Tuesday, November 27, 2007

Hiểu sai hiệu quả vắcxin

Nhân đọc bài “Uống vắc-xin ngừa bệnh tả” của PGS Tiến sĩ Đoàn Thị Thủy (Viện vệ sinh dịch tễ trung ương) trên Vietnamnet tôi thấy có vài điều thú vị. Bài đó ở đây:

http://vietnamnet.vn/khoahoc/2007/11/756966/

Thứ nhất, chị này đang công tác tại Viện VSDTTƯ mà cũng không biết bài báo của Viện chỉ xuất bản vào năm nào! Chị viết: “Sau khi uống vắc-xin 3-5 năm, hiệu quả bảo vệ vẫn còn 50% (tạp chí VACCINE 24 (2000) 4297-4303)”. Ngay cả cách viết và cho tài liệu là có vấn đề rồi! Thật ra, bài báo đó công bố vào năm 2006, không phải năm 2000. Tài liệu tham khảo chính xác là:

“Thiem VD, Deen JL, von Seidlein L, Canh do G, Anh DD, Park JK, Ali M, Danovaro-Holliday MC, Son ND, Hoa NT, Holmgren J, Clemens JD. Long-term effectiveness against cholera of oral killed whole-cell vaccine produced in Vietnam. Vaccine. 2006 May 15;24(20):4297-303.”

Người chịu trách nhiệm chính cho công trình nghiên cứu này là Jacqueline L. Deen.

Thứ hai, chị giải thích hiệu quả vắcxin như sau: “Tôi muốn giải thích thêm, khi nói hiệu quả bảo vệ của vắc-xin là 66% không chỉ có ý nghĩa 66% số người uống được bảo vệ không mắc bệnh mà số người còn lại nếu bị nhiễm thì mức độ bệnh trên lâm sàng sẽ ít trầm trọng hơn. Lý do là tỷ lệ số người được uống có đáp ứng miễn dịch là cao hơn nhiều (có thể là trên 90%).” Tôi e rằng giải thích như vậy là không đúng.

Sự thật là như sau. Nghiên cứu đó gồm có hai nhóm: nhóm 1 uống vắcxin (n=51.975 người), và nhóm 2 không uống vắcxin gồm có 67.058 người. Họ được theo dõi 8-10 tháng sau khi uống hay từ ngày tham gia nghiên cứu. Sau thời gian theo dõi, nhóm 1 có 25 ca mắc bệnh ta (tức 0,048%), và nhóm 2 có 92 ca (tức 0,137%). Do đó, nguy cơ mắc bệnh tả trong nhóm uống vắcxin thấp hơn nhóm không uống vắcxin là 66% (tức 1 – 0,048 / 0,137 = 0,66). Do đó, 66% hoàn toàn không có nghĩa là 66% số người uống được bảo vệ.

Như tôi trình bày, số người mắc bệnh rất thấp. Trên 100.000 người theo dõi trong vòng 8-10 tháng chỉ có 117 ca bệnh tả mà thôi. Làm gì có chuyện 34% mắc bệnh (như cách hiểu của phó giáo sư tiến sĩ Thủy)!

Điều tôi thấy thú vị là không phải chỉ giáo sư tiến sĩ Thủy hiểu không đúng hiệu quả vắcxin, mà còn có rất nhiều người phát biểu đều sai cả. Chẳng hạn như trước đây, Phó cục trưởng Cục Y tế dự phòng cho biết: “Lý do là hiệu quả của loại văcxin này rất thấp, chỉ đạt 60-70% (các văcxin thông thường phải gần 100%), nghĩa là khoảng 1/3 số người dùng văcxin vẫn có thể phát bệnh.” Thật là một sai lầm lớn!

Các quan chức cao cấp với bằng cấp và chức danh đầy mình mà viết và nói sai trước công chúng như thế tôi thấy rất đáng quan tâm. Tôi nghĩ họ sai là vì không hiểu dịch tễ học và không hiểu thống kê. Làm y tế cộng đồng mà không hiểu hai thứ này thì rất nguy hiểm. Không biết họ còn hiểu lầm nào khác nữa?

NVT

Thay đổi quan điểm

Trong vấn đề bệnh tả, tôi viết khá nhiều trên báo chí và ykhoanet.com. Nhìn lại tôi còn giật mình, chẳng hiểu sao mình viết nhiều thế! Hi vọng là không có “gây thù chuốc oán” với ai. Chỉ là một tấm lòng của một người Việt ở nước ngoài có quan tâm đến tình hình y tế trong nước. Hay nói theo ngôn ngừ trong nước là “bức xúc” đó. Cũng như người qua đường thấy chuyện không hay nên nhảy vào nói đôi ba câu phải quấy vậy mà.

Nhưng quanh đi quẩn lại tôi chỉ có 3 điểm: thứ nhất, mắm tôm không phải là thủ phạm gây bệnh tả (nước và vệ sinh thực quan trọng hơn); thứ hai, cần sử dụng vắcxin cho dân miền Trung đang đối đầu với lũ lụt; và thứ ba là nên làm nghiên cứu để thu thập dữ liệu.

Đầu tiên (ngày 2/11) qua tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Y tế, mắm tôm được xem là thủ phạm số 1 trong vụ bộc phát bệnh tả. Ngày 6/11 tôi nói nên cẩn thận phán quyết này, và sau đó là một loạt bài với những dữ liệu khoa học cụ thể cho thấy mắm tôm không phải là thủ phạm. Đến ngày 20/10 họ nói mắm tôm không phải là thủ phạm. Mắm tôm được minh oan.

Ngày 10/11 họ nói không triển khai vắcxin vì tốn kém và không hiệu quả. Lúc đó ông Nguyễn Huy Nga nói rằng “Trao đổi với báo chí chiều 9/11, TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết, Bộ Y tế chưa đặt ra vấn đề phổ biến vaccin phòng dịch tả đối với các vùng có dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm. Ngoài lý do dùng vaccin khi đã có dịch là muộn, còn phải tính đến việc đầu tư kinh phí mua vaccin, tổ chức cán bộ triển khai ...” Tôi lại viết 3 bài liền để chỉ ra rằng quan điểm này không đúng, và phân tích tại sao vắcxin có lợi ích kinh tế.

Đến ngày 26/11 theo Tuổi Trẻ, “Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) Nguyễn Huy Nga hôm qua 25-11 cho hay cơ quan này đang đề xuất Bộ Y tế tìm nguồn kinh phí cho người dân vùng vừa chịu ảnh hưởng của lũ ở miền Trung, trước hết là ở ba tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Đà Nẵng uống văcxin phòng bệnh tả.” Như vậy là vắcxin phòng bệnh tả sẽ triển khai nay mai ở miền Trung. Muộn còn hơn không. Thật ra, phòng bệnh thì không bao giờ muộn. Tôi rất hoan nghênh quyết định này.

Ngày 7/11 tôi viết trên Tuổi Trẻ là cần phải nghiên cứu, và đây là thời cơ lí tưởng để làm. Nhưng mãi đến ngày 26/11 Viện vệ sinh dịch tễ trung ương mới tuyên bố là đã phê duyệt một công trình nghiên cứu về bệnh tả. Tuy không mấy mặn mà với chủ đề nghiên cứu, nhưng tôi nghĩ như thế cũng … ok.

Nói tóm lại, tôi thấy cuối cùng thì các quan chức y tế cũng hành động giống như quan điểm của tôi trình bày trước đây. Chẳng biết họ có đọc hay chú ý đến ý kiến của tôi không, nhưng họ làm như thế là quá đáng hoan nghênh. Tôi ước gì sau này họ hành động theo các nguyên lí của y học thực chứng. Vụ mắm tôm là một bài học quí giá cho nguyên lí này.

Còn một điều khác nữa mà tôi có nói trong bài sau cùng: đó là vấn đề nhà xí. Ôi, đây là vấn đề nhức nhối nhất, đau đầu và đau lòng nhất ở nước ta. Trong quê thì người dân đi tiêu quá ... tự do. Ý tôi nói ao, hồ, sông, rạch, gì gì họ làm tuốt. :-) Dân quâ thì đã thế, mà quan chức cũng chẳng có gì hơn. Lần nào về VN tôi cũng tham quan nhà xí cả. Lần về Bệnh viện KG tôi để ý đến nhà xí quá ư là xấu. Khu dành cho nhân viên và ban giám đốc mà chỉ có 1 cái nhà xí duy nhất (nam + nữ luôn), mà cầu thì xây theo kiểu thế kỉ 19, lại không có khăn, nước thì lúc nào cũng lênh láng. Nhà xí bệnh viện CR tuy có khá hơn chút nhưng nói chung vẫn bệ rạc như thế. Ui chao, y tế mà còn vậy, thì làm sao mình ăn nói với ngoài y tế đây? Có nói cũng đâu có “thiêng”.

Tôi rất thích thú với mô hình nhà xí của Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ). Không hiểu sao chính quyền không phát động một phong trào xây nhà xí như thế. Hi vọng qua đợt này chính quyền sẽ làm. Có như thế thì mới diệt được cái nạn bệnh tả cứ “đến hẹn lại lên”.

NVT

Friday, November 23, 2007

Đọc lại phát biểu của các quan chức về mắm tôm

Báo Pháp Luật TPHCM số ra hôm 20/11 trong bài viết với tiêu đề “TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương: Mắm tôm không phải là thủ phạm gây bệnh tả!có trích câu phát biểu của ông tiến sĩ viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ trung ương câu này:

Tôi từng nhắc ông Triệu (Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế - PV) bài học kinh điển của dịch tả trở thành bài giảng của y văn thế giới: Vào cuối thế kỷ 17, dịch tả bùng phát ở Luân Đôn, có quá nhiều người chết mà không rõ nguyên nhân. Một bác sĩ đã chấm vị trí những người chết lên bản đồ thành phố Luân Đôn và phát hiện ra họ sống quanh một vòi nước. Trong khi vòi nước khác lại không có người chết.”

Ô vậy là mắm tôm mắc oan, và nay được minh oan! Câu nói trên ông Hiển có vẻ vừa lên lớp ông Bộ trưởng vừa ... tránh né. Vấn đề là thế này: lúc mắm tôm bị kết tội, thì ông tiến sĩ viện trưởng cũng là người hay phát biểu mắm tôm có tội đó chứ. Tuy nhiên, công bằng mà nói, tôi thấy ông viện trưởng phát biểu có chừng mực và có "trình độ" dịch tễ học hơn là các vị quan chức khác. Nhưng ông cũng đâu "vô tội".

Trước hết, câu văn lên lớp trên của ông viện trưởng sai. Sai chỗ này: sự thật là có 3 vụ dịch tả xảy ra ở London vào năm 1831, 1848, và 1853. Vậy thì làm sao ông viện trưởng nói là xảy ra vào "cuối thế kỷ 17" được. Có lẽ các bạn nói, ôi sai lầm này cũng nhỏ thôi. Tôi cũng nghĩ vậy: sai lầm này nhỏ. Nhưng ý nghĩa không nhỏ. Bởi vì ông ấy là viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ trung ương (chứ đâu phải phóng viên hay thường dân) và chúng ta kì vọng ông ấy phải thuộc bài dịch tễ học căn bản, nhưng rất tiếc ông không thuộc bài !

Bây giờ chúng ta thử xem qua trong quá khứ ông viện trưởng nói gì:

Ngày
10/11 trên báo Nhân Dân ông ấy (Nguyễn Trần Hiển) nói: “Qua số liệu điều tra tất cả các trường hợp bị tiêu chảy cấp nguy hiểm, phát hiện thời điểm đầu của dịch, có tới 80 - 90% số người bệnh có tiền sử ăn mắm tôm, thịt chó, rau sống. Chính vì vậy, có thể đây là thủ phạm.”

Ngày
10/11, trên Vnexpress, ông sử dụng phương tiện của Viện VSDT để truy tìm thủ phạm trong mắm tôm: “Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đang nghiên cứu để khẳng định mắm tôm có vai trò lây truyền thực sự trong vụ dịch này hay không.”

Ngày
13/11, khi kết quả toàn âm tính, Bộ Y tế không hài lòng và cho rằng tại kĩ thuật của ta chưa hiện đại. Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn nói: “Bộ Y tế đã nhờ các labo hiện đại của nước ngoài xét nghiệm và xác định xem phẩy khuẩn tả tồn tại được bao lâu trong mắm tôm.”

Ngày
14/11, ông viện trưởng NTH thấy "nóng mặt" với sếp ở BYT (vì ông thứ trưởng chê kĩ thuật của Viện vệ sinh dịch tễ còn kém), và ông viện trưởng biện minh: “việc chưa phát hiện thấy phẩy khuẩn tả trong mắm tôm không phải là do kỹ thuật của chúng ta không hiện đại mà do khả năng tồn tại của khuẩn phẩy dạng tả trong các chất thải, hay thực phẩm đều khác nhau, có thể là vài ngày cho đến vài tuần. Do vậy, có thể khi xét nghiệm thực phẩm mắm tôm (thường phải sau từ 1-2 ngày) thì đã quá muộn để tìm thấy phẩy khuẩn tả.”

Đến ngày
20/11, trên báo Pháp Luật TPHCM ông ấy nói khác: “Mắm tôm không phải là nguyên nhân gây dịch bệnh tiêu chảy lần này.”

