Monday, October 29, 2007

Mô hình đại học mới ở nước ta

Mới đây, báo Tia Sáng gửi cho tôi một bài viết tường thuật về việc lập một đại học đẳng cấp quốc tế bằng cách biến Viện khoa học công nghệ thành một đại học. Mục tiêu là trong vòng vài năm đưa đại học lên tầm quốc tế trong danh sách "Top 200" trên thế giới. Họ hỏi tôi nghĩ gì hay có ý kiến gì không. Kèm theo đây là ý kiến ngắn của tôi. Xin viết ra đây để các bạn đọc trước khi lên báo:


Viện KH&CN Việt Nam thì có khả năng trở thành một cái đại học, điều này không ai nghi ngờ cả. Nhưng có nâng lên đại học tầm cỡ quốc tế (world-class university) hay không là một vấn đề khác: vấn đề nghiên cứu khoa học. Ai cũng biết, năng suất và chất lượng nghiên cứu của Viện vẫn còn tương đối thấp; nhưng với cơ sở vật chất, con người và đầu tư, tình hình có thể có khả quan hơn. Không nên “khoa trương” có bao nhiêu tiến sĩ hay giáo sư, vì vấn đề không phải là con số, mà là làm được gì với lực lượng khoa học đó. Nếu lập một đại học mới có tầm vóc, theo tôi, định hướng của đại học nên thiên về nghiên cứu khoa học hơn là giảng dạy.

Ở Mĩ có Học viện Công nghệ California (Caltech) chỉ có khoảng 2000 sinh viên (mà trong số này hơn 50% là sinh viên sau cử nhân) nhưng số lượng giáo sư và giảng viên thì lên đến 1200, và do đó, sản lượng nghiên cứu khoa học của họ chỉ có thể mô tả là “tuyệt vời”: 31 giải Nobel, và mỗi năm công bố 2600 bài báo khoa học. Ở Úc cũng có một trường đại học thuộc loại hàng đầu được thiết lập theo mô hình của CalTech nhưng ngân sách thấp hơn: đó là truờng Australian National University (ANU – Đại học Quốc gia Australia). Trường này chỉ có 13.000 sinh viên (trong số này có hơn 40% là nghiên cứu sinh sau cử nhân), và khoảng 1400 giáo sư và giảng viên với sản luợng khoa học trên 1900 bài báo khoa học hàng năm. Chỉ trong vòng 50 năm, trường ANU trở thành một trong những trường hàng đầu trong vùng và trên thế giới. Tôi hi vọng rằng mô hình của một đại học từ Viện KH & CN cũng theo định hướng như thế.

Theo tôi, không nên đặt mục tiêu vào “Top 200” làm gì. Vấn đề chính là làm sao tạo điều kiện để cho đại học đó thực hiện tốt những nghiên cứu khoa học với chất lượng cao và gây ảnh hưởng trên trường quốc tế. Một khi đại học đã tạo tên tuổi trên trường khoa học quốc tế thì những danh hiệu “phù du” kiểu “Top 200” không phải là vấn đề chúng ta quan tâm. Nên nhớ rằng mấy kiểu xếp hạng “Top” chỉ tương đối thôi. Chẳng hạn như trường ANU năm 2006 đứng hạng 16 theo cách làm của tờ Times Higher Education Supplement, nhưng lại “tụt” xuống hạng 38 theo cách làm của tờ Newsweek! Chúng ta không nên quá quan tâm đến xếp hạng, bất cứ do ai làm, mà nên quan tâm đến việc làm thực tế của mình có đem lại lợi ích cho ai không.

Yếu tố Việt kiều quan trọng. Một số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có kinh nghiệm về hoạt động khoa học và khoa bảng lâu năm, là một nguồn nhân lực cần thiết cho một đại học mới ở nước ta. Cho dù các nhà quản lý và giáo sư trong nước giỏi đến mấy đi nữa, nếu không va chạm, cọ sát với thực tế ở ngoài thì khó mà nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế.

NVT

Thái Duy

Bài viết sau đây rất hay nói về cách sử dụng từ ngữ trong khi viết báo. Tôi thấy trong nước người viết khẩu hiệu (trên đường phố, xa lộ) rất "hỗn" với người dân. Thường là những khẩu hiệu dạy đời, mang tính lên lớp, và lúc nào Nhà nước & Đảng cũng đều đứng đầu rồi mới đến Nhân dân. Đáng lẽ ngược lại mới đúng chứ. Thành ra, tôi thích cách viết của Nhà báo Thái Duy này lắm. Có bao nhiêu người viết trẻ được như ông ấy.

NVT


===
http://truongduynhat.vnweblogs.com/post/1545/33693

Có khi chỉ một câu chữ của ông cũng khiến ta giật mình. Ví như ông không bao giờ cho phép Đảng đứng trước Dân. Trong khi tất thảy các báo viết " ý Đảng lòng dân" (chữ Đảng viết hoa, chữ dân viết thường), thì ông luôn viết "lòng Dân ý Đảng". Rất nhiều lần ông nói với tôi: Dân cũng phải viết hoa, và phải đứng trước, đứng trên Đảng!

Hơn mười năm trước, ông đã viết: "Sự thật không phải lúc nào cũng dễ lọt vào Hội trường Ba Đình. Bao giờ mọi sự thật, dù cay đắng, ùa được vào hội trường Quốc hội, mọi nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân được cất lên áp đảo ở hội trường Quốc hội thì người dân mới bớt khổ". Cũng chưa thấy ai dám viết công khai những dòng này trên báo như ông "Không ở đâu như dân ta, phải è lưng đóng thuế nuôi 3 bộ máy: Đảng, Nhà nước và các đoàn thể". Hoặc câu hỏi cắc cớ của ông mà mười mấy năm rồi, thỉnh thoảng lại thấy vài tờ báo trích đăng "Tại sao Hội đồng nhân dân mà toàn thấy quan, chẳng có dân?"...

Cái tên Thái Duy từ lâu đã trở thành một thương hiệu. Ông đã có một kênh bạn đọc riêng. Họ cầm tờ báo mỗi sáng để tìm đọc bài mang tên Thái Duy. Đó là điều rất ít người cầm bút có được.
Và có lẽ, với người viết báo, cái đích vinh hạnh như vậy là đủ để mỉm cười.

Bạn đọc biết, nhớ, và mê ông qua hai "cổng". Cổng thứ nhất với danh xưng nhà văn Trần Đình Vân cùng tác phẩm "Sống như Anh" nổi danh, một thời từng là sách gối đầu giường cho lớp lớp thế hệ trẻ. Bức ảnh ông, nhà thơ Tố Hữu, nhà văn Phan Tứ chụp với Bác Hồ đã trở thành như một bức ảnh biểu trưng cho nền văn học cách mạng.

Sau chiến tranh, và cho đến bây giờ, bạn đọc biết và tìm đọc ông qua một "cổng" khác: nhà báo Thái Duy. Theo tôi, có hai nhà báo viết chính luận sắc ý nhất: ở phía Nam là cố nhà báo Trần Bạch Đằng, ở ngoài Bắc là nhà báo Thái Duy. Trần Bạch Đằng viết hơi nhiều, vội theo kiểu đặt hàng. Thái Duy thì không phải cái gì và lúc nào cũng viết. Đọc ông nhiều khi đâm giật mình... hoảng. Hoảng bởi những điều quá đỗi thường tình vẫn quanh quất bên ta. Hoảng bởi chợt nhận thấy, chợt ngẫm ra quá nhiều điều, nhiều giá trị ta quen vái thờ, tụng niệm hóa ra... vô vị, hoài phí.

Có khi chỉ một câu chữ của ông cũng khiến ta giật mình. Ví như ông không bao giờ cho Đảng đứng trước Dân. Trong khi tất thảy các báo viết " ý Đảng lòng dân" (chữ Đảng viết hoa, chữ dân viết thường), thì ông luôn viết "lòng Dân ý Đảng". Rất nhiều lần ông nói với tôi: Dân cũng phải viết hoa, và phải đứng trước, đứng trên Đảng!

Hơn mười năm trước, ông đã viết: "Sự thật không phải lúc nào cũng dễ lọt vào Hội trường Ba Đình. Bao giờ mọi sự thật, dù cay đắng, ùa được vào hội trường Quốc hội, mọi nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân được cất lên áp đảo ở hội trường Quốc hội thì người dân mới bớt khổ". Cũng chưa thấy ai dám viết công khai những dòng này trên báo như ông "Không ở đâu như dân ta, phải è lưng đóng thuế nuôi 3 bộ máy: Đảng, Nhà nước và các đoàn thể". Hoặc câu hỏi cắc cớ của ông mà mười mấy năm rồi, thỉnh thoảng lại thấy vài tờ báo trích đăng "Tại sao Hội đồng nhân dân mà toàn thấy quan, chẳng có dân?"... Hoặc khi vô khối các ông bà luôn oang oang, hùng hồn trên mọi khắp diễn đàn để rao giảng về "lòng yêu nước", cứ mở miệng là khoe về "lòng yêu nước" nhưng lại không hề biết thương dân, thì ông viết: "Yêu nước phải thương dân"!

Có lẽ cũng chính bởi điểm này mà các bài viết của ông thường được quan chức hàng... nguyên thủ lưu tâm. Lần mới đây nhất tại nhà tôi, ông bảo: Có lẽ tớ sẽ viết về cái gọi là "đấu tranh giai cấp". Quan điểm "đấu tranh giai cấp" là... không ổn! Người Việt mình là con Lạc cháu Hồng cả, cùng chung bọc trứng, sao lại cứ phân biệt "giai cấp" để "đấu tranh"? Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày trước cũng có quan niệm như thế đâu. Cụ Hồ chẳng luôn căn dặn rằng quân dân, hay quan- dân gì cũng "muôn người như một" đấy thôi! Ông bảo: Biết rằng điều đó là đúng, phải, là rất nên nói, nhưng nói và viết cũng phải từ từ, dần dần từng tí mới "ngấm" được. Không "người ta" chẳng chịu nghe mà mình còn... mệt lây! Tôi luôn phải đem cụ Hồ ra "bảo kê" cho các bài viết của mình là vậy. Nhiều ông cứ... trợn mắt lên bởi tưởng tôi nói thế. Nhưng tôi có nói đâu, tôi trích lời cụ Hồ Chủ tịch đấy chứ!

Khi thấy dân bị... bịt miệng quá, ông viết bài "Phải cho dân được mở miệng". Nhiều vị giãy nảy lên, nhưng ông cuời mà rằng: Câu đấy là trích nguyên văn lời Hồ Chủ tịch. Ông bảo: Tớ rất ngạc nhiên khi thấy rất nhiều vị chả nhớ Cụ Hồ ngày trước nói gì, trong khi trên giá sách trong phòng làm việc của họ luôn xếp la liệt hết bộ này đến tuyển nọ về Hồ Chủ tịch. Khi đặt bút, tớ luôn phải "dựa" vào cụ Hồ, không họ "thịt" tớ ngay!

Ông là nhà báo suốt đời trung thành với một tờ báo. Mặc dù viết như ông, không thiếu lời mời gọi. Hầu hạ (từ của ông) 12 đời Tổng biên tập (vị Tổng đầu tiên là cố Tổng Bí thư kiêm Chủ nhiệm báo Cứu Quốc Trường Chinh). "Đến khi chết, viết điếu văn cho tớ dễ lắm, cứ cho hai chữ "phóng viên" là đủ, chả phải băn khoăn gì"- Ông nói vậy. Ông từ chối mọi chức tước. Suốt đời chỉ làm anh phóng viên đúng nghĩa. Chưa bao giờ ông có một hàm chức gì, dù chỉ là... tổ phó!

Ông khác tất thảy muôn người làm báo khác ở điểm này. Hình như đã hơn một lần ông khuyên tôi (vì sợ tôi cũng ham hố quyền chức như bao phóng viên khác): Làm báo phải biết trọng cái danh phóng viên, chớ ham chức này ghế nọ mà đùi ngòi bút. Vậy mà nhiều, rất nhiều người cầm bút lúc nào cũng nuôi... chí trong đầu rằng làm thằng phóng viên vài năm phấn đấu lên Phó, rồi Trưởng phòng- ban, ráng cỡ mươi năm lên Phó, lên Tổng, rồi biết đâu còn ngồi... cao nữa! Vì thế mà khối người tài đấy, viết giỏi đấy, nhưng khi họ càng lên chức thì bạn đọc càng chóng quên. Dường như với nghề báo, cái ghế chức tước lại chính là thứ rất dễ xóa nhòa tên tuổi nhà báo trong lòng bạn đọc. Ông không thuộc tạng này. Trong khi rất nhiều những bạn viết của ông, cùng thời "sống như Anh" với ông giờ đã thành Ủy viên này, thường vụ nọ...

83 tuổi, vẫn thấy ông nay Hà Nội, mai Sài Gòn, ngày kia Đà Nẵng. Vẫn thấy ông miệt mài ghi chép trong các phiên họp Quốc hội. Vẫn là một phóng viên "thẻ xanh" (từ ông dùng để gọi về mình khi chìa cái "giấy chứng minh nhân dân" ghi tên Trần Đình Vân cho tôi xem). Từ khi nghỉ hưu, gần hai chục năm rồi, người ta đã không cấp Thẻ Nhà báo có hai cái gạch đỏ lòm cho ông nữa, dù ông vẫn thừa tiêu chuẩn để được cấp. Vậy nhưng mỗi ngày, vẫn thấy hàng loạt bài viết ký tên Thái Duy trên trang nhất.

Nhớ những năm ông chưa hưu, mỗi ngày thấy hàng núi thư từ của bạn đọc gửi cho ông mà đám phóng viên như bọn tôi phát thèm! Hàng ngày, trong núi thư của bạn đọc gửi về tòa soạn, có đến gần nửa phần ghi tên người nhận là nhà báo Thái Duy.

Nhiều lần ông nói với tôi rằng: Viết báo làm sao để phấn đấu cho cái tên của mình trở thành một thương hiệu. Viết làm sao để có bạn đọc riêng của mình. Ông đã có một kênh bạn đọc riêng. Họ cầm tờ báo mỗi sáng để tìm đọc bài mang tên Thái Duy. Đó là điều rất ít người cầm bút có được.

Và có lẽ, với người viết báo, cái đích vinh hạnh như vậy là đủ để mỉm cười.

TRƯƠNG DUY NHẤT

Wednesday, October 24, 2007

Bàn về thơ và nhạc

Hôm nay nhân ngày rảnh rổi, tôi xin bàn về đề tài văn thơ cho vui. Trước hết, bàn về Bích câu kì ngộ. Thực ra, trong BCKN, Tú Uyên đã gặp nàng rồi trước khi chàng ta sinh tương tư. Những ai quên câu chuyện, xin nhắc lại: chàng là Tú Uyên chạy theo một thiếu nữ vào chùa, nhưng nàng biến mất. Đêm về và mấy ngày sau, chàng ta mới sinh ra tương tư, nằm mơ thấy thần bảo ra cầu gì đó để gặp nàng. Nhưng khi chàng ra đó thì chẳng thấy nàng đâu mà chỉ thấy một người bán tranh, và trong tranh có hình một nàng mà chàng ta đã gặp hôm trước. Thế là thành câu chuyện. Nói chung, cái motif của loại truyền thần kì này thì cũng có trong các văn hóa khác. Tôi đọc đâu đó thấy ở Nam Hàn (bây giờ họ đổi tên là Hàn Quốc), Nga, thậm chí Mĩ cũng có một câu chuyện tương tự.

