Thursday, September 27, 2007

Trộm nhìn nhau

Hôm cuối tuần tôi làm một cuộc “kiểm kho” những cuốn tape nhạc và CD cũ để cho chúng “về hưu” trong một hộp tủ, tôi để ý đến một bài nhạc rất xưa có tên là “Trộm nhìn nhau” của Trầm Tử Thiêng. Thật ra, bài này chắc cũng khó nói là “rất xưa” vì nếu tôi nhớ không lầm nó phổ biến trong thập niên 1970s gì đó, nhưng vì lâu quá không nghe nên tôi mới thấy nó xưa. Bài này do Hoàng Oanh trình bày. Có ai nhớ cô ca sĩ xứ Mỹ Tho này không? Tôi biết nhiều người vẫn thích Hoàng Oanh hát, nhưng tôi thì không phải và không bao giờ là fan của cô ấy. Tôi thấy cô ấy có giọng ca đặc biệt, nhưng không hay. Cô ấy nổi tiếng hay ngâm thơ, nhưng theo tôi thì cô ấy ngâm thơ rất … dở. Nhưng cô ấy thể hiện bài Trộm nhìn nhau rất ấn tượng.

Trầm Tử Thiêng có một cuộc đời khắc khổ. Ông ấy tên thật là Nguyễn Văn Lợi, quê quán Quảng Nam, không vợ con, sống cuộc đời nghèo khó ở Quận Cam, và qua đời năm 2000 (63 tuổi). TTT nguyên là lính và là người của tâm lí chiến. Cũng như Lam Phương (gốc tâm lí chiến), TTT thuộc vào típ người chống cộng, nhưng không cực đoan. Dù là người thuộc típ chống cộng, TTT là người yêu nước. Có thể cảm nhận lòng yêu nước của ông ấy qua lời nhạc của khoảng 200 bài nhạc ông ấy sáng tác, phần lớn viết về quê hương, thân phận, tình yêu, và thậm chí trẻ em.

Trở lại bài hát của Trầm Tử Thiêng, tôi không biết ông ấy sáng tác trong hoàn cảnh nào, nhưng nghe qua ca từ, tôi đoán ông ấy sáng tác vào thời chiến tranh. Có lẽ vì thế mới có những câu như “Cuộc đời là vách núi là tường mây / Quê hương nắng cháy đêm ngày / Mà anh chim vút cánh bay thăm thẳm đường dài / Không về thăm em”. Về mặt kĩ thuật, tôi thấy bài này chẳng có gì đặc biệt (cũng như bao nhiêu bài khác của TTT), nhưng ca từ có những đoạn mang ý nghĩa rất kỉ niệm. Có lẽ chính vì thế mà tôi thích bài này chăng?

Tôi chép bài đó ra đây để bạn nào thích thì nghe qua cho biết (hay để nhớ lại).

NVT



Trộm nhìn nhau




Sáng tác: Trầm Tử Thiêng



Đôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao

Em có còn đôi má đào như ngày nào

Kể từ khi vắng anh em như tấm vải lụa nhầu

Thương thâu đêm giấc mộng xanh xao

Anh có bề nào ai đón đưa em


Cuộc đời là vách chắn là rào thưa

Thương em tiếng hát sang mùa

Một mai mưa ướt áo em áo mỏng đường mòn

Dáng nhỏ thân quen



Đôi khi em trộm nhìn anh / Xem đôi tay rắn phong trần năm xưa

Anh có còn mê sông hồ qua từng ngày

Kể từ khi vắng anh em như tấm vải lụa nhầu

Đêm thâu đêm giấc ngủ xanh xao
Anh có bề nào ai đón ai đưa



Cuộc đời là vách núi là tường mây

Quê hương nắng cháy đêm ngày

Mà anh chim vút cánh bay thăm thẳm đường dài

Không về thăm em

Đôi khi trộm nhìn me

Soi gương trang điểm cho đời thêm tươi

Thương tiếc thời tô phấn hồng sang nhà người

Rồi mùa xuân cũng qua

Mang theo tuổi dại ngọc ngà


Đêm qua đêm tính trọn tương lai

Mơ thấy một ngày con níu chân cha

Cuộc đời là bể cả, là dòng sông,

Như con nước lớn nước ròng

Mà ta như chiếc là khô

Nước chảy về nguồn, lá đành trôi theo...

Friday, September 21, 2007

Một Việt kiều Pháp được nhận bằng khen của UBND tỉnh Kiên Giang

Một tin vui: một đồng hương ở Pháp đã có những giúp đỡ thiết thực cho Bv Kiên Giang (quê tôi). Đọc bản tin này tôi nghĩ chắc là đề nghị của Bv Kiên Giang quá (mà cụ thể là giám đốc PVĐ). :-)

Nói đến anh Đ, tôi có những ngày vui vẻ với anh ấy ở Queenstown (New Zealand) trong hội nghị loãng xương Úc & châu Á Thái Bình Dương. Queenstown là một thị trấn nhỏ, cảnh trí rất đẹp, là nơi lí tưởng để tổ chức hội nghị và … nghỉ mát. Anh Đ đến Queenstown ngày 8/9/07. Tôi thì phải công tác ở Pattaya (Thái Lan), và bay từ Bangkok sang Sydney, rồi từ Sydney bay sang Queenstown vào ngày 9/9/07. Dù rất mệt sau một chuyến đi xa, nhưng tôi rất vui gặp lại anh ấy ở Queenstown. Ui chao, nhìn thấy anh ấy trong bộ đồ lạnh từ đến đến chân tôi biết ngay anh ấy chưa quen với thời tiết lạnh cóng tại đây. Queenstown lúc đó đang ở 5 độ C vào buổi sáng và khoảng 15 độ vào buổi trưa. Lạnh lắm chứ. Sau đó, chúng tôi (cùng các bạn từ Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình) có buổi BBQ (nướng thịt theo kiểu Tây) ngay bên bờ hồ vào buổi tối. Dù rất lạnh, nhưng thật là vui.

Thế rồi, tôi lại gặp anh Đ ở phi trường Christchurch (New Zealand) trong khi anh ấy đang chờ chuyến bay đi Melbourne (Úc) để thăm con, còn tôi thì chờ chuyến bay đi về nhà ở Sydney. Thế là hai chúng tôi kiếm chỗ uống bia để đỡ buồn (chứ ở phi trường có chuyện gì để làm đâu!) Đâu phải uống bia tán dóc đâu. Chúng tôi bàn chuyện khoa học và đi đến quyết định soạn một đề cương nghiên cứu loãng xương và các bệnh mãn tính tại Kiên Giang. Tôi nhận lời làm và sẽ có bản đề cương nay mai.