Đó là cái evolution (tiến hóa) của câu chuyện. Sai thì sửa, có gì đâu mà cần phải làm ầm ĩ.

Thật ra, các bạn biết không, tôi rất có cảm tình với ông Hiển. Tôi thấy ông ấy là người phát biểu với nhiều câu chữ khoa học, chừng mực (không quá giật gân và không kết luận vội). Nhưng tôi đoán các sếp trong Bộ Y tế thì quá nóng lòng (họ quản lí sức khỏe cả nước mà) nên có quyết định sai lầm trong vụ mắm tôm này. Người lãnh đủ là các cơ sở sản xuất mắm tôm và dân nghiền thịt chó!

Thôi, âu cũng là một bài học dịch tễ học quan trọng. Lần sau về nước giảng bài, tôi sẽ lấy ví dụ này ra để cho học viên thảo luận.

NVT





Hậu “mắm tôm được minh oan” - bằng chứng khoa học, nhà xí và nghiên cứu

Thế là mắm tôm đã được Bộ Y tế “minh oan”. Sau cùng thì mắm tôm “vô tội”. Theo báo Pháp Luật TPHCM, ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Tuy nhiên, phát biểu minh oan này vẫn còn quá chậm, và sự chậm trễ này có thể đã gây tổn hại cho nhiều cơ sở sản xuất mắm tôm và khách hàng của họ. Trong bài này tôi sẽ nhân câu chuyện mắm tôm được minh oan để bàn đến hai vấn đề khác: đó là vai trò của nhà xí và nghiên cứu khoa học.


Vẫn cần phải dựa vào bằng chứng!

Câu chuyện mắm tôm được xem là “thủ phạm số 1” trong vụ bộc phát bệnh tả và tiêu chảy bắt đầu từ ngày
30/10 khi giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết “Nguyên nhân chính dẫn đến căn bệnh này là do người bệnh ăn thực phẩm sống như: mắm tôm, mắm tép, tiết canh, gỏi hải sản… trong đó có tới 90% số người mắc bệnh là do ăn mắm tôm sống.” Chỉ ba ngày sau, ngày 2/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm” và sau đó ban hành “Quy trình xử lý dịch tả”.

Dù chúng tôi đã lên tiếng ngay từ đầu (ngày 4/11) rằng cơ sở lí luận để tập trung vào cấm mắm tôm không mang tính khoa học, và một chiến lược tập trung vào chỉ một thực phẩm như mắm tôm có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng. Nói ra thì có vẻ như “Đấy! Chúng tôi đã nói thế”, nhưng sự thật là chúng tôi đã viết một loạt bài bài trình bày bằng chứng khoa học và sử dụng cả thống kê học để chứng minh rằng mắm tôm không phải là “thủ phạm” gây bệnh tả, càng không phải là nguyên nhân. Chúng tôi cũng chỉ ra rằng nghiên cứu trên thế giới, kể cả từ Việt Nam mới công bố vào năm 2007, cho thấy nguồn nước, thiếu vệ sinh, và thực phẩm nhiễm trùng mới chính là các yếu tố nguy cơ liên quan đến hay gây bộc phát dịch bệnh tả và tiêu chảy.

Thế nhưng phải đợi đến ngày 21/11, tức sau gần 3 tuần với bằng chứng y văn trên phương tiện truyền thông đại chúng, các quan chức y tế mới chịu “minh oan” cho mắm tôm. Như thế là quá chậm. Sự chậm trễ này có thể đã gây tổn hại đến nhiều người, nhất là giới sản xuất mắm tôm.

Có lẽ một số bạn đọc ngạc nhiên thấy Bộ Y tế thay đổi quan điểm về mắm tôm, từ khẳng định thực phẩm này là “thủ phạm số 1”, là “nguyên nhân” đến “không phải là nguyên nhân gây bệnh”, nhưng theo tôi sự thay đổi đó rất đáng hoan nghênh. Khoa học và y học phát triển từ những kinh nghiệm và sai lầm. Sai lầm là những viên gạch xây dựng nên y học hiện đại như ngày nay, kể cả y tế công cộng. Do đó, trước bằng chứng khoa học (mà chúng tôi đã trình bày) cho thấy mắm tôm không thể là nguồn vi khuẩn tả, thì việc minh oan cho mắm tôm là một việc làm hoàn toàn logic và theo nguyên lí của y học thực chứng (tức thực hành y khoa dựa vào bằng chứng khoa học).

Thật ra, ngôn ngữ minh oan vẫn mang tính gượng gạo. Hãy đọc lại phát biểu của Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa.” Tại sao có trạng từ “nữa” ở đây? Hiện nay, chúng ta đang có một vụ dịch, và mắm tôm không phải là “nguyên nhân” (tôi sẽ quay lại danh từ này sau). Trạng từ “nữa” hàm ý nói rằng trước đây (hay lần sau) mắm tôm đã hay có thể sẽ là nguyên nhân? Thế thì câu hỏi đặt ra là: bằng chứng đâu? Bằng chứng khoa học nào cho thấy mắm tôm từng gây ra nạn dịch bệnh trước đây?

Đề cập đến bằng chứng khoa học, tôi thấy phân vân trước phát biểu trên của ông thứ trưởng “Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”, vì tôi chưa thấy bằng chứng nào. Trước đây, cũng cách phát biểu này mà mắm tôm bị “buộc tội”, hi vọng lần này chúng ta sẽ được cung cấp thêm bằng chứng cho thấy tthực phẩm tươi sống và thực phẩm nguội là nguyên nhân. Thật ra, các thực phẩm này không phải là nguyên nhân (cause) mà là yếu tố nguy cơ (risk factors). Tôi tin rằng không phải bất cứ ai ăn rau sống và thực phẩm nguội đều mắc bệnh tả; chỉ có nguy cơ mắc bệnh của những người này cao hơn những người ăn rau và thực phẩm nấu chín mà thôi.

Cần phải phân biệt nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân liên quan đến lâm sàng, đến cá nhân người mắc bệnh; còn yếu tố nguy cơ liên quan đến y tế cộng đồng, đến một quần thể và giúp cho chúng ta hoạch định chiến lược phòng bệnh. Giới phóng viên có thể nhầm lẫn giữa nguyên nhân và yếu tố nguy cơ thì có thể hiểu được vì họ không phải chuyên gia y tế hay làm khoa học. Nhiệm vụ của các quan chức y tế và chuyên gia y tế là phải giúp họ hiểu hai khái niệm này. Giới chức y tế mà còn (hơn một lần) nhầm lẫn nguyên nhân và yếu tố nguy cơ thì quả là một điều đáng tiếc.

Nghiên cứu khoa học: cẩn thận!

Nhưng bằng chứng phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Cũng ngay từ những ngày đầu lúc bệnh bộc phát, người viết đề nghị nên tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để tìm hiểu về các yếu tố sinh học gây bệnh. Tôi thấy rất phấn khích khi biết được một dự án nghiên cứu cấp nhà nước đã được phê chuẩn. Tuy chưa đọc qua đề cương nghiên cứu (và chắc cũng chẳng bao giờ có cơ hội đọc) nhưng đọc qua tên của dự án (“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và các giải pháp phòng chống dịch tả”) tôi thấy hơi phân vân và có cảm giác déjà vu. Tôi đã thấy quá nhiều nghiên cứu, quá nhiều luận án tiến sĩ với những cụm từ như thế này từ Việt Nam, nhiều đến nỗi tôi phải tự hỏi “hay là dân ta hết ý tưởng”? Tôi phân vân là vì đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mà có vẻ đơn giản quá, mang tính mô tả hơn là phân tích chuyên sâu, và nhất là thiếu cái mới.

Trên thế giới đã có quá nhiều nghiên cứu như thế này. Khi tôi vào thư viện y khoa quốc tế (PubMed) và gõ cụm từ “risk factors of cholera” (yếu tố nguy cơ bệnh tả), cơ sở dữ kiện cho tôi biết đã có 202 bài báo khoa học liên quan đến đề tài này. Với y văn như thế, tôi phải đặt câu hỏi: một đề án như thế có thể cung cấp thông tin gì mới cho y văn quốc tế và Việt Nam hay không? Dịch tễ học thế kỉ 21 không nên loay hoay với các vấn đề kinh điển như thế.

Còn nghiên cứu giải pháp phòng chống dịch tả thì cũng đã có nhiều kinh nghiệm và bài học từ Phi châu, Nam Dương, thậm chí từ Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới, vậy thì mục tiêu tìm giải pháp phòng chống có gì mới? Vả lại khi công trình nghiên cứu thực hiện thì dịch tả và tiêu chảy đã là quá khứ, làm sao tìm giải pháp phòng chống những gì đã xảy ra? Do đó, cần phải xem xét lại mục tiêu cụ thể của công trình nghiên cứu trên.

Cố nhiên, phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu cũng cực kì quan trọng. Nhà nước ắt hẳn phải chi ra một ngân sách lớn cho công trình nghiên cứu này; do đó, cần phải xem đó là một sự đầu tư cho khoa học. Và, đầu tư thì cần phải đảm bảo có hiệu suất cao nhất. Ở các nước như Úc và Mĩ, một đề cương nghiên cứu thường phải cần đến 3-6 tháng bình duyệt và tái bình duyệt bởi các chuyên gia trong (và có khi chuyên gia ngoài nước) trước khi được phê chuẩn. Nhưng đề cương trên được phê chuẩn quá nhanh. Đó là một điều đáng quan tâm.

Thế thì câu hỏi đặt ra là cần phải nghiên cứu cái gì? Tôi đề nghị tập trung vào 4 định hướng nghiên cứu sau đây:

Định hướng 1: nghiên cứu về các yếu tố dịch tễ phân tử học (molecular epidemiological factors) để xác định ảnh hưởng của các vi khuẩn và sự tương tác giữa các vi khuẩn này với gien và môi trường đến nguy cơ mắc bệnh. Có một số biến thể gien và nhóm máu làm cho đối tượng dễ mắc bệnh tả, nhưng chúng ta không biết cơ chế và mối tương tác giữa các gien này với vi khuẩn tả và các vi khuẩn khác như thế nào. Cố nhiên, không nên tập trung chỉ vào một vi khuẩn V. cholerae, mà còn phải xem xét đến các vi khuẩn và siêu vi khuẩn khác như rotavirus nhóm A, E. coli, Shigella spp, E. coli, và 9% salmonella, v.v… Câu hỏi đặt ra là bao nhiêu trường hợp bệnh tả và tiêu chảy có thể qui kết cho các tác nhân sinh học này, và chúng tương tác với môi trường và gien ra sao. Nghiên cứu này đòi hỏi kinh nghiệm chuyên sâu về dịch tễ học, vi sinh học và thống kê học.

Định hướng 2: nghiên cứu về mô hình lan bệnh. Đặc tính kinh điển của bệnh dịch tả là chúng lây lan rất nhanh và có khi bộc phát cùng một lúc như chúng ta chứng kiến vừa qua. Có nhiều câu hỏi mang tính chuyên sâu và kĩ thuật về vấn đề này, chẳng hạn như: sự phân phối bệnh trong một hộ gia đình và giữa các hộ trong cộng đồng; yếu tố nào ảnh hưởng đến tốc độ lây lan và phân bố của bệnh; ai là đối tượng có nguy cơ cao; có thể phát triển mô hình tiên lượng (prognostic models) để nhận ra đối tượng nguy cơ trước để can thiệp không, v.v… Đây là một định hướng nghiên cứu quan trọng, vì nó cung cấp cho chúng ta các dữ liệu về sự ảnh hưởng của môi trường và di truyền (vì nghiên cứu trong gia đình) rất quan trọng cho chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu này đòi hỏi chuyên gia lành nghề về dịch tễ học, thống kê học và y học.

Định hướng 3: nghiên cứu về mối tương tác đa chiều giữa chế độ ăn uống, môi trường và môi trường sống của địa phương (kể cả nguồn nước). Ở đây chúng ta có 3 yếu tố nguy cơ: cá nhân, gia đình, và cộng đồng. Đã có quá nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố, nhưng chưa có nghiên cứu mối tương tác (interaction effects) giữa các yếu tố. Khái niệm tương tác rất quan trọng, bởi vì bệnh dịch có nhiều yếu tố nguy cơ và chúng tương tác nhau để gây bệnh. Chẳng hạn như một gia đình dù có giữ vệ sinh trong nhà, nhưng nếu môi trường bị nhiễm trùng, thì nguy cơ mắc bệnh vẫn cao. Do đó, vấn đề đặt ra không phải là ảnh hưởng của từng yếu tố nguy cơ, mà là ảnh hưởng của mối tương tác.

Định hướng 4: nghiên cứu về hiệu quả can thiệp ở qui mô cộng đồng. Một trong những vấn đề hiện nay là nếu chúng ta can thiệp để thay đổi lối sống và môi trường ở qui mô cộng đồng thì hiệu quả phòng chống dịch bệnh là bao nhiêu? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần nghiên cứu đối chứng theo địa phương (cluster randomized trial). Mô hình nghiên cứu “cluster randomized trial” rất thích hợp để giải quyết câu hỏi trên, vì đơn vị của của nghiên cứu là cộng đồng, chứ không phải bệnh nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu này đòi hỏi thời gian và cần phải theo dõi cộng đồng một thời gian dài (12 đến 24 tháng) vì tỉ lệ phát sinh bệnh thường thấp.