Nghĩ cho cùng thì BCKN không có gì đặc biệt về mặt văn chương, hay giá trị văn học. Thơ thì cấu trúc theo mẫu sáu-tám, rất phổ thông thời đó (và thậm chí thời nay). Người bình thường mà chịu “đòn” cả ngàn câu thơ được lặp đi lặp lại như thế thì quả là có kiên nhẫn lớn. Tôi mê Truyện Kiều lắm, mê đến nỗi nhớ nhiều câu thơ trong đó, nhưng tôi chưa bao giờ đủ kiên nhẫn để ngồi nghe cả 3000 câu thơ sáu-tám.

Tuy nhiên, câu chuyện BCKN còn tồn tại là vì, theo tôi, nó cho một giá trị đạo đức (moral lesson). Để ý là sau này chàng Tú Uyên và nàng Giáng Kiều (toàn tên đẹp!) bay cưỡi cá kình bay về trời. Kể ra thì đó là một “happy ending”. Và chính cái tình tiết này nó nói lên một thái độ thoát li thực tế. Câu chuyện xảy ra vào thời Nhà Lê, thời mà Nho giáo phát triển mạnh. Như vậy, có thể tác giả (chẳng biết đích xác là ai) muốn chối bỏ lí tưởng Nho giáo để theo đạo giáo chăng?

Chuyện nọ xọ chuyện kia: bàn về thưởng thức nghệ thuật. Thực ra, đề tài này rộng lớn quá, nên tôi chỉ đưa ra vài nhận xét chung chung thôi, chứ đi vào chi tiết thì sẽ bàn sau. Tôi nghĩ thưởng thức thơ nhạc như thưởng thức một bài báo khoa học. Một bài báo khoa học gọi là “hay” phải có ít nhất là một cái gì mới. Mới về cách đặt vấn đề, mới về phương pháp làm, mới về cách suy diễn dữ kiện, mới về cách trình bày, v.v... đều là “mới”. Nếu một bài báo không có một cái gì mới thì bài đó chỉ thuộc loại “me too”, chả có cống hiến gì vào tri thức con người cả (và loại này rất nhiều trong medical literature). (Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một lời khuyên của một ông bạn: nếu anh là người “trí thức”, nếu có cái gì mới thì phát biểu, còn không thì im. Nghe qua có vẻ khắc khe quá, nhưng ông ta quả có lí.) Trong thơ nhạc cũng vậy; một bài thơ “hay”, theo tôi, phải có một cái gì mới, không mới trong nội dung thì cũng mới về hình thức, chữ nghĩa. Truyện Kiều của Nguyễn Du không phải là một tác phẩm “original”, nhưng ngôn ngữ thì original, và cái giá trị lớn nhất của Kiều, theo tôi, là ở phần ngôn ngữ.

Tôi thấy chúng ta quá dễ dãi trong việc thưởng thức nghệ thuật. Hễ thấy câu thơ nào, hay đoạn nhạc nào phản ánh đúng tâm trạng mình là cho một chữ “hay” ngay, mà không cần phân tích gì cả. “Anh ước gì nhà mình chung vách / hai đứa mình thức trắng đêm nay” là hay vì tôi thấy nó nói đúng tâm trạng tôi, vì nó mùi mẩn. Nhạc điệu tình tứ boléro là hay vì … dễ ca. Khi được hỏi tại sao “hay” thì câu trả lời thường là “Tôi thấy hay thì tôi CẢM thấy nó hay”. Chữ “cảm” là từ chủ đạo ở đây. Tức là, cái hay ở đây trở thành phi tiêu chuẩn. Mà đã phi tiêu chuẩn thì sẽ có loạn. Tôi rất ngán kiểu phán xét này, bởi vì nó không dẫn đến một cái gì mới. Thành ra, theo tôi, nghe nhạc để giết thì giờ thì không nói làm gì, nhưng nếu nghe nhạc mà không chịu khó phân tích thì cũng uổng công lắm. Nhưng phân tích thì cần phải có lí thuyết và một cái mà tôi gọi là “conviction” (không chắc dịch ra tiếng Việt làm sao). Đó là nói cái chuẩn “hàn lâm”.

Nhưng nhiều người vẫn thưởng thức nghệ thuật, vẫn cảm thấy “hay”, dù họ không có lí thuyết hay conviction gì cả. Nhìn một người phụ nữ như nàng Cindy Crawford chẳng hạn, ai cũng thấy nàng “đẹp”, dù hàng triệu người khán giả có ai có trang bị lí thuyết gì đâu! Nhưng rõ ràng là nàng đẹp, và cái chuẩn tàng ẩn phía dưới cái “đẹp” đó là cái chuẩn chung. Vì thế, tôi nghĩ ngoài phân tích ra, người ta còn phải đi tìm cái tập hợp của số đông đó để cho ra một cái chuẩn. Nói tóm lại, cái chuẩn có thể đến từ số đông, nhưng cũng có thể đến từ một sự tiền phong của giới hàn lâm, khoa bảng.

Bây giờ quay sang nhạc và thơ. Trong tiếng Việt mình, trong nhiều trường hợp thơ và nhạc quyện vào nhau một cách khó phân biệt nổi. Trong một bài phân tích về nhạc Trịnh Công Sơn đăng đâu đó trên Văn (hay Văn học ?) tôi có đề nghị rằng nên nhìn Trịnh Công Sơn như là một “thi nhạc sĩ” hơn là nhạc sĩ thuần túy, bởi vì hầu như bài nhạc nào của anh ta cũng có cấu trúc thơ trong đó, nhưng nhạc thì không có gì đặc biệt. Chẳng hạn như trong Hạ trắng, anh ta viết:

Đời xin có nhau
Dài cho mãi sau
Nắng không gọi sầu
Áo xưa dù nhầu
Cũng xin bạc đầu
Gọi mãi tên nhau.

Có thể nhìn những lời nhạc này như một bài thơ bốn chữ. Một ví dụ khác:

Thôi em đừng bối rối
Trong ta chiều đã tàn
Thôi em đừng tiếc nuối
Cho môi còn chút thanh xuân
Tóc em cười trong gió
Trong ta giọt máu mù
Khô theo ngày thương nhới ...

cũng như là một bài thơ năm chữ. Thực ra, ngay từ ngày tập nhạc đầu tiên ra đời, đã có một nhà thơ từng nhận xét trong lời bạt rằng “Trịnh Công Sơn là một poètemanqué”. Trong một bài nhạc tiêu biểu khác, người nghe cảm thấy lời nhạc như những vần thơ bằng trắc đan xén vào nhau một cách tuần tự, lên xuống đều đặn, không trồi sụt, không gãy xốc, tạo ra âm hưởng rất ư là lôi cuốn và quyến rũ: Một người già trong công viên / Một người điên trong thành phố / Một người nằm không hơi thở /Một người ngồi nghe bom nổ, hay Tim em người trọ là tôi / Mai kia dù có xa xôi cũng đành. Có lẽ cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn là ở chỗ này: chỗ mà những lời hay ý đẹp được đan xén khắng khít nhau qua giai điệu nhạc cực kỳ đơn giản. Người nghe cứ bị thu hút theo những Tầng tháp cổ, Hoa vàng mấy độ, Cánh vạc bay, Dấu chân địa đàng, Chiếc lá thu phai

Tôi thấy các nhạc sĩ có hai khuynh hướng phổ thơ sang nhạc: một là giữ nguyên lời thơ, và hai là chỉ lấy ý nhưng thay đổi lời. Khuynh hướng đầu được nhiều nhạc sĩ ứng dụng, nhưng khuynh hướng hai thì ít hơn. Những nhạc sĩ phổ thơ theo khuynh hướng hai làm tôi “phục sát đất” là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, và sau này thì có Phú Quang và Trần Tiến.

Nhưng trong khuynh hướng thứ nhất cũng có vài bài khá thành công. Trong số các bài này tôi nghĩ có thể lấy “Ngậm ngùi” (Huy Cận) do Phạm Duy phổ thành nhạc, ra làm ví dụ. Một anh “bạn già” của tôi (PQTuan) đã từng bàn tán về bài này cũng khá lâu trên Thế Kỷ 21, nay xin đem ra bàn tiếp. Bài thơ mới này đơn giản, viết theo thể sáu-tám, rất thông dụng trong thơ ca Việt Nam. Cái đặc tính của loại thơ này là tất cả các câu đều được chấm dứt bằng vần bằng. Trong tiếng Việt ta, vần bằng là vần tĩnh, không gẫy sốc, một vần nghỉ ngơi. Trong âm nhạc, tính nghỉ ngơi của vần bằng thường được thể hiện bằng chủ âm của âm giai (Do). Thành ra, không phải ngẫu nhiên mà khi phổ thành nhạc, Phạm Duy biến các chữ cuối câu thành âm giai Do:

Nắng chia nửa bãi chiều rồi (Do thấp)
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu (Do thấp)
Sợi buồn con nhện giăng mau (Do cao)
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây (Do cao)

Đến đoạn giữa thì giai điệu nhạc chuyển sang âm giai Fa, và ngay cả nhịp thơ 3 / 3 cũng được “dịch” sang nhạc rất trung thực: Ngũ đi em / mộng bình thường; Ngủ đi em / Ngủ đi em … Cái câu “ngủ đi em” được nhắc đi nhắc lại để nhấn mạnh bài nhạc là một lời ru. Tóm lại, đây là một bài nhạc đơn giản được “diển dịch” từ một bài thơ cũng đơn giản, nhưng lại trở thành một bài hát hay. Có thể nói không ngoa rằng tác giả của những Tràng giang, Buồn đêm mưa, Nhạc sầu, Áo trắng, v.v... còn “sống” đến ngày nay và sẽ còn sống mãi cũng qua bài nhạc này.

Nhưng không phải chỉ có thơ sáu-tám mới dễ phổ thành nhạc, mà ngay cả thơ có cấu trúc tự do cũng có thể trở thành nhạc dễ dàng, nhờ vào sự phân phối âm thanh trong thơ. Trong bài Hạnh phúc buồn (thơ Du Tử Lê), tác giả (Hoàng Thanh Tâm) “dịch” sang nhạc một cách trung thực, hầu như không thay đổi một lời thơ nào. Hai đoạn đầu của bài hát là những câu thơ 7 chữ:

Hỏi Chúa đi rồi em sẽ hay
Tôi buồn như phố cũ mưa bay
Bàn chân từng ngón ngưng không thở
Lạc mất đường đi tạnh dấu bày

Hỏi nắng đi rồi em sẽ hay
Tôi gầy như phiến lá trên cây
Gió khuya thôi rớt ngàn tâm sự
Thiên đường tôi đây là người hay ai

mà trong đó, mỗi đoạn, hai câu đầu gieo theo “luật” phân phối 4b + 3t, 5b + 2t; nhưng đến câu 3 và 4 thì số lượng thanh bằng cao hẳn lên, nhất là đoạn 2, câu 4 chỉ toàn thanh bằng. Có lẽ đây là một sự cố ý để cho đoạn nhạc có tính tạm ngừng, trước khi vào đoạn điệp khúc. Thực vậy, đến đoạn điệp khúc, tác giả bắt đầu dùng nhiều chữ có thanh trắc hơn, tiết tấu cũng cao hơn và dồn dập hơn hai đoạn đầu, và câu thơ cũng chuyển từ 7 thành 8 chữ, làm cho lời dài ra, tha thiết thêm:

Sông chẳng thể không trôi về biển lớn
Người bến bờ buông tóc thả cho mây
Nên suốt kiếp tôi vẫn là đứa trẻ
Buồn vui theo chiếc kẹo ở tay người

Chữ “lớn” cần phải kéo dài ra thì mới tuyệt, vì nó là âm vang và muốn cho người nghe một sự van nài!

Trong bốn câu với 32 chữ này, có đến 15 chữ (hay 47%) là thanh trắc (so với 32% trong hai đoạn đầu)! Đến đoạn cuối (Hỏi gió đi rồi em sẽ hay / Tôi chờ em đến thắp đêm vui / Có đêm nhìn xuống bàn tay lạnh / Và chỗ em ngồi đã bỏ không), thanh âm lại quay về luật phân phối của hai đoạn đầu, làm cho người nghe có cảm giác ngừng nghỉ. Nhưng cả hai chữ cuối cùng (lạnh và không) đều là phụ âm vang, làm cho câu hát có tính ngân nga. Vì lời nhạc và lời thơ không khác nhau, cộng với giai điệu đơn giản, và lời thơ hết sức tha thiết, khẩn cầu, người ca sĩ hát bài này trở thành người đọc thơ. Đọc chứ không phải ngâm nhé (cũng theo anh PQT)!

Nhưng không phải bài thơ nào cũng đơn giản như thế. Có bài câu cú phức tạp, không có vần, nhưng vì nhờ nhịp điệu nên chúng cũng có thể trở thành những bài hát hay. Ở đây, tôi muốn lấy vài câu thơ trong bài Dòng suối trăm năm của Du Tử Lê mà tôi có lần phân tích ra làm ví dụ:

Chẻ đôi sông núi: đêm bưng mặt
Đêm quấn khăn vào sâu ấu thơ
chẻ đôi thân thế: mù tăm tích
Ta nghĩa trang nào? - chôn, cất nhau

Thoạt đầu đọc bài thơ, lời đã khó hiểu, mà vần thì không rõ rệt chút nào cả. Nhưng rõ ràng là nó có điệu. Vậy cái điệu gì đã làm cho bài thơ trở thành một bài nhạc hay? Tôi thấy cách sắp xếp từ ngữ tưởng như là “gồ ghề” ấy lại rất có hệ thống. Đọc kỹ bốn đoạn thơ đó theo thanh bằng (b) và trắc (t):
t b b t / b b t
b t b b / b t b

và lặp lại:
t b b t / b b t
b t b b / b t b

Do đó, sự phân phối âm thanh trong bài thơ quả không phải ngẫu nhiên, mà rất có hệ thống. Cách ngắt câu câu trước (b b t) và câu sau (b t b) tạo nên một dãy âm thanh trầm bổng liên tục. Câu thứ hai được kết thúc bằng thanh bằng như để lại âm vang ngân nga, hứa hẹn với người nghe một dãy âm thanh mới. Tính chung bài hát, chỉ 72 chữ mà có đến 42 (hay 58%) chữ là thanh bằng, nhưng chúng được thay đổi một cách tuần tự, làm cho một đoạn nhạc khá êm dịu. Nhưng không yên tĩnh. Chẳng hạn như trong câu Chẻ đôi sông núi, Chẻ đôi tâm thất, và Chẻ đôi con gio, khoảng cách thanh điệu giữa sông và núi, giữa con và gio, và giữa tâm và thất tương đối cao, làm cho người nghe vừa tĩnh lại phải động, không được ngừng nghỉ, phải đón chờ một cái gì bất trắc ... Có lẽ vì thế mà bài thơ có một sức lôi cuốn rất cao khi được chuyển thành một ca khúc.
Hôm nào hứng sẽ bàn về khuynh hướng thứ hai , tức là nhạc sĩ chỉ dựa vào lời thơ, nắm lấy cái ý chính của bài thơ mà viết thành nhạc.