Rồi cũng đến giờ làm thủ tục bay. Anh Đ gặp trục trặc giấy tờ visa, vì hệ thống computer của hãng hàng không Jet Star bị trouble. Cái máy computer quái đảng đó nó không cho Đ vào Úc dù anh ấy có visa! Ui chao, tôi đâu thể để anh ấy ở đây được. Tôi phải “xông pha” làm cho được, Tôi la làng lên là “tại chúng mày, chứ đâu phải bạn tao. Nè, mày thấy không, bạn tao có visa vào Úc đàng hoàng mà.” Cái tay check-in thấy tôi nóng tính, hắn nói “OK, OK, tao sẽ giải quyết cho bạn mày”. Tôi giải thích cho hắn biết là “Tao sắp lên máy bay trong vòng 10 phút, mà bạn tao còn ở đây thì ai giúp nó”. Lời qua tiếng lại thì anh Đ cũng check-in xong xuôi. Qua đến khu hải quan, anh ấy lại không may mắn là bị xét ngẫu nhiên (hai chúng tôi đi trước sau, nhưng vì ngẫu nhiên nên anh ấy bị chận lại để xét, dù tôi biết anh ấy có mang cái gì nguy hiểm đâu). Tôi nhìn đồng hồ, chỉ còn 3 phút nữa là cổng boarding đóng cửa, nên tôi quyết định “bỏ bạn” mà phải chạy (phải nói là “chạy”) vào phòng lên máy bay. Tôi quyết định như thế là vì biết rằng anh ấy chẳng có vấn đề gì đâu, mà tôi nếu trễ thì phải ngủ lại phi trường qua sáng hôm sau mới bay được. Hú hồn, tôi lên máy bay trễ 5 phút, với cái nhìn khó chịu của hành khách (chắc họ nghĩ “tại mày mà chúng tao phải đợi”). Tôi làm bộ không biết gì và vô tư vào ghế ngồi. Ngồi xuống rồi tôi mới “hối hận”, đáng lẽ phải ở lại xem bọn hải quan có làm khó dễ gi anh ấy không. Tôi lấy điện thoại để gọi, nhưng cô tiếp viên lịch sự nhắc nhở không được gọi điện thoại trong lúc máy bay sắp cất cánh. Trời ơi, sao có cái luật gì quái gở như thế này để tôi khổ tâm.

Hôm sau, về đến Sydney, tôi gọi cho con gái anh ấy ở Melbourne và biết là anh ấy đang … đi chơi. Thế là tôi yêm tâm. Thôi, hẹn anh Đ ở Kiên Giang vào cuối năm nay để nói chuyện tiếp.
NVT




http://www2.thanhnien.com.vn/Kieubao/2007/9/19/209371.tno

Một Việt kiều Pháp được nhận bằng khen của UBND tỉnh Kiên Giang
16:18:27, 19/09/2007


UBND tỉnh Kiên Giang vừa tặng bằng khen cho ông Thái Thanh Lưu - Việt kiều Pháp - về những đóng góp cho sự phát triển của tỉnh.

Ông Lưu là kỹ sư y học hạt nhân, hiện đang làm việc cho General Electric (Pháp). Luôn hướng về cội nguồn, ông Lưu đã có nhiều đóng góp cho quê hương, mới đây nhất là việc tài trợ trang thiết bị y tế trị giá trên 12 tỉ đồng cho Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang. Đây là một trong số rất nhiều bà con kiều bào quê Kiên Giang có những đóng góp cho quê hương trong thời gian qua.

Theo TTXVN


Ghi nhanh: khoa học và chính trị

Hội nghị quốc tế về loãng xương năm nay (2007) được tổ chức tại Honolulu, Hawaii. Hội nghị thu hút khoảng 4000 chuyên gia (bác sĩ, nhà khoa học), đại diện công ti dược, v.v… từ năm châu trên thế giới. Nói là “Năm châu”, nhưng trong thực tế, phần lớn các công trình nghiên cứu xuất phát từ Mĩ, Âu châu, Úc châu, và Á châu là chính. Ở Á châu, Nhật là nước chủ lực vơi nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao; còn Trung Quốc – kể cả Hồng Kông – chỉ là nước đứng bên lề các nghiên cứu mang tính công nghệ cao.

Nhóm của tôi gồm 5 người tham dự hội nghị, với 2 nghiên cứu sinh (Dana và Bích) chiếm giải thưởng “Young Investigator Award” (giải thưởng dành cho các nhà nghiên cứu trẻ), và đó là một vinh hạnh cho tôi cũng như cho cả nhóm. Mỗi năm, ban tổ chức chọn ra 50 nghiên cứu sinh và hậu tiến sĩ trong số trên 1000 báo cáo để trao giải thưởng này, và để được trao giải thưởng là một vinh dự cho nghiên cứu sinh, đóng góp một phần quan trọng trong lí lịch khoa học của mình. Tôi rất vinh hạnh vì hầu như tất cả các nghiên cứu sinh của tôi đều chiếm giải thưởng trong nghiên cứu, và đã có 2 người chiếm giải Young Investigator Award này. Đó không phải là quảng cáo hay nói hay ho gì về mình, mà chỉ là một quan sát. :-)

Có nhiều điều để nói trong hội nghị lần này, nhưng có một chuyện tôi phải ghi nhanh ở đây để nhớ, chứ không thì quên mất sau hội nghị (tôi đang ở Hawaii và phải ghi nhanh mấy dòng chữ này). Đó là trường hợp hai báo cáo bị “withdrawn” (rút lại) vì lí do (tiếc thay) chính trị.

Mỗi lần đi dự hội nghị là mỗi lần học hỏi từ đồng nghiệp, qua việc đọc và trao đổi với họ. Như tôi nói, có hàng ngàn báo cáo từ nghiên cứu cơ bản, di truyền, công nghệ sinh học, đến lâm sàng và dịch tễ học. Tôi chỉ quan tâm nhiều đến nghiên cứu lâm sàng và di truyền học. Tôi lang thang từng báo cáo và để ý thấy có hai báo cáo đề chữ “withdrawn”. Quái! Người ta phải nộp tiền đăng kí cả 200 USD để đi dự hội nghị và trình bày báo cáo mà lại có người lấy tiền bỏ sông bỏ biển như thế. Tại sao? Tôi tò mò tìm hiểu qua số báo cáo thì thấy đây là hai báo cáo từ Anh và tác giả “sếp” là Jonahan Reid. Ủa, Jonahan là bạn của tôi mà! (Nói là bạn, nhưng ông ấy lớn hơn tôi đến 12 tuổi). Thế là tôi tìm Jonahan hỏi cho ra sự tình ...