Vai trò của nhà vệ sinh

Nhưng kết quả nghiên cứu đòi hỏi thời gian. Trước mắt, chúng ta vẫn có thể tiến hành một chiến dịch phòng bệnh dựa vào kiến thức trong y văn. Tôi thấy quyết định cấm sử dụng phân người để tưới rau là hoàn toàn hợp lí và rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, chúng ta cần một chiến lược đồng bộ: bên cạnh đó, cần phải làm sạch nguồn nước và phát động một phong trào vệ sinh cá nhân, mà cụ thể và thiết thực nhất là tạo một thói quen rửa tay trước bữa ăn và sau khi đi tiêu hay đi tiểu.

Trong chiến dịch này, nhà vệ sinh (toilet) đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc phòng chống bệnh. Hơn một thế kỉ trước đây, nhà vệ sinh giúp thực hiện một cuộc cách mạng về y tế công cộng ở New York, London và Paris. Ngày nay, các quan chức y tế Liên hiệp quốc mới nhận thức rằng cầu xí là một phương tiện phòng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang phát triển.

Nhà vệ sinh không phải là cái gì cấm kị không nên bàn trên giấy trắng mực đen. Chúng ta cần trịnh trọng đặt nó lên bàn để thảo luận nghiêm chỉnh. Phải chấp nhận một thực tế là ở nước ta, nhà vệ sinh chưa được xem là một “cơ quan” quan trọng. Có biết bao nhà được xây dựng hoành tráng, biết bao building (ngay cả nhà ga máy bay) được xây lộng lẫy, nhưng phía trong thì nhà vệ sinh thì thật là sơ sài, bẩn thiểu, hôi thối đến nỗi trẻ em không dám vào. Đó là chưa nói đến ở vùng quê, chúng ta biết rằng nhiều nhà không có cầu tiêu, và nhiều người vẫn còn đi tiêu ở trên sông, ruộng, ao, hồ, và gây ô nhiễm nguồn nước. Có quá nhiều nhà hàng, quán ăn, cơ sở công cộng mà nhà vệ sinh là một nơi kinh khủng nhất. Mới đây báo Thanh Niên và Người lao động có một loạt bài phản ảnh nhà xí ở trường học ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh dơ bẩn khủng khiếp đến nỗi học trò không dám vào. Người viết bài này đã từng xem qua các nhà xí trong các bệnh viện ở Việt Nam (từ bệnh viện nhỏ đến bệnh viện cấp quốc gia), ngay cả nhà vệ sinh dành cho nhân viên, bác sĩ và y tá bệnh viện, cũng rất … hãi hùng.

Hiện tượng này hoàn toàn ngược lại với các nước tiên tiến trong vùng và Tây phương, nơi mà nhà vệ sinh được xem là ưu tiên vệ sinh số 1 và có mặt khắp nơi. Thật ra, ở các nước này, chính quyền có luật bắt buộc nhà xây dựng phải có sơ đồ nhà vệ sinh cho họ kiểm tra và duyệt trước khi tiến hành xây cất.

Người Tây phương khi đi du lịch ở nước ta và khi về nước họ, nỗi ám ảnh lớn nhất là ... nhà vệ sinh. Tôi đã đọc (với tâm trạng vừa giận vừa thông cảm) không biết bao nhiêu bài bút kí, nhật kí, phóng sự, khuyến cáo, v.v... mà họ viết ra với văn phong giễu cợt, mỉa mai, trịch thượng, và có khi khinh miệt Việt Nam. Do đó, có lần tôi viết trên báo rằng nếu chúng ta không cải thiện được vệ sinh công cộng và nhà xí thì nước ta vẫn chứng kiến cảnh 75% du khác “một đi không trở lại”. Vấn đề nhà vệ sinh và vệ sinh đã trở thành sỉ diện quốc gia, thành vấn đề văn hóa, chứ không đơn giản là vấn đề cá nhân nữa.

Tôi nhớ đọc đâu đó lâu lắm rồi, mà trong đó tác giả kể rằng lúc cụ Hồ còn sống, cứ mỗi lần đi công tác hay thăm địa phương nào đó, bất kể là công sở hay nhà dân, điều đầu tiên là ông vào xem cái nhà bếp và nhà vệ sinh. Một nguyên thủ quốc gia mà quan tâm đến y tế công cộng như thế thì chúng ta phải biết vấn đề “đầu vào” và “đầu ra” quan trọng như thế nào. Tại sao đến nay là thế kỉ 21 mà chúng ta vẫn còn trì trệ trong công tác nhà vệ sinh?

Mỗi năm có đến 2 triệu trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy và các bệnh khác do nguồn nước bẩn và thiếu vệ sinh gia đình. Trên thế giới ngày nay, có đến 1/3 dân số thế giới (2,6 triệu người) không có nhà tắm, hơn 1 tỉ người không có nước sạch để uống, giặt, và nấu ăn vì bị nhiễm trùng từ phân người và phân thú vật. Ở nước ta, các nạn dịch bệnh cứ “đến hẹn lại lên”, và đến nay vào thế kỉ 21, chúng ta phải nói dứt khoát rằng tình trạng đó không thể chấp nhận được nữa. Và, một “vũ khí” phòng chống bệnh rất hữu hiệu nằm trong tầm tay chúng ta: nhà xí. Các cơ quan chức năng của Nhà nước và người dân cần phải quan tâm đến nhà xí hơn nữa. Phải khuyến khích, nếu cần dùng ngân sách y tế hỗ trợ cho người dân nghèo, để mỗi nhà đều có một nhà xí tốt. Chúng ta đã có nhà khoa học nghiên cứu về
mô hình nhà vệ sinh thích hợp cho nông thôn. Có lẽ Nhà nước cần xem mô hình của tác giả Lê Anh Tuấn mà tôi vừa đề cập để tiến tới một chiến dịch xây nhà vệ sinh cho dân.

Tóm lại, tôi nghĩ việc “minh oan” cho mắm tôm là một việc làm hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với bằng chứng khoa học. Nhưng bằng chứng khoa học liên quan đến cơ chế tương tác và mối liên hệ giữa các yếu tố như gien, môi trường gia đình, và môi trường cộng đồng vẫn còn quá thiếu thốn. Do đó, nghiên cứu khoa học cần phải tập trung vào các vấn đề này để một mặt góp phần vào việc phòng chống bệnh tả của nước ta, mặt khác cống hiến tri thức cho thế giới y khoa. Trước mắt, đây là thời điểm lí tưởng để Bộ Y tế cần phát động một chiến dịch làm sạch nguồn nước và xây nhà vệ sinh trên toàn quốc để một mặt nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh dịch tả và mặt khác cải thiện tình trạng vệ sinh ở nước. Đây là một sự đầu tư y tế công cộng mà chúng ta chắc chắn sẽ đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội và kinh tế.


22/11

Monday, November 19, 2007

Bàn về trả lời Quốc hội của của Bộ trưởng Bộ Y tế

http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/11/755603/
Xin người sản xuất mắm tôm "thông cảm"

Đã hết giờ chất vấn nhưng phần trả lời của Bộ trưởng Triệu vẫn "nóng" sau chất vấn của GS Nguyễn Lân Dũng. Chuyên gia vi sinh này yêu cầu Bộ trưởng Y tế trả lời về tổn thất đối với người sản xuất mắm tôm, cơ sở khoa học nào đã phân lập vi khuẩn tả trong loại nước chấm "bị" Bộ Y tế cho là "thủ phạm" gây tiêu chảy cấp.

Ông Dũng cũng yêu cầu Bộ trưởng giải thích, vì sao hôm nay ông dùng thuật ngữ "tiêu chảy cấp có nguồn gốc vi khuẩn tả", mà không công bố ngay từ đầu ra công luận, vậy trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tế như thế nào, nếu người nước ngoài mang bệnh về nước họ.

"Mắm tôm có độ mặn 6% thì vi khuẩn tả đã có thể sống được 5 tiếng. Với tốc độ đi lại như hiện nay, 5 tiếng thì vi khuẩn có thể lên tận Tuyên Quang rồi, bà con sản xuất thông cảm tạm dừng trong giai đoạn này", ông Triệu đáp.

Bộ trưởng cũng thừa nhận, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về "thủ phạm mắm tôm" nhưng Hội đồng chuyên môn căn cứ vào lâm sàng 93% người bệnh ăn mắm tôm cũng như "tiền sử" thứ nước chấm này đã từng gây ra dịch những lần trước.

"Hội đồng chuyên môn kiến nghị trong thời gian dịch, không dùng mắm tôm sống, kết thúc dịch rồi thì lại ăn như với thịt gà sau dịch cúm gà thôi".

Vế thứ 2 trong câu hỏi của Đại biểu Dũng không được ông Triệu trả lời.

===

Trên đây là phần trả lời của Bộ trưởng Bộ Y tế hôm qua (19/11) liên quan đến vấn đề “nóng” hiện nay: đó là vấn đề dịch tả và cấm mắm tôm. Cần nói thêm rằng khoảng một tuần trước đây, tôi có gửi hai bài cho ông Nguyễn Lân Dũng để tham khảo và hôm nay thấy những vấn đề tôi nêu lên đã được ông chính thức nêu lên trong nghị trường quốc gia. Hoan nghênh đại biểu Nguyễn Lân Dũng!

Về câu trả lời của ông Bộ trưởng, chúng tôi muốn có vài dòng bình luận ngắn như sau:

1. Rất hiếm thấy, nếu không muốn nói là không có, mắm tôm nào có độ muối (không phải “độ mặn”) 6% cả. Chúng tôi đã xem qua các mẫu mắm tôm trên thị trường từ Việt Nam và một số nước Á châu thì thấy mắm tôm Việt Nam thường có độ muối cao hơn mắm tôm Phi Luật Tân và Mã Lai. Cụ thể là nồng độ muối trong mắm tôm sản xuất ở Việt Nam dao động từ 15% (pha loãng) đến 25-30% (đặc và khô). Còn mắm tôm Phi Luật Tân có nồng độ muối dao động trong khoảng 20-25%, cao hơn mắm tôm Mã Lai 13-15%). Do đó, chúng tôi e rằng câu trả lời của ông Bộ trưởng không dựa vào cơ sở thực tế.

2. Thật kinh ngạc khi biết “Hội đồng chuyên môn” chỉ căn cứ vào “lâm sàng 93% người bệnh ăn mắm tôm” rồi qui kết rằng mắm tôm là thủ phạm! Sử dụng logic này, ai cũng có thể nói 100% người dân từng ăn cơm, suy ra gạo là “thủ phạm” gây bệnh tả! Không có một logic dịch tễ học nào cho phép một sinh viên y khoa, chứ chưa nói đến một hội đồng chuyên môn, suy luận như thế. Hoạch định chính sách y tế công cộng mà dựa vào suy luận như thế này thì thật là nguy hiểm!

Thật ra, cụm từ “lâm sàng 93% người bệnh ăn mắm tôm” cũng rất tối nghĩa. Ở đây, “ăn mắm tôm” có nghĩa gì? Có phải bệnh nhân ăn 1 gram mắm tôm 12 tháng trước khi mắc bệnh cũng được xem là ăn mắm tôm? Không có yếu tố thời gian và liều lượng thì làm sao phân tích hay kết luận được. Làm khoa học không thể phát biểu chung chung như thế được.

3. Còn cho rằng mắm tôm từng gây ra dịch những lần trước (lần này thì Bộ trưởng dùng danh từ “dịch”!) cũng không phù hợp với bằng chứng khoa học. Ở Việt Nam chỉ có 1 nghiên cứu duy nhất tìm hiểu các yếu tố nguy cơ gây bệnh tả: đó là nghiên cứu do Kelly-Hope và đồng nghiệp mới công bố vào năm 2007 (Geographical distribution and risk factors associated with enteric diseases in Vietnam. Am J Trop Med Hyg 2007;76:706-12). Nghiên cứu này cho thấy trong thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385 trường hợp bệnh tiêu chảy và tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam miền Trung, 27% ở các bờ biển phía bắc miền Trung. Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu. Không có nghiên cứu nào từ Việt Nam (công bố trên các tập san y học quốc tế) cho rằng mắm tôm là thủ phạm cả. Chúng tôi có thể khẳng định như thế.

4. Còn khuyến cáo này (“Hội đồng chuyên môn kiến nghị trong thời gian dịch, không dùng mắm tôm sống, kết thúc dịch rồi thì lại ăn như với thịt gà sau dịch cúm gà thôi”) thì … khó bình luận quá. Nói cách khác, qua phát biểu này, chúng ta có thể suy luận rằng mắm tôm không phải là thủ phạm gây bệnh tả (vì nếu là thủ phạm thì tại sao cho phép ăn trong tương lai), nhưng nay mắm tôm bị cấm là vì … Bộ Y tế đã ra quyết định cấm.

Chúng ta cần một chiến lược y tế công cộng phòng bệnh lâu dài, chứ không thể “chữa cháy” như hiện nay.

NVT

Sunday, November 18, 2007

Mắm tôm vô tội!