NVT

Tự cao, khoe khoang, dỏm

Tờ báo mạng Calitoday đăng lại bản tin của báo Thanh Niên về vụ tôi được cái research fellowship. Thú thật là tôi chưa kịp đọc bản tin đó (vì họ chỉ đăng lại từ TN thôi), nhưng hôm nay một anh bạn chuyển cho tôi xem một bình luận về cá nhân tôi của một người kí tên là “Dr Tran” có địa chỉ email là mt17@cornell.edu trên website Calitoday. Tôi muốn đăng lại nguyên văn để các bạn đọc cho biết.

Cũng xin có đôi lời về vụ “cao cấp”. Tôi viết nhiều bài báo trên các báo Việt Nam, nhưng tôi chưa bao giờ xưng mình là giáo sư, là tiến sĩ. Chưa bao giờ. Còn bạn "Dr Tran" này dựng cho tôi cái hình nộm “giáo sư cao cấp” rồi đấm vào cái hình nộm đó, tôi thấy cũng thú vị. Ngoài ra, tôi rất thích những đoạn sau đây:

“'senior research fellow’ (research fellow = nghiên cứu sinh) trong khi thực ra chỉ là một người làm việc nghiên cứu (trong khi ông chẳng ‘nghiên cứu’ mà chỉ viết bài review), có ra được kết quả nào là việc hoàn toàn khác”

“ngay cả "Viện Garvan" thì thực tế mà nói ít ai bên ngoài nước Úc từng nghe tên, và ngay cả trong xứ Úc cũng không nằm trong số các Viện nghiên cứu danh tiếng gì.”

“nhiều người Việt tại Úc không muốn đi theo con đường nghiên cứu y khoa, vì ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt yêu thích nghề nghiệp, và con đường này thường dành cho những người thi rớt vào đại học y khoa mà thôi. Phần đông chọn con đường học y khoa vì thú vị hơn, bổng lộc cao hơn, tự do hơn.”

“Ông lại chẳng có công trình nghiên cứu cơ bản (basic research) nào, chẳng tìm ra điều gì mới, không hề có ý tưởng nào đột phá, mà chỉ viết bài theo dạng "review" tức là tóm nhiều bài lại thành một, rồi đưa ra giả thuyết, vài lời kết luận giả sử, hoặc làm vài cuộc thống kê nho nhỏ phục vụ cho giả thuyết, lời giả sử kết luận đó.”

Cái hay là mấy ý này là cái nhìn từ ngoài. Và qua cái nhìn từ ngoài mình mới thấy mình vô dụng: rớt y khoa, làm nghiên cứu dỏm, giáo sư dỏm (chỉ là "giáo sư phụ giảng" assistant professor mà thôi), viện Garvan chỉ là loại vô danh, về VN xin việc mà không được trọng dụng, v.v…

Đúng là bi đát và vô dụng rồi còn gì. Ấy vậy mà hắn còn khoe là là “giáo sư cao cấp”. Hợm hĩnh thật! Đáng đời cho cái tên hám danh.


Tuy nhiên, tôi nghĩ mấy ý này còn tử tế chán. Hôm trước một hai người còn nhận xét rằng cái research fellowship chỉ dành cho “những người thất nghiệp”. Tôi không bình luận gì cả. Nếu các bạn muốn tìm hiểu cái research fellowship nó là cái gì thì có thể vào xem ở đây thì rõ:
http://www.nhmrc.gov.au/fellows/types/granttype/career.htm#3

còn tiêu chuẩn chọn thì họ cũng có ở đây: http://www.nhmrc.gov.au/fellows/apply/granttype/career/_files/rfpol.pdf
Có thể download về để đọc và tham khảo.


À, quên nữa, còn chuyện tôi chỉ viết vớ vẩn mấy bài "review" thì các bạn cũng có thể truy tìm & kiểm tra bằng cách vào trang web của thư viện PubMed http://www.ncbi.nlm.nih.gov/sites/entrez?cmd=Search&db=PubMed&term=nguyen%20tv sẽ thấy mấy bài này nó dỏm ra sao. Chú ý, một số lớn các bài không phải của tôi nhé; mấy bài của tôi chỉ liên quan đến xương mà thôi.

NVT

====

Dr. Tran, mt17@cornell.edu Oct 22, 2007 18:55:07

Ông Nguyễn Văn Tuấn này đã viết nhiều bài xem thường giới trí thức Việt kiều, tự cho mình là cao cả hơn nhiều nhà khoa học khác, cho là cùng hạng với ông rất ít, và đã rất cố gắng xin được cộng tác với chình quyền Hà Nội từ mấy năm nay nhưng đều bị dội nước lạnh. Có bài trên báo Việt Nam ông từng tặng mình danh hiệu "giáo sư cao cấp", nay lại khoe khoang một chức danh không đáng kể gì bao nhiêu.

Ông chưa phải là Giáo sư, mà chỉ là "giáo sư phụ giảng" (assistant professor) mà thôi - tức là có thể bị sa thảI bất cứ lúc nào, tại Mỹ trong 7 năm AP không leo lên được chức Giáo sư thì phải cuốn gói ra đi - trong khi số Giáo sư thật thụ (Full Professor) người Việt tại G7 - là các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật cao hơn Úc nhiều - đã lên đến hàng mấy trăm. Ông lại chẳng có công trình nghiên cứu cơ bản (basic research) nào, chẳng tìm ra điều gì mới, không hề có ý tưởng nào đột phá, mà chỉ viết bài theo dạng "review" tức là tóm nhiều bài lại thành một, rồi đưa ra giả thuyết, vài lời kết luận giả sử, hoặc làm vài cuộc thống kê nho nhỏ phục vụ cho giả thuyết, lời giả sử kết luận đó. Tại Úc ông quá rảnh mới làm được như vậy, chứ tại Mỹ ông chạy hụt hơi mà mỗi năm không hoàn thành ít nhất 4 công trình nghiên cứu cơ bản thì ông đã bị mời ra khỏi chức vụ - cho dù chỉ là phụ việc - từ lâu.

Không ai nghi ngờ ông là một nhà khoa học đứng đắn, nhưng ông quá hám danh, trong khi thực tế khả năng ông rất giới hạn, ngay cả "Viện Garvan" thì thực tế mà nói ít ai bên ngoài nước Úc từng nghe tên, và ngay cả trong xứ Úc cũng không nằm trong số các Viện nghiên cứu danh tiếng gì.Nhưng như vậy chưa nói hết vấn đề. Vấn đề là “nhiều người Việt tại Úc không muốn đi theo con đường nghiên cứu y khoa, vì ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt yêu thích nghề nghiệp, và con đường này thường dành cho những người thi rớt vào đại học y khoa mà thôi. Phần đông chọn con đường học y khoa vì thú vị hơn, bổng lộc cao hơn, tự do hơn.

Tại các quốc gia G7 cũng vậy, người ta thi vào đại học y khoa trước, không đậu mới học tiến sĩ ngành y sinh. Đương nhiên có ngoại lệ cho một số thật sự ham thích nghiên cứu, nhưng đây là ngoại lệ hơn là thông thường. Nhiều người xong tiến sĩ lại không chọn làm giáo sư phụ giảng vì lương rất thấp, tại Mỹ không quá 70 ngàn USD / năm (trừ thuế còn 40 ngàn, thua làm nail), nên ra ngoài làm việc cho các công ty thuốc Tây, các công ty hóa học, kỹ thuật vi sinh, v.v... có tiền nhiều hơn chứ không phảI họ không đủ khả năng làm giáo sư phụ giảng hoặc Giáo sư thực thụ, mà có bài trên báo Việt Nam ông Tuấn từng khoe rằng ít có Việt kiều nào được làm "giáo sư cao cấp" như ông.

Chính quyền Hà Nội đã rất chính xác trong trường hợp này, khi làm ngơ không trả lời các lời "xin cộng tác" của ông Tuấn, không phải lý do ông bất tài vì thực ra ông về Việt Nam sẽ giỏi hơn nhiều người, nhưng lý do là ông quá tự cao tự đại, khó lòng thành công trong một nhóm nghiên cứu gồm nhiều người dưới tay ông. Đây là hạn chế hy vọng ông khắc phục để trở thành một khoa học gia thực thụ, mà công việc tự nói lên chứ không cần ông đi khoe khắp nơi rằng ông là "giáo sư cao cấp" trong khi thực tế ông chỉ là giáo sư phụ việc, và là"senior research fellow" (research fellow = nghiên cứu sinh) trong khi thực ra chỉ là một người làm việc nghiên cứu (trong khi ông chẳng "nghiên cứu" mà chỉ viết bài review), có ra được kết quả nào là việc hoàn toàn khác.

===

Tôi luôn muốn biết người khác nghĩ gì về mình, và những ý này thật quí báu cho tôi. Dù sao cũng cảm ơn “Dr Tran”. Nhưng việc làm tôi và sự nghiệp thì hoàn toàn minh bạch, còn người bình luận về tôi thì không mấy minh bạch, chẳng để lại tên gì cả. Tôi thử hỏi “bác sĩ Google” xem người có địa chỉ email mt17@cornell.edu là ai thì thấy địa chỉ sau đây:

http://www.cornell.edu/search/?tab=people&netid=mt17&q=tran%20m
Man Minh Tran
General Information
TYPE:
alumni
NICKNAME:

NETID:
mt17
EMAIL:
mt17@cornell.edu
WEBSITE:

Tìm thêm xem “Dr Tran” có công trình nào không thì không thấy.



Tuesday, October 23, 2007

Website Việt không ".VN" có thể bị phạt 2-5 triệu đồng

Chưa thấy nước nào có qui định như chính phủ VN theo như bài báo sau đây. Ở Úc thì chắc không rồi. Ở Mĩ lại càng không. Theo qui định này của VN thì các wbsite như ykhoanet.com, vietnamairlines.com chắc sẽ bị phạt!

Theo tôi thì nên khuyến khích các website từ VN mang .vn, chứ không nên ép buộc bằng luật pháp. Nếu cái gì cũng luật (mới đây lại bàn chuyện luật về blog!) thì hóa ra xã hội là một cái máy.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập mà lại có những qui định (có thể nói là kì quặc) này thì thật là một bước lùi. Cái bộ 4T này chẳng biết họ không đủ chuyện làm hay sao mà lại nghĩ ra những qui định buồn cười quá.

NVT


===

http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2007/10/60964.laodong

Website Việt không ".VN" có thể bị phạt 2-5 triệu đồng


Lao Động Điện tử Cập nhật: 11:52 AM, 23/10/2007


Các tổ chức, cá nhân khi thiết lập trang thông tin điện tử không sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” phải thông báo trên môi trường mạng với Bộ TT & TT qua trang web
http://thongbaotenmien.vn - theo thông báo của Bộ Thông tin & Truyền thông (TT & TT), căn cứ vào Điều 23 – Luật Công nghệ thông tin.

Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm điều 23 của luật CNTT sẽ bị xử phạt từ 2-5 triệu đồng (theo NĐ 63). Theo Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), tính tới thời điểm hiện tại chỉ có 394 cá nhân, tổ chức đăng ký so với gần 40.000 tên miền cấp cao dùng chung được đăng ký từ Việt Nam. Trong thời gian tới thanh tra các sở và Bộ TT & TT sẽ tăng cường kiểm soát vấn đề này.Một số tên miền đã bị xử phạt là: vn-n.com; habecovn.com; bwportal.com, bwportal.net .... và gần đây nhất là tên miền tuoitrehanhdong.com.


Quy định về việc thiết lập trang thông tin điện tử, tại Điều 23 – Luật Công nghệ thông tin:
Khoản 2. “Tổ chức, cá nhân khi thiết lập trang thông tin điện tử không sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” phải thông báo trên môi trường mạng với Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là bộ Thông tin & Truyền thông) những thông tin sau đây:a) Tên tổ chức ghi trong quyết định thành lập, giấy phép hoạt động, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép mở văn phòng đại diện; tên cá nhân;b) Số, ngày cấp, nơi cấp chứng minh thư nhân dân hoặc số, ngày cấp, nơi cấp hộ chiếu của cá nhân;c) Địa chỉ trụ sở chính của tổ chức hoặc nơi thường trú của cá nhân;d) Số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử;đ) Các tên miền đã đăng ký.”


Khoản 3. “Tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin quy định tại khoản 2 Điều này, khi thay đổi thông tin thì phải thông báo về sự thay đổi đó”.
Hoa Quỳnh

Monday, October 22, 2007

Giáo dục Việt Nam: Quá “kỳ dị” và “dị kỳ” quá!

Xin giới thiệu bài phỏng vấn do VNN thực hiện với anh Huỳnh Hữu Tuệ, giáo sư từ Canada dấn thân về nước làm việc. Anh ấy phát biểu nhiều câu rất nhậy, nhưng theo tôi cũng rất chính xác. Trích câu này:

“PV: Ông khẳng định tiến sĩ trong khoa học có những điểm phát triển hơn. Nhưng tại sao cho đến nay, nền khoa học Việt Nam trên trường thế giới vẫn là một con số chưa đoán được?

HHT: Cách đây 1 tháng tôi từng nói một câu tàn nhẫn trong cuộc gặp với một số lãnh đạo trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi rất buồn khi nói nền khoa học của chúng ta là một nền khoa học GIẢ. Những người có đề tài hàng chục tỷ lại không có khả năng thực hiện dù được “dán chữ” đầu đàn. Cách để đạt đề tài là thương lượng với bộ và ăn chia phần trăm.. Đã có người đề nghị với tôi: anh nghĩ ra cái tên đề tài và đưa tôi lo chuyện còn lại và lấy 20%. Nền khoa học Việt Nam không chạy vì những đề tài lớn không cho kết quả. Những người có khả năng làm thì chỉ có 20-30 chục triệu nên có khả năng làm. Một tiến sĩ khoa học lương 2 triệu đồng một tháng, đi hội nghị phải bỏ tiền túi…. Vậy ai đủ sức làm? Ở nước ngoài, đi hội nghị, viết một bài báo… tiền mất 4.000-5.000 USD. Tiền đâu để làm những điều tối thiểu đó?”

Khổ thế. Vấn đề làm tìm lối ra. Chẳng lẽ phải cách chức hết mấy vị “đầu đàn” không xứng đáng đầu đàn? Cũng có thể phải cần đến biện pháp đó (như bên này hay làm), nhưng ở VN ta thì làm như thế e rằng có vấn đề, vì các vị đó vẫn còn quá nhiều mối quan hệ mà người thay thế chưa chắc làm được gì.


Ông bộ trưởng khoa học ở đâu? Có đọc báo không?

NVT

==



http://www.vietimes.com.vn/vn/doithoaiviet/3866/index.viet

Giáo sư Canada gốc Việt Huỳnh Hữu Tuệ: Giáo dục Việt Nam: Quá “kỳ dị” và “dị kỳ” quá! (Phần I)

Thứ hai, 22/10/2007, 08:11 GMT+7

Tôi vẫn nhớ mãi lần đầu tiên gặp Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Hữu Tuệ trong lễ “Vinh danh Việt Nam” do báo điện tử Vietnamnet tổ chức hồi tháng 4 năm 2007. Lần nhận giải ấy, ông vừa gượng dậy sau một trận ốm “thập tử nhất sinh” nên phải vịn vào hai cánh tay sinh viên mới có thể bước lên sân khấu.