Ông ấy cho tôi biết rằng tác giả là người Iran, nghiên cứu sinh tiến sĩ của ổng. Tên anh nghiên cứu sinh này là M. Báo cáo của anh ta được ban tổ chức chấp nhận cho trình bày trong hội nghị, nhưng khi anh ta đi xin visa để vào Mĩ thì bị Tòa đại sứ Mĩ ở London từ chối. Lí do đơn giản là anh ấy mang quốc tịch Iran. Ôi, khoa học là một hoạt động quốc tế, nhưng chính trị thì vẫn còn biên giới. Tôi cảm thấy tiếc cho anh chàng M này. Còn Jonathan thì rất giận về sự việc. Ngày hôm sau, ông ta viết ngay trên bản poster rằng “The author is an Iranian who gave a wonderful presentation in London” (tác giả là một người Iran và đã trình bày bài nghiên cứu tuyệt vời ở Luân Đôn).

Câu chuyện này làm tôi nhớ đến một học trò cũ của tôi: cô AB. Cô AB đã tốt nghiệp tiến sĩ và đã về Iran, nay là giáo sư dịch tễ học ở Đại học Tehran. Tôi còn nhớ ngày AB được chấp nhận cho vào Mĩ để báo cáo nghiên cứu, cô ấy phải trải qua một cuộc phỏng vấn đầy tính khiêu khích và humiliation từ các nhân viên đại sứ quán Mĩ ở Úc và ở phi trường Los Angeles. Cô ấy phải về ngay Úc sau khi hội nghị kết thúc, chứ không được phép ở lại Mĩ dù chỉ để đi tham quan! Với những cách hành xử như thế, có lẽ không ai ngạc nhiên khi thấy thế giới nhìn Mĩ với nhiều nghi ngại.

NVT

Thursday, September 13, 2007

Bưởi không gây ung thư - phản hồi

Hôm nay, trước khi đi "phó hội", tôi muốn chia sẻ với các bạn một bài phản hồi của một bạn đọc về bài viết "Bưởi không gây ung thư" của tôi. Bài này đã được đăng trên Tuổi Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, và ykhoanet.com. Viết ra mà có người quan tâm đọc là tôi vui rồi. Viết ra mà giúp được bà con vùng quê đồng bằng sông Cửu Long tôi còn hạnh phúc hơn nữa.

Tôi rất bực mình một thời về mấy bản tin SARS và "dịch cúm gà" làm điêu đứng bà con nông dân một thời. Tất cả chỉ vì hiều sai thông tin khoa học và một số thì thiếu khả năng phân tích nghiên cứu khoa học nên mới hiểu sai. Hiểu sai làm khổ bà con. Trí thức mà sai thì hệ quả ghê gớm. Hi vọng lần sau mấy ông bà phóng viên, trước khi chấp bút, nên nghĩ đến đời sống cực khổ của bà con vùng quê. Chữ nghĩa quan trọng lắm, chứ không phải chuyện đùa.

Sau vụ này, báo TT có liên hệ chúng tôi đề nghị hợp tác tổng kết thông tin y khoa cho họ. Ôi, hoan nghênh quá đi chứ! Báo chí biết hỏi chuyên gia như vậy là tiến bộ quá rồi.

NVT


http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu//1232/index.aspx

Hậu quả từ việc dịch báo Tây


10/09/2007 08:16 (GMT + 7)


"Để trụ vững trong một thế giới đa cực, luôn đầy rẫy những thông tin đa chiều, chúng ta không chỉ cần nương tựa vào sự thẩm định kỹ lưỡng của các nhà chuyên môn, mà còn cần tự tin vững vàng nơi lương tri bản thân mình - bạn đọc Phan Công Tuấn.

Thông tin mà một số báo chí Việt Nam đăng về chuyện ăn bưởi gây ung thư đã được dịch từ BBC News và báo Daily Mail (Anh) ngày 16/7, vốn có xuất xứ từ một nghiên cứu đăng trên tập san Ung thư của Anh (British Journal of Cancer) ngày 10/7/2007. Theo các bài báo đó, một số nhà khoa học ở hai trường đại học Nam California và Hawaii (Mỹ) đã khảo sát trên gần 50.000 phụ nữ tuổi mãn kinh và nhận thấy, những phụ nữ ăn từ 1/4 trái bưởi trở lên mỗi ngày sẽ tăng 30% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.


GS.Nguyễn Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Đại học New South Wales, Sydney, Úc) phân tích: Kết quả này một phần do “báo chí Tây phương hiểu không đúng dữ liệu khoa học mới gây nên nhầm lẫn nghiêm trọng”, nhưng chủ yếu do “nghiên cứu này có nhiều vấn đề về phương pháp có thể làm cho kết quả rất khó diễn dịch”, vì vậy “kết quả của công trình nghiên cứu này không có giá trị khoa học cao, và cũng không đáng tin cậy”. “Bởi vì đây là một công trình khoa học theo mô hình nghiên cứu quan sát (observational study) chứ không phải nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial), cho nên kết quả chỉ có giá trị khoa học trung bình và chỉ gợi ý, chứ không thể nói bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú”.

Phần kết bài viết, GS còn nói thêm rằng một nghiên cứu khác do các nhà khoa học thuộc Đại học Chicago (công bố chỉ 1 tuần sau nghiên cứu của Đại học Nam California) cho thấy bưởi có tác dụng phòng chống ung thư. Từ đó tác giả nhắc lại và nhấn mạnh một lần nữa: bưởi không gây ung thư vú. Ngược lại, nếu ăn bưởi điều độ và tránh can thiệp với thuốc, bưởi có lợi cho sức khỏe (bạn đọc có thể xem thêm toàn văn bài viết của GS. Nguyễn Văn Tuấn đăng trên ykhoa.net).
Ngoài ra, một một số nhà khoa học ở Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu và đưa ra kết luận: ăn bưởi Việt Nam (tiếng Anh gọi là POMELO, tên khoa học Citrus maxima) không bị ung thư. Loại bưởi mà báo chí nước ngoài đưa tin gây ung thư là bưởi chùm (tên tiếng Anh là GRAPEFRUIT tên khoa học là Citrus Paradisi) chỉ có ở Mỹ, Brazin, Mexico…
Người dẫn lại các thông tin trên đây rất tán thành ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Tuấn cho rằng “giới báo chí và phóng viên trong nước hoàn toàn là nạn nhân của những bản tin báo chí Tây phương mà họ dịch và đăng chứ không phải là thủ phạm trong việc này”. Đây là một “tai nạn nghề nghiệp” đáng để những người làm báo rút ra bài học nhớ đời. Trong xã hội bùng nổ thông tin ngày nay, điều quan trọng chúng ta cần nâng cao được kiến thức và trí xét đoán tinh nhạy của những người tiếp nhận thông tin, không chỉ cho các phóng viên, biên tập viên, mà cho đến từng bạn đọc các báo. Để trụ vững trong một thế giới đa cực, luôn đầy rẫy những thông tin đa chiều, chúng ta không chỉ cần nương tựa vào sự thẩm định kỹ lưỡng của các nhà chuyên môn, mà còn cần tự tin vững vàng nơi lương tri bản thân mình.