Có lẽ các bạn còn nhớ ngay từ đầu của vụ này, tôi đã nói tập trung “đánh” mắm tôm là sai lầm. Nay thì lời phát biểu đó đã sắp thành sự thật. Tôi có trình bày 5 lí do tại sao mắm tôm vô tội. Tôi gửi cho ông NLD để ông ấy lên tiếng trong Quốc hội mà chẳng thấy ông ấy nói gì! (Ít ra cũng phải 1 thư cám ơn hay báo tin nhận thư chứ. Lễ phép xã giao của người Việt mình coi bộ xuống cấp quá rồi).

Nói về đạo lí xã hội tôi nhớ đến vài sự việc sau đây: tôi phát hiện khá nhiều bài viết trên báo chí trong nước về dịch tả mà tác giả lấy dữ liệu, lấy ý, thậm chí lấy nguyên văn những bài viết của tôi trên ykhoanet.com! Điều đáng chú ý là họ không thèm ghi nguồn gốc. Điều đáng quan tâm là họ là những người “trí thức” (kiểu như bác sĩ, bác sư, ủa quên, giáo sư, và phóng viên). Trí thức mà hành xử như thế thì chúng ta còn kì vọng gì nữa đây? Tôi biết nhưng có ghi để đấy chứ chưa lên tiếng (đợi khi nào đúng dịp sẽ phân tích cho đến nơi đến chốn).

Bài này có vài công thức nhưng nó không hiện lên net được. Nếu muốn đọc bản gốc, các bạn có thể vào ykhoanet.com hay diễn đàn
www.diendan.org để đọc.

NVT

Một quyết định vội vã?

Bệnh tiêu chảy và tả bộc phát vào ngày 23/10. Khoảng một tuần sau, ngày
29/10, Sở Y tế Hà Nội cho biết có 11/14 quận thuộc Hà Nội có xuất hiện “bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Ngày 30/10, giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết có 30 trường hợp đã nhập viện để điều trị và “Nguyên nhân chính dẫn đến căn bệnh này là do người bệnh ăn thực phẩm sống như: mắm tôm, mắm tép, tiết canh, gỏi hải sản… trong đó có tới 90% số người mắc bệnh là do ăn mắm tôm sống.” Liền theo đó, trong ngày 30/10 UBND Thành phố Hà nội ra công lệnh tạm thời cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và tiêu thụ mắm tôm trên địa bàn thành phố dù “Trong khi chưa xác định được nguyên nhân chính gây ra hàng loạt ca tiêu chảy cấp”.

Đến ngày
2/11 Bộ trưởng Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm.” Ngày 3/11 (tức đúng 10 ngày sau khi bệnh bộc phát), Bộ Y tế ban hành “Quy trình xử lý dịch tả”. Mắm tôm, qua nhận xét và đánh giá của các quan chức y tế, là thủ phạm của sự bộc phát bệnh tả. Trong suốt quá trình bộc phát của bệnh, các quan chức y tế chỉ chú trọng đến nguồn thực phẩm, mà đặc biệt là mắm tôm, nhưng ít chú trọng đến nguồn nước, một yếu tố lan bệnh đã được chứng minh hơn 100 năm nay qua 7 lần đại dịch trên thế giới.

Sở dĩ tôi phải trình bày diễn tiến của sự việc để cho thấy rằng quyết định của các giới chức y tế có phần vội vã, và quan trọng hơn hết là không dựa vào bằng chứng khoa học. Cơ sở chính cho quyết định như trình bày trên chỉ dựa vào một sự kiện: đa số người mắc bệnh có “tiền sử” ăn mắm tôm! (Liên quan đến vấn đề này, người viết đã
phân tích sai lầm mang tính dịch tễ học về nhận dạng yếu tố nguy cơ qua quan sát một nhóm bệnh). Mắm tôm từ đó trở thành trung điểm của chiến lược chống bệnh. Một số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất mắm tôm đã điêu đứng trước quyết định cấm sản xuất và phân phối mắm tôm. Thậm chí, có báo còn đi xa hơn khuyên người dân loại bỏ món ăn quốc hồn quốc túy này ra khỏi bữa ăn!

Nhưng một số bằng chứng gần đây đã bắt đầu làm cho nhiều người đặt vấn đề có phải Bộ Y tế đã quá “mạnh tay” với mắm tôm. Thật vậy, có nhiều lí do tại sao mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh và vi khuẩn tả V. cholerae không thể tồn tại trong mắm tôm.

Lí do 1: Vi khuẩn tả V. cholerae không thể tồn tại trong mắm tôm

Trong một
phân tích trước đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng mắm tôm không thể là môi trường để vi khuẩn tả sống sót hay phát triển được. Rất nhiều nghiên cứu trong y văn cho thấy rõ ràng rằng vi khuẩn tả chỉ phát triển mạnh và phát sinh độc tố trong môi trường nước với nồng độ muối tối ưu là 0,1% đến 4% (cỡ môi trường nước biển hay nước lợ), và ngay cả khi nồng độ muối trong nước vượt qua ngưỡng 3% thì vi khuẩn không tăng trưởng được. Nhưng mắm tôm có nồng độ muối thường khoảng 15% đến 30% (tùy pha loãng hay đặc). Với nồng độ muối đó và trong môi trường thiếu không khí thì vi khuẩn tả không thể tồn tại được.

Thật ra, trước khi khoa học chứng minh điều này, người dân nước ta ai cũng biết với nồng độ muối cao trong mắm tôm thì khó có vi khuẩn nào tồn tại được. Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy tất cả các mẫu mắm tôm trên cả nước được đem đi xét nghiệm đều có kết quả âm tính với vi khuẩn tả. Tính đến nay đã có 138 mẫu mắm tôm được xét nghiệm (50 ở Hà Nội, 24 ở Thành phố Hồ Chí Minh, 32 mẫu ở Thanh Hóa, 35 mẫu ở Hải Phòng, Hải Dương, và Nghệ An) và tất cả đều không hàm chứa vi khuẩn tả.

Lí do 2: Mắm tôm không thể là yếu tố gây bộc phát bệnh

Theo ông
Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ: “Gần như đồng loạt tất cả các quận huyện của Hà Nội đều có dịch. Trong khi đó, các ổ dịch lại không liên quan đến nhau. Các bệnh nhân không sống cùng nhau, không ăn cùng nhau…Tuần đầu tiên phát dịch có 33 ổ dịch thì 33 bệnh nhân ăn ở những chỗ khác nhau, sống ở nhiều nơi khác nhau.” Đây là một phát biểu quan trọng mang tính dịch tễ học: nguồn lây truyền bệnh phải là một yếu tố có khả năng phát tán đi cùng một lúc tại một thời điểm ở nhiều vùng khác nhau. Yếu tố đó không thể là mắm tôm, vì nếu nguồn lây nhiễm là mắm tôm thì nó phải khu trú tại một vùng nào đó, chứ không thể tất cả mắm tôm đều có chứa vi khuẩn. Yếu tố đó rất có thể là nguồn nước bị ô nhiễm hay do ruồi bọ.

Chúng ta có thể lật ngược vấn đề: nếu nguồn xuất phát vi khuẩn tả là từ mắm tôm và có thể gây bệnh thì tỉ lệ người ăn mắm tôm bị bệnh ắt phải cao. Nhưng số liệu thực tế không phù hợp với giả thuyết này. Giả dụ trong cộng đồng có 20% người dân tuổi 15-59 ăn mắm tôm (chúng ta không biết con số này, nhưng có thể lấy một con số cao như 20% làm ví dụ). Các quan chức y tế cho biết [tính đến nay] có 159 người trong số bệnh nhân tả có ăn mắm tôm. Với con số này, có thể ước tính rằng tỉ lệ mắc bệnh ở những người ăn mắm tôm là 6 trên 100.000 người. Do đó, không thể nói rằng quá trình bộc phát bệnh là do mắm tôm gây ra.

Lí do 3: Mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh

Truy tìm các bằng chứng để “kết tội” mắm tôm, tôi chỉ thấy các quan chức y tế dựa vào thực tế là 90% (có khi con số được báo cáo là 80%) bệnh nhân có “tiền sử” ăn mắm tôm và từ đó cho rằng mắm tôm là một “nghi phạm” số 1 làm bộc phát bệnh tả. Nhưng bằng chứng này không thuyết phục và không mang tính khoa học. Không thuyết phục là vì chúng ta chưa biết trong số những người không mắc bệnh có bao nhiêu người cũng từng ăn mắm tôm. Nếu tỉ lệ ăn mắm tôm giữa hai nhóm tương đương nhau thì không thể nói mắm tôm là nguồn gây bệnh được. Không khoa học là vì con số 90% (hay 80%) đó chưa qua kiểm định để biết mối liên hệ giữa ăn mắm tôm và nguy cơ mắc bệnh là bao nhiêu. Cụm từ “ăn mắm tôm” không thể nói chung chung được, mà phải biết ăn bao nhiêu, ăn mấy lần trước khi mắc bệnh, ăn với thức ăn gì, v.v…

Nếu dựa vào logic “90% người mắc bệnh có tiền sử ăn mắm tôm, suy ra mắm tôm là nguyên nhân” thì chúng ta cũng có thể nói bởi vì 100% người mắc bệnh từng ăn cơm hay bún; suy ra, cơm và bún là nguyên nhân gây bệnh! Logic y học và dịch tễ học không cho phép chúng ta phát biểu như thế.

Tôi đã
giải thích trước đây rằng cần phải phân biệt yếu tố nguy cơ và nguyên nhân. Mắm tôm có thể là một yếu tố nguy cơ như bao nhiêu yếu tố nguy cơ khác (nguồn nước, thiếu vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, v.v…), chứ không thể nào là nguyên nhân gây bệnh. Nguyên nhân bệnh tả là nhiễm vi khuẩn V. cholerae. Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh, nhưng yếu tố nguy cơ chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Hai khái niệm này (yếu tố nguy cơ và nguyên nhân) khác nhau, và hiểu sai có thể dẫn đến nhiều sai lầm nghiêm trọng. Ấy thế mà giới báo chí vẫn liên tục cho rằng mắm tôm và thực phẩm là “nguyên nhân” gây bệnh!

Lí do 4: Giả thuyết mắm tôm không có cơ sở khoa học

Đứng trên phương diện dịch tễ học, có thể xem việc “kết tội” mắm tôm của các quan chức là một giả thuyết khoa học: giả thuyết “mắm tôm – vi khuẩn tả”, tạm viết tắt là giả thuyết H1. Giả thuyết đảo đặt ra là mắm tôm không nhiễm vi khuẩn tả, hay giả thuyết H0.

Qua phát biểu của các quan chức y tế (“mắm tôm chắc chắn là nguồn lây bệnh tả trong đợt dịch tả này” – thứ trưởng Trịnh Quân Huấn), có thể nói họ tin rằng xác suất mà mắm tôm bị nhiễm vi khuẩn tả phải là 95% trở lên. (Nếu không thì họ không sử dụng từ “chắc chắn”). Viết tắt tỉ lệ nhiễm khuẩn này là p1. Vậy theo giả thuyết H1 thì p1 = 0,95. Còn giả thuyết H0 thì p0 = 0.

Bằng chứng thực tế ở đây là trong số 138 mẫu mắm tôm đã được xét nghiệm, và không có một mẫu nào có kết quả dương tính. Câu hỏi đặt ra là bằng chứng thực tế trong thời gian qua nghiêng về giả thuyết nào? Một cách định lượng hai giả thuyết qua bằng chứng là sử dụng hàm số khả dĩ (
likelihood function như tôi đã giải thích trước đây). Chỉ cần một chút tính toán chúng ta sẽ thấy bằng chứng thực tế nghiêng về giả thuyết mắm tôm không nhiễm khuẩn cao gấp 9 tỉ lần so với giả thuyết của các quan chức y tế (Xem chú thích [1] dưới đây). Nói cách khác, giả thuyết mắm tôm hàm chứa vi khuẩn tả của các quan chức y tế không phù hợp với bằng chứng thực tế.

Lí do 5: bằng chứng cá nhân

Nếu mắm tôm thực sự là “thủ phạm” hay “nguyên nhân” gây bệnh tả như Bộ Y tế khẳng định (họ dùng từ “khẳng định”) thì tất cả những người ăn mắm tôm phải mắc bệnh. Theo phương pháp phản nghiệm, nếu chỉ một người ăn mắm tôm mà không mắc bệnh thì giả thuyết đó phải bị bác bỏ. (Cũng giống như câu giả thuyết “Tất cả quạ đều màu đen” có thể bị bác bỏ nếu chúng ta quan sát được một con quạ màu đỏ). Báo
Sài Gòn Tiếp Thị hôm nay cung cấp cho chúng ta nhân chứng đó. Xin trích nguyên văn bài tường thuật:

Số phận mắm tôm lẽ ra đã phải được nhìn nhận một cách bình tĩnh ngay khi ca bệnh tả đầu tiên được phát hiện, ông Nguyễn Xuân Mịch, 73 tuổi. Ông Mịch từ Thanh Trì, Hà Nội, xuống Ninh Bình ăn cỗ. Mâm cỗ có thịt chó, mắm tôm, nhưng ông Mịch khai rằng ông là người duy nhất trong bàn ăn hôm đó không ăn mắm tôm. Cho tới nay, những người ngồi cùng mâm và có ăn mắm tôm thì không ai mắc dịch, trừ một người không ăn, ông Mịch. Vậy mà “mắm tôm” vẫn được suy đoán là “nghi can” số một trong ca bệnh tả đầu tiên của đợt dịch này.”