Trong vài chục giây ngắn ngủi, vị giáo sư bằng chất giọng Huế đậm đặc phát biểu trước hàng triệu khán giả đang xem truyền hình trực tiếp: “Chất xám của Việt Nam đang bị phung phí một cách không tưởng tượng nổi. Nhiều sinh viên của chúng ta lười học, tư duy thụ động…”. Nhiều khán giả theo dõi chương trình hôm đó đã ngạc nhiên không hiểu vì sao một giáo sư Việt kiều lại đủ “dũng khí” phát biểu “thẳng và… liều” đến vậy.

Nhưng có lẽ một số bạn bè thân cận với ông không hề ngạc nhiên, bởi lẽ tính cách chân thật, thẳng thắn đến gai góc đã trở thành “thương hiệu” của Giáo sư Tuệ. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, khi dẫn đầu phong trào sinh viên Việt Nam phản chiến cũng như lúc đảm nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada, ông Tuệ luôn bị coi là kẻ thù số một “nằm vùng” cho Việt cộng.

Có dịp qua Paris (Pháp), ông thấy ảnh mình được treo khắp với mã số của kẻ truy nã đặc biệt, báo động để cộng đồng người Việt trên khắp thế giới phải cảnh giác. Đến khi một số kẻ thù quá khích ra mặt, ông đã thẳng thừng đáp lại: “Chúng mày muốn dùng gươm, tao có gươm; muốn dùng súng, tao có súng. Kiểu gì tao cũng chơi được”. Mọi thủ đoạn đe dọa, ám sát, khủng bố của kẻ thù không làm người chí sĩ yêu nước run sợ, bởi lẽ lý tưởng độc lập, thống nhất cho dân tộc cháy trong ông có sức mạnh vượt lên trên tất cả.

Ngay sau khi đất nước giải phóng, ông là một trong những thế hệ Việt kiều đầu tiên trở về tái thiết một sự nghiệp mới. Mỗi dịp được trò chuyện cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, vị giáo sư già lại tận dụng tối đa cơ hội được “nói thẳng, nói thật” về các vấn đề trọng đại của đất nước.

Bất kể một cuộc họp bàn, giao lưu với các trưởng khoa, ban giám hiệu các trường đại học, ông không ngần ngại phê phán những yếu kém, bất cập của giáo dục Việt Nam. Chỉ một lẽ đơn giản, với ông, trách nhiệm của một trí thức là phải biết “MỞ MỒM” nói lên sự thật dù là với ai và ở bất kỳ đâu. Câu nói của ông chợt khiến tôi liên tưởng đến nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc khi viết về Giáo sư Nguyễn Khắc Viện. “Nhiệm vụ của kẻ sĩ, thời nào cũng vậy, là gây dư luận.” Gây, khuấy động dư luận, không để cho dư luận được yên trí, bằng lòng với tấy cả những gì đã tưởng là đương nhiên. Giữ cho trí óc và lương tâm của xã hội luôn luôn tỉnh thức là vai trò canh gác thường trực của trí thức. Vai trò này tôi đã cảm nhận sâu sắc ở con người, khí tiết, lời nói và hành động của Giáo sư Huỳnh Hữu Tuệ.

Và cuộc đối thoại dưới đây với phóng viên VieTimes cũng được ông coi là một dịp may được “mở mồm” cho những trăn trở về sự trở về của những trí thức Việt kiều và các “vấn nạn” của giáo dục Việt Nam hiện nay.Phần I: Sau giải phóng, lập tức tôi đã trở về.

Phóng viên (PV): Những năm tháng chiến tranh ông ở đâu?

GS Huỳnh Hữu Tuệ (HHT): Tôi ở Canada. Tôi rời đất nước từ những năm 1960, khi đạt học bổng du học tại Canada và New Zealand. Nhưng tôi đã chọn Đại học Laval - Canada làm nơi dừng chân. Sau thời gian học đại học, tôi được giữ lại trường làm nghiên cứu sinh đồng thời là giảng viên. Những năm tháng đó tôi làm Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada và thường xuyên xuống đường tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ hòa bình cho Việt Nam

PV: Vậy cảm giác của sự ly biệt cũng khác với những người ra đi năm 1975?

HHT: Khác hơn nhiều. Bởi lẽ gắn bó của tôi với Việt Nam là gắn bó của một công dân với đất nước có chiến tranh và phải làm cách nào để giải quyết chuyện này.

PV: Những người ra đi năm 1975 mang trong lòng đau đớn, hận thù và nghĩ rằng họ như đang bị đẩy đi, bị cướp mất. Còn những người ra đi trước như ông lại mang trong lòng nỗi buồn chiến tranh, nỗi đau của một người con mất nước…Cho nên những người như ông sẽ trở về Tổ quốc dễ dàng hơn và xúc động hơn so với những người ra đi sau 30/04/1975?

HHT: Sau giải phóng., lập tức tôi đã trở về.

PV: Như vậy là đã lâu rồi. Và cảm giác của cuộc trở về lúc đó thế nào? Ông có cảm giác lo sợ nào đó không ?

HHT: Không hề sợ hãi mà ngược lại hãnh diện. Nhưng hơi thất vọng. Vẫn có người phê bình: “Anh chưa thấm được mối thù giai cấp”. Nhưng theo tôi cuộc chiến tranh đó không chỉ đơn thuần là mối thù giai cấp. Đó là cuộc chiến giữa hai đối thủ giữa một bên là quân xâm lược và một bên là dân tộc bị xâm lược. Động cơ giải phóng dân tộc còn lớn hơn tất thảy.

PV: Bây giờ chúng ta có thể nói rằng: Hồi đó, ngay sau năm 1975, có một số Tiến sĩ khoa học người Việt sống ở nước ngoài trở về theo lời kêu gọi của đất nước. Nhưng có một điều gì đó làm cho những người trí thức hồ hởi về giúp quê hương nhưng đã lại ra đi….

HHT: Đúng như vậy nhưng sự thật có tính khách quan của nó. Công lao của Đảng 20 năm qua là cởi trói. Nhưng làm sao phải đẩy mạnh tốc độ phát triển hơn nữa.

PV: Ông là một trong rất ít trí thức Việt Nam sống ở nước người đã trở về tổ quốc rất sớm ngay sau khi đất nước thống nhất. Tôi muốn biết ý muốn khi trở về của ông là gì?

HHT: Vai trò của tôi là cầu nối chặt chẽ giữa trí thức bên ngoài và trí thức bên trong. Tôi muốn xóa đi những mặc cảm và cả những lo sợ của không ít trí thức Việt Nam sống ở nước ngoài về chính quyền trong nước.

PV: Ông có thể hé lộ gì về gia đình mình? Bởi việc trở về Tổ quốc của ông trong một thời điểm khó khăn và có nhiều đe dọa. Chính thế mà gia đình chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn đền việc trở về của ông?

HHT: Vợ tôi là người gốc Canada, thành viên Đảng Cộng sản Canada và đã tham gia chống Mỹ cứu nước. Bà ấy cũng thường xuyên về Việt Nam và đóng góp cho công việc của tôi cũng như sự nghiệp phát triển của đất nước rất nhiều lời khuyên hữu ích. Bà ấy đã ủng hộ tôi trở về. Hơn nữa, Việt Nam là quê chồng của bà ấy.

PV: Ông trở về Việt Nam trong một khoảng thời gian quá sớm và làm việc dù theo cách thức thuyết phục hay mách nước (vai trò cầu nối) thì phản ứng của cộng đồng Việt kiều vẫn mang tính tiêu cực?

HHT: Tôi đã từng là kẻ thù của một số người trong cộng đồng hải ngoại. Có rất nhiều người đã tuyên chiến với tôi. Một số người tung tin sẽ qua Canada tiêu diệt “Việt cộng nằm vùng” Huỳnh Hữu Tuệ. Qua Paris, tôi thấy ảnh của mình dán khắp nơi. Nhưng mình đâu có sợ. Tôi sẵn sàng đối mặt với mọi chuyện, nếu chúng “dùng súng” mình cũng sẽ “dùng súng”.

PV: Sau những năm 1980, rất nhiều trí thức yêu nước trở về và có một số lại ra đi. Vậy theo ông, những điểm nào là khó nhất cho các trí thức trở về trước năm 1990?

HHT: Năm 1979, Việt Nam bị bao vây, cấm vận, tình hình bế tắc không có cách nào tháo gỡ. Chỉ có một nơi duy nhất có thể tập kết nhu yếu phẩm và đưa về trong nước là Canada. Tổ chức do tôi lãnh đạo đã dùng toàn bộ trí tuệ đứng mũi chịu sào. Trước và sau 75, tôi chưa bao giờ có sự cảnh giác về mặt chính trị.

PV: Tôi biết với một người trí thức tự tin, có tình yêu thực sự với dân tộc thì không điều gì khiến họ phải cảnh giác, để ý. Vậy những người giống như ông có trở về Việt Nam nhiều hơn không và họ có mang mặc cảm của những năm xa xưa không?

HHT: Tôi không có con số thống kê nhưng dựa trên kinh nghiệm cá nhân, thì những người như tôi là rất hiếm. Người Việt trở về đất nước có hai dạng: Một là không có cách nào sống đàng hoàng ở nước ngoài, một dạng khác trở về để khai thác thị trường Việt Nam. Nếu làm giáo dục, khoa học thành công, thì họ đã trụ lại bên kia rồi rồi. Từ những năm 1980 tôi đã có kiến nghị phải mở cửa kinh tế ngay để đón những luồng đầu tư công nghệ cao, sử dụng nhân công trong nước…Chất xám theo đó sẽ phát triển rất nhanh.

Dân tộc Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử nhưng luôn nằm trong thế tử thủ. Đất nước hình chữ S bị chắn dãy núi Hoàng Liên Sơn… Công cuộc khai phá đang tiến hành thì thực dân Pháp xâm chiếm. Dân tộc Việt Nam suốt đời đánh giặc, cứu nước mà đánh giặc thì cần tinh ranh phá thế bao vây. Đánh giặc phải phá. Ngay trong thời hiện đại, nếu lấy cày, cuốc để phá sẽ lộ ra hàng nghìn chuyện tiêu cực. Điều nguy hiểm nhất là mở cơ chế mà không biết cách kiểm soát, thì sẽ nổ tung rồi nó đập lại chính mình. Điều mà tôi sốt ruột là mong cho các nhà lãnh đạo có một chiến lược thật chặt và thật rõ để đẩy nhanh tốc độ phát triển.

PV: Là một giáo sư uy tín, là một người sống nhiều năm ở một nước phát triển và là một người hết lòng với Tổ quốc, xin ông hãy nói thật cái gì đang là cản trở lớn nhất cho sự phát triển của đất nước Việt Nam?

HHT: Cơ chế. Không có gì bằng sức mạnh nhân dân nhưng nhân dân không thể kiểm tra hết. 15 năm trước, có những nhà lãnh đạo chỉ ngồi rồi đọc báo cáo rồi xem đó là kết quả. 15 năm sau có chuyện ngược lại, chính phủ đã thành lập những đoàn thanh tra đã kiểm tra các báo cáo đó đúng hay sai. Lãnh đạo giỏi sẽ từ từ thay đổi cơ chế này cho tương thích với tốc độ phát triển của xã hội.

PV: Điều gì là khó nhất với một giáo sư từ nước ngoài trở về Việt Nam?

HHT: Điều tôi buồn nhất là điều kiện làm việc thiếu thốn. Nó không cho mình phát huy tất cả khả năng. Rất may trong phòng làm việc hiện tại của tôi có hai tiến sĩ ở Mỹ, Úc trở về nghiên cứu khoa học. Ba thầy trò quyết tâm phát triển nhóm này trở thành một nhóm chất lượng như các nhóm tôi đã từng tổ chức ở nước ngoài. Những em theo học trong nhóm rất đam mê và ham học. Đó là cách độc nhất để chứng minh: trong điều kiện không tương thích nhưng tiềm lực vẫn dồi dào, thì vẫn có thể phát huy được. Nhưng trong điều kiện hiện nay mô hình này không thể nhân rộng. Muốn mở rộng phải có một tập thể quyết tâm, thống nhất. Cái khó nhất của Việt Nam trong giáo dục là không ai lãnh đạo ai cả, không ai thống nhất ai mặc dù chức danh lãnh đạo rất lớn. Tôi thấy rất rõ về cách làm việc kỳ cục: Lãnh đạo rất sợ trách nhiệm

PV: Những thế hệ Việt kiều thứ 3, thứ 4 thì sao? Có thể vẫn nói ngôn ngữ đó, dòng máu không bị pha tạp nhưng sự trở về của họ hoàn toàn khó?

HHT: Thế hệ thứ 3, 4 trở về nước sẽ hoàn toàn như một người nước ngoài, thậm chí phải trả lương như một chuyên gia người nước ngoài.

PV: Người Trung Quốc rất tài trong chuyện này. Họ luôn tìm mọi cách để mời gọi những trí thức Trung Quốc sinh sống và làm việc ở nước ngoài trở về lục địa. Ở Trung Quốc, một giáo sư như ông nếu trở về đất nước làm việc thì điều kiện sẽ hoàn toàn như ở nước ngoài.

HHT: Chiến tranh ở Việt Nam kéo dài quá lâu. Những người ra đi năm 1975 có tâm lý mất toàn bộ cuộc đời. Họ không bao giờ quên mối hận đó. Nhưng vị thế Việt Nam ngày càng mạnh lên, thì những hận thù đó sẽ được hóa giải. Vì dù sao niềm hãnh diện dân tộc vẫn có một sức sống mãnh liệt trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

PV: Rất nhiều Việt kiều lên tiếng muốn trở về. Nhưng thực tế số người trở về lại rất ít, họ nói vậy nhưng họ không trở về ?

HHT: Ông nêu vấn đề rất đúng. Có bao nhiêu người trở về làm việc chấp nhận điều kiện này? Rất ít. Bản thân tôi đã nếm trải tất cả mọi điều, cao sang, đau khổ…nên mọi khó khăn sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa!

PV: Những điểm nào là khác biệt nhất giữa các tiến sĩ đào tạo trong nước với tiến sĩ nước ngoài?


HHT: Tôi không nói đến tiến sĩ thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội nhưng đào tạo tiến sỹ khoa học cần có những điều tối thiểu thật sự. Một người làm tiến sĩ phải dành 15 giờ mỗi ngày, 7 ngày trong một tuần, 4 năm dài đằng đẵng. Tiến sĩ Việt Nam một ngày làm 1 đến 3 giờ đồng hồ trong ba năm. Mới tính khoản thời gian đã khác nhau một trời một vực. Rồi còn tài liệu sử dụng, sách báo tham khảo, đồng nghiệp bên cạnh như thế nào để có thể thảo luận, phát triển tất cả suy nghĩ của cá nhân. Hai điều này không thông thì không thể có chất lượng. Những ngành khoa học khác như toán, vật lý… giáo sư phải giao lưu bên ngoài thường xuyên và tương đối cập nhật kiến thức của nhân loại. Trong bối cảnh như vậy không thể so sánh chất lượng tiến sĩ trong nước với nước ngoài. Không thể so sánh một cục đá với cục kim cương. Điều này không có nghĩa người Việt Nam dốt nhưng điều kiện làm việc tối thiểu không có, thì không thể nào đẩy cao trình độ tiến sĩ lên. Ở nước ngoài muốn làm tiến sĩ thì phải đi tìm thầy. Một ông thầy nổi tiếng phải có những công trình được công nhận, số tiền mang về cho trung tâm và chất lượng tiến sĩ mà ông đào tạo

PV: Ông khẳng định tiến sĩ trong khoa học có những điểm phát triển hơn. Nhưng tại sao cho đến nay, nền khoa học Việt Nam trên trường thế giới vẫn là một con số chưa đoán được?