Từ sự vụ đăng tin thiếu chính xác này, tôi chợt nhớ lại một lời dạy của Đức Phật cách đây 2.600 năm : “Này các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói đến luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó do một bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những điều không hợp với lý trí, những điều bị các bậc hiền nhân chê trách, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận.”

Lời dạy vốn được xem là tuyên ngôn đầu tiên về tự do tư tưởng của loài người, nếu được ghi xương khắc tủy cho mỗi cá nhân, thì chắc chắn sẽ hạn chế được tác hại của các tin đồn thất thiệt gây nên trong xã hội, mà vụ việc “bưởi gây ung thư” chỉ là một trong rất nhiều ví dụ.

Phan Công Tuấn (Tạp chí Cây Thuốc Quý - Hội Dược Liệu Việt Nam)


Monday, September 3, 2007

Sống Thời đại và Tinh thần Đức Phật

Nhân dịp mùa lễ Vu Lan, xin chia sẻ cùng các bạn một bài viết của tác giả Bùi Mộng Hùng bên Pháp. Tác giả là một giáo sư đại học, nhà nghiên cứu y học, và hơn hết còn là một học giả thứ thiệt, có nhiều ý kiến về nhiều vấn đề thật sâu sắc và có suy nghĩ nhiều. Nhưng rất tiếc anh đã qua đời cách đây 8 năm (1999) thọ 67 tuổi. Tôi tìm trên mạng (trang web Diễn Đàn Paris) và thấy một số bài viết của anh; trong đó có bài viết này rất hay. Xin post lại đây để các bạn đọc và suy nghĩ về những ý kiến của anh mà tôi cho là vẫn còn thích hợp và mang tính thời sự ngày nay.
NVT

===

Source: http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-049/song-thoi-dai/ )

Sống Thời đại và Tinh thần Đức Phật

Nam nhi tự hữu xung thiên khí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

(Làm trai chí khí xông trời thẳm
Thôi đi, bỏ lối học đòi Như Lai)
Thiền sư Việt Nam Quảng Nghiêm (1121-1190)


Bài này có một bản viết vào tháng 9.95 cho hội thảo “ Phật giáo và thời đại ”. Khi đưa bản ấy cho anh bạn PHĐ xem, anh ta suy nghĩ khá lâu rồi phê rằng cái ý chính là tính “ động ” mà cách nói lại bó rọ trong ngôn từ xưa nay vẫn dùng để biểu đạt cái “ tĩnh ” tiềm tàng trong các khái niệm thông tục. Xác đáng quá ! Chỉ còn biết chắp tay cúi đầu gõ máy viết lại. Tuy nhiên từ ý thức tới thể hiện là cả cái khoảng cách từ nâng ly đến kề môi vào rượu... Rượu có nhắp được hay chăng xin bạn đọc lượng xét. (bmh)

Chính vào những giai đoạn xáo trộn biến động như hiện nay, con người phân vân trước cuộc sống bao nhiêu thì nhu cầu xét lại gốc rễ nguồn căn làm cơ sở cho hành vi ứng xử của mình, của xã hội lại càng bức thiết bấy nhiêu. Phật giáo là một trong số không nhiều lắm truyền thống đã làm gốc làm rễ văn hoá cho nảy nở nhiều nền văn minh của một bộ phận rộng lớn nhân loại. Trong chính lúc dân tộc Việt Nam ta bước vào một giai đoạn quyết định cho vận mạng của mình, xét lại một yếu tố căn bản của truyền thống dân tộc như Phật giáo trước thách thức của thời đại là một việc không tránh né được.

Bài này (I) phác hoạ nét trội của cuộc khủng hoảng văn hoá thời đại, (II) xét vài điểm đặc trưng của giáo lý nhà Phật đặc biệt thích nghi với xu hướng đòi hỏi của thời đại. Và cuối cùng (III) nêu lên vài điều căn bản để cho Phật giáo khai triển trí tuệ và tri thức tích lũy suốt hai nghìn năm, góp phần vào công cuộc xây dựng một nền văn hoá cho hiện đại.

I. Thời đại con người trơ vơ thân phận làm người

Các hệ tri thức, xưa nay vững tin rằng mình nắm chân lý, truyền bá niềm tin của mình tự bao đời. Và cũng tự bao đời đã là những ngọn đuốc soi đường cho con người hết thế hệ này đến thế hệ khác trông theo mà an tâm sống với mình, với người, với thiên nhiên. Những niềm tin ấy bấy lâu nay tưởng đâu là chân lý vĩnh hằng, đến khi vấp vào hiện đại bỗng nhiên lung lay đến tận gốc rễ, nếu không là hoàn toàn sụp đổ.

Khởi điểm không phải mới gần đây. Những dấu hiệu đầu tiên xuất hiện từ thời Phục hưng, thế kỷ thứ XV, XVI, đưa dần tới sự hình thành của khoa học, của tư duy ngày nay.

Có người cho rằng là phát minh này hay phát minh nọ làm cho khoa học mâu thuẫn với các hệ tôn giáo, với tư tưởng cổ truyền. Không hẳn như vậy. Vì lẽ rằng không một phát minh khoa học nào có khả năng giải đáp các câu hỏi căn bản của tôn giáo nêu lên, mà ngược lại tín ngưỡng có thể tiếp thu chẳng mấy gì khó khăn bất cứ phát minh khoa học nào vào trong hệ tư tưởng của mình.

Sự xung khắc cơ bản thật ra nằm trong tinh thần nghi ngờ có hệ thống, không tin theo một thuyết nào nếu nó chưa trải qua thẩm định của thực nghiệm. Theo tinh thần thực nghiệm này thì không có giáo lý nào, hệ tư tưởng nào nắm chân lý vĩnh hằng. Chúng chỉ có giá trị của những giả thuyết, nghĩa là giá trị còn khi chúng còn vận hành còn biểu thị được các hiện tượng, các dữ kiện theo tiến trình mà giả thuyết đề ra. Gặp trường hợp ngược lại, một khi đã không phù hợp nổi với dữ kiện được quan sát nghiêm túc và có phương pháp thì chính giả thuyết phải tự đặt lại vấn đề và chuyển đổi sao cho phù hợp được với dữ kiện.