Chính sách y tế công cộng cần dựa vào bằng chứng khoa học

Qua các lí do vừa trình bày trên, có thể kết luận rằng mắm tôm không phải là yếu tố gây bệnh tả, và càng không phải là nguyên nhân của bệnh tả. Mắm tôm có thể là một trong những yếu tố nguy cơ, nhưng tính toán của chúng tôi cho thấy ảnh hưởng của mắm tôm đến bệnh tả (nếu có) cũng không đáng kể để tập trung nhân lực, tiền bạc và phương tiện vào việc cấm đoán và khống chế một yếu tố như thế.

Chiến lược phòng chống bệnh tả của các quan chức y tế bằng cách tập trung vào mắm tôm tôi e rằng quá thiếu cơ sở khoa học. Thật vậy, điều đáng quan tâm nhất là quyết định cấm mắm tôm của Bộ Y tế dựa vào một bằng chứng chẳng những phi khoa học mà còn rất yếu. Thật là khó tin khi đọc những
phát biểu như “Chúng tôi đang nghiên cứu liệu mắm tôm có vai trò lây truyền thực sự hay không. Qua số liệu điều tra của NIHE, chúng tôi nhận thấy thời điểm đầu của dịch, 80 – 90% bệnh nhân có tiền sử ăn mắm tôm, thịt chó, rau sống. Vì vậy xác định có thể đây là thủ phạm.” Một suy luận như thế hoàn toàn không theo một chuẩn mực hay nguyên lí dịch tễ học nào mà bất cứ một sinh viên y khoa nào cũng từng biết qua.

Cần nói thêm rằng chính sách y tế công cộng thiếu cơ sở khoa học có thể gây tác hại cho nhiều người. Trong lịch sử y học đã có khá nhiều thảm họa xảy ra chỉ vì một số thuật điều trị không dựa vào bằng chứng khoa học mà dựa vào niềm tin và kinh nghiệm cá nhân. Chúng ta chưa biết chính sách cấm mấm tôm đã hay đang gây tác hại như thế nào đến kinh tế, nhưng hiện nay đã gây khó khăn cho ngành nghề sản xuất mắm tôm như
báo chí phản ảnh trong thời gian gần đây. Ngay cả chính quyền địa phương cũng cảm thấy lúng túng để thi hành quyết định của của Bộ Y tế, như phản ảnh của các cơ quan chức năng ở Thanh Hoá: “Hiện, các cơ quan chức năng ở Thanh Hóa đang lúng túng trong việc thực hiện quyết định xử lý mắm tôm của Bộ Y tế. Trung tâm đang chỉ đạo cho các địa phương tiến hành khoanh vùng, ngăn chặn mọi lưu thông đối với mắm tôm, nem chua, gỏi cá... chứ không dám vội vàng tiêu hủy theo quyết định của Bộ Y tế được”.

Để tránh thêm thiệt hại cho người dân, Bộ Y tế nên rút lại quyết định ngăn cấm sản xuất và phân phối mắm tôm. Cần tập trung lực lượng y tế vào việc phòng chống dịch bệnh ở miền Trung, hơn là vào việc truy tìm vi khuẩn tả trong mắm tôm. Có tin cho biết các quan chức muốn tìm hiểu xem vi khuẩn tả có thể sống bao lâu trong mắm tôm. Nhưng dựa vào những gì y văn nói, thì việc tìm hiểu đó vô nghĩa; và trong tình huống phòng bệnh cấp bách như hiện nay việc truy tìm đó hoàn toàn … vô duyên. Giả dụ như tìm được câu trả lời thì câu trả lời đó có giúp gì cho việc phòng chống bệnh?

Như có dịp phát biểu trước đây, mục tiêu số 1 của ngành y tế và cũng là lí tưởng của y khoa là cứu người, phòng bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Chính sách y tế công cộng cần phải dựa vào bằng chứng khoa học để đem lại lợi ích cho cộng đồng. Bằng chứng khoa học từ y văn cho thấy nguồn nước và vệ sinh môi trường là các nhóm yếu tố nguy cơ quan trọng nhất liên quan đến bệnh tả; do đó, công tác phòng chống bệnh tả nên chú trọng vào hai yếu tố này thay vì tập trung vào một loại thực phẩm như mắm tôm mà chúng tôi đã trình bày lí do cho thấy rất có thể không có liên quan gì đến bệnh tả.


Chú thích:

[1] Cách tính hàm số khả dĩ: Hàm số khả dĩ cho giả thuyết H1 là:

và hàm số khả dĩ cho giả thuyết H0 là: .
Do đó, tỉ số hàm khả dĩ cho H0 và H1 là: 1/(5,29)-97 = (1,89)96 (tức là 1,89 lũy thừa 96)!

Friday, November 16, 2007

Phạm Quỳnh: tiểu luận viết bằng tiếng Pháp

Có ai còn nhớ Phạm Quỳnh không? Ông là thượng thư triều Nguyễn, một đại trí thức đầu thế kỉ 20 của nước ta, nhưng bị chết thảm. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con trai của ông. Từ xưa tôi cũng thích đọc tiểu luận của Phạm Quỳnh, nhưng đó là những bài viết bằng tiếng Việt.

Nhà văn Đoàn Tử Huyến vừa gửi tôi một thư báo cho biết rằng Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây và Nxb Tri Thức vừa tổ chức xuất bản tuyển tập “Phạm Quỳnh: tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932”, do Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Quốc Chiến, Phạm Xuân Nguyên dịch, Phạm Toàn giới thiệu và biên tập, sách dày 528 trang, khổ 14,5 x 20,5cm, bìa cứng, giá bán 74.000 Đồng. Xin giới thiệu cùng các bạn.


NVT

===
LỜI GIỚI THIỆU

Không biết bởi cái duyên nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên lại chọn Trung tâm Văn hoá

Ngôn ngữ Đông Tây tại Hà Nội là địa chỉ duy nhất để trao những tập tiểu luận bằng tiếng Pháp do Phạm Quỳnh viết, tài sản sưu tập của gia đình và dòng họ, đã cho in một lần ở nước ngoài.

Thế rồi, Giám đốc và Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Đông Tây lại cho gọi tôi đến để giao việc tổ chức dịch, biên tập, giới thiệu, sao cho có một bản thảo khá hoàn chỉnh cho bạn đọc Việt Nam đương thời.

Vốn là người ít học, lại là lần đầu tiên biên tập một công trình nhiều người cùng làm, nhất là lại nghĩ đến gánh nặng trách nhiệm với học giả đã quá cố và gia đình Ngài, mới đầu tôi hơi ngần ngại. Nhưng chỉ mới lướt qua vài ba bài viết của Phạm Quỳnh, những bài viết trong hơn mười năm mà năm cuối cũng đánh dấu năm tôi ra đời, tôi thấy mình sửng sốt và tiếc rẻ tự hỏi vì sao đến bây giờ mới biết tới những trang viết đó. Thế rồi chính tôi lại đã vội vã nói với các bạn gánh việc ở Trung tâm Đông Tây: “Hãy để đó cho tôi, đừng giao cho ai khác nữa đấy!”.

Hôm nay, công việc của các dịch giả đã xong, việc cùng nhau dò lại bản dịch với bản gốc cũng xong, trong thời gian này nhiều lúc phải dừng lại không chóng vánh để tìm một cách diễn đạt sao cho xứng với những áng văn tuyệt diệu Phạm Quỳnh dù là không viết bằng tiếng mẹ đẻ, sau một ngày chủ nhật hoàn toàn thanh thản, giờ đây kẻ học trò này trong lòng đầy một niềm tĩnh tâm xao xuyến, xin được mạnh dạn viết những lời giới thiệu gửi tới bạn đọc đương thời và luôn thể cũng là những lời khấn dâng tới một người thiên cổ.

LÒNG YÊU CÁI ĐẸP

Đọc Phạm Quỳnh cả bằng tiếng Việt lẫn bằng tiếng Pháp, cái ấn tượng đầu tiên sau đó còn tiếp tục đeo đuổi ta, ấy không chỉ là sự khâm phục chiều sâu bác học và tầm cao ái quốc của tác giả. Ấn tượng lớn hơn nữa, còn đáng yêu hơn nhiều, càng quyến rũ ta vô cùng, ấy là lòng yêu cái Đẹp của bậc chí sĩ đó.

Trong những bài bút ký viết bằng tiếng Việt cũng như trong những tiểu luận bằng tiếng Pháp, sự tiếp xúc đầu tiên của Phạm Quỳnh với đất nước của tổ tiên để lại, ấy là tiếp xúc với cái đẹp của một tổ quốc, một dân tộc, một nền văn hoá, một sức sống. Nhiều người cũng làm được điều này. Nhưng điều gây bất ngờ cho ta, ấy là cái đẹp lại hiện ra ở những con người hết sức giản dị trong cuộc sống thường nhật. Trong bút ký kể chuyện Mười ngày ở Huế, dĩ nhiên là Huế mang vẻ đẹp thuyết phục qua cảnh trí và nhất là các lăng tẩm, nhưng khi nhìn vào con người Huế thì Phạm Quỳnh lại làm hiện lên không phải những mệ mang họ hoàng tộc dài lê thê, mà cái đẹp Huế được Phạm Quỳnh làm lộ diện trong những con người thuộc tầng lớp dưới của xã hội.

Những ngày ngao du Trên sông Hương có một hình ảnh được khắc họa tỉ mỉ. Đấy là một người chồng:

Người chồng làm công việc kéo xe tay, anh dẫn chúng tôi vào thành phố, hoặc kéo xe cho chúng tôi khi cần. Khác với những người "đồng sự" ở Hà Nội, đó là một chàng trai rất lễ phép, dễ bảo, và tôi có thể nói, rất có giáo dục
(*).
Còn đây là một chị vợ:


Chị vợ thì dịu dàng, sẵn sàng phục vụ, nấu ăn ngon - chị nấu cho chúng tôi những món cá tuyệt vời - thêm vào đó chị còn có một chất giọng rất tuyệt: ban đêm, lúc chèo thuyền, chị vẫn hát những bài hát buồn buồn mê hồn.

Để nói về những con người hết sức dễ thương, những “người bạn” mới của Phạm Quỳnh khác hẳn với những người ông vẫn tiếp xúc trong cái môi trường bác học của mình, một bài thơ chữ Hán với hơi hướng Đường thi đã được nhà viết tiểu luận sử dụng để tạo thành bức chân dung cho chúng ta treo và ngắm:

I
Tháng sáu, cái nóng nung ngập bầu trời.
Người người bức bối than vãn trong cảnh lò lửa này
Nhưng, trong khắp thế gian, lại có cặp vợ chồng sung sướng.
Trên con thuyền mong manh, họ trữ đầy trăng thanh, gió mát.

II
Chồng trên cạn, vợ dưới sông, họ sống đời ung dung tự tại
Chồng kéo xe, vợ khua chèo lướt chiếc thuyền tam bản.
Nhưng cả xe cả thuyền đều chẳng xứng chở nỗi buồn chia cắt
Đêm về, vợ lại gặp chồng trên con đò sông nước.

III
Nước chảy về Đông cản lại triều dâng
Sóng cuộn bùn lầy tràn đầy dòng sông.
Vợ bảo chồng:
Đừng như con nước khuấy bùn
Để thiếp ôm mặt khóc ròng đêm khuya

Xin đừng nghĩ nhà nho học Phạm Quỳnh lại đang định phong hoa tuyết nguyệt!
Phạm Quỳnh hoàn toàn không có ý định giới thiệu thơ Đường luật của bạn mình. Phạm Quỳnh ý tứ dùng bài thơ kia để diễn tả một nỗi bất lực khi phải nói tới một điều không ai đủ sức diễn tả, ấy là cái tiếng hát trên sông Hương.

Thế rồi, bỗng nhiên có một giọng cất lên giữa cái im lặng vừa mới bị cuộc nói chuyện của chúng tôi làm vẩn đục. Đó là tiếng hát của cô lái đò trẻ. Có lẽ cảnh vật đẹp đẽ đã làm cô xúc động mà cô không biết, nên cô đã hát lên một khúc hát dân gian, quá du dương, quá dịu dàng đến nỗi nó như tiếng nói của thiên nhiên đã tự bật ra tự cái im lặng của không gian. Cô gái hát theo nhịp điệu của những điệu "hò mái nhì". Nó dựa vào cách kéo dài giọng sao cho khúc hát theo được nhịp chuyển động của mái chèo. Cô lái đò hát rằng:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”

Khi nghe khúc hát này, quá mộc mạc và đồng thời quá gợi cảm, đến nỗi ta như thực sự cảm nhận được tiếng vọng xa xa của tiếng chuông và tiếng gà gáy. Đó là những tiếng động duy nhất phù hợp với một cảnh vật như thế này, thực vậy, cảnh vật này đang thiếu vắng chúng; trong một phút giây, chúng tôi đã có cảm giác về một chất thơ đích thực. Chừng nào mà chúng tôi còn nghiêm khắc khi xét đoán những câu thơ bác học và phức tạp của các thi sĩ cổ và hiện đại, thì chừng ấy chúng tôi còn đồng ý với nhau để công nhận khúc hát quá mộc mạc này là sự sáng tạo tự nhiên của tâm hồn đại chúng. Cái giọng điệu sâu sắc và không thể xác định nổi này đã bộc lộ ra cái vốn thi ca của dân tộc ta.