HHT: Cách đây 1 tháng tôi từng nói một câu tàn nhẫn trong cuộc gặp với một số lãnh đạo trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi rất buồn khi nói nền khoa học của chúng ta là một nền khoa học GIẢ. Những người có đề tài hàng chục tỷ lại không có khả năng thực hiện dù được “dán chữ” đầu đàn. Cách để đạt đề tài là thương lượng với bộ và ăn chia phần trăm.. Đã có người đề nghị với tôi: anh nghĩ ra cái tên đề tài và đưa tôi lo chuyện còn lại và lấy 20%. Nền khoa học Việt Nam không chạy vì những đề tài lớn không cho kết quả. Những người có khả năng làm thì chỉ có 20-30 chục triệu nên có khả năng làm. Một tiến sĩ khoa học lương 2 triệu đồng một tháng, đi hội nghị phải bỏ tiền túi…. Vậy ai đủ sức làm? Ở nước ngoài, đi hội nghị, viết một bài báo… tiền mất 4.000-5.000 USD. Tiền đâu để làm những điều tối thiểu đó?

PV: Những cái giả trong khoa học có tác động mức nào đến xã hội?

HHT: Xã hội mới tác động đến những điều này. Cơ chế cho phép những cái giả bao trùm lên toàn xã hội từ khoa học, giáo dục đến xây dựng cơ bản… Đó chỉ là một trường hợp đặc biệt. Nền giáo dục là tấm gương phản ánh thực trạng xã hội đó. Nó là cái kéo xã hội đi. Trách nhiệm của nền giáo dục là đào tạo có trí tuệ, đạo đức... Đó là mục tiêu tối thượng. Nhưng nền sản xuất của Việt Nam hiện nay đang đến đâu? Có cần những trí thức, nhân lực cao cấp, kỹ sư chất lượng cao đến đâu… Mọi việc rõ ràng nhưng bộ Giáo dục có ai đứng ra làm một điều tra chính xác về vấn đề này? Năm kia, Giáo sư Tương Lai đã ký một dự án với bộ Giáo dục – Đào tạo làm việc này nhưng một năm sau không có tiền làm. Muốn xây dựng cái gì phải biết nó nằm ở đâu để xây dựng một chiến lược thích hợp?

PV: Vậy theo ông các nhà quản lý giáo dục có biết giáo dục Việt Nam hiện nay đang là cái gì không ?

HHT: Họ biết chứ, tất cả đều biết đó là một “dị nhân”. Nền giáo dục Việt Nam không đào tạo gì cả mà chỉ đào tạo ra những con người có một cái bằng. Chấm hết.
(Còn nữa)


Vài nét về GS Huỳnh Hữu Tuệ

* Năm 1960, Huỳnh Hữu Tuệ là một trong số những sinh viên xuất sắc được học bổng du học tại Canada. Sau thời gian học đại học Laval- Cannada, nhờ có kết quả học tập tốt, Huỳnh Hữu Tuệ đã được giữ lại trường làm nghiên cứu sinh, đồng thời làm giảng viên tại trường. Năm 1968, kết thúc khóa học, Huỳnh Hữu Tuệ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về viễn thông. Đến năm 1972, hoàn tất thêm luận án Tiến sĩ khoa học về chuyên ngành Xử lý thông tin và đến năm 1981, ông được phong hàm Giáo sư. Tiếng tăm về người Tiến sĩ Canada gốc Việt khi ấy đã làm nhiều nhà khoa học nước bạn nể phục. Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho đến ngày hôm nay vẫn còn nhiều giá trị như “Quá trình ngẫu nhiên không chuẩn”... Ngay từ khi còn là sinh viên, Huỳnh Hữu Tuệ đã cùng những người con đất Việt yêu nước xuống đường tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ việc lập lại hòa bình ở Việt Nam. Nhiều năm liền ông là Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada, nắm bắt, quan tâm tới tình hình phát triển của quê nhà, đặc biệt là về giáo dục. * Năm 2000, khi GS Huỳnh Hữu Tuệ đưa vợ về thăm Việt Nam, GS Nguyễn Văn Hiệu (Khi đó là Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Viện khoa học và công nghệ quốc gia) tuần nào cũng đến đón hai vợ chồng GS Tuệ đi chơi. Một lần, mặc dù bận họp TW Đảng nhưng GS Hiệu vẫn ra tận sân bay đón vợ chồng GS Tuệ. Máy bay trễ 3 tiếng đồng hồ nhưng GS Hiệu vẫn ngồi đời. GS Huỳnh Hữu Tuệ tâm sự: “Một người như ông Hiệu mà làm chuyện đó khiến tôi cảm động…”.

* Trước đây, lương của GS Tuệ ở Canada là 10.000 USD/ tháng, giờ chỉ còn bằng mức lương một giảng viên đại học của Việt Nam, cộng với 180.000 đồng/ngày để trả tiền cho căn phòng khoảng 20 mét vuông trên tầng ba khách sạn Cầu Giấy và 100.000 đồng tiền ăn mỗi ngày.

* GS Huỳnh Hữu Tuệ là trí thức Việt kiều đầu tiên được phong chức chủ nhiệm bộ môn tại một trường đại học ở Việt Nam.



Xì-căng-đan Vàng Anh và sự “xâm lăng” văn hoá

Có bài này viết rất hay về vụ HTL.

http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2007/10/750551/

Xì-căng-đan Vàng Anh và sự “xâm lăng” văn hoá.
01:45' 22/10/2007 (GMT+7)
(VietNamNet) - Xì-căng-đan Vàng Anh-Hoàng Thuỳ Linh (VA-HTL) là câu chuyện vấp ngã đau đớn, bẽ bàng của một cô bé diễn viên trong đời sống xã hội thị trường tiêu dùng và thực dụng đầy phức tạp, nhưng lại đặt ra những vấn đề lớn hơn, và cũng đau hơn, sâu sắc hơn cho người lớn chúng ta, cho giáo dục mỗi gia đình, cho các nhà quản lý giáo dục, văn hoá và quản lý đất nước.

Bạn đọc phải vào đó để đọc toàn bài. Ở đây tôi chỉ nói vài ý nghĩ của mình thôi.

Mấy hôm nay báo chí làm ồn ào vụ cô “Vàng Anh” HTL. Thú thật, tôi không để ý đến vụ này vì tưởng rằng báo chí bàn về bộ phim “Nhật kí Vàng Anh” ở trong nước mà mình thì ở ngoài nên đâu biết gì mà nói, mà bàn. Hóa ra, tôi sai, vì họ bàn về vụ ai đó tung đoạn phim bẩn thỉu nào đó do cô bé HTL đóng vai chính. Tôi không xem phim đó, và cũng chẳng có thì giờ mà đi tìm trên net làm gì, nhưng qua báo chí và mấy trang blog phổ thông (Huy Đức, Cô gái Đồ Long, Trang Hạ, v.v…) tôi biết câu chuyện khá phức tạp, nhưng tôi thì muốn nhìn qua lăng kính văn hóa làm người. Tôi không dám nói đến đạo đức (rất cần thiết), vì đó là phạm trù của các vị bên tôn giáo.

Tôi nghĩ gì về hành vi của HTL hay những cô như thế ngày nay? Tôi thấy giới trẻ thời nay có cái may mắn hơn thời chúng tôi là họ có nhiều thông tin hơn nhiều. Nói theo tiếng Anh là họ “exposed to rich information”. Có nhiều thông tin không hẳn là tốt. Trong cái đống thông tin đó, có rất nhiều thứ rác rưởi, độc hại, nhưng cũng có nhiều thứ cực kì có ích và thú vị. Nhưng làm sao để sàng lọc những thông tin tốt từ đống rác độc hại là một vấn đề cần đặt ra.

Theo tôi giới trẻ ngày nay thiếu kĩ năng xử lí thông tin, cho nên họ rất dễ bị chao đảo. Mấy em sinh viên từ trong nước ra ngoài này du học thoạt đầu thấy choáng ngộp trước cái giàu sang, tráng lệ của phương Tây, và quay sang chê bai Việt Nam, dè bỉu văn hóa Việt Nam, phản đối lối sống truyền thống Việt Nam. Để chứng tỏ mình cũng có khả năng thích ứng, họ quay sang lối sống Tây phương: tức là cũng áo quần đồ thời trang (hở rốn, hở mông, tóc vàng, tóc nâu, phấn son tùm lum, v.v…), cũng “tự do” (kể cả tự do quan hệ sex, “sống thử”), cũng ăn chơi (uống rượu, hút thuốc lá), v.v… Theo tôi biết cái cô HTL và đồng nghiệp của cô sống như thế hay gần như thế. Có thể xem đó là lối sống lành mạnh không? Ngay cả người Tây phương còn thấy đó là lối sống sa đọa, thiếu lành mạnh, và họ kêu gọi quay về lối sống gia đình, tôn trọng người có tuổi, có trách nhiệm với xã hội và người chung quanh. Ấy thế mà giới trẻ ta lại chạy theo cái lối sống mà người ta đã khinh bỉ nó! Đó là hậu quả của kẻ bắt chước. Bắt chước thì lúc nào cũng đi sau người ta. Bắt chước văn hóa chỉ làm cho người nước ngoài khinh bỉ.

Tất nhiên, không phải tất cả những đặc điểm văn hóa của mình là hoàn toàn tốt. Nhưng những cái hay cần được duy trì và phát huy. Mặt khác, bắt chước cái hay của Tây phương thì được, nhưng bắt chước cái xấu của họ thì không thể chấp nhận được, vì đó là “lai căng”. Lai căng rất đáng khinh bỉ. Trịnh Công Sơn từng viết: “Gia tài của mẹ một bọn lai căng / gia tài của mẹ một lũ bạc tình”. Một số trẻ em ngày nay là một lũ lai căng và bạc tình, bạc tình với quê hương, với tổ tiên.

Tôi nghĩ giới trẻ ngày nay thiếu bản lĩnh văn hóa. Nếu là người có bản lĩnh, đứng trên sự việc, thì người đó sẽ không bao giờ nao núng trước cái mới hay cái hơn mình. Người thiếu bản lĩnh văn hóa thì rất dễ bị thuyết phục bởi những cái mới. Vì không có bản lĩnh văn hóa nên khi thấy cái gì mới họ cũng đều chạy theo. Mà chẳng phải giới trẻ, ngay cả những người tự hào là “có học” cũng thế. Một vị cũng có tiếng “dissident” (hiện ở trong nước) có lần phát biểu rằng ông ấy khi mới sang Singapore thấy choáng ngộp vì cái cửa kiếng xoay vòng của một building và tự hỏi biết bao giờ VN ta mới có một cái. Vị này còn nói dân Tây ai cũng biết lái xe hơi, còn dân ta thì chỉ chèo xuồng! Hàm ý ông này nói rằng dân mình nghèo quá, lạc hậu quá, ngu quá, và kêu gọi phải làm giống như Tây: ai cũng lái xe hơi. Mới nghe qua tưởng đâu là ý kiến một cậu bé chưa trưởng thành, nhưng hóa ra ông này là “viện sĩ”! Chắc là viện sĩ dỏm. Ông ấy không biết rằng sáng chế là nhu cầu của cuộc sống. VN và các nước Đông Nam Á là các nước nông nghiệp và văn hóa của họ là văn hóa sông nước, cho nên họ không cần sáng chế ra xe hơi làm gì. Còn người Tây phương có văn hóa du mục, nay đây mai đó, nên họ cần phương tiện đi đường nhanh và đó chính là lí do họ sáng chế xe hơi. Có lẽ tôi giải thích hơi đơn giản, nhưng đây là blog nên tôi viết không đầy đủ được.

Theo tôi, tập phim “Nhật kí Vàng Anh” đó nó cũng phản ảnh lối sống của một thành phần trẻ em ở thành thị, giàu có, và cha mẹ có quyền thế. Đó không phải là cái gì đáng chê trách. Thật ra, chúng ta cần nhiều người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, tôi nghĩ phim đó không phản ảnh đa số trẻ em trong vùng quê, những em chưa biết đến điện thoại di động là gì, chưa bao giờ dám mơ đến cái áo 700 ngàn đồng, chưa bao giờ dám mơ đến một chuyến du lịch Singapore, bởi vì cha mẹ các em có thu nhập khoảng 30 ngàn đồng một ngày. Không, tôi không đòi hỏi chúng ta phải ca ngợi cái nghèo (như các nhà thơ của ta hay thi vị hóa); tôi chỉ muốn hoàn cảnh của đại đa số người dân ở nông thôn, những người đang giữ các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, được nhiều người biết đến để giúp đỡ họ.

Để hôm nào tôi viết tiếp về đề tài này …

NVT

Vinh danh ?

Từ hôm qua đến nay, tôi nhận được nhiều điện thoại và email chúc mừng tôi được Úc vinh danh. Tôi ngạc nhiên lắm, vì không biết vinh danh cái gì. Hóa ra, một anh bạn viết về vụ tôi được cái fellowship của NHMRC trên Thanh NiênNgười viễn xứ đăng lại!

Thật ra, đó không phải là vinh danh gì cả; tôi phải đệ đơn như 2000 người khác và phải qua phỏng vấn, rồi họ chọn, chứ đâu có ai vinh danh. Fellowship không phải vinh danh gì cả, nhưng có thể xem là một phần thưởng họ tặng cho mình về những việc mình đã làm trong quá khứ. Thế thôi.


Nếu bạn hỏi tôi: có vui không? Vui chứ, vì phấn đấu bao nhiêu năm nay để có ngày này mà. Thế có tự hào không? Có một phần nào. Còn hài lòng? Không bao giờ hài lòng cả.

Như vậy là nhà báo hiểu lầm? Không phải đâu. Tôi đã hỏi và “xì nẹc” anh bạn viết cái bài đó tại sao đề là “vinh danh”, thì anh bạn nói “em đâu có viết cái tựa đề đó đâu, phóng viên họ viết ra đó chứ”. Hỏi phóng viên thì họ nói “tại bên ban Kiều bào họ viết” (ban “kiều bào” là ban trong báo Thanh Niên chuyên phụ trách kiều vụ). Tôi nghĩ họ làm báo và muốn có tựa đề giật gân để bán báo. Họ cố ý. Yêu cầu họ sửa lại thì họ nói báo đã in rồi, không sửa được. Trời đất ơi! Hết nói!

Có bạn hỏi bức hình họ đăng đó là ở đâu và tôi đang làm gì. Xin trả lời rằng bức hình đó được chụp ở Honolulu (Hawaii) hôm tháng 9 vừa qua nhân hội nghị loãng xương quốc tế. Trong hội nghị đó, tôi trình bày hai bài nói chuyện và có các đài tivi Mĩ và Anh “mò” đến phỏng vấn. Hình này tôi trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình của Anh (chẳng nhớ đài tên gì!) Họ hỏi tôi về cái nghiên cứu của tôi liên quan đến nội tiết tố nam testosterone và loãng xương. Người chụp hình chẳng ai khác hơn là nghiên cứu sinh tiến sĩ của tôi: cháu Ngọc Bích.

