã dài ngang lưng bay phất phới ven mang tai, áo hai dây hở hai cánh tay đeo găng dài lên tới vai, eo thon, cứ chạy chờn vờn trước xe buýt từ nãy giờ. Khi xe buýt qua mặt xe cô, tôi ngoái đầu nhìn lại để kịp thấy khẩu trang che kín mặt chỉ còn chừa đôi mắt của cô.
Có anh ngồi sau xe gắn máy dang hai tay ôm tấm kiếng rất to, cao khỏi đầu, không còn tay mà vịn.

Có cả nhà đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, một cháu ngồi trong lòng bố phía trước, một cháu đứng trên yên sau trong vòng tay mẹ, hai tay để trên vai bố. Tóc cả nhà bay phất phới trong gió !
Có anh đạp xích lô, vừa đạp vừa cuối xuống phía trước nói chuyện với ông khách ngửa cổ ra sau, chắc là Tây. Không biết họ nói với nhau bằng thứ tiếng gì. Xích lô càng ngày càng ít thấy, nhiều con đường xích lô không được chạy vào.

Có hai cô đứng đối diện nhau sau cửa kính ra vào khép kín của một hãng bán xe hơi mới, mặc đồng phục, áo trắng, váy xanh da trời. Tôi không kịp nhìn xem hai cô làm gì khi khách đến trước cửa nhưng tôi đoán rằng mỗi cô sẽ mở một cánh cửa, cúi đầu chào mời khách vào. Chắc là suốt ngày như vậy.

Xe đạp ít thấy, xe hơi xe gắn máy thì nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn còn thấy một xe đạp chở lu, lu sành cao cả thước. Chỉ thấy lu là lu, ngất ngưỡng như Kim Tự Tháp thu nhỏ, không còn thấy người.

Đâu cũng có quán giải khát, nhưng ít khi thấy phụ nữ ngồi.

Các cửa hiệu quần áo, bán toàn đồ đầm, loại đi dạ hội, hở ngực, hở vai. Đã có bán thì chắc có người mua. Mua rồi mặc vào thì chắc phải có chỗ để đi. Nhiều cửa hàng quần áo rộng thênh thang mà thấy vắng tanh. Đôi khi tôi lạc vào đó, thế nào cũng có một cô bán hàng thường rất trẻ tiếp đón và hay nói “cô mặc sang lắm”. Chắc là khách hàng thích sang. Mà hễ đã sang thì ắt phải đẹp, chắc là vậy.

Nhớ buổi đi buýt lên thăm mộ ởThủ Đức, bận về đi ngang qua một con đường hai bên có nhà hàng ăn san sát, trước mỗi cổng nhà hàng có hai hay ba cặp cô dâu chú rể đứng, tôi đếm sơ sơ dễ chừng có đến năm lần một chục cặp. Tôi không còn thấy những đám ma dài lê thê nữa mà lại thấy áo đầm cô dâu tô trắng cả con đường.

Nhớ buổi sáng nọ đi thăm bạn học cũ, thấy gánh tàu hủ trước cửa nhà bạn, mừng như tìm lại được một tấm ảnh cũ có cô bé thắt bím hao hao giống mình. Ăn liền ba bát, nóng hôi hổi, tốn 30 xu.
Sao mình hay nhớ chuyện ăn uống quá vậy, trời !

Có lẽ vì sau những cái vụn vặn đó, một bát tàu hủ nóng có gừng, một dĩa bánh bèo có tép mỡ, một dĩa bột chiên có đập trứng vịt, có cái gì đó thiết tha, gợi thương gợi nhớ với mảnh đất nầy. Và nhất là sau những cái ấy, hiện hữu không chối cãi được một người nào đó, ăn ít làm nhiều, nắng cũng phải ưa, mưa cũng phải chịu, ngày qua ngày, gồng gánh. Mà lạ lùng thay, những cơ nghiệp xem chừng nhỏ nhoi kia lại dường như tồn tại rất lâu, ít khi phá sản, ít khi bị thụt két và cũng không phải bù lỗ. Mà những con người gồng gánh suốt đời như vậy có phải vạm vỡ gì cho cam. Họ đứng không quá vai tôi, họ lép kẹp như con tép khô vậy mà họ gánh cái gánh dễ chừng nặng ngàn cân đi bươn bươn. Khi tôi hỏi “ảnh còn đánh chị nữa không”. Chị trả lời “Đi miết lấy đâu mà đánh”. Đi miết là đi vô Sài gòn bán tàu hủ, sữa đậu nành. Đó là chuyện chị tàu hủ gần Sở Thú, mấy năm về trước. Một giờ sáng chị thức dậy, đem đậu đã ngâm từ chiều đến chỗ xay, về nấu đến sáu giờ sáng để có mặt ở cái hẻm đối diện sau Sở Thú. Ngày giống ngày. Mỗi khi thấy tôi đứng đợi thì chị gánh bươn bả đi tới, xin lỗi rối rít. Có hôm, đến ba giờ trưa, tôi vẫn còn thấy chị lẩn quẩn trong khu phố. Tôi tò mò hỏi chuyện đời chị thì chị kể bằng cái giọng miền trung trài trại, không gợn chút oán hờn về người chồng của mình “buồn, uống rượu, đau hoài”. Chị chỉ có một yêu cầu đối với tôi : cô nhớ mua mở hàng dùm.