Thế là ta đã hiểu: tình yêu cái đẹp ở Phạm Quỳnh là tình yêu khám phá cái đẹp của dân tộc, thể hiện ở những con người bình dân cụ thể, những người là dân tộc chứ không phải là những người nằm trong lòng dân tộc. Những con người lắm chữ nghĩa sẽ nói đó là một thái độ “dân tuý” (populiste). Tôi không muốn cãi lại, để còn có thời gian đọc chính những lời bộc bạch đáng yêu của Phạm Quỳnh.

Ôi! những đêm xứ Huế không thể quên, những đêm đắm say và nồng nàn sống dưới thuyền tam bản trên sông Hương, những đêm mê đắm ấy có lẽ sẽ chẳng bao giờ tôi được sống lại nữa!

Đã nhiều lần tôi quay trở lại Huế; cũng đã nhiều lần tôi lại dạo chơi bằng thuyền tam bản; tôi đã nghe cũng những khúc hát ấy, cũng thứ nhạc ấy, chúng đem lại cho tôi cũng sự quyến rũ hơi chút uể oải và buồn bã. Nhưng tôi đã không tìm lại được những xúc cảm mãnh liệt như cuộc du hành đầu tiên. Tuy nhiên khung cảnh vẫn là cảnh xưa, vẫn là những ngọn đồi xa xa như xưa, vẫn là con sông xưa chảy giữa đôi bờ rợp bóng ngày xưa, vẫn là những con thuyền tam bản rải rác trên dòng nước lười biếng, vẫn là ngọn tháp mộng mơ chiếm lĩnh cái góc phong cảnh thân thuộc ngày xưa; vẫn là những bức tường cao của tòa thành cổ tự ngắm bóng mình trong hào nước đầy cỏ lác; tất cả như gợi một bức tranh tinh tế bằng mực Tàu, bức tranh làm thỏa mãn trí tưởng tượng của những thi nhân. Chỉ riêng một điều là những người bạn cũ chẳng có mặt ở đấy nữa. Họ đã phiêu bạt bốn phương trời; họ đã chia cách khỏi ta vì khoảng cách và vì tư tưởng. Còn tâm hồn cũng vậy, có lẽ nó đã mất đi sức mạnh cảm xúc; tiếp xúc với những thực tế gồ ghề của cuộc đời, sự rung động bên trong đã giảm, tâm hồn trở nên ít bay bổng, và than ôi! nó đã quá khôn ngoan. Chính vì vậy mà những cảm xúc đầu tiên ta nhận được, những cảm xúc dịu dàng nhất, sâu sắc nhất sẽ không bao giờ gặp lại với cùng cường độ như xưa, và những giờ phút bay bổng nhất của cuộc đời sẽ chỉ sống lại được qua kỷ niệm.

DÂN TỘC LÀ CỤ THỂ

Những dòng chữ bên trên không chỉ là của một nhà báo trẻ giàu cảm xúc!
Đó là những dòng chữ của một chí sĩ trẻ ngẫm nghĩ về đất nước mình, về dân tộc mình. Và ở đây, ta sẽ thấy “dân tộc”, “đất nước” đối với Phạm Quỳnh hoàn toàn không phải là những khái niệm khô khan học thuộc lòng theo sách vở cốt để giật lấy một mảnh bằng. Dân tộc là những con người cụ thể như cô lái đò bình dân kia, như tiếng hát có tự muôn đời kia, cả con người lẫn tiếng hát mãi mãi cứ làm say đắm lòng người.

Một khi ta hiểu cung cách suy nghĩ - từ đó mà hiểu một văn phong Phạm Quỳnh - ta sẽ thấy người viết chính luận đó có cái đầu óc đầy chất thơ, đầy chất tự tình: Phạm Quỳnh không có thói lớn tiếng dạy dỗ bạn đọc về tính dân tộc hoặc về tinh thần dân tộc, mà tác giả tâm sự với đôi chút u buồn của kẻ mất nước với bạn đọc:

Khi ta có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử, thì trong những lúc thất vọng hay hoài nghi, sẽ là một khích lệ tuyệt diệu nếu biết nhớ lại thiên sử thi anh hùng dài lâu của tổ tiên và rút lấy từ trong các bài học của quá khứ những sức mạnh cần thiết để đối mặt với hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

Những suy ngẫm đó không chỉ phảng phất chút u buồn! Sau cơn mưa trời lại nắng, sau những phút u buồn là những nhận thức rành rọt về dân tộc, những con người...

... khát khao một nền độc lập mà họ chưa bao giờ có được đầy đủ và trọn vẹn, thường khi phải đeo đuổi nó như một ảo ảnh, chẳng bao giờ chùn bước trong cuộc đeo đuổi nền độc lập ấy qua bao nhiêu thăng trầm và thất bại, đôi lần đạt được nó trong những cuộc bùng phát ý chí thật đáng ngạc nhiên ở một chủng tộc vốn thụ động và uể oải, khi những nhân cách lớn như một Trần Hưng Đạo, một Lê Lợi, một Gia Long trong một lúc nào đó hội tụ được linh hồn dân tộc và bằng bản lĩnh mạnh mẽ của mình chế ngự được những tiềm lực vô thức và hỗn loạn.

Trong nỗi đau suy ngẫm, hoặc suy ngẫm trong nỗi đau, Phạm Quỳnh không thể không suy ngẫm về hiện trạng nước Nam thân yêu của dân tộc đang sống dưới “chế độ bảo hộ” của chính phủ Pháp. Xin tuỳ ý, ai muốn tiếp tục coi đoạn trích trong tiểu luận dưới đây là để “thuyết phục đồng bào cam chịu ách nô lệ” thì tuỳ, riêng tôi thì lại nghĩ đây chính là những suy ngẫm nói to thành lời trên trang viết:

Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định mệnh mang tính lịch sử; đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay đã trở thành một tất yếu chính trị.

Nguyên nhân vì đâu sự tất yếu này áp đặt được lên mọi người, ta đều đã biết đầy đủ, và không cần phải nhắc lại. Nước Nam một thân một mình, suy yếu không thể đứng vững, không thể tự bảo toàn, tất sẽ rơi vào ách của một quốc gia khác có thể còn vụ lợi và tham lam hơn, như vậy sẽ mất đi thành quả mà nó đã gặt hái được từ sự tiếp xúc với Pháp, tới mức nước Pháp thành người bảo vệ tốt nhất cho nước Nam.

Phạm Quỳnh thấy rõ, thật vô ích khi bình phẩm về các thiệt hại hai bên gây ra cho nhau. Khi đã ở vào tình trạng đó, con người cả hai bên đều phải gánh một trách nhiệm nặng nề trước lịch sử.

Nhưng “vô ích” không có nghĩa là không đòi cho được một nền độc lập cho dân tộc theo cách thức thích hợp nhất có thể. Và Phạm Quỳnh đã đòi, đòi bằng cách dùng lý lẽ để thuyết phục vào lương tri con người.

Phạm Quỳnh cổ suý cho một chủ nghĩa dân tộc của nước Nam. Cái chủ nghĩa dân tộc đó không phải là sản phẩm tưởng tượng của một ai. Đó cũng không phải là cái chủ nghĩa dân tộc rộ lên “theo phong trào” tiếp theo sau cuộc Thế chiến thứ nhất. Cái chủ nghĩa dân tộc đó của người Nam vẫn từng tiểm ẩn trong lòng dân tộc này. Phạm Quỳnh nối rõ cho những người đang là đối tượng thuyết phục:
Thực ra thì tinh thần dân tộc luôn luôn mãnh liệt ở nước chúng tôi. Chỉ cần đọc lịch sử của chúng tôi là nhận thấy rằng, bất chấp danh nghĩa chư hầu của Trung Quốc, nhưng mỗi cuộc xâm lăng của Trung Quốc, mỗi một tác động tạo ảnh hưởng mới của Trung Quốc lên đất nước này, đều tạo nên một sự bùng nổ tinh thần dân tộc trong quảng đại quần chúng, và các vị vua chúa của chúng tôi đều biết khéo léo khai thác để giành lại giang sơn, để đặt những nền móng cho một triều đại mới, hay là để khôi phục lại sự thống nhất đã bị lung lay vì các cuộc nội chiến.

Và Phạm Quỳnh nói rõ, tinh thần dân tộc đó vẫn tiếp tục kể cả trong khi người Pháp tiến hành vừa xâm chiếm vừa bình định, và cả sau khi người Pháp đã có hoà ước Patenôtre 1884 xác lập các quyền của họ ở Việt Nam:

Lịch sử thiết lập chế độ bảo hộ Pháp tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ chỉ là một chuỗi các phong trào khởi nghĩa dưới các dạng khác nhau nhưng đều có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa rõ rệt.

Các cuộc đối kháng vũ trang với quân viễn chinh Pháp đã chấm dứt. Nhưng vẫn còn đó một tinh thần đấu tranh và một phương thức đấu tranh mới cho chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam:

Thực tế là giới trí thức nước Nam cho tới tận gần đây vẫn luôn thù địch với trật tự mới. Ban đầu họ đứng ngoài các cuộc nổi dậy do các thủ lĩnh băng đảng xuất thân bình dân phát động, nhưng rồi họ cũng cũng tham gia vào con đường cải cách kể từ sau khi Trung Quốc bị Nhật Bản đánh bại năm 1894. Những cuốn sách của các nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu... đã ảnh hưởng sâu sắc lên giới trí thức cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong suốt hai mươi năm, từ 1895 đến khoảng 1914. Lúc đó nhiều trí thức đã chạy sang Trung Quốc và Nhật Bản và tất cả các sự kiện xảy ra trong thời kỳ này, đặc biệt là các sự kiện năm 1897, 1908, 1913, đều có sự kích động ít nhiều trực tiếp của các trí thức lưu vong ở nước ngoài.

Khi Chiến tranh thế giới thứ I sắp bùng nổ, số lượng các nhà nho này bắt đầu ít dần, do không còn người theo học sau khi Nho học và các kỳ thi lớn ba năm một lần bị bãi bỏ. Thay vào đó là một tầng lớp trí thức mới được đào tạo không theo lối Trung Quốc nữa, mà từ trường phái Châu Âu. Có người nghĩ rằng ngọn lửa ái quốc tích cực đã tắt cùng với những người Nho học cuối cùng. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Giới trí thức mới đã tiếp nối trung thành các bậc cha chú của mình. Nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị, lại tin vào những lời hứa không tiếc lời trong các diễn văn hùng hồn của Toàn quyền Sarraut, họ đã bị hệ tư tưởng chiến tranh mà chúng ta đã nói ở trên cuốn đi. Thời hậu chiến đã mở mắt cho họ. Họ đã thấy rõ hơn hoàn cảnh của đất nước mình và đã tỏ ra một tinh thần dân tộc chủ nghĩa thậm chí còn hơn cả ở những người đi trước.

"XÍCH LẠI GẦN NHAU"

Những sự thật lịch sử đấu tranh cho một chủ nghĩa dân tộc - một nền độc lập trọn vẹn - cùng với những thất bại còn hơn cả mức đau lòng đã dẫn Phạm Quỳnh đến một sư duy khác hẳn: đó là cuộc vận động cho một sự xích lại gần nhau giữa hai dân tộc Việt Nam và Pháp.

Trước hết, bằng một nhãn quan vừa độ lượng vừa thấu suốt, Phạm Quỳnh quy tội cho “con lịch sử”, nhưng quy tội thật khéo, có khi mượn lời chính người Pháp để người đọc những tiểu luận tiếng Pháp dễ tiếp thu hơn.

“Các dân tộc đụng chạm với nhau trước hết qua những con người cứng rắn nhất, háo danh nhất, hay những người xác quyết nhất trong việc áp đặt các học thuyết của mình và chỉ cho chứ không nhận, [...] không hề lấy sự bình đẳng trong các trao đổi làm đối tượng và vai trò của họ chẳng bao giờ là tôn trọng sự thư thái, tự do, các niềm tin hay những điều hay của những người khác. Nghị lực, tài năng, sự sáng suốt, lòng trung thành của họ đều nhằm tạo nên hay khai thác sự bất bình đẳng. Họ lao tâm tổn sức và thường hy sinh trong việc làm cho kẻ khác những gì họ không muốn kẻ khác làm cho mình. Mà ắt phải khinh bỉ con người, dù đôi khi không hề biết là mình làm như vậy, - và thậm chí với ý định tốt -, để có thể ra sức trừ khử họ hay quyến rũ họ. Khởi đầu là sự khinh bỉ. Không có quan hệ qua lại nào dễ dàng hơn và được thiết lập nhanh chóng hơn”.

Kết quả tất yếu là, trong quan hệ giữa các dân tộc Phương Tây và Phương Đông
được xây dựng trên những cơ sở như vậy, dai dẳng một sự bất ổn mà tất cả những ý đồ tốt nhất cũng không sao xua tan được.

Phạm Quỳnh cũng mượn lời các học giả Phương Tây để nói tới “cơn điên rồ tập thể...” ấy.