Quan điểm đổi thay vì suốt nhiều thế kỷ vừa qua, các xã hội loài người không ngừng chuyển biến mạnh. Đến gốc rễ. Đảo lộn cả nhận thức. Các vấn đề thời đại không ngớt nổi lên, cật vấn tri thức con người. Riêng một cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ 19 cũng đã đủ thay đổi hoàn toàn bộ mặt hoàn cầu. Truyền thống bao lâu tin rằng chính là tri thức, đạo lý soi sáng và điều khiển hoạt động của con người. Nhưng hiện thực đã chẳng giản đơn một chiều theo lối nhìn đó, vì thế mà làm lung lay cơ sở các niềm tin truyền thống : Tư duy và đạo lý hướng dẫn hoạt động của con người thật, nhưng ngược lại hoạt động sản xuất chính là một nhân tố quy định tư duy, đạo lý trong xã hội loài người.

Từ địa vị đứng trên cao siêu mà hướng dẫn, đạo lý rơi xuống ngang tầm với con người, giữa xã hội. Các giá trị “ chân ”, “ thiện ”, “ mỹ ” không còn được quy định do uy tín của một Chân lý bên ngoài, một cá nhân vĩ đại nào, mà thực ra là bởi xã hội, như một tổng thể trong vận động không ngừng chuyển biến của nó.
Dù muốn dù không, con người buộc phải tìm quy tắc hướng dẫn đời sống của mình không đâu ngoài cộng đồng con người, ngoài xã hội.

Trong chiều hướng đó, nhà tư tưởng lớn thế kỷ thứ 19 Hegel quay lại nhìn lịch sử như một giòng tiến hoá. Ý nghĩa của sự tiến triển, của vận động lịch sử chỉ sẽ biểu lộ tại nơi điểm tận cùng của lịch sử.

Marx tiếp nối theo, tin rằng đấu tranh giai cấp là động cơ của giòng lịch sử ấy và cho đó là một phát hiện căn bản của mình tìm ra. Con người làm ra lịch sử, và có khả năng gia tốc lịch sử bằng cách tác động theo chiều hướng của động cơ. Cách nhìn của Marx là một yếu tố gây niềm hy vọng lớn cho một phần nhân loại : lịch sử có ý nghĩa và sẽ tất nhiên đi đến điểm tận cùng của nó. Hành động trong hướng đi của lịch sử là hành động vô cùng ý nghĩa của những con người ý thức được sự thật lịch sử.

Rồi, trong vòng mấy thập kỷ của thế kỷ hai mươi này, con người bừng mắt phát hiện ra rằng những tiến trình do chính mình phát động có tác động gần như không giới hạn vào thế giới thiên nhiên, vào thế giới con người : Làm chủ được nguyên tử lực, con người có thừa năng lực làm nổ tung quả địa cầu. Đồng thời khi nhận ra chân diện mạo của các chế độ toàn trị kiểu nazi, loài người kinh sợ mà ý thức rằng dù cho tiền đề có giả tạo dối trá vô nhân đến đâu đi nữa, khi mà có những thế lực quyết tâm áp đặt các tiền đề đó thì khả năng thể hiện ý đồ thành công là có thực. Miễn là cái thế lực ấy biết chủ trương hành động có hệ thống một cách liên tục. Thế kỷ hai mươi này đã được chứng kiến các tiến trình đi vào hiện thực của những mẫu xã hội toàn trị nazi và những mô hình ít nhiều toàn trị khác.

Uy lực tác động của con người vào thế giới loài người, vào thế giới thiên nhiên chưa bao giờ đạt mức độ khủng khiếp như hiện nay.

Trong khi đó, khoa học càng hiểu thiên nhiên thêm sâu sắc bao nhiêu thì con người lại càng ý thức rõ rệt rằng giải đáp khoa học chỉ là đáp từ cho những câu hỏi của chính mình đặt ra và những giải đáp đó lệ thuộc vào cách đặt câu hỏi. Đi tìm hiểu thiên nhiên – không phải là mình mà cũng chẳng phải do mình tạo ra – rốt cuộc con người gặp lại những cấu trúc, những mô hình do mình tạo nên, nghĩa là gặp lại chính mình. Và cũng bắt đầu nhận ra rằng không thể giáo điều tin vào tính tất định của khoa học mà không xét kỹ độ chính xác trong mỗi trường hợp cá biệt. Khoa dự đoán khí tượng đã nghiêm túc chứng minh rằng bướm vỗ cánh ở Bắc Kinh hôm nay có thể gây giông tố tại Nữu Ước tháng sau. Các sự kiện gần đây lại càng cho thấm thía tính tất định lịch sử thật ra chẳng nghiêm ngặt gì hơn chuyện nắng mưa.

Tất định lịch sử không còn, tự do của cá nhân bỗng nới rộng ra thêm. Mỗi người có thể tự nhủ rằng cánh bướm mình vỗ lên có khả năng lái lịch sử chệch qua hướng khác. Nhưng khi ấy chợt nổi lên, không giải đáp, câu hỏi ý nghĩa hướng đi lịch sử là gì ?

Dù muốn dù không, một lúc nào đó trong đời sống, con người thời đại cũng bị thực tại xô đẩy, buộc quay về đối diện với thân phận làm người của mình. Và lúc ấy rùng mình nhận ra rằng, về căn bản, cung cách ứng xử của mình chẳng mấy khác người thời trung cổ. Bạo tàn man rợ khác nào khi xưa.

Chỉ có điều khác là con người thời đại nắm trong tay những phương tiện sinh sát sánh tày Thượng đế. Đem các phương tiện ấy ra xử dụng lại có phương pháp tổ chức theo kiểu đại công nghiệp – máy móc lạnh lùng – nhưng hữu hiệu biết là chừng nào.

Trong khắc khoải tự vấn trước mênh mang cuộc sống, con người thời đại thấy mình nhỏ bé, chẳng khác gì con người trung cổ. Nhưng, quay đi quay lại chỉ mình với mình. Không nơi nương tựa, thiếu ngọn đuốc soi đường mà người trung cổ sẵn có, chỉ việc tuân theo.

II. Con đường Như Lai

1. Một giáo lý nhân bản, một quan điểm “ động ” trong nhận định
Đối tượng của lời Phật dạy không ai khác là con người, trần trụi với thân phận làm người. Câu hỏi trung tâm của giáo lý nhà Phật là một vấn nạn thẳng thừng không chút nhân nhượng : “ Con người kia ! anh là gì ? ”

Con người không khỏi cũng có lúc trầm ngâm trước giòng sông, nước luân lưu chảy để ngậm ngùi rằng ta đứng đấy mà mọi việc trước mắt biến chuyển không ngừng. Điều mà ai ai cũng nhận ra dễ dàng. Nhưng thường không suy xét xa hơn, và, nếu có thì cũng ngừng ở nhận định : ta nhìn, ta tư duy vậy ta hiện hữu (je pense, donc je suis).