Lần nầy về Sài Gòn tôi ở gần khu chế xuất Tân Thuận, vùng đô thị mới thuộc quận 7. Trước nhà đại lộ sáu xe chạy được, rộng thênh thang. Sáng sáng hàng nghìn công nhân đổ về khu, hàng quán mọc lên như nấm. Ăn sáng gần cổng vào thì không thiếu món gì : xôi bắp, bánh cuốn, bún riêu... Quán nhậu khang trang bên nầy đại lộ, gồng gánh lụp xụp bên kia, ăn đứng, ăn ngồi.

Ở Sài Gòn mấy tháng, tôi làm y như người Sài Gòn. Muốn qua đường là tôi cứ từ từ bước xuống, mắt nhìn thẳng vào xe cộ đang đổ về phía mình, rồi xe cộ né mình hết, rồi cũng bình yên, không sao cả. Có hôm băng qua bùng binh chợ Bến Thành cùng với một anh bạn Việt Kiều, hai đứa nắm tay nhau lúc nào không hay, mười ngón tay đan lại. Vượt xong hiểm nghèo, thả tay nhìn nhau cười... trừ.

Rồi tôi cũng như họ, bình thản từ chối những người bán vé số và cả những người ăn xin. Họ đông lắm những người bán vé số. Người ăn xin thì ít hơn trước rất nhiều, không biết họ biến đi đâu.
Rồi tôi cũng phóng lên xe buýt đang chạy rà rà, vừa dợm ngừng đã bắt trớn chạy lại, đặc biệt dành cho khách chưa đến nỗi lụm cụm, như tôi, xui xẻo leo lên xe buýt một mình đúng lúc không có khách xuống xe. Một biện pháp thường được thi hành không nằm trong luật lệ nào nhầm đỡ mất thời giờ cho cả làng. Mà rồi tôi cũng bình an vô sự sau khi có cánh tay mạnh mẽ của cậu bán vé vừa hô to “lên đi, lên đi, chạy”, vừa kéo tôi bay lên mấy bậc thang và đẩy tôi ngồi trên một chỗ trống.

Về chuyện chạy rà rà, có lần tôi đi cáp treo núi Bà Đen, vòng lên bình yên vô sự, vòng xuống tróc một móng chân, ngón giữa thuộc bàn chân mặt vì bước xuống cabin bằng chân trái mà vướng bàn chân còn lại. Dây cáp vẫn kéo cabin chạy, không giảm tốc độ, mà người ta thì vẫn rần rần từ cabin ào lên hay tuột xuống. Bà già, con nít, thanh niên, trong vòng mươi giây mà cứ trung bình bốn người một cabin, có khi lên tới sáu, nhảy lên hay tuôn xuống cửa mở toát hai bên hông, không ngừng. Cabin vừa tuôn người xuống bên nầy thì bốc người lên bên kia. Mỗi bên cửa cabin có một thanh niên mặc đồng phục chực sẵn, trẻ măng, mạnh mẽ xóc nách khách như điệu tù, không cục cựa gì được. Đến nước nầy thì khách không còn giải pháp nào khác là chui cho nhanh vào cái cabin đứng đụng đầu chờn vờn trước mặt. Chưa kịp hoàn hồn thì khách đã choáng ngợp thấy dưới chân mình là các ngọn cây xanh um cao cả chục thước và xa xa kia là non sông đất nước của mình từ trên cao nhìn xuống. Trở lại chuyện cái móng chân, tôi mới cúi xuống nhìn thấy cái móng chân sơn màu trắng bạc rất xí xọn của mình đang được viền thêm chung quanh màu máu đỏ thì đã có ngay một cô mặc đồng phục rất trẻ, ngồi phủ phục xuống, mở cái gói nhỏ kẹp nách, lấy ra bông gòn, băng keo. Chuyện nhỏ. Nghe nói cáp treo nầy do Trung Quốc làm. Việt Nam mình rút kinh nghiệm, sau nầy giao cho Úc làm, ở nhiều nơi đỡ lắm, có giảm tốc độ. Mang theo trên mình một vết thương, đi xa rồi tôi còn ngoái đầu nhìn lại để nhìn thấy trạm cáp treo vẫn đông vui, rần rần, thiên hạ lên xuống. Nhưng không còn tìm thấy đâu người em gái nhỏ đã băng bó cho tôi, có lẽ cô đang ngồi thụp xuống. Chẳng lẽ tróc có một cái móng chân mà đi thưa kiện, tôi đành vui vẻ ra xe đi chơi tiếp, như mọi người.

Sài Gòn có nhiều thay đỗi, mỗi lần về tôi đều có thấy song những gánh bán tàu hủ, sữa đậu nành vẫn còn. Không hiểu sao mỗi lần nhớ Sài Gòn, tôi lại nhớ đến chị bán tàu hủ mà tôi quen, nhớ mảnh đời chị. Cũng có lúc tôi nổi máu Don Quichotte, muốn đánh nhau với cánh quạt cối xay gió, nhưng thôi.