NVT

Sunday, October 21, 2007

Nguyễn Tất Nhiên

Hôm nay thơ thẩn một chút nhân thấy một tờ báo trên mạng có bài của Đỗ Kh viết nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên. Nếu các bạn thuộc vào thế hệ chúng tôi, tức là những người trưởng thành trong thời thập niên 1960s hay 1970s, thì không thể nào không biết NTN. Anh nhà thơ này sinh năm 1952 ở Biên Hòa với tên cúng cơm là Nguyễn Hoàng Hải. Sau 1975, anh ấy qua Mĩ và chết năm 1992 trong một hoàn cảnh bi đát như lời thơ mà anh ta viết mấy chục năm về trước. Tội nghiệp anh ấy lắm. Một nhà thơ, theo tôi, có tài và mẫn cảm nhưng sống vào thời nhiễu nhương.

Nói đến NTN tôi nhớ ngay đến những bài nhạc nổi tiếng được phổ từ thơ của anh: Trúc đào, Cô em Bắc kì nho nhỏ, Em hiền như ma soeur, Linh mục. Phần lớn là do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển lời thơ sang nhạc. Hay tuyệt.

Tôi thấy thơ của NTN dễ thương, pha chút tính híp-pi thời thượng nhưng không bao giờ lố bịch, và nhất là táo bạo. Thời đó mà anh ta dám nói những câu như:

vì tôi là linh mục

không biết mặt thánh thần
nên tín đồ duy nhất
cũng là đấng quyền năng !
tín đồ là người tình
người tình là ác quỉ
ác quỉ là quyền năng
quyền năng là tín đồ

hay dám đem hình ảnh của bà sơ ra làm thơ. Mấy bài này tôi đều thích, nhưng thích nhất có lẽ là bài Trúc Đào mà nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành nhạc hay tuyệt:

Chiều xưa có ngọn trúc đào

Muà thu lá rụng bay vào sân em.
Chiều thu lá rụng êm đềm
Vàng sân lá đổ cho mềm chân em
Tại vì hai đứa ngây thơ
Tình tôi dạo ấy là ngơ ngẩn nhìn
Nhìn vằng trăng sáng lung linh
Nhìn em mười sáu như cành hoa lê
Rồi mùa thu ấy qua đi
Chợt em mười tám chợt nghe lạnh lùng
Thuyền đành xa bến sang sông
Hàng cấy trút lá tình đi lấy chồng
Chiều nay nhớ ngọt trúc đào
Mùa thu lá rụng bay vào sân em
Người đi biết về phương nào
Bỏ ta với ngọn trúc đào bơ vơ.

Thôi tôi để cho các bạn đọc để biết, chứ nói một chút nữa là tôi trở thành người nói với chính mình.

NVT


====
http://www.talachu.org/index.php
Thơ :: 21.10.2007
Nguyễn Tất Nhiên
Minh khúc

Vào lúc nửa đêm ở ngoài sân chỉ còn một bóng vẩn vơ đi qua đi lại vòng quanh mấy cái cây èo uột trong sân Trung tâm III Tuyển mộ nhập ngũ. Anh thanh niên này mặt cúi trầm ngâm nhịp 6 và nhịp 8 bước chân. Chắc là anh đang làm thơ. Tôi đi ra bắt chuyện và quả ra là vậy. Trên tay anh cầm một cuốn vở học trò.


Đó là vào năm 1974 ở miền Nam. Hai ngày nữa tôi sẽ chuyển sang trại tân binh tình nguyện đợi về đơn vị. Anh sẽ chuyển sang trại tân binh quân dịch và tôi sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng cuộc chiến dù sao cũng sẽ chấm dứt trong vài tháng nữa. Bài thơ của anh trên giấy chép tay mà anh đưa cho tôi đọc, tôi chỉ nhớ có câu u uất, “Đêm nghe trái bã đậu nổ”. Cây bã đậu là những cây này, dễ nuôi và chóng lớn để cho các quân trường có một chút bóng mát, về khuya trái lốp bốp nở nhưng không hẳn là để tập làm quen với tiếng súng sa trường. Nhưng điều mà tôi ấn tượng về người bạn chốc lát này là lúc anh ngẩng mặt và vung tay về phía cái sân vắng lặng: “Năm ngoái, Nguyễn Tất Nhiên đứng ở nơi đây”.

Vào thời điểm nói trên, thơ của Nguyễn Tất Nhiên qua những bài phổ nhạc là hiện tượng không thể tránh khỏi ở Miền Nam. Ca từ này đi vào đời thường, liếc đâu cũng thấy những cô Bắc kỳ nho nhỏ hiền như ma-sơ và cắt tóc demi-garçon trong khi các thanh niên thì nói năng chi cũng thừa nên chỉ chực leo lên nóc nhà thờ mà ôm thánh giá. Trẻ con thì rêu rao đầu ngõ “Thà như bồ câu/ Chết được nhồi yến” thay vì “Thà như giọt mưa/ Chết trên tượng đá” và bao nhiêu lá trúc đào nắn nót bằng mực tím trên những vở học trò. Nói không ngoa, Biên Hòa trở thành văn hóa.

Nguyễn Tất Nhiên sau 1975 đầu tiên sang Pháp, có một tập thơ do Nam Á xuất bản, vào thuở in ấn ở nước ngoài còn phải chụp lại những chữ đánh máy lọc cọc rất thủ công. Tôi không được biết anh vào giai đoạn này mà là ở Bolsa, sau khi anh sang Mỹ định cư. 1987 hay 1988 là thời điểm cựa quậy của cộng đồng, như một đứa bé bắt đầu lớn. Báo chí đã có nhiều, và Nguyễn Tất Nhiên xuất hiện đều đặn, có lúc anh vào lãnh vực làm băng nhạc nhưng như một số nhà thơ, cuộc sống đối với anh là một chiếc áo mặc không vừa. Cuộc sống riêng tư, cũng như cuộc sống bên ngoài, xã hội, anh tay chân lóng ngóng. Bạn bè, gia đình, thân hữu đều nỗ lực giúp anh vá víu đến đâu hay đến đó, và chỉ có thể là tạm bợ.

Những bài “Minh khúc” là ở giai đoạn cuối này. Tôi gặp Nhiên bất thường, có bận anh cho tôi xem bản nháp của một trường thi về lịch sử Việt Nam, chắc vì hai con anh còn bé và cũng như những đứa trẻ lớn lên ở nước ngoài không thích đọc Đại Nam thực lục chính biên hay Hoàng Lê nhất thống chí. Lúc đó Nhiên cười rất đỗi ngây thơ và cuộc đời thì chẳng ngây thơ chút nào cả. Lần khác, chẳng bao lâu sau, anh giúi cho tôi một bản hắt hiu đánh máy, có vài chữ anh chữa lại bằng tay. Kỷ vật của tôi không phải là những tờ giấy tôi đã đánh rơi đâu mất này, mà là vài câu thơ tôi còn giữ trong một xó óc:

Buồn ơi tôi thấy tôi bàn ghế
Nguyện hiến cho đời một tấm lưng

Nguyễn Tất Nhiên đã ra đi, ngồi trong xe một mình ở một sân chùa vắng. Tôi không rõ là chùa nào và sân chùa này có trồng cây bã đậu hay không. Đám tang anh, tôi lái xe lạc đường và đến trễ sau khi mọi người đã ra về. Nhưng thôi, người chết thì chẳng đi đâu được và vẫn nằm đó.

Tập “Minh khúc” 10 bài này, Nguyễn Hoàng Nam vừa mới tìm lại thấy một bản. Đây không phải là những bài cuối mà là những bài Nguyễn Tất Nhiên có gom lại thành tập và photo thành vài bản. Một số bài trong tập đã được in trên báo dạo đó nhưng vào thời điểm internet chưa thông dụng nên không được lưu trữ trên mạng.

10.2007 Đỗ Kh.



Saturday, October 20, 2007

Cao Xuân Hạo

Xin giới thiệu đến các bạn một bài viết hay về nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, mới từ trần cách đây vài hôm. Tôi đã đọc nhiều bài do đồng nghiệp hay cựu học trò viết về ông, nhưng bài này theo tôi là ấn tượng nhất.

Tôi đã đọc một cuốn sách viết về tiếng Việt của cụ CXH và rất thích. Theo tôi, sách ông viết đọc dễ hiểu (tức là không quá cầu kì hay làm dáng trí thức) với những ví dụ cụ thể về cấu trúc của tiếng Việt. Cái hay của ông là ứng dụng các phương pháp khoa học trong phân tích tiếng Việt. Tôi thấy ông là người chịu khó tìm tòi và đã có những phát hiện rất thú vị.

Tuy nhiên, một số quan điểm của ông tôi thấy khó đồng ý. Tôi nhớ hoài ông phân tích sự khác biệt giữa “ông ấy”, “chị ấy” (theo cách nói của người Bắc) và “ổng”, “chỉ” (theo cách nói của người Nam) rất thú vị. Ổng (tôi sử dụng từ này để nói về cụ CXH) làm một thí nghiệm đo lường thời gian phát âm và thấy cả hai cách nói … bằng nhau, nhưng tất nhiên cách nói của người Nam gọn hơn (chỉ dùng một chữ). Thực ra, đứng về mặt phương pháp học, thí nghiệm của ổng có vấn đề, và theo tôi, thì ổng chưa thể kết luận như thế được. Nhưng vẫn đáng khen cho một nhà ngôn ngữ học chịu khó tìm tòi làm thí nghiệm. Thật ra, nói chung các nghiên cứu về ngôn ngữ học ở VN, kể cả của ổng, còn rất thô sơ và sai lầm về phương pháp thí nghiệm, chứ không đi sâu như các nhà ngôn ngữ học nước ngoài. Có lẽ Nguyễn Đức Dân là người nghiên cứu ngôn ngữ học có tính khoa học cao hơn cụ CXH.

Dù sao đi nữa, cụ CXH là một trí thức nghiêm chỉnh (chứ không phải nhiều trí thức dỏm như ngày nay ở nước ta), và sự ra đi của ông để lại nhiều nuối tiếc trong nhiều người “yêu tiếng nước tôi” như kẻ viết trang blog này. Cầu mong hương hồn cụ CXH thanh thản tiêu diêu nơi miền cực lạc, không còn bận chuyện trần ai mà cụ từng trải qua.

NVT


===
http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/cao-xuan-hao-mot-tri-thuc-mot-than-phan/

Bài này đã được đăng trên NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN (số ra ngày 19-10-2007). Báo này hiện đang bị bộ 4T treo giò, không đươc đưa lên mạng. Diễn Đàn mạn phép đăng lại để bạn đọc trong nước và ngoai nước có thể tham khảo.

CAO XUÂN HẠO, MỘT TRÍ THỨC, MỘT THÂN PHẬN

Thế là nhà trí thức tài hoa ấy đã ra đi. Và lần này, nhà ngữ học bậc thầy ấy đã ra đi “một cách tuyệt đối”, không còn cách gì cứu vãn được nữa. “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, tôi tuy thương lấy nhớ làm thương, tuổi già hạt lệ như sương…” Phải cố nghĩ đến câu thơ người xưa khóc bạn để mà gắng vơi đi nỗi đau đã được báo trước. Đành rằng, rồi cũng phải lấy nhớ làm thương, vì làm sao cưỡng lại được quy luật nghiệt ngã mà ai rồi chẳng phải đón nhận. Một trí thức như Cao Xuân Hạo thì cũng phải mỉm cười, nụ cười diễu cợt và thách thức, mà chấp nhận sự nghiệt ngã đó.

Đó là diễu cợt và thách thức thân phận của một người trí thức. Trí thức theo cách nói của J.-P. Sartre, là người ý thức được sự xung đột xảy ra trong lòng họ và trong lòng xã hội giữa việc đi tìm sự thật qua thực tiễn hành động và hệ ý thức… là người xớ rớ vào những chuyện không liên quan đến họ. Chuyện không phải của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức. Mà cũng vì thế, theo K. Marx, người trí thức là người “phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không thụt lùi dù trước kết luận của chính mình…”.*

Là tôi tưởng tượng ra nụ cười thường ngày của Hạo vào phút giây nghiệt ngã anh nắm chặt tay tôi, khi chính tôi đang run lên nghẹn ngào trước sự thật sẽ phải đón nhận đó. Anh đã ra đi thật rồi, khoảng trống vắng nhà ngữ học lớn ấy để lại không biết rồi đây sẽ ai sẽ khỏa lấp, măc dù anh tự cho mình chỉ là “người trần tục tầm thường”.

Tự nhận mình là người trần tục, để không thể nào chấp nhận những ai đó “lấy làm thỏa mãn với dăm bảy thí dụ chợt nghĩ ra trong vài giây, vào những khoảnh khắc xuất thần của thiên tài. Nhà trí thức tài năng ấy đã quyết dành “hàng buổi, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm nếu cần, lần giở từng trang từ điển hòng kiểm tra lại những phát hiện sáng chói mà các bậc thiên tài đã thực hiện, và hễ có cơ may thì tự mình tìm ra những quy tắc khác ít mang dấu ấn của thiên tài, nhưng lại vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tới những sự thật có thật trong tiếng Việt chứ không phải trong tiếng Pháp hay tiếng Nga”.**

Và thực sự là anh đã tạo ra “cơ may” ấy bằng cách góp phần quan trọng vào việc làm nên một diện mạo của Việt ngữ học từ khi có nền đại học Việt Nam. Nhưng xin hãy để chuyện này cho các nhà ngữ học, đồng nghiệp của Anh, bình luận thẩm định về Anh, là người ngoại đạo của chuyên ngành này, tôi chỉ xin khóc bạn về đôi điều cảm nhận về bản lĩnh của người trí thức và cũng do đó mà phải gánh chịu một thân phận nghiệt ngã của người trí thức, người tôi yêu mến và kính trọng.

Con người ấy, như anh đã tự kể về mình : “ Cách đây gần bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logích học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái chuyện dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp : 'Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó'”.** Cao Xuân Hạo kể để tự phê phán mình, nhưng qua đó, có thể hiểu ra được ngọn nguồn tài năng của thân phận nghiệt ngã mà người trí thức tài hoa ấy đã phải gánh chịu. Tự giam mình mỗi ngày mười tiếng như vậy trong suốt mười lăm năm anh bị một án kỷ luật để không được đứng lớp giảng dạy, chỉ được “làm tư liệu” để “phục vụ nghiên cứu”. Và rồi cũng vì cái án kỷ luật đó, trong thời gian dài đó, anh “chỉ được dịch”, chứ không được viết !

Để “phục vụ nghiên cứu”, Cao Xuân Hạo tự trở thành một nhà ngữ học tài ba mà tác phẩm của anh đã làm “một cuộc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại” *** như nhận định của Jean-Pierre Chambon. Và vì “chỉ được dịch”, anh đã để lại cho đời hơn hai vạn trang sách văn học trong đó có các kiệt tác như Chiến tranh và hoà bình, Tội ác và hình phạt, Con đường đau khổ, Khải hoàn môn, Đèn không hắt bóng, Papillon, người tù khổ sai…. Điều đáng nói hơn nữa, khi dịch như vậy, từ cái vốn hiểu biết sâu sắc thành tựu của ngữ học hiện đại qua quá trình làm tư liệu “phục vụ nghiên cứu”, trên cở sở bám rất chắc vào mảnh đất tiếng Việt, khẳng định dứt khoát “Linh hồn tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao, tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hàng ngày của dân ta…”**, anh đã có dịp so sánh, đối chiếu cách diễn đạt tiếng Việt và các thứ tiếng Châu Âu, rút ra được những điểm dị đồng giữa hai loại hình ngôn ngữ, Cao Xuân Hạo đã dám sửa cái chuẩn tắc vốn được giới ngữ học thừa nhận theo quan điểm “dĩ Âu vi trung” (europeocentrism), mở ra một hướng mới đầy thách thức.