Phạm Quỳnh kêu gọi hành động, và vạch hướng đi cho hành động:

Chúng tôi đã nói rằng tình hình có thể được cải thiện bằng một cố gắng thẳng thắn và thiện chí của cả hai bên. Cố gắng này phải chăng vượt quá khả năng của chúng ta? Chúng tôi không nghĩ thế. Trên thực tế, cũng giống như trong mọi việc khác, chỉ cần muốn là có thể. Nhưng cần phải muốn.

Vì vậy chúng tôi sẽ nói với những người Pháp và với người nước Nam nào mong muốn thực hiện sự hòa hợp rất nên làm này, một sự hòa hợp càng đáng thực hiện vì sự phồn thịnh của đất nước thân yêu chúng ta phụ thuộc vào nó:

- Hãy gắng xích lại gần nhau; bạn sẽ thấy việc đó là đúng. Cuộc chung sống của chúng ta sẽ dễ chịu hơn và có ích hơn. Dù thế nào chăng nữa thì nó cũng sẽ gạt bỏ được vô số điều hiểu lầm đang quấy rầy, đang làm hỏng và đôi khi thậm chí còn đầu độc cuộc chung sống này.

Với các đồng bào nước Nam của mình, chúng tôi sẽ nói:

- Quá khứ đã nằm im trong lịch sử. Nó như thế nào thì nó vẫn cứ như thế, không phụ thuộc vào bất cứ ai trong chúng ta để có thể khác đi. Hiện tại với những đòi hỏi của hiện tại, tương lai với những hy vọng của tương lai là đủ để chúng ta quan tâm. Không ích gì khi đả kích vào những điều đã xảy ra. Sự đô hộ của Pháp là một thực tế mà chúng ta không thể làm gì chống lại nó và chúng ta phải coi nó là một yếu tố. Hãy chấp nhận nó với tất cả các hậu quả của nó, và hãy tìm cách rút ra từ đó cái khả năng có lợi nhất.

Để làm được công việc xích lại gần nhau, Phạm Quỳnh không ngớt đi sâu vào công cuộc nghiên cứu những giá trị văn hoá muôn đời của người Việt Nam, rõ ràng là với ý đồ buộc người Pháp phải “sáng mắt ra” mà tôn trọng những giá trị không thể chối cãi ấy, từ đó mới có được bình đẳng thực sự giữa đôi bên. Phạm Quỳnh nhiều lần nhấn mạnh thái độ khước từ sự thương hại hạ cố của “Mẫu quốc” với dân nước Nam có đời sống giản dị nhưng tâm linh thì mang đầy những giá trị văn hoá.

Nhưng Phạm Quỳnh không hoàn toàn nhắm mắt rung đùi thoả mãn với những gì dân tộc ta đã có. Phạm Quỳnh còn đau đáu những điều liên quan đến những yếu kém thực sự của người nước Nam. Phạm Quỳnh đi sâu vào học thuật để “huấn luyện” cả người nước Nam lẫn người Pháp có được những cơ sở triết học, đạo đức, nhân sinh của công cuộc xích lại gần nhau.

Trước hết, về triết học, Phạm Quỳnh thấy rõ nước Việt Nam vốn theo Khổng nho. Nhưng Phạm Quỳnh cũng thấy rất rõ tính hời hợt ngay ở nhiều bậc “túc nho” nước nhà. Nên chi, khi ở Trung Hoa, khi chế độ dân quốc chiếm được quyền hành, đạo Khổng bị lăng nhục, “lão già” họ Khổng bị coi là lố bịch, thì Phạm Quỳnh vẫn nói, ở Việt Nam chỉ có một một làn sóng dửng dưng thôi; Phạm Quỳnh viết với hành văn đầy giễu cợt:

Ở nước Nam, làn sóng mất tín nhiệm này đúng ra là một một làn sóng dửng dưng. Bậc hiền triết ở Khúc Phụ, mới đây còn đem lại sự sinh động cho toàn bộ đời sống đạo đức và tinh thần của đất nước này bằng những lời dạy và những châm ngôn của ông, nay trông có vẻ xa vời, thật xa vời trong không gian và trong thời gian. Và nếu gần đây, một nhà nho nước Nam, theo gót các đồng nhiệp của ông ta ở nước “Trung Hoa trẻ”, đã thử viết ra bản án Khổng Tử và Khổng giáo, thì hình như ông ta cũng chẳng mấy khiến độc giả chú ý; chẳng có ai tán đồng cũng chẳng ai phản đối; và tôi rất nghi rằng các bài báo của ông, tuy được viết với văn phong và tư liệu khá công phu, cũng có số người đọc ngang với mẩu tin bé tẹo nói về chiến công của chàng vô địch quần vợt được tất cả báo chí tiến bộ xếp lên hàng anh hùng dân tộc.

Hiểu rõ tình trạng học hành không đếu đầu đến đũa của nhà nho nước mình, Phạm Quỳnh phải viết bài giải thích hệ thống triết học đó cho người Việt. Nhưng, là người luôn luôn bị ám ảnh vì tư tưởng “xích lại gần nhau” giữa người Pháp và người Nam, nên với quỹ thời gian hữu hạn của mình, Phạm Quỳnh bao giờ cũng một công hai việc, giải thích luôn cho người Pháp. Điều này giải thích vì sao lại có những tiểu luận triết học từ Khổng, đến Mạnh, rồi đến Mặc - nếu chỉ cần giải thích cho người Việt, Phạm Quỳnh đâu có rỗi hơi mà viết bằng tiếng Pháp?

Trên tinh thần đó, cách giải thích của Phạm Quỳnh tiến hành thành ba bước, nếu có thể nói như thế.

Bước thứ nhất là “khen ngợi” những yếu tố tích cực của đạo Khổng mà dân ta đã tiếp thu được. Theo nội dung này, nếu người Việt Nam muốn duy trì những tập tục vô hại (hoặc có lợi) nào đó, thì có thể dùng Khổng giáo để lý giải và chấp nhận (lễ Tết, thờ cúng gia tiên, tục chôn cất người chết, v.v...) Bước thứ hai là bổ sung cho Khổng Tử những quan điểm của Mạnh Tử, mà có lẽ theo Phạm Quỳnh, Mạnh sẽ giúp ích hơn cho công cuộc xích lại gần nhau giữa Pháp và Việt Nam. Nhưng phải đợi bước thứ ba nghiên cứu đạo Khổng, với việc bổ sung Mặc Địch - một gương mặt vĩ đại mà cả Tư Mã Thiên cũng bỏ qua một cách bất công, chỉ dành cho Mặc Địch chừng ba mươi chữ (!) - để nói rõ hơn về con đường hoà hợp nhau giữa nước Pháp và nước Nam.

Phạm Quỳnh khen ngợi Khổng Tử và đồng thời cũng khen ngợi hành xử của tập tục Việt Nam - lấy một chuyện gai góc nhất, thờ cúng người chết - tập tục đó được Phạm Quỳnh mượn người xưa mà lý giải thế này:

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Và,

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi: cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, - một thứ ảo tưởng tốt lành, - về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy.


Và rất khôn ngoan, khéo léo là cách Phạm Quỳnh ca ngợi cái sự tìm kiếm hạnh phúc, cái hạnh phúc tự nhiên của người Nam trong tục lễ tết.

Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hoá nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Vì thế mà,

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Đã uốn được cho họ Khổng cũng phải phục vụ cho đường lối xích lại gần nhau, Phạm Quỳnh đã viết những lời đúc kết vừa chân xác và lại vừa dạt dào tình cảm đối với Mạnh Tử và đặc biệt là với Mặc Địch, những con người, tuy Phạm Quỳnh không nói ra, nhưng thực sự được đánh giá là cao hơn hẳn họ Khổng.

Cao hơn hẳn, vì nó chính trị hơn và đạo đức hơn.

Cao hơn hẳn, vì nó thực dụng hơn và khả thi hơn.

CÔNG CỤ GIÁO DỤC

Những con người nhìn xa trông rộng của nước Nam bao giờ cũng thấy một điều rất căn bản này: tổ quốc có thể giành được độc lập (bằng vũ lực hoặc bằng con đường “xích lại gần nhau”) nhưng nền độc lập ấy sẽ không có mấy ý nghĩa một khi dân trí thấp. Cái dân trí thấp không phải là định mệnh của người Việt, mà nó là kết quả tích tụ từ bao đời, và cái dân trí thấp đó thậm chí là thuộc tính của ngay cái tầng lớp tinh hoa! Vì thế mà hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thì kêu gọi chấn hưng dân trí. Vì thế mà các nhân sĩ Đông Kinh nghĩa thục một mặt thì ủng hộ sự kiện gọi bằng “Hà thành đầu độc” cũng như những cuộc nổi dậy ở các tỉnh, song lại chủ trương cái kế sách bền lâu ấy là mở trường phổ cập văn hoá hiện đại cho công chúng. Vì thế mà Hồ Chí Minh thì có thư gửi quốc dân đồng bào, nói rõ ngay khi mới giành được độc lập năm 1945 về ba loài giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.

Phạm Quỳnh cũng đau đáu một nỗi đau dân trí thấp ấy. Cả một đời Phạm Quỳnh là một đời không ngừng hoạt động thực tiễn và lý thuyết để thức tỉnh và nâng cao dân trí. Những hoạt động trong phạm vi hội Khai trí tiến đức, trong các trang báo Nam Phong, đều muốn lấy đó làm một làn gió mới của phương Nam nâng cao dân trí và đạo đức của dân tộc này. Một mảng lý thuyết rất được Phạm Quỳnh suy tính.

Những lời Phạm Quỳnh viết cách nay gần một trăm năm mà sao vẫn thấy nó đương đại với chúng ta hôm nay, trong thập niên đầu của thế kỷ XXI - chỉ với một chút khác biệt ấy là dựa vào thiện chí khai sáng theo trách nhiệm bảo hộ của Pháp:

Nếu mục đích cao cả của mọi nền giáo dục là để đóng góp vào sự phát triển đầy đủ nhân cách con người, và nếu như nhân cách con người trước tiên bao giờ cũng phụ thuộc tùy theo chủng tộc và môi trường, rồi sau mới phụ thuộc vào cái nền tảng nhân loại và phổ quát, là điều ở mọi thời đại và trong mọi đất nước đã cấu thành nên con người cụ thể, chính là cái đã tạo nên cơ sở của nền văn hóa Pháp, thì chúng tôi yêu cầu nền giáo dục Pháp hãy đào tạo nên những người nước Nam đích thực, những người nước Nam đầy đủ, và không phải là những một nửa hay những một phần tư người nước Nam.
Không phải là những dạng người nước Nam què quặt ấy, những người chỉ có một cơ sở văn hóa phiến diện, sẽ phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp của nền văn minh Pháp trong đất nước chúng tôi như người ta thường vẫn nghĩ, vì rằng chừng nào mà họ không nói được ngôn ngữ của đồng bào họ, thì làm cách gì mà họ gây được chút ảnh hưởng nào đó với đồng bào mình kia chứ?
Chỉ có những người nước Nam hoàn chỉnh, nếu tôi có thể nói như vậy, bắt đầu nghiên cứu khoa học và bắt đầu nghiên cứu văn minh hiện đại, luôn luôn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống của đất nước họ, thì mới có thể phục vụ đắc lực nhất Tổ quốc mình và nước Pháp.

Đó là đường lối chiến lược. Cụ thể hoá ra một bước, Phạm Quỳnh đề xuất một hướng đi kèm theo một cách làm hết sức hành dụng:

Cần phải làm gì để đào tạo những con người như vậy?
Cần phải có một nền giáo dục tiểu học tốt, dạy bằng tiếng nước Nam, xin mở ngoặc, tiếng nước Nam hoàn toàn có khả năng cung cấp một nền giáo dục như vậy. Nền giáo dục này sẽ là cơ sở cho mọi công cuộc giáo dục khác. Chỉ khi học xong tiểu học người ta mới sẽ tiến hành việc chọn lựa nghiêm túc; đối với những chủ thể tinh hoa có khả năng đẩy xa hơn việc học tập, ta sẽ dạy tiếng Pháp như ngoại ngữ thứ nhất để chuẩn bị cho họ theo học những trường trung học, kỹ thuật hay cao đẳng ở Đông Dương và ở Pháp. Những người này, khi học xong, sẽ là những người có năng lực tốt nhất, thông qua cơ sở giáo dục tiểu học và quốc gia mà họ đã thu nhận được, nó làm họ gần gũi với đồng bào của họ, để rồi sẽ dẫn dắt những người này tới nền văn hóa mới.

Bởi lẽ, và đó cũng hãy còn là điều lẫn lộn và một nhầm lẫn cần xóa bỏ, ngôn ngữ là một chuyện và văn hóa lại là một chuyện khác; không nhất thiết cần phải biết tiếng Pháp để có được văn hóa Pháp; văn hóa này có thể được chuyển nhanh chóng hơn và cũng hiệu quả hơn bằng phương tiện truyền bá nhờ ngôn ngữ dân tộc.

Bằng hệ thống giáo dục đã được khuyến nghị như trên, mọi người nước Nam học xong những trường Pháp sẽ đủ khả năng phổ cập hoá rồi phổ biến rộng rãi bằng phương tiện ngôn ngữ dân tộc những tri thức mà anh ta có được bằng tiếng Pháp, thay cho cách làm vào lúc này là chỉ có một thứ giải pháp đào tạo từ thấp lên cao những người đồng hương trẻ tuổi của chúng tôi, giải pháp này có khuynh hướng tách hoàn toàn những người trẻ tuổi này ra khỏi môi trường của họ.