Như đêm nay, tôi cứ nhớ hết chuyện nầy qua chuyện kia, không đầu không đuôi. Không hiểu sao tôi lại nhớ cô bán vé xe buýt, còn trẻ lắm, chắc độ đôi mươi, mặc áo sơ mi màu xanh da trời nhạt, mặc váy ngắn màu xanh nước biển, mang vớ màu xám đục, bít cả mười ngón chân, một loại đồng phục. Tôi nhớ đến cô vì tôi đã nhờ cô báo cho tôi biết trạm xuống gần chùa Vĩnh Nghiêm mà khi tự tôi thấy mái chùa cong, rồi tự tôi nói to lên nhiều lần về hướng cô “có phải trạm chùa Vĩnh Nghiêm không em”, cô vẫn ngồi yên, quay lưng về phía tôi, làm thinh, không trả lời. Tôi để ý nhiều xe buýt không mấy khi thật đông khách, như chuyến buýt nầy đã qua mấy trạm rồi không thấy có người lên. Chắc cô không có việc gì làm, ngồi nghỉ rồi quên mất tôi.


Sáng thức dậy sau một đêm trằn trọc, tôi mở máy trả lời mail cho cháu gái kêu bằng cô ruột năm nay hai mươi bốn tuổi, vừa tốt nghiệp một trường thương mãi, đã qua hai cuộc phỏng vấn với hai hãng nước ngoài để xin việc làm, Hàn Quốc và Đài Loan, bằng tiếng Anh mà hai gò má mọc mụn dày cộm. Đang chờ kết quả. Tôi bắt đầu bằng “Má nhớ Xuân Anh lắm” và kết thúc “Ít bữa má về con chở má đi ăn hàng nữa nghen”.

Monday, August 27, 2007

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”, phần 1

Hôm nay, xin gửi các bạn một bài (gồm 2 phần) liên quan đến vấn đề thu hút trí thức Việt kiều mà mấy tuần nay báo chí trong nước nhắc đến. Tôi có lấy một ví dụ từ Bệnh viện Kiên Giang để các vị quan lớn ở Hà Nội học hỏi. Bài này đã gửi cho báo mạng Người viễn xứ để đăng, và tôi nghĩ chắc họ sẽ đăng. Tôi gửi đây để các bạn đọc trước và nếu có thể góp ý nhé. Bạn đọc nào ở Kiên Giang nhớ email để tôi viết có người đồng tình hay không. Địa chỉ email của tôi là t.nguyen@garvan.org.au

NVT

Ghi tiếp 29/8/07: Bài thứ nhất đã đăng tại đây: http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/vandecuachungta/2007/08/735030/

===

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”:
1. Kinh nghiệm từ nước ngoài

Phát biểu trên báo chí gần đây, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biết “Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục VN.” Có thể nói đây là một chương trình qui mô và tham vọng lớn, và nếu thành công có thể làm thay đổi tình hình khoa học nước nhà theo chiều hướng tích cực hơn trong tương lai. Nhưng nếu tham vọng là một điều cần thiết, thì chúng ta cũng cần nên xét lại thực lực và cơ chế thực hiện để có thể biến ý nguyện thành thực tế.

Theo sau các phát biểu mang tính chính sách của lãnh đạo Nhà nước, đã có nhiều bàn luận về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt (tôi sẽ gọi tắt là “Việt kiều”) về làm việc ở quê nhà. Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.

Vấn đề đặt ra là tại sao? Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến), lí do chính là Nhà nước vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!

Một vài “
chuyển động” gần đây (như việc “Bộ Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng Đề án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo”) là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như thế trong thời gian qua, giới khoa học Việt kiều vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.

Thật ra, như tôi nói ở trên, người Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên truyền” hay “ưu đãi” để tham gia góp phần vào việc phát triển quê hương. Đã là người Việt, ai cũng muốn -- không ít thì nhiều -- đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có gì nãn lòng hơn là dù được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng mới vào cảng hàng không đã phải vướng víu những thủ tục rườm rà, những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm ... Nhưng rất tiếc đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.


Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hàn Quốc

Chúng ta có thể điểm qua kinh nghiệm từ các nước trong vùng xem họ đã thu hút các chuyên gia từ nước ngoài như thế nào, và hi vọng các kinh nghiệm đó sẽ cung cấp cho Việt Nam một vài bài học có ích.

Từ những năm đầu thập niên 1990s, Hàn Quốc đã có một chính sách cụ thể để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu. Ngày nay, khi nói đến sự thành công ngoạn mục của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các giám đốc hãng Samsung, LG và Đại học Quốc gia Seoul đều nhất trí cho rằng chìa khóa thành công của họ là nhờ vào đội ngũ các nhà khoa học Hàn kiều đã góp một phần quan trọng đưa nền công nghệ điện tử và sinh học lên hàng các nước kĩ nghệ tiên tiến.