Cách nhìn theo đức Phật không phủ định tính hiện hữu của “ cái ta ”, trong phút giây quan sát giòng sông. Chỉ nhắc nhở rằng, nếu không ngừng nước chảy qua cầu thì nào có khác chi giòng nước, người đứng trên cầu ngắm giòng sông cũng bao ý niệm nổi lên, trôi đi, dư âm vang vọng, tâm tư không ngừng chuyển đổi...
Nhà Phật quan niệm giòng sông, người đứng ngắm là những nhân tố ứng tác qua lại với nhau trong một quan hệ động. Một tiến trình trong đó các ứng tác không ngừng miên man chuyển biến. Thuật ngữ nhà Phật gọi đó là “ vô ngã ”, “ vạn pháp vô ngã ” mọi sự việc đều vô ngã. Và dùng thuật ngữ “ không ” để chỉ bản tính không ngừng biến chuyển của sự vật, “ vạn pháp giai không ”. Đem cái nghĩa thông thường của từ “ không ” gán cho thuật ngữ đồng âm làm sai lạc ý nghĩa quan điểm nhà Phật. Hiện thực luôn luôn biến động, nhưng nào phải vì vậy mà hư không !

Cảm nhận trung thực từng giây từng phút tiến trình của các quan hệ không ngừng chuyển đổi, tiếp theo đó mà liên tục đáp ứng, hồn nhiên và hài hoà, không bị lăng kính ảo tưởng làm cho méo mó lệch lạc, đó là một đặc tính của Phật. Và vì thế Phật còn có danh hiệu là Như Lai.

Tiến trình chuyển biến của sự việc, Phật giáo quan niệm là không do ngẫu nhiên. Nó có nguyên nhân và điều kiện. Nguyên nhân như là hạt giống, nảy nở ra được hay bị thui chột đi còn tuỳ ảnh hưởng điều biến của những điều kiện kèm theo. Thuật ngữ gọi đó là “ nhân duyên ”.

2. Một giáo lý cho hành động, nơi đây và ngay bây giờ

Là một nhân tố ứng tác có ý thức, con người trong giây phút hiện thực là một điểm động cuốn theo giòng thác tiến trình mà khởi điểm bắt đầu khi nào chẳng rõ, bao giờ tới điểm tận cùng cũng chẳng hay. Lặn hụp trong giòng đời, dù cho thu mình với thái độ thụ động hay tích cực xông xáo, con người bề gì cũng ý thức tiếp thu ảnh hưởng cùng tác động vào tiến trình cuộc sống, nghĩa là hành động, là gieo nhân, tạo nên duyên.

Nói cho đúng, ý thức của con người có ban cho hắn được chút phần tự do. Trong chọn lựa hành động và khởi điểm của nó. Nhưng trong một tiến trình, khi đã phát động rồi, hành động tác động vào môi trường như thế nào, phản hồi lại ra sao phần lớn vượt ngoài ý chí của con người cá nhân. Con người ấy, trong giây phút hiện thực là một điểm động, là hệ quả của hành động bản thân, của tác động môi trường bao quanh, của các thế hệ sinh trước. Ngược lại, với hành động do mình khởi xướng, cá nhân ấy cũng tác động vào thế giới này, vào thế hệ mai sau...

Thuật ngữ “ nghiệp ” của nhà Phật dùng để chỉ tác động và hệ quả của hành động có ý thức của con người. Con người cá nhân tạo ra “ biệt nghiệp ” riêng của chính mình, nhưng cũng tác động vào và chịu ảnh hưởng “ cộng nghiệp ” chung của cả xã hội của loài người. Khái niệm “ nghiệp ” đặt vai trò và vị trí của mỗi cá nhân trong vũ trụ, trong giòng tiến hoá của sinh vật, trong nhân loại hôm qua, ngày nay và mai sau. Qua hành động – mà không ai tránh né được – cái “ nghiệp ” ràng buộc theo quy luật nhân duyên mỗi cá nhân với toàn thể loài người, toàn thể sinh vật. Từ mối liên đới đó, hệ giáo lý Bắc tông khai triển ra khái niệm “ bồ tát nguyện ”. Còn sinh vật trôi nổi trong vòng khổ đau thì bồ tát còn nguyện theo nâng đỡ. Vì nghĩ cho cùng, liên đới nhân duyên ràng buộc với nhau, làm sao có thể quan niệm một mình một chốn niết bàn thảnh thơi được.

Con người là ứng tác có ý thức trong tiến trình không ngừng chuyển biến, hành động của hắn nếu mà liên tục hài hoà được với cuộc sống chỉ có thể là hành động thích ứng nơi đây và ngay bây giờ, nghĩa là một sáng tạo không ngừng
Chính vì vậy mà giáo lý Phật giáo không thể không là lý thuyết, phương pháp, kỹ thuật cho hành động trong hướng đó.

Chính căn cứ vào hành động, vào “ nghiệp ” mà đạo Phật đưa con người từ tối tăm trật vuột nắm bắt ảo ảnh – thuật ngữ gọi là “ vô minh ” – đến trí tuệ hoà hợp hồn nhiên con người vào tiến trình cuộc sống, vào vũ trụ. Chính vì vậy mà cho rằng đạo Phật yếm thế, trốn đời là lầm to.

3. Một con đường giải phóng trí tuệ soi sáng hành động

Chính vì có ý thức mà con người khó hồn nhiên ứng tác hoà hợp theo nhịp biến đổi của tiến trình cuộc sống. Lúc thì phản ứng bất cập, khi thì lại thái quá. Hoặc bo bo ôm cái khối kinh nghiệm quá khứ quên mất rằng bản chất hiện tại là một trạng thái mới lạ, vì vậy mà hành động trong hiện tại luôn luôn là một sáng tạo. Hoặc không muốn nhìn vào hiện tại, quay hết tâm trí phóng vào một cái chưa có mà mình gọi là tương lai, để rồi dập mặt dập mũi vào cái hiện tại không sao tránh né được. Nhà thơ than :

Yêu là chết trong lòng một ít
Cho thì nhiều nhưng chẳng nhận bao nhiêu...