Phạm Quỳnh đã đi đến đường lối đó chắc hẳn không dễ dàng. Vì vào thời đó, cũng có những “phương án” khác, trong đó có phương án dựa vào Nhật Bản để chấn hưng dân trí. Phạm Quỳnh đã đem suy nghĩ về Nhật Bản trong sự suy nghĩ về mối tương quan giữa Đông và Tây, chắc hẳn để tính toán xem đó có thể là chỗ dựa không:

[...] đúng là sự khác biệt cơ bản chia cách Phương Đông và Phương Tây, Châu Á và Châu Âu. Một phía, là niềm say mê cái tuyệt đối và cái toàn thể, phía kia, chú ý vào cái ngẫu nhiên và cái riêng biệt. Chỉ cần rút ra từ đó tất cả các hệ quả để khắc họa nên những nét chính của các nền văn minh Phương Tây và Phương Đông. Đắm mình trong chiêm ngưỡng cái Lý tưởng, chăm chăm vào cuộc tìm kiếm và đuổi theo cái Tuyệt đối, Phương Đông đã đông cứng lại trong sự phát triển của mình, dửng dưng với tất cả những tiến bộ của thế giới bên ngoài.

Không đủ sức chống lại các bộ lạc du mục man dã xâm chiếm đất nước mình (người Hun, người Mông Cổ, người Tác-ta), rất nhiều lần họ đã để cho chúng tràn ngập và mỗi lần như vậy lại rơi vào cảnh phụ thuộc nhục nhã, cuối cùng tạo nên “một sự rối loạn về trí tuệ, một nỗi kinh hoàng tinh thần” mà các dân tộc của họ không bao giờ có thể hoàn hoàn bình phục được.

Chỉ có Nhật Bản, nhờ hoàn cảnh đảo quốc của mình và cũng nhờ ý chí của dân mình, tránh được các cuộc xâm lược ấy, và trong thời điểm quyết định đã có thể tập trung được toàn bộ sức mạnh mới mẻ và nguyên vẹn của mình cho công cuộc biến đổi và thích ứng, đưa nước Nhật lên cao đến thế trong hàng thứ bậc các quốc gia hiện đại.

Ôi, Phạm Quỳnh, con người lúc nào cũng yêu cái đẹp, và vì yêu cái đẹp mà yêu những con người đang sống và sắp sinh ra để sống mãi mãi trên cái mảnh giang sơn gấm vóc này, và con người yêu cái đẹp ấy không thể nào không là con người của ảo tưởng, Phạm Quỳnh đành quay về chỗ dựa còn lại duy nhất ad augusta per angusta - đành lòng với “mục tiêu huy hoàng, khắc phục vô vàn chuyện nhỏ nhen”, như người xưa đã nói vậy - để vỗ về Mẫu quốc như thế này đây:

Công cuộc cải cách này không khó lắm, và Chính phủ Bảo hộ chắc chắn sẽ quan tâm để thực hiện điều đó khi chính phủ hiểu rõ tầm quan trọng gắn với chuyện này.

Nhưng ta không thể chỉ thoả mãn với việc đào tạo thích hợp những người nước Nam có khả năng hiểu rõ tư tưởng và văn minh Pháp và đưa họ đi khắp nơi, sống giữa đồng bào của họ. Cũng mong rằng có nhiều người Pháp quan tâm tới sự phát triển của chúng tôi, với không thành kiến nào họ sẽ nghiên cứu ngôn ngữ, văn chương, lịch sử, nền văn minh của chúng tôi. Nói tóm lại, cũng mong rằng, về phía người Pháp ở nước Pháp và ở Đông Dương, sẽ bớt đi sự thờ ơ, và nhiều thêm sự tò mò tích cực và thiện cảm đối với mọi sản phẩm tinh thần và tư tưởng của người nước Nam.

Chính vì vậy nên chúng tôi thực hiện, đối với cả hai phía, cái chính sách cộng tác và liên kết mà những con người nổi tiếng vẫn thường công bố bằng những lời khá là hùng biện, những con người nổi tiếng đó, cho đến nay, vẫn gánh ở trên vai trách nhiệm đối với số phận của đất nước tôi.

Và người đầy ảo tưởng mộng mơ thì thường vẫn nghĩ mình sáng suốt sau khi đã “phân tích khách quan khoa học” mọi khả năng có thể dựa vào để nâng cao dân trí cho con dân nước Việt. Có những lúc con người mơ mộng đó hoang mang đau đớn và đi tìm một chỗ bám víu, và như một lời khấn trước tổ tiên, Phạm Quỳnh viết:

Ôi! Ta biết lắm, chúng ta là những người lạc hậu. Chúng ta chẳng biết những lý thuyết đẹp đẽ về tiến bộ và phát triển. Tiến bộ, cái từ mới đẹp làm sao! Nhưng cũng thật dối trá và lừa đảo! Người ta đã phạm phải những điều kinh khủng nhất nhân danh cái từ to lớn, thường là vô nghĩa đó. Con có tin rằng nhân loại ngày nay tốt hơn thời Khổng Tử không? Về cơ bản, thế giới cứ quay vòng quanh; sau mỗi chu kỳ tiến hoá, mọi sự lại bắt đầu và cứ tiếp tục như vậy mãi. Không hề có sự tiến bộ tuyệt đối. Đấy là một trong những điều mê tín của thế kỷ này vốn tự cho rằng mình đã thoát ra được khỏi mọi định kiến và nếp cũ. Có những tiến bộ nhỏ, những bước đi tới nhỏ về phía trước trên con đường dài vốn, như chúng ta vừa nói, cứ quay vòng tròn. Điều đó gây nên ảo tưởng, chỉ có vậy thôi. Thường đấy là một ảo tưởng tốt lành, khiến cho ta giữ được lòng can đảm và khuyến khích nỗ lực, bao giờ cũng là điều tốt, nhưng chớ nên quá bám lấy ảo tưởng ấy, như là một sự mê tín nó che mờ tâm trí ta và làm mờ tối trí thông minh của ta.

Vậy nên, gia đình và tổ quốc phải là hai cực trong hoạt động của con, nếu con muốn hành động và mong muốn giúp ích được chút nào đó. Bởi đó là hai chân lý tích cực và sống động duy nhất; mọi thứ khác chỉ là mơ tưởng và hão huyền.

Đấy là bài học lớn nhất mà tổ tiên của con có thể dạy cho con; nó đã từng ích dụng cho chính họ, nó cũng sẽ ích dụng cho con và con cháu của con cho đến các thế hệ cuối cùng.

*
* *

Trong khoa Văn bản học có một “luật” phát biểu gần như sau: mỗi văn bản là một đồ vật khách quan trước con mắt mọi người, và đồ vật ấy khi được chiếm lĩnh bởi một chủ thể thì liền mang một giá trị mới, một giá trị riêng, phản ánh đúng tư chất chủ thể kia. Người ta quy ước gọi tên một cái là “văn bản” khách quan chung cho mọi người, còn một cái là “tác phẩm” riêng cho mỗi con người đang cảm thụ.
Truyện Kiều là một văn bản khách quan, và đã có vô số chủ thể nhận thức khác nhau, tạo ra những tác phẩm phản ánh đúng tư chất họ, có kẻ yêu người và yêu đời, có người vụ danh và vụ lợi, có kẻ mộng mơ trên cao ngất, và có người ngồi sát sạt nơi đáy giếng... Văn bản Truyện Kiều thì trăm năm vẫn còn nguyên, có hiệu chỉnh đôi ba chữ do chữ Nôm ghi na ná, thì về cơ bản văn bản ấy vẫn vẹn nguyên không đổi; trong khi đó, do con người thay đổi, do lòng người đổi thay, nên tác phẩm Truyện Kiều có khi từ chỗ bàng bạc như khói như sương, bỗng trở nên hiện thực rằn rằn như gươm như súng.

Trong cuộc “rong chơi” xứ Huế của Phạm Quỳnh, cũng có cái văn bản là một cặp vợ chồng, anh chồng đi kéo xe và chị vợ làm công việc lái đò. Thế mà, nhìn vào văn bản đó, Phạm Quỳnh và người bạn đã tạo trong lòng mình cái tác phẩm khác: Chồng trên cạn, vợ dưới sông, họ sống đời ung dung tự tại - Chồng kéo xe, vợ khua chèo lướt chiếc thuyền tam bản. - Nhưng cả xe cả thuyền đều chẳng xứng chở nỗi buồn chia cắt - Đêm về, vợ lại gặp chồng trên con đò sông nước.

Cái tác phẩm gợi nhớ đến tiếng tỳ bà và những giọt nước mắt làm đẫm áo xanh của một quan tư mã.

Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tưởng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn tác phẩm mà thôi.

PHẠM TOÀN
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2007
(Mồng 7 tháng 3 năm Đinh Hợi)

(*) Những đoạn trích in nghiêng đều lấy từ trong sách Tiểu luận Phạm Quỳnh này (BT).

Hãy đem di cốt Hồ Nguyên Trừng trở về Việt Nam

Phần mộ của quan Thượng thư Bộ Công nhà Minh là Lê Trừng, tức Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), vốn là tôn thất nhà Hồ của Việt Nam, tọa lạc tại thôn Nam An Hà, xã (hương) Bắc An Hà, khu Hải Điện, Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, có thể bị khai quật và di dời trong thời gian tới.

http://au.blog.360.yahoo.com/blog-V8i4lZglabOqNmtKDevrxrT5RQo-?cq=1&p=54

Bài của Lê Thị Minh Huyền

Phần mộ của quan Thượng thư Bộ Công nhà Minh là Lê Trừng, tức Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), vốn là tôn thất nhà Hồ của Việt Nam, tọa lạc tại thôn Nam An Hà, xã (hương) Bắc An Hà, khu Hải Điện, Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, có thể bị khai quật và di dời trong thời gian tới.Theo Website của Tối cao Nhân dân Pháp viện (Tòa Án nhân dân tối cao) Trung Quốc (xem chinacourt.org) ngày 10 tháng 8 năm 2007 thì Tòa Án Hành chánh quận Đông Thành, Bắc Kinh, đã quyết định không thụ lý (bác bỏ) đơn kiện của tập thể 600 nông dân thôn Nam An Hà do một bà họ Tần (Tần nữ sĩ) đại diện, kiện hai Bị đơn là Ban Quản Lý Thôn (Thôn dân Ủy viên hội) và Công Ty tài chánh Guangbiao Yundong, đã tự tiện ký hợp đồng cho thuê 2000 hecta đất nông nghiệp đang trồng củ cải của dân mà không có ý kiến của những người đang sử dụng đất (theo Hiến pháp Trung Quốc thì người dân không có quyền sở hữu đất nhưng có quyền sử dụng và quyền chuyển nhượng đất). Ban Quản Lý thôn Nam An Hà đã ký hợp đồng cho Công Ty G.Y thuê dất để làm khách sạn (khoảng 0,674 hecta), còn lại làm trường đua ngựa trong thời hạn 60 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê (tháng 2 năm 2004), với tiền thuê hàng năm là 700.000 tệ (khoảng 10.000 USD). Theo kế họach của Công Ty G.Y thì tất cả nhà cửa, mồ mả của dân phải di dời xong trong năm 2008. Mộ phần của gia đình Hồ Nguyên Trừng nằm trong số này (ngoài ra còn rất nhiều mộ của các danh nhân khác như Chu Tự Thanh, Đoàn Kỳ Thụy, Mã Chiếm Sơn, riêng lăng vua Cảnh thái nhà Minh vì là di tích quốc gia nên được chừa ra).

Hồ Nguyên Trừng là con trưởng Hồ Quý Ly, vua mở đầu nhà Hồ của nước Đại Ngu (tự nhận là dòng dõi Ngu Thuấn), nhưng không được truyền ngôi, có thể vì ông không phải con cháu nhà Trần (em Hồ Nguyên Trừng là Hồ Hán Thương là cháu ngoại vua Trần Minh Tông, mẹ Hồ Hán Thương là công chúa Huy Ninh, em vua Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông). Sau khi cha con nhà Hồ bị quân Minh bắt về Trung Quốc thì họ Hồ bị đổi trở lại là họ Lê.

Nói thêm một số chi tiết về số phận cha con nhà Hồ sau khi bị bắt về Trung Quốc (dựa theo các tài liệu dẫn bên dưới):

Ngoài ba đầu sỏ của “giặc ngụy” (chữ dùng của Minh sử, Minh Thực lục, Minh Thông giám, Quốc triều hiến chính) là Lê Quý Ly, Lê Thương (tức Hồ Hán Thương), Hồ Đỗ (nguyên là Trần Đỗ, con của tôn thất nhà Trần là Trần Tông, mẹ Đỗ cải giá lấy Quý Ly nên gọi Quý Ly là bố dượng, đổi sang họ Hồ, được Quý Ly tin cậy giao chức cao) bị xử trí tương đối nhẹ (mặc dù trước khi chinh phạt Đại Việt, vua nhà Minh đã làm lễ tế cáo trời đất rằng tội của cha con họ Hồ là “Trời Đất cũng không thể tha thứ” (Minh sử đã liệt kê 20 tội của nhà Hồ, toàn là