Cho đến nay, chính sách tuyển mộ các nhà khoa học Hàn kiều của Hàn Quốc vẫn còn tiếp tục và với nhiều hình thức khuyến khích càng ngày càng hấp dẫn hơn. Cũng như nhiều Việt kiều khác, giới khoa học Hàn kiều cũng tỏ ra ngần ngại và thậm chí miễn cưỡng quay về Hàn Quốc làm việc, vì họ phải hi sinh nhiều lợi ích tài chính mà họ đang hưởng ở nước ngoài. Để thu hút những người này, các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ti như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ. Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD / năm. Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều (những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.

Ở Trung Quốc, cũng như Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo xem đội ngũ khoa học Hoa kiều là một lực lượng quan trọng, một chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Nhà nước Trung Quốc chi ra một ngân khoản lớn để thu hút các giáo sư và nhà khoa học Hoa kiều từ các nước Âu Mĩ về Trung Quốc làm việc. Họ có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.

Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông, v.v… mà tho đó mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) cho mục đích này. Để thực hiện việc này, các đại học thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc. Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc và một số thì tiêu ra từ 3 đến 12 tháng. Những người về làm việc toàn thời gian được trả lương đến 40.000 USD / năm (lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD / năm). Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.

Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế. Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa. Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học. Kể từ khi thu hút Hoa kiều về giảng dạy và nghiên cứu, nhiều đại học hàng đầu ở Trung Quốc càng ngày càng nâng thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh, và dựa vào hệ thống tín chỉ của Mĩ, đặc biệt là số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, để đề bạt các chức danh giáo sư (chứ không còn dựa vào thâm niên như trước đây). Một số trường thậm chí còn có qui định rằng nếu một giảng viên mà sau 6 năm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn phó giáo sư thì sẽ được “mời” nghỉ việc.

Hồng Kông, trước khi được trả về cho Trung Quốc, có một lịch sử lâu dài về việc tuyển dụng các giáo sư và nhà khoa học nước ngoài. Thật ra, phần lớn (trên 90%) các giáo sư đại học Hồng Kông hoặc là người nước ngoài, hoặc là Hoa Kiều, hoặc là người Hồng Kông được đào tạo từ các đại học Âu Mĩ. Trước đây, các trường đại học Hồng Kông có chính sách khá rộng rãi và thông thoáng cho các giáo sư nước ngoài (như trả lương tương đương với nước ngoài, tạo điều kiện cư trú ổn định như cấp nhà hay cho thuê nhà với giá thấp, cấp vé máy bay đi và về thăm nhà mỗi năm 2 lần, v.v…). Sau khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc, do chính sách mới, một số lớn các giáo sư này bỏ Hồng Kông và các trường đại học Hồng Kông trải qua một thời gian suy giảm năng suất khoa học thấy rõ. Nhận thức được vấn đề, chính phủ mới lại mời các giáo sư quay lại làm việc! Năm 2006, chính phủ Hồng Kông vừa triển khai một chương trình thu hút nhân tài Hoa kiều từ nước ngoài. Họ dự tính sẽ thu hút khoảng 1000 đến 2000 nhà khoa học và giáo sư trong vòng hai năm. Họ còn dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà khoa học được bổ nhiệm là quyền được đem theo người thân gia đình định cư tại Hồng Kông.

Ở Đài Loan, Nhà nước nhận thức rõ yếu tố thành công của kĩ nghệ điện tử Đài Loan trong hai thập niên qua là nhờ vào lực lượng Hoa kiều ở Mĩ, nên họ có hẳn một chương trình dài hạn và dành hẳn một ngân quĩ quốc gia cho các giáo sư thỉnh giảng và nhà khoa học ưu tú từ nước ngoài vào làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và đại học hàng đầu ở Đài Loan.

Và bài học ngay tại nhà: Bệnh viện Kiên Giang

Kiên Giang là một tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm vào vị trí gần vùng tận cùng của đất nước, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 260 km. Dân số của tỉnh là 1,6 triệu, với 78% sống ở nông thôn, và gần 20% là người dân tộc gồm hai sắc tộc chính là người Khmer và Hoa. Vì những dao động lịch sử sau 1975, tỉnh Kiên Giang là một trong những tỉnh có nhiều Việt kiều đang sống ở các nước Âu Mĩ. Nhận thức được tiềm năng của Việt kiều, tỉnh Kiên Giang có hẳn một cơ quan chuyên về các dịch vụ liên lạc với Việt kiều. Vì thế, trong những năm gần đây Kiên Giang là một tỉnh đi tiên phong trong việc thu hút được khá nhiều đầu tư từ các doanh nghiệp Việt kiều, góp phần nâng cao khả năng kinh tế của tỉnh.

Tỉnh Kiên Giang có tốc độ phát triển kinh tế trên 10% mỗi năm, tuy không thuộc vào hàng các tỉnh nghèo, nhưng vì vị trí địa lí, tỉnh vẫn tồn tại nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, nhất là vấn đề giáo dục và y tế. Hiện nay, cả tỉnh chỉ có một bệnh viện lớn duy nhất (Bệnh viện Kiên Giang) tại Thành phố Rạch Giá và lúc nào cũng quá tải, còn các vùng nông thôn thì thiếu bác sĩ và y sĩ trầm trọng. Bệnh viện Kiên Giang là một bệnh viện đa khoa cấp I, có khoảng 1100 giường, phục vụ cho tỉnh Kiên Giang và có khi các địa phương lân cận, kể cả vài tỉnh thuộc nước bạn Kampuchea.