Yêu nhau thắm thiết, niềm vui lớn. Nhưng chính vì yêu mà kẻ cho, người nhận, cả hai người yêu nhau không bao giờ được hoàn toàn vừa lòng. Nhà Phật không phủ nhận những niềm vui trong cuộc sống, chỉ nhắc nhở rằng bên cái vui, quan hệ trong tiến trình cuộc sống, các ứng tác có ý thức luôn luôn vấp vào những điều làm cho họ chẳng bao giờ được hoàn toàn mãn nguyện. Thuật ngữ nhà Phật gọi những khổ đau, những tiềm lực làm cho con người bất mãn trong cuộc sống là “ khổ ”. Đó chỉ là một nhận định duy thực.

Nhận định thế, để khẳng định ngay rằng có con đường vượt “ khổ ”, đem lại an lành. Con đường bỏ rơi ảo tưởng, hài hoà quan hệ ứng tác của con người trong tiến trình không ngừng biến động của cuộc sống. Đó là “ đạo ” mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã bản thân thể nghiệm. Và khẳng định rằng đã là người, thì không phân biệt trai gái, sang hèn, màu da sắc tộc, bất cứ ai ai cũng đều tiềm tàng đầy đủ khả năng của đức Phật, con người đã rốt ráo thể hiện “ đạo ” ấy.
Phật chỉ nhắn nhủ mỗi người chúng ta chính mình thể nghiệm. Không một ai có thể làm thay mình được, đức Phật cũng chỉ là người chỉ đường.

Mỗi cá nhân là một trường hợp duy nhất, con đường cũng phải thích nghi với tính duy nhất của mỗi người. Nhà Phật hằng hà phương tiện.

Nguyên tắc chung, chúng ta gặp ngay trong câu phật tử thường chúc nhau được “ thân tâm an lạc ”. Phương pháp nhà Phật chú trọng cả thể xác lẫn tâm thần, đến tác động qua lại vòng tròn của chúng. Thân an lặng thì lòng cũng yên, tâm yên tĩnh thì thân thêm thư dãn thoải mái. Cứ thế mà thân tâm liên tục ảnh hưởng lẫn nhau đưa đến trạng thái tĩnh lặng, thuận lợi để quán xét, ý thức tinh tường những gì đang sảy ra trong mình, xung quanh mình. Chính sự ý thức rõ rệt những gò bó trong thân xác, những thể thức dục vọng nổi lên rồi tan đi trong thâm tâm là cơ sở để chủ động thư dãn toàn thân, để cho dục vọng không bị đè nén mà nhạt thưa dần. Lửa lụi tàn vì củi không còn. Cứ như thế mà các nhân tố tạo thiên kiến, thành kiến rơi rụng. Mâu thuẫn tan dần, tự do nội tâm phát triển. Thân và tâm ung dung tự tại sẵn sàng tập trung vào hiện tượng bên trong, bên ngoài, để tiếp nhận và phản ứng hồn nhiên, thích nghi, không lệch lạc.

Khi ảo tưởng hoàn toàn rơi rụng hết, sự thích ứng lúc ấy hài hoà với tiến trình cuộc sống. Một trạng thái siêu việt các cặp đối lập ta – người, chủ – khách, tri thức – hành động, thiện – ác, luân hồi – niết bàn... thời gian trong đó là hiện tại, vĩnh hằng.

Đó là ý nghĩa lời Long Thọ bồ tát (150? - 250?) khẳng định “ Niết bàn là luân hồi, luân hồi là niết bàn ” (Nagarjuna, Madhyamika - Karika, XXV, 19). Đó là lý do nhà Nho thấm nhuần tinh thần Thiền tông Vương Dương Minh (1472 - 1529) xướng thuyết “ tri hành hợp nhất ”.

Chỉ có bậc hoàn toàn giác ngộ mới hợp nhất được tri và hành, siêu việt được đối lập biết và làm. Nhưng, cuộc sống luôn luôn đặt chúng ta trước một chọn lựa để hành động. Thế nào cho phải, đó là vấn đề. Giáo lý nhà Phật đề nghị các phương thức giúp cho mỗi người chúng ta sáng suốt nhận thức và hành động. Mấy câu kinh Pháp Cú rất nhiều người thuộc nằm lòng nhắc nhở điều ấy :

Chư ác mạc tác
Chư thiện phụng hành
Thanh tịnh kỳ ý
Thị chư Phật ngôn
(Không làm điều ác,
Làm mọi việc lành,
Thanh tịnh tâm ý,
Ấy lời chư Phật)

Phân biệt phải, quấy, đạo Phật không đặt nơi một uy quyền ngoài con người. Lúc chọn lựa hành động bao giờ chẳng chỉ có mình với mình. Cái “ lương tri ” do tâm ý thanh tịnh trong sáng là bảo đảm duy nhất cho tính đúng đắn của chọn lựa ấy. Tất cả giáo lý nhà Phật, lý thuyết, và thực hành chỉ nhằm sao cho tâm ý người hành đạo tĩnh lặng trong sáng trong sóng gió bão lửa của cuộc sống.

Con người thời đại đã đạt tri thức vô cùng cao xa, nhưng lương tri không tương xứng. Tạo một “ lương tri khác ” là tiềm năng quý báu mà giáo lý nhà Phật có khả năng góp vào công cuộc xây dựng nền văn hoá một thời đại khắc khoải đi tìm lương tri cho chính mình. Với vốn liếng Phật giáo tích lũy trên hai mươi thế kỷ tri thức lý thuyết và thực hành.

III. Chí khí ngất trời xanh

1. Xác định chức năng

Sức sống của một giáo lý tuỳ thuộc những người đang sống và thể hiện nó. Phật giáo phát huy được tiềm năng của minh khi nào những người đang sống lời Phật dạy xác định được chức năng xã hội của giáo lý mình thể hiện.

Trên căn bản giáo lý nhà Phật không có gì đối chọi với tinh thần khoa học. Nhưng Phật giáo không phải là khoa học. Chức năng khác, cách chứng thực cũng khác. Sự thực khoa học chứng qua thực nghiệm. Hoàn toàn khác từ tinh thần, lý thuyết, đến thực hiện với thể nghiệm “ đạo ”. Sự thực thể nghiệm là một sự thực chủ quan, bản chất khác với sự thực khoa học.

Khoa học thay đổi bộ mặt toàn cầu. Tuy nhiên, trong hiện trạng ngày nay khoa học không thể và cũng không có tham vọng đề nghị một cái nhìn tổng hợp toàn diện cuộc sống.

Giáo lý nhà Phật đề nghị một nhận thức tổng thể cuộc sống, là một triết học. Chính vì không phải là khoa học mà Phật giáo làm được cái việc ngoài chức năng của khoa học : đem lại ý nghĩa cho hoạt động thường ngày, cho cuộc sống mỗi con người.