Thì ra tạo hóa đã không quá bất công, luật “bù trừ” phát huy tác dụng, cái án kỷ luật buộc anh phải treo bút đã giúp anh “vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tới những sự thật có thật trong tiếng Việt” ** để có những cống hiến lớn trong lĩnh vực Việt ngữ học, cũng đồng thời để lại dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực dịch thuật. Mà nào có gì to tát, khó hiểu đâu, cái án kỷ luật buộc anh phải treo bút ấy là do khi đi dạy, học trò cứ hỏi riết mãi về một “vụ án văn học, nghệ thuật” đang gây bức xúc dư luận, không thể im lặng mãi không trả lời, anh nói với học trò của mình : “trong tranh luận học thuật và văn chương, khi ai buộc phải dùng đến uy quyền và trấn áp thay cho tranh luận công khai thì chính ngừoi đó sợ chân lý”. Đó là cái tội “phát ngôn vô nguyên tắc” của mình. Vẫn nụ cười hiền lành song không dấu cái vẻ khinh bạc, anh kể lại chuyện đó, khiến tôi nhớ lại đoạn văn M. Gorki nói về Chekhov : “ Trước cái đám đông xám ngắt những kẻ bất túc, đã hiện ra một người… bằng giọng nói trung thực mà sang sảng, buồn buồn mà mỉm cười, với một nỗi sầu hoài tuyệt vọng trong tâm khảm và trên sắc mặt, giọng đầy quở trách dịu dàng mà thâm thúy, người ấy bảo cả bọn họ : Các vị sống bậy quá đi thôi ! ”.

Cao Xuân Hạo đã cố gắng thực hiện cái lương năng trí thức của mình như K. Marx đã từng chỉ ra, người trí thức là người “ phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không thụt lùi dù trước kết luận của chính mình…”. Nhưng rồi số phận đã chơi khăm anh, là nhà ngôn ngữ học tài ba, anh đã không còn diễn đạt được ý nghĩ anh có trong đầu sau mấy lần bị tai biến, tình trạng ấy kéo dài mãi cho đến khi anh không còn nói được nữa, chỉ biểu đạt ý nghĩ của mình bằng ánh mắt. Thì cũng giống như Chekhov đấy thôi, suốt đời “dùng ngòì bút tinh nhuệ của mình để phát giác ra những cái mốc meo của sự phàm tục” để khi ông mất, thi hài của ông được chuyên chở về St. Petersburg trên cái vagông đen chứa sò huyết của chuyến tàu chợ! Tôi nhớ mãi ngón tay trỏ của Hạo cứ gõ gõ trên ngực mình ngày anh mới nhập viện mà cô cháu đứng lau mồ hôi cho anh giải thích “đấy là ông cháu gõ vi tính đấy ạ. Ông cháu chỉ đánh vi tính được theo kiểu mổ cò”! Nhà ngữ học tài hoa ấy vẫn đang tư duy, chỉ không nói được!

Hạo ơi, anh đã tuyệt đối nằm xuống, nhưng sự nghiệp của anh thì đang đứng dậy vì càng ngày người ta sẽ càng nhận ra khoảng trống về sự thiếu vắng của một tài năng bẩm sinh từ cái “gien”di truyền và sự truyền dạy của cha anh, người thầy đáng kính của riêng anh và của một lớp trí thức có nhân cách, thầy Cao Xuân Huy. Một bậc minh triết, từng được mệnh danh là một nhà “Đạo học” ngay từ buổi mới trong ngoài ba mươi tuổi. Được sự chăm sóc và truyền dạy của cha, Cao Xuân Hạo theo được cái chí của cha vói cảm nhận thường trực về “cái gánh nặng tinh thần đang đè lên một người con không thực hiện được hoài bão của cha, một người học trò dốt đã phụ lòng mong đợi của thầy”**. Sự tự vấn ấy khiến anh để lại lời nhắn gửi “hy vọng các nhà khoa học nhân văn thuộc các ngành khác nhau, nhất là các đại diện của thế hệ trẻ, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng này” ** tức là hướng từ sự khác nhau về cấu trúc ngôn ngữ (tuyến tính/phi tuyến tính) để suy nghĩ thêm về sự khác nhau về phương thức tư tưởng giữa phương Đông và phương Tây mà cụ Cao Xuâhn Huy đã dẫn dắt anh.

Tôi muốn mượn lời của chính anh, để nói về sự nghịệp của anh, khi với tư cách là một nhà ngữ học tài ba, một nhà dịch thuật uyên bác để kiến nghị về cách anh hiểu một ý thơ của Nazim Hikmet qua sự diễn đạt tinh tế của tiếng Việt mà anh suốt đời đau đáu :

Nếu tôi không cháy lên

Nếu anh không cháy lên
Thì làm sao
Bóng tối
Có thể trở thành
Ánh sáng ?

Ở thế giới bên kia, anh hãy tự bằng lòng vì thân phận trí thức của anh cũng đã giúp “ mỗi người trong chúng ta phải có đủ nhiệt huyết để dám tự thiêu huỷ trong đấu tranh thì Chân mới thắng được Nguỵ, Thiện mới thắng được Ác ” ** như anh đã từng lý giải về cách dịch câu thơ của Hikmet.

Tương Lai

Bài đã đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân ngày 19.10.2007.Báo này hiện bị treo giò, không được phép đưa lên mạng. Vì vậy, Diễn Đàn mạn phép công bố.

* Cao Huy Thuần, Thế giới quanh ta, NXB Đà Nẵng, tr. 61.
** Những trích dẫn đều lấy từ Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt của Cao Xuân Hạo
*** “ Có lẽ chính cái hướng do Cao Xuân Hạo chỉ ra – chứ không phải hướng của ngữ pháp tạo sinh cải biến – mới thật là cái hướng mà ta phải theo để tìm đến một cuốc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại ” (Revue des langues romanes, tome LXXXIII, n° 1978, fasc. 1, pp.205-210), dẫn lại theo Hoàng Dũng trong “Cao Xuân Hạo. Nhà ngữ học”


Friday, October 19, 2007

Thay đổi tên

Sáng nay lên net đọc báo thấy có tin này: Đảng CSVN sắp đổi tên. Tin này đăng ở tờ Straits Times (Singapore). Ừ, tôi cũng nghĩ nên thay đổi tên cho hợp thời, hợp cảnh hơn. Ở ngoài này, nói đến chữ communist là người ta có một cảm nhận không mấy hay ho, do bộ máy tuyên truyền của Mĩ và Tây phương làm cho chữ này xấu đi. Cách đây hai ngày thôi, Úc đang vào mùa tranh cử, và bà JG ứng viên tranh cử chức phó thủ tướng bị tố cáo rằng bà từng là thành viên của đảng cộng sản Úc lúc bà còn là sinh viên, và thế là báo chí làm ầm ĩ, đòi bà phải thanh minh thanh nga. Rồi đối thủ chính trị của bà dèm pha đủ chuyện. Hàm ý của họ là communist là cái gì radical lắm, bầu cho bả là bầu cho radical. Đại khái như thế. Chỉ vì tên gọi thôi mà gây ra biết bao nhiêu khó khăn, đau khổ.

Ở ngoài này, những tờ báo chống Việt Nam hay không có thiện cảm với VN (như tờ Wall Street Journal hay tờ Washington Times) ngoài này mỗi lần muốn dèm pha VN thì họ sử dụng cụm từ “Communist Vietnam”, còn khi họ muốn vuốt ve thì dùng “Vietnam”.

Thành ra, tôi nghĩ thay đổi tên đảng chắc cũng có lí, để đưa ấn tượng VN một tầm cao mới hơn, nhất là sau khi VN đã là thành viên không thường trực của HĐBA LHQ. Mà, thật ra, tôi thấy VN bây giờ đâu phải là chủ nghĩa xã hội gì đâu. Nói gì mình, ngay cả cái anh bạn Campuchea bên cạnh mình đã thay đổi đảng thành Đảng Nhân dân Campuchea từ lâu rồi. (Hóa ra cái anh bạn nhỏ này vậy mà đi trước VN!)

Nói vậy thôi, chứ cái tay nhà báo này (Roger Milton) cũng tiên đoán nhiều cái sai về VN lắm. Mấy tháng trước thằng chả tiên đoán rằng ông Nguyễn Thiện Nhân sẽ trở thành bộ trưởng ngoại giao, mà bây giờ mình biết là hắn sai be bét. Người ta nói tiên đoán là một điều “nguy hiểm” nhất, điên rồ nhất của mấy tay khoa học và kinh tế gia. Nay đến mấy tay nhà báo.

Để xem.

NVT


===

http://www.viet-studies.info/kinhte/VCP_name_change.htm

Straits TimesOct 19, 2007

Name change as Viet party rebrands itself?

The word 'communist' is now seen as anachronistic and detrimental to nation's image

By Roger Mitton

HANOI - VIETNAM'S legislators will meet on Monday in a session to consider the possibility of changing the name of the ruling Vietnamese Communist Party.

Sentiment has grown to drop the word 'communist' and for the party to revert to its former name, the Vietnam Labour Party - which was used by the nation's founding father Ho Chi Minh - or to change to a new name like the People's Party of Vietnam.

The current name is viewed as an anachronism and detrimental to Vietnam's international image.

Said Professor Edmund Malesky, a Vietnam expert at the University of California: 'Many people in the United States and other countries have a visceral reaction to the term 'communist', so Vietnam would be well served by dissociating itself from that particular brand name.'

The party has already debated the issue privately. In the coming legislative session, it will float the idea publicly to gauge reaction among party cadres and civilians.

Said Mr David Koh, a Vietnam analyst at Singapore's Institute of Southeast Asian Studies: 'I believe that changing the name is already in the thinking of some leaders. But as with most Vietnamese political ideas, all the stars will have to be aligned for it to happen quickly.'
Indeed, no one expects it to occur soon, but a start is now likely to be made on the process.

And it is not hard to understand why.

Many younger party members regard the 'communist' tag as laughably outdated, given that Vietnam has embraced capitalism over the past decade - and has thrived mightily by doing so.

Said Mr Koh: 'Dropping the communist label is likely to come if the party formally acknowledges that its mission is no longer communism or class struggle. And, to a large extent, this has been tacitly admitted.'

Indeed, the party has already moderated its socialist ideology, so that class struggle is no longer a primary objective and everyone, including party members, can take part in business and become rich.
As well, many younger Vietnamese who want to get on the gravy train, especially those who seek expert training overseas, find that being labelled a communist does not help them.

Said Professor Malesky: 'I know that a lot of professional Vietnamese are wary of the term 'communist' on their resumes when they apply for international fellowships or positions with international companies.'

Others also argue that Vietnam's desire to integrate more with the global community is not helped by being grouped with communist states like North Korea and Cuba, which have been called 'outposts of tyranny' by the US. Said Prof Malesky: 'It is probably not a coincidence that the issue is being raised as Vietnam prepares to take the Asian seat on the UN Security Council and has a strong interest in building relations with a wide-ranging group of countries.'

Thursday, October 18, 2007

Cục đất sét và thần tượng


Hôm nay tôi nhận được một bình luận của một giáo sư ở trong nước về tình hình khoa học ở nước ta. Đọc mà buồn. Chẳng biết có lối nào “ra” không? Đây là một sự khủng hoảng đã được báo động từ lâu. Vụ sập cầu Cần Thơ ông bộ trưởng suýt từ chức. Đáng lẽ trong tình trạng này ông bộ trưởng khoa học và công nghệ cũng nên … tc. Thế hệ sau sẽ phải trả giá cho sự “cà tàng” của ta ngày nay. Riết rồi không biết ai là giáo sư thật và ai là giả nữa. Khổ.

Tựa đề là do tôi đặt: cục đất sét và thần tượng. Nghe nói ông cụ giáo sư sẽ gửi bài này đăng báo. Tôi đoán thế nào báo chí họ cũng cắt những đoạn mà cụ nói thật.

NVT



(bắt đầu trích dẫn)

Nên nhận định thế nào về con số 2/3 số tiến sĩ không làm khoa học mà làm quản lý ? -Trong số 1/3 còn lại cũng chẳng có mấy người thật sự làm khoa học, mà chỉ làm khoa học trên danh nghĩa, và rất nhiều sản phẩm của họ khó được chấp nhận là công trình khoa học theo cách hiểu thông thường trên quốc tế. Đánh giá cho đúng, tôi nghĩ chỉ 10-15% số tiến sĩ có trình độ tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế. Và cũng chỉ 10-15% số GS, PGS có trình độ tương xứng với các chức vụ đó trên quốc tế. Còn lại không chỉ thấp mà thấp đến tệ hại, nhiều người không có thể đứng trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp nhất.

Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ chưa bằng cử nhân của các nước, rât đông GS, PGS của ta không được như trợ giảng mới ra của họ. Tôi nói điều đó với tinh thần trách nhiệm đầy đủ. Trong ngành toán học điều này quá rõ, mà trong các ngành khác chỉ có tồi tệ hơn. Nói ra thì chạm tự ái, có người lồng lộn lên, chẳng qua vì lâu nay họ được đối xử cao hơn quá nhiều giá trị thật của họ, mà trong một xã hội đã quá quen lấy giả làm thật, họ không ý thức được sự kém cỏi cũng chẳng có gì khó hiểu.

Ở quê tôi ngày xưa, cục đất sét được nặn thành tượng thần, rồi ai đi qua cũng cúi đầu, riết cục đất cũng thành thiêng. Trong mỗi lĩnh vực khoa học, giáo dục của ta đều có nhiều vị đã trở thành thiêng theo kiểu đó, cứ tung hứng lên rồi không mấy chốc trở thành chuyên gia đầu ngành, được trao trọng trách lãnh đạo, rồi cái mô hình ấy cứ truyền lại để được tiếp nối, như vậy làm sao khoa học, giáo dục phát triển lành mạnh được.

Cái nguy hại là khi danh và thực tách rời, thật giả lẫn lộn, thì liền theo đó là nhiều tài năng chân chính bị vùi dập, chưa kịp nở đã tàn. Chẳng hạn trong lúc ta có hàng nghìn GS, PGS hữu danh vô thực thì 3 năm sau khi đã mất biết bao thì giờ bàn thảo để chấn chỉnh cái gọi là Hội đống Chức danh GS PGS, chỉ mới cách đây vài hôm thôi, tôi được chứng kiến trường hợp một nhà toán học trẻ 36 tuổi, bảo vệ tiến sĩ ở một đại học Pháp cách đây 7 năm, làm trợ giảng và giảng viện đại học Qui Nhơn hơn 10 năm, trong vòng 8 năm đã có 15 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín của ngành, đầy triển vọng trở thành một nhà toán học có tầm cỡ, cho nên hoàn toàn đạt tiêu chuẩn cao của một PGS theo chuẩn mực quốc tế, nhưng ở VN lại bị gạt ra vì ... không đủ số điểm về nghiên cứu khoa học, tính theo cách cân, đo, đếm khoa học độc đáo của Hội đồng Chức danh GS, PGS đã “đổi mới”.