Là một bệnh viện cấp tỉnh, Bệnh viện Kiên Giang khó thu hút được các chuyên gia cao cấp về làm việc, và để khắc phục tình trạng này, ban giám đốc đã có những hành động thực tế mà tôi cho là rất tiên phong. Trong khi cấp trung ương còn đang bàn phương cách để thu hút nhân tài, thì Bệnh viện Kiên Giang chủ động mời các chuyên gia về cộng tác, với những ưu đãi đặc biệt. Chẳng hạn như ban giám đốc bệnh viện xây (hay mua) hẳn một khu nhà ở đầy đủ tiện nghi ở một địa điểm hấp dẫn dành cho các chuyên gia về bệnh viện làm việc trong một thời gian ngắn hạn. Thậm chí, bệnh viện còn dành hẳn một căn hộ nhỏ với đầy đủ tiện nghi cho một giáo sư công tác dài hạn ở bệnh viện. Với những động thái thiết thực đó, không ngạc nhiên khi bệnh viện thu hút được sự hỗ trợ chuyên môn từ các giáo sư và chuyên gia ở nước ngoài. Năm nay, bệnh viện thực hiện một số ca phẫu thuật ghép thận với sự hỗ trợ từ một chuyên gia Việt kiều và đồng nghiệp từ Bệnh viện Chợ Rẫy và ngoại quốc.

Song song với việc mời gọi chuyên gia về bệnh viện, ban giám đốc còn khuyến khích và tích cực gửi bác sĩ đi đào tạo chuyên khoa II ở các trung tâm y tế lớn trong nước. Ban giám đốc còn phê chuẩn cho bác sĩ đi học và chuyên tu ở nước ngoài. Người viết bài này còn được biết một vài câu chuyện nhỏ, nhưng nó chứng tỏ bệnh viện thật sự trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn như ngày bác sĩ bệnh viện tốt nghiệp chuyên khoa II, đích thân giám đốc bệnh viện lên thành phố dự buổi lễ tốt nghiệp cùng bác sĩ của bệnh viện mình. Dù đó chỉ một hành động nhỏ mang tính biểu trưng (mà phần lớn các sếp lớn nước ngoài hay làm) nhưng có thể nói việc làm đó rất hiếm thấy ở các giám đốc trong nước.

Theo tôi biết, tất cả những việc làm của ban giám đốc Bệnh viện Kiên Giang chỉ dựa vào tình hình thực tế, vào sự năng động của lãnh đạo, chứ chẳng có “bài bản” hay “tuyên truyền” hay “vận động” nào. Có thể nói không ngoa rằng các bộ liên quan nên học kinh nghiệm của tỉnh Kiên Giang và nhất là Bệnh viện Kiên Giang trong nỗ lực thu hút các chuyên gia từ nước ngoài.

Nhân dịp này tôi muốn nhắn các đồng nghiệp y sinh học nước ngoài nếu có dịp về Việt Nam, nên ghé qua Bệnh viện Kiên Giang bên bờ biển đầy nắng và gió lộng, nơi có những khó khăn chồng chất, những thiếu thốn về cơ sở vật chất, những cảnh cực khổ của bệnh nhân vùng quê, những trăn trở của đồng nghiệp nhằm vượt qua khó khăn, cùng những năng nổ của vị giám đốc và đồng nghiệp của anh. Bất cứ đóng góp nào cũng được trân trọng.

***

Những chính sách và chương trình thực tế của Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và ngay tại Bệnh viện Kiên Giang là những kinh nghiệm quí báu mà tôi nghĩ Nhà nước cần nên nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nói gì thì nói, hai yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định “về hay ở” vẫn là vật chất và tinh thần. “Vật chất” ở đây là lương bổng và môi trường làm việc, và “tinh thần” là lòng yêu quê hương, tinh thần dấn thân ... Một giáo sư không phải là doanh nhân. Doanh nhân về nước có thể tìm cơ hội kinh doanh và kiếm lời, nhưng một vị giáo sư đại học chỉ tùy thuộc vào lương bổng là nguồn thu nhập chính. Một quyết định về hay ở tùy thuộc vào sự quân hòa giữa hai yếu tố vật chất và tinh thần.

Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học Tây phương vì họ không muốn mất những giáo sư có tài). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.

Do đó, để thu hút được các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính chỉ tiêu duy ý chí, mà là một tầm nhìn xa và rộng hơn. Vấn đề không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà khoa học, mà tôi sẽ bàn trong một bài kế tiếp.

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều” - phần 2

Về “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều”:
Phần 2. Cần một chương trình cụ thể

Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng có thể nhất trí rằng nước ta không (hay ít ra là chưa) có khả năng cạnh tranh khoa học với các cường quốc khoa học Âu Mĩ và một cường quốc đang trên đường hình thành như Trung Quốc. Nhưng khía cạnh mà chúng ta có thể cạnh tranh được là chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả để phục vụ cho phát triển kinh tế. Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có những giáo sư và chuyên gia có kinh nghiệm tốt và uy tín cao trên trường quốc tế. Một trong những nguồn nhân lực khoa học đó là các nhà khoa học nước ngoài, nhất là đội ngũ các giáo sư đại học và nhà khoa học gốc Việt hiện đang làm việc tại các nước tiên tiến.