Có triết lý của mình, nhưng khác với các hệ triết học nhà Phật còn một kho kinh nghiệm phong phú về phương thức, kỹ thuật sử dụng những động tác thân xác đơn giản, hô hấp, đi, đứng, ngồi, nằm... để thể hiện triết lý của mình trong thân xác, trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi người. Đề nghị một hành trình thể hiện chứ không chỉ duy nhất là một hệ tư tưởng thuần lý, một bộ phận giáo lý nhà Phật có những nét hấp dẫn đối với tinh thần thời đại.

Là một tôn giáo, có đầy đủ nghi lễ, nhưng người Phật tử không phải đặt lòng tin vào một uy lực cao siêu nào ngoài con người, ngoài bản thân mình.

Có biết mình, biết người, cộng đồng Phật tử mới bỏ rơi được mặc cảm tự ti và tự tôn, không hao tổn tâm thần năng lực vào những cuộc tranh biện sân si, xác định vị trí và chức năng của giáo lý nhà Phật so với khoa học, với các hệ triết học, các tôn giáo khác. Khi ấy mới an nhiên đem tinh thần Như Lai thể hiện ra trong nếp sống hàng ngày, trong muôn mặt của cuộc sống. Và góp phần vào công cuộc chuyển hoá nền văn hoá thời đại.

2. Sống thời đại

Muốn được vậy phải đau cái đau thời đại, khổ cái khổ thời đại, dằn vặt với các vấn đề thời đại. Tóm lại phải sống thời đại.

Truyền thống hai mươi lăm thế kỷ của đạo Phật là một ốc đảo để ẩn náu, an tâm cho những ai mệt mỏi, khiếp sợ trước các chấn động của một thời đại đang oằn oại chuyển tiếp. Cái nguy lớn của Phật giáo chính là đó : mặt quay về quá khứ, day lưng với thời đại, mãn nguyện với việc làm nơi ẩn náu cho những người trốn sống thời đại. Và chỉ có thế mà thôi, ngoài ra không còn chi khác.

Nay chính là lúc cần chí khí ngất trời xanh của những người đem đạo vào đời trong những thời điểm khác thường. Khi tinh thần Phật thấm nhuần vào Trung quốc, nở ra Thiền tông, các tổ như ngài Lâm Tế ( ? - 867 ?) nói đạo bằng câu chữ hàng ngày của người nông dân cho người thời đại bừng mắt nhận ra đâu là tinh thần Như Lai. Khi văn hoá đất Việt hưng lên với một dân tộc độc lập, đời Lý thiền sư Quảng Nghiêm (1121- 1190) nhắn nhủ “ Nam nhi tự hữu xung thiên khí , Hưu hướng Như Lai hành xứ hành ” (Làm trai chí khí xông trời thẳm, Thôi đi, bỏ lối học đòi Như Lai). Đời Trần, ta gặp thần thái thanh thoát ấy nơi Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (1230 - 1291), thầy của tổ sáng lập ra phái thiền Việt Nam Trúc Lâm, Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308). Trong một bữa tiệc của thái hậu mà cũng là em ruột thượng sĩ thiết đãi, Tuệ Trung gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi : “ Anh tu thiền mà ăn thịt thành Phật sao được ? ” Thượng sĩ cười đáp : “ Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh.”

Thời Phật, thời tổ, thời Lý - Trần đã qua, và không bao giờ trở lại, thời đại là của bây giờ. Tinh thần đức Phật chỉ có giá trị qua cọ sát với thực tại. Có lăn vào giải quyết những vấn đề cụ thể đang đặt ra cho con người, mới nảy ra cái nhìn “ như lai ” sự việc hôm nay. Mới bật ra lời lẽ đi vào con tim người đang mò mẫm tìm đường. Phải thông giáo lý nhà Phật, đã đành. Công trình xuất bản kinh tạng Pali dịch qua tiếng Việt của hoà thượng Minh Châu, dự án dịch và xuất bản hệ tam tạng sanskrit của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một bước tiến cho ai ai cũng có thể tiếp cận những tư liệu gốc một cách trực tiếp. Nhưng, có soi qua gương mặt người mới nhận rõ ra mặt mình, có đem tư tưởng nhiều ít sáo mòn của mình đọ với các luồng tư tưởng hiện hành mới sáng lên sức sống của tư tưởng Phật, nơi đây và ngay bây giờ.

Công cuộc ấy còn bỏ ngỏ.

Thời nào cũng phải thích nghi phương pháp tu dưỡng cho thời đại mình. Không biết tự bao giờ phật tử Việt Nam chào nhau bằng câu “ A Di Đà Phật ”. Chỉ biết chắc chắn rằng chẳng phải do ngẫu nhiên. Có gì khắc khoải cho con người bằng khi phải mặt đối mặt với thân phận làm người. Cái ý phải tin vào sức mình, không ai, kể cả đức Phật có thể làm thay cho được tiềm tàng trong lời Phật dạy. Nhưng cũng ý đó bắt con người phải đối diện với chính mình. Tịnh độ tông khéo léo tránh né điểm khó này bằng thuyết “ tha lực ”, nhờ sức của người khác, nhờ Phật A Di Đà dẫn vào đất an lành.

Phương tiện phần nào dễ dãi ấy có còn thích nghi với tinh thần nghi ngờ thành hệ thống của con người ngày nay hay chăng ? Dù muốn dù không, vấn đề phương cách “ hành đạo ” cho con người hiện đại cũng đặt ra.

Những phương tiện hay nhất thường tìm thấy không đâu ngoài đời sống hàng ngày, ngoài nghề nghiệp. Người võ sĩ Nhật samourai, kè kè lưỡi kiếm, theo nghề chém giết. Phật giáo nhập sâu vào văn hoá thì người samourai học và thể hiện Thiền không đâu ngoài đường kiếm. Khi đó người ấy đi vào giữa lằn đao, mưa đạn với cái an nhiên của kẻ siêu việt cái sống và cái chết, lưỡi kiếm uy lực như sấm sét.

Phương pháp hành đạo ngày nay là những gì ? Để cho con người tất bật của thời đại thể hiện được tinh thần Như Lai, hồn nhiên mà thích nghi vào tiến trình cuộc sống ?

Những tầm nhìn thanh thoát về các vấn đề thời đại đang đặt ra, một nghệ thuật sống an lành đi vào muôn mặt của cuộc sống thường ngày, những phương pháp tu dưỡng thích nghi với mọi lớp người trong xã hội hiện đại, đó là thách thức mà thực tại đặt ra cho trí tuệ cộng đồng Phật tử. Giải đáp chính là phần Phật giáo góp vào nền văn hoá thời đại.

Bùi Mộng Hùng