Thật đau lòng và đáng phẫn nộ, tình hình dốt nát như thế kéo dài đã hàng chục năm, sẽ đẩy nền khoa học, giáo dục này đến vực thẳm nào, nhiều vị giữ trọng trách vẫn rất mơ hồ, thậm chí hoàn toàn dửng dưng phó mặc cho nó tự cứu lấy, rồi lâu lâu lên tiếng “củng cố, nâng cao, đẩy manh. phát triển”.

Một số trí thức thiếu tư cách (và thường thiếu tài) ra sức ru ngủ các vị, để được tín nhiệm và thăng tiến đều đặn. Rốt cục, ở xứ này chỉ có thùng rỗng mới kêu to và mới được nghe thấu. Nguyên nhân xem ra vì nhiều vị chỉ thích vỗ cho các thùng rỗng ấy kêu ngày càng to, chứ đâu có quan tâm gì khác.

Tôi rât tán thành nhận định : giáo dục, khoa học đang rơi vào khủng hoảng trầm trọng, chứ không phải chỉ là “không thành công” như Cựu Thủ Tướng PVK đã nhìn nhận cách đây vài năm, dù sự nhìn nhận ấy cũng đã là sự dũng cảm đáng kính trọng trong hoàn cảnh chúng ta.

“nhân danh phát huy sáng tạo đi tìm một con đường riêng, nhưng thực tế là lạc lỏng” (giòng 2-3 từ dưới lên). Giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức “không giống ai” và đó là nguồn gốc mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh. Trong báo cáo khảo sát của đoàn Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ về một số đại học lớn của VN có nói rõ sự “không giống ai ấy”.

Của đáng tội, các chức trách giáo dục, khoa học cũng luôn nói học tập các nước, và những chủ trương, chính sách “sáng tạo” ấy cũng chẳng qua từ học lỏm mà ra, chỉ có điều học lỏm mà không tiêu hóa được lại cứ chủ quan cho mình giỏi hơn thiên hạ, hiểu sai, làm sai một cách ấu trĩ lố bịch, mà khó hiểu là thường chỉ sai theo hướng có lợi cho những nhóm lợi ích nào đó không trùng với lợi ích của đất nước, nên luôn là nguồn gốc phát sinh tiêu cực. Điển hình là du nhập sống sượng các quan niệm “giáo dục là hàng hóa”, “thị trường giáo dục”, “thị trường khoa học” , để tiến tới “cổ phần hóa” các đại học công lập, khuyến khích kinh doanh giáo dục kiếm lời, cho đấu thầu, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học, y như đấu thầu các công trình xây dựng, để rồi bỏ hàng đống tiền công quỹ vào những việc mà chỉ nghe đến cái tên đề tài nghiên cứu đã thấy ngượng và xót xa cho nền khoa học của đất nước.

Hàng năm Bộ KH và CN trả lại Nhà Nước hàng trăm tỉ đồng trong ngân sách dành cho khoa học, trong khi nhiều người làm khoa học thiếu phương tiện nghiên cứu tối thiểu, lương không đủ sống, buộc phải tự cứu bằng những công việc khác rồi dần dần bỏ bê khoa học hoặc tìm cách ra nước ngoài kiếm sống. Quản lý khoa học kiểu đó là vì lợi ích của ai ? Vì dân, bởi dân, do dân chăng ? Nghịch lý trong xứ này là không ai coi thường sự nghiệp giáo dục chân chính bằng Bộ Giáo dục, không ai coi rẻ chất xám sáng tạo khoa học bằng Bộ Khoa học. Những việc mà ở các nước văn minh phải coi là scandal thì ở nước ta là thành tích để tuyên dương. Một đại học công gầy dựng được 27 tỉ đống trong 3 năm thì hiệu trưởng được coi là xuất sắc.

Cơ quan quản lý khoa học quốc gia để ối đọng ngân sách hàng trăm tỉ đồng rồi trả lại cho Nhà Nước, sau khi đã xài riêng cho trà nước, giấy bút, trong nội bộ cơ quan tính ra trong một tháng bằng cả tiền lương của 300 giáo sư (!) , ấy thế mà, để xem, có lẽ rồi đây sẽ được kể là thành tích tiết kiệm cho Nhà Nước, có ý thức quý trọng “tiền đổ mồ hôi sôi nước mắt của dân” nên chỉ tiêu thoải mái cho trà nước chứ không dám tiêu, dù chỉ dè sẻn, cho nghiên cứu khoa học. Theo các vị ấy, VN nghiên cứu khoa học thế là quá đủ rồi !

(hết trích dẫn)

Wednesday, October 17, 2007

Tiên đoán bệnh Alzheimer bằng protein expression?

Ngày nào chúng ta cũng thấy một bản tin “khám phá”, “đột phá”, “phát hiện” về y khoa. Nhưng bao nhiêu là thật và bao nhiêu là dỏm. Kinh nghiệm tôi cho thấy phần lớn là dỏm, chỉ có 1-2% là thật mà thôi. Cứ cái đà ngày nào cũng có thuật điều trị mới thì chắc xã hội này loạn lên thôi.

Hôm qua tôi nhận được thư một bạn đọc ykhoanet.com hỏi về một nghiên cứu mới đây mà trong đó người ta sử dụng protein expression để tiên đoán bệnh Alzheimer (mất trí nhớ). Cũng như nhiều email đến tôi, trong email này người gửi chẳng thèm cho biết tên họ là gì, ở đâu! Ôi, phép lịch thiệp của người Việt ở thế kỉ 21 mà thảm hại như thế à? (Có lần tôi nhận một email của một người rất giận tôi vì bài viết DNA không biết nói dối nhưng có thể nói sai, và cũng không đề tên họ. Tất nhiên tôi có thể đoán người đó là ai, là “cây đa cây đề” nào chứ, nhưng tôi chỉ … cười). Thôi, bỏ qua chuyện lịch thiệp, quay lại chuyện Alzheimer. Tôi đọc bài báo đó và thấy rất thú vị, nên có vài hàng bình luận trên www.ykhoanet.com. Các bạn có thể vào đó để đọc cho biết.

Theo tôi thì mô hình tiên đoán bằng protein expression này chưa thể ứng dụng trong thực hành lâm sàng. Cần nhắc lại rằng mô hình này chưa được kiểm chứng trong một quần thể hoàn toàn độc lập, thì chúng ta vẫn có lí do để hoài nghi sự hữu dụng của nó. Bài học về chẩn đoán ung thư bằng phân tích gien (microarray) vẫn đáng được nhắc lại ở đây. Năm 2004, một công trình nghiên cứu phân tích gien để chẩn đoán ung thư được công bố trên tập san New England Journal of Medicine cho thấy phân tích gien có thể tiên đoán chính xác đến 95% các trường hợp ung thư và không ung thư. Tiếp theo sau là những bình luận từ các chuyên gia, giáo sư, tiến sĩ (nhiều người rất nổi tiếng) cho rằng công nghệ gien có thể cho chúng ta biết mắc bệnh gì, kể cả ung thư, ngay từ lúc mới chào đời! Một năm sau, khi mô hình đó được kiểm chứng ở một quần thể độc lập khác, mô hình đó tiên đoán ung thư không tốt hơn việc búng một đồng xu (tức không quá 50%)! Ôi, bao nhiêu giáo sư giáo sĩ bị trứng vô mặt. :-)


Ông bà mình có câu trước khi nói gì phải uốn lưỡi 9 lần (?) Thành ra, đây là một bài học cho các vị phóng viên, đừng có thấy một nghiên cứu hấp dẫn rồi làm ồn ào, gây hoang mang cho công chúng (như vụ bưởi và ung thư trước đây).

NVT

Nhịp cầu ảo...

Xin giới thiệu các bạn một bài tản văn đặc sắc của Nguyễn Ngọc Tư. Mỗi lần về quê là tôi sợ cái loa phóng thanh, cứ sáng sáng hay chiều chiều nó lại eo éo khắp xóm khắp làng. Nghe chẳng được cái gì cả. Thật tế, nó làm ô nhiễm môi trường âm thanh của đồng quê. Tôi ghét nó thì đúng hơn.

Tôi hiểu ý đồ tốt của giới truyền thông là đem thông tin về cho bà con vùng quê, những người không biết đến đọc báo là gì. Nhưng xin quí vị tìm cách khác, chứ cái kiểu "phóng thanh" như thế thì nó chẳng khác gì một sự hiếp đáp lỗ tai.

NVT

===

Nhịp cầu ảo...

Tạp văn

Nguyễn Ngọc Tư

Một phòng học loang lổ của ấp được phía xã trưng dụng làm nơi gặp gỡ. Phía trước là khoảng sân ngập nước. Mảng tường tróc lỡ. Khung cảnh gây lên một niềm phấn khích nhỏ trong lòng tôi, chuyến này coi bộ hay, được gặp bà con tận ấp. Chứ mấy lần trước đi tới xã là lủi vô, bà con phải lặn lội xa xôi, cũng mắc cỡ. Bây giờ thích hơn, bây giờ thì những đại biểu của dân đã gần dân hơn một chút.

Và mặc kệ cái loa phóng thanh lúc nói lúc nín, lúc rít lên chói gắt, lúc rột rẹt, không gian nóng hập, ngọ nguậy trong cái bàn dành cho trẻ con tiểu học, thấy lưng mình thừa ra nửa thước… tôi vẫn thấy vui. Cái ý nghĩ mình hiện diện ở cái chỗ chật hẹp, loang lổ này làm ve vuốt được nỗi khổ tâm mình kém cỏi, tôi sung sướng nghe, sung sướng ghi chép, sung sướng nhìn ngắm.

Bỗng dưng niềm phấn khích biến mất, bỗng dưng lại tuyệt vọng, bỗng dưng tắt ngấm lửa lòng. Như xem một bộ phim làm lại, chỉ thay đổi bối cảnh, câu chuyện giữ nguyên, diễn viên giữ nguyên, những gương mặt quen thuộc. Những gương mặt dầm sương dãi nắng mà tôi đã xao xuyến xốn xang khi gặp lần đầu. Và lần hai, lần ba. Tôi không cảm thấy nhàm chán khi nhìn ngắm họ, nhưng bất an.

Trong sổ tay của tôi có ghi câu danh ngôn này, “con người rất dễ cô đơn bởi họ thường chỉ lo xây tường, chứ không lo xây những nhịp cầu”, nên dù là người không thích hợp với nghị trường, tôi cũng tự nhủ, ừ, tốt thôi, mình làm cây cầu cho dân bớt cô đơn. Nhưng vào một bữa mưa lay phay, tôi hoang mang nhận ra, những nhịp cầu mà tôi bắc, cùng chừng ấy người đi thôi, bàn tay tôi đưa ra, cũng chỉ chừng ấy người nắm. Mà cây cầu có ý nghĩa gì khi chỉ dành cho một số người đi tới đi lui?

Kể lại cái cảm giác thất vọng này, ai đó nghe được, đùa, bảo vậy là gặp “cử tri chuyên nghiệp”, “cử tri chất lượng cao” rồi. Những cụm từ mà khi nghe lần đầu, tôi đã âm thầm đau. Nhưng không bất ngờ. Ai cũng biết những cuộc gặp gỡ được tổ chức với thành phần con người được chính quyền địa phương lựa chọn, mời (có kèm theo căn dặn miệng?!). Nên có nhiều chú, bác lần nào đến đây tôi cũng gặp. Nên không lạ gì, nếu như trong các cuộc tiếp xúc dân, bà con nói đi nói lại vụ dòng kinh cạn, nợ đọng ngân hàng, đến cây cầu gãy, con đường lở, ngôi trường sắp sập, chế độ cho người có công… nhưng rất hiếm khi nhận được ý kiến góp ý xây dựng chính quyền sở tại, càng hiếm hoi nghe bà con khen chê cung cách làm việc của những ông quan xã, những người trực tiếp thực hiện cụ thể hóa chủ trương chính sách, một “văn phòng đại diện” cho Đảng, cho nhà nước, họ tốt, dân biết là nhà nước tốt, họ xấu, dân cũng mất lòng tin vào bộ máy chính quyền. Họ là người có thể một tay che trời. Bà con biết, nhưng bà con không dám nói? Bà con dám nói nhưng chán chường không muốn nói?

Hay chính quyền thực sự làm tốt, tuyệt nhiên không để xảy ra sai sót trong điều hành, trong ứng xử với dân? Muốn biết giả thuyết này có phải là sự thật hay không, ta có thể tìm được câu trả lời ở thím bán quán hàng đằng góc chợ, ở những anh chạy đò dọc, ở những chị phụ nữ trên đường mua nước mắm về… nhưng tại sao ta không có câu trả lời ở cuộc gặp chính thức, đàng hoàng giữa dân và đại biểu của dân?

Thí dụ chính quyền địa phương có nhiều chỗ sai sót mà dân không nói, chỉ có ba khả năng, một là dân thấy cái sai đó như là chuyện bình thường, quen thuộc, hai là không tin đại biểu của họ, dân cho là một giuộc với nhau cả, quan lớn lớn bao che cho quan nhỏ, có méc cũng uổng công, có khi còn rước họa vào thân, ăn ở không yên trên cái đất này. Mà, nếu đại biểu như con Hà Há Ha này, thì nó có quyền lực, tài cán gì để ngăn chặn, diệt trừ cái xấu, bảo vệ dân? Chỉ quyền lực mới đối đầu với quyền lực, ngòi bút cũng chỉ là tiếng nói lẻ loi, không đấu với quyền lực được. Đó là một thứ nước xa nhưng lửa thì gần lắm. Khả năng thứ ba, bà con là những “cảm tình viên” của chính quyền được lựa chọn đến đây.

Khả năng nào cũng làm tôi tức thở. Và cây cầu tôi dang dỡ, hiển nhiên. Hoặc nó chỉ là ảo tưởng, ngay từ đầu…

Vấn đề vệ sinh? Ôi, đây là vấn đề lớn nhất ở xứ mình. Bài viết sau đây nói về mấy cái cầu tiêu trong trường học, nhưng kinh nghiệm tôi thì mấy cầu tiêu trong bệnh viện cũng chẳng khá gì. Ở bệnh viện đa khoa KG, khu vực hành chính, dành cho toàn giám đốc, phó giám đốc và các quan chức cao, nhưng chỉ có 1 cầu tiêu. Mà, cầu tiêu này chắc xây vào thời đầu thế kỉ 20 (loại ngồi). Kinh hơn nữa, cầu tiêu không có khăn lao tay!!! Trời đất ơi, kinh khủng quá. Nên nhớ là bệnh viện nhé, tức là nơi đáng lẽ vệ sinh phải là ưu tiên hàng đầu, nhưng hởi ôi … Tôi ghé thăm bệnh viện CR thì khá hơn một chút, nhưng vẫn rất kinh.

Tôi không hiểu nổi tại sao dân ta không quan trọng chuyện vệ sinh nhỉ. Tại sao chỉ lo xây nhà cho lớn, cho đẹp, mà cái cầu tiêu không được chăm sóc chu đáo? Tại văn hóa của mình chăng? Văn hóa ở dơ? Xin để các nhà xã hội học trả lời.