Thế nào là những giáo sư hay nhà khoa học tầm cỡ quốc tế? Rất khó có câu trả lời này bằng các tiêu chuẩn theo kiểu “cân đo đong đếm”, nhưng một vài tiêu chí chung cũng có thể cho chúng ta một vài ý niệm tổng quát: đó là những nhà khoa học được xếp vào hạng 10% hàng đầu quốc tế về một chuyên ngành. Nói cụ thể hơn, đó là những những nhà khoa học độc lập, có khả năng lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, với các công trình nghiên cứu thuộc loại tiền phong (cutting edge research) có ảnh hưởng đến chuyên ngành, từng có thành tích thu hút tài trợ từ các quĩ khoa học quốc gia và quốc tế, từng đạt được những giải thưởng quốc tế, có đóng góp cho hoạt động chuyên môn (kể cả đóng vai trò bình duyệt cho các tập san khoa học quốc tế), có kinh nghiệm đào tạo nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ và hậu tiến sĩ, đóng vai trò quan trọng trong các hiệp hội chuyên môn và có đóng góp cho cộng đồng.

Đáp số cho bài toán “1000 trí thức Việt kiều”?

Có bao nhiêu giáo sư hay nhà khoa học gốc Việt như thế ở nước ngoài? Trước khi trả lời câu hỏi khó này, tôi muốn nói qua vài hàng về lực lượng chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài. Theo ước tính của Nhà nước và báo chí, con số người Việt hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài đã lên đến 3 triệu, và trong số này có khoảng nửa triệu người với trình độ đại học trở lên. Tuy cơ sở khoa học cho con số nửa triệu này chưa mấy rõ ràng, nhưng có thể khách quan nói rằng có nhiều chuyên gia Việt kiều có tài năng thật sự, là những nhà khoa học, giáo sư tầm cỡ quốc tế từng có đóng góp quan trọng cho nước sở tại. Hầu như trong bất cứ lĩnh vực công nghệ tiên tiến nào đều có tên tuổi của các nhà khoa học gốc Việt.

Nhưng cần phải ghi nhận một điều ở đây là báo chí, nhất là báo chí tiếng Việt hải ngoại, thường có xu hướng “tiếp thị” quá đáng cho khả năng của Việt kiều. Một vài quan chức trong nước khi mới ghé thăm các vùng có đông người Việt định cư như khu Little Saigon rất ấn tượng với sự có mặt nhan nhản các bác sĩ, luật sư, kĩ sư, chuyên gia, v.v… được trưng bày to tướng, và nghĩ rằng lực lượng trí thức Việt kiều quá hùng hậu. Đôi khi đọc qua những bài báo viết về những gương thành công vượt bực của một số ít chuyên gia gốc Việt, người ta tưởng rằng đội ngũ khoa học Việt kiều sẽ có thể giúp cho Việt Nam “cất cánh” trong vòng vài năm nếu họ có cơ hội. Tuy nhiên, cần phải phân biệt những người có trình độ đại học (ở Mĩ cũng có dăm ba loại đại học!) và những chuyên gia có chuyên môn chuyên sâu tầm cỡ quốc tế. Có thể cộng đồng người Việt có nhiều người có trình độ đại học (hãy cứ cho là 500 ngàn), nhưng con số chuyên gia không cao, và con số có trình độ cấp giáo sư càng hiếm hơn nữa. Sự thật là sự hiện diện của các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài trên các diễn đàn khoa học quốc tế vẫn còn quá khiêm tốn.

Cần phải nhắc lại rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn là một cộng đồng nghèo khó, ít học nhất, có thu nhập thuộc vào hàng thấp nhất, và có nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất so với các cộng đồng người Hoa, Nhật, Philippines, và Hàn Quốc. Cố nhiên, bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng thực tế là con số chuyên gia gốc Việt không hùng hậu như báo chí hay “tiếp thị”.

Ở Mĩ, nơi có người Việt định cư đông đảo nhất ở nước ngoài, hiệp hội giáo sư gốc Việt chưa có đến 150 thành viên. Có lẽ con số giáo sư gốc Việt trên toàn nước Mĩ chưa đến con số 500. Ở các nước có khá đông người Việt định cư như Canada, Pháp và Úc, con số người Việt mang hàm giáo sư chỉ có thể nói là “đếm đầu ngón tay”. Đó là chưa kể một số khá nhiều các vị giáo sư đã hay đang sắp nghỉ hưu. Ngay cả nếu con số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên là 1000 đi nữa, thì không phải ai có học vị tiến sĩ đều có khả năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học độc lập, và số người đứng vào hàng “tầm cỡ quốc tế” (như trình bày trên) chắc chắn không quá con số 100. Do đó, tôi có lí do để cho rằng “bài toán 1000 trí thức Việt kiều” sẽ không có đáp số, cho dù trong thời gian 10 năm.

Theo tôi (chỉ nói với tư cách cá nhân), không nên đặt ra những chỉ tiêu hay con số trong khi chưa có một cơ sở hay khảo sát đáng tin cậy. Vấn đề không phải là cần thu hút một con số (chẳng hạn như 1000 trong vòng 10 năm) giáo sư và nhà khoa học; vấn đề là làm sao tạo điều kiện và môi trường khoa bảng để mọi người – trong và ngoài nước – có thể góp một phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng như chất lượng nghiên cứu khoa học lên một tầm ngang hàng các nước trong vùng và làm cơ sở để cạnh tranh với các nước khác.

Cần một chương trình nghiên cứu

Hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ, Âu châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có ích. Theo các mô hình này, một trung tâm nghiên cứu hay đại học bao gồm một số chương trình nghiên cứu (research program), và mỗi chương trình nghiên cứu gồm nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ (cũng có thể gọi là “đơn vị nghiên cứu”), mỗi nhóm chỉ khoảng 10 nhà khoa học, kể cả nghiên cứu sinh, tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn. Chẳng hạn như Viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc có khoảng 6 chương trình nghiên cứu, và mỗi chương trình có từ 3 đến 6 đơn vị nghiên cứu. Mỗi đơn vị nghiên cứu được sự lãnh đạo bởi một nhà khoa học thường là cấp giảng viên đại học trở lên. Tất cả các quản lí tài chính và nhân sự đều do người lãnh đạo đơn vị nghiên cứu phụ trách. Viện nghiên cứu chỉ phụ trách về cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, yểm trợ hành chính, máy tính, internet và phương tiện liên lạc.

Do đó, để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt kiều về nước làm việc là thiết lập các chương trình nghiên cứu (ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program”). Có thể gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP). Chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: (i) khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; (ii) đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”); (iii) xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ; (iv) khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và (v) khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của CCNC là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế.

Có thể giao việc quản lí chương trình này cho một bộ như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hay Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ cần lập ra một hội đồng cố vấn gồm các nhà khoa học trong và ngoài nước có uy tín và có công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế cố vấn về các vấn đề chuyên môn. Hàng năm, hội đồng cố vấn ra thông cáo tuyển dụng các chuyên gia (sẽ gọi chung là “fellow” theo cách gọi ở nước ngoài). Thông báo không chỉ gửi đến tất cả các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, mà còn công bố trên internet để các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có thể đệ đơn. Thông báo kèm theo tất cả các mẫu đơn, các tiêu chuẩn cụ thể cho từng hạng fellow, và qui trình cũng như thời gian xét duyệt. Tôi đề nghị nên có 3 hạng VFP: hạng một dành cho các giảng viên hay tương đương, cấp hai dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương, và cấp ba dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương (có thể xem tiêu chuẩn như sau).

Sau khi nhận đơn từ các ứng viên, hội đồng cố vấn sẽ gửi đơn cho 4 chuyên gia (trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để bình duyệt. Khi nhận được báo cáo bình duyệt của 4 chuyên gia trong ngành, hội đồng sẽ dựa vào 4 báo cáo này để loại bỏ những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Nếu ứng viên được bổ nhiệm VFP, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm cho nghiên cứu. Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu, hay sẽ do Bộ hay hội đồng cố vấn chỉ định. Cố nhiên, trong thời gian này, ứng viên có thể xin tài trợ nghiên cứu từ các nguồn nước ngoài, nhưng trong giai đoạn đầu Nhà nước cần phải tạo điều kiện tài chính cho họ ổn định.

Trở lại bài toán 1000 trí thức Việt kiều

Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước ngoài không muốn hợp tác, mà vì trong thực tế lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.

Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, Việt kiều vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt kiều và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt kiều vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Chúng ta không muốn mãi mãi là lao động hạng hai. Chúng ta không muốn thấy một viễn ảnh “chỉ gia công, để Việt Nam mãi là kẻ làm thuê”. Nhưng để thoát ra khỏi cái viễn ảnh đó, chúng ta cần phải đầu tư mạnh vào giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nếu kinh nghiệm từ các nước như Hàn Quốc và Đài Loan là một bài học lịch sử, chúng ta có thể suy đoán rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển như họ, và thậm chí có thể phát triển nhanh hơn với sự hợp tác của giới khoa học Việt kiều. Ở thời điểm này, có thể nói nhà nước và Việt kiều đã gặp nhau tại một giao điểm: ước nguyện làm cho Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định. Nhưng vấn đề còn lại là làm sao biến chính sách và ước nguyện thành hiện thực, tạo điều kiện cho Việt kiều tham gia vào công cuộc kĩ nghệ hóa đất nước. Chính sách và những lời nói hoa mĩ chưa đủ, mà cần phải có một cơ chế thông thoáng và cụ thể, một sự đổi mới về tư duy là nền tảng cho những bước đi cụ thể kế tiếp. Một khi đã có một chương trình cụ thể thì “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều” không cần phải đặt ra nữa.
NVT

Sunday, August 26, 2007

Ngô Phan Lưu

Có lẽ các bạn chưa nghe đến ông NPL này. Tôi thì nghe tiếng ông khi ông ấy chiếm giải nhất truyện ngắn báo Văn nghệ 2006-2007:
http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=93288&ChannelID=33
Lúc đó báo chí ai cũng gọi ông ấy là "lão nông", là "Hai Lúa", và tôi cũng nghe vậy. Nhưng bậy bạ hết sức! Ông ấy có phải là Hai Lúa đâu, mà là cựu sinh viên văn khoa trước 1975. Tôi thích cái văn chương nhẹ nhàng, hàm chứa chiều sâu trong suy nghĩ và phân tích sự việc & nhân vật. Những câu bình luận về cái ác và cái thiện rất gần với triết lí Phật.
Xin giới thiệu các bạn bài sau đây tôi lượm trên website Văn nghệ SCL.
NVT.

===

http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=624

NGÔ PHAN LƯU: CHỈ LÀ ĐÔI ĐIỀU
24.08.2007 23:23

Ngô Phan Lưu sinh năm 1946, lúc đang là sinh viên Triết - Đại học Văn khoa Sài Gòn thì bị động viên đi trừ bị Thủ Đức. Sau năm 1975 làm nông dân. Bắt đầu viết từ năm 1995, hiện sống ở Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Anh vừa đoạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tuần báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam. Dưới đây là đôi lời tự bạch của anh:

Làm văn chương như lao vào con đường quá nhiều khổ nhọc! Dấn thân vào con đường gian truân này tôi ít quan tâm chim kêu, hoa nở, gió mát, trăng thanh... Tôi dành chú tâm nhiều vào con người, đặc biệt tâm tính con người! Việc này, không quan tâm không được, bởi tôi là đồng loại. Nhiều người họ tệ lắm! Còn dưới mắt họ, tôi cũng tệ lắm! Tôi cố tỉnh táo, khách quan, tôi tôn trọng và thận trọng, tôi xem xét và suy tư... Văn chương đối với tôi là cuộc thám hiểm con người. Thám hiểm con người để biết con người, tìm thấy con người và chiến đấu con người!

Sa thân chốn chữ nghĩa, tôi thường tự hỏi nhiều câu nhấn chìm mình! Và, tôi cố vùng vẫy ngoi lên.

- Con người thương quý cái gì?

- Hẳn là con người thương quý cái thiện trong con người!

- Con người sợ hãi cái gì?

- Con người sợ hãi cái ác trong con người!

- Vậy... cái ác, nó sợ hãi cái gì?

Và, trong tôi luôn vỡ ra một điều chua xót:

- Cái ác chỉ sợ hãi cái ác hơn! Cái các không sợ cái thiện!

Tôi cực kỳ căm ghét cái ác, thế nhưng nhiều khi tôi bất lực trước kẻ ác, bởi tôi không làm ác được! Và cũng không có quyền làm ác! Trong văn chương lại cũng thế! Nhưng, dù ở sát bờ tuyệt vọng, tôi vẫn cố gắng xây dựng cái thiện đế làm đối trọng cái ác! Đời văn tôi quá ngắn và bé mọn, biết chắc cái thiện dù dày công hun đúc một đời cũng khó mà đánh bại một cái ác nhất thời nhởn nhơ! Nhưng trận chiến không khoan nhượng và lép vế này đã giúp tôi thanh thản làm người!

Mỗi khi đặt dấu chấm dứt một truyện ngắn tôi luôn cảm thấy mình cần phải viết lại! Bởi, cây bút tôi quá chật hẹp và bất cập trong biển đời mênh mông gào sóng!

Bàn viết tôi trông ra cửa sổ. Lãng đãng nơi khung chữ nhật gió lùa ấy, tôi thấy bóng quá khứ trôi qua nhiều buồn thương lẫn lộn. Nhưng nơi ấy, tôi buộc hiện tại phải đi qua bằng lòng tin không mất của tuổi già! Nơi ấy tôi thường ngồi lặng im, nghĩ nhiều hơn viết, nghe nước mắt phận mình không rơi ra ngoài được, vì những đồng cảm bao người dân quê chân lấm tay bùn. Tôi vẫn hài hước để đậy che chua xót, tôi cố bông đùa để lấp đi cay nghiệt, để tôi được sống mà nuôi khao khát... Tôi bây giờ không dám rời xa cái bàn viết bé nhỏ bề bộn bản thảo, tôi sợ mình không còn gì để vịn, những lúc cô đơn tràn ngập ngả lòng!

Sống cõi đời, có những lúc phải nín thở, nhói tim vì cái ác diễn ra sờ sờ như thách thức mình! Xem ra, có khá nhiều kẻ đã nỗ lực dùng trí tuệ quý nhất đời họ để phụng sự cái ác miệt mài!

Già, già rồi! Nghèo, nghèo rồi! Tôi bỏ cày, cầm bút, để chất cao thêm lo toan giữa bao lo toan chất đống! Có lẽ, tôi chưa biết cách già! Và cũng có lẽ, số phận đánh lừa tôi, để tôi trở thành số phận.

TP. Tuy Hòa, 1.8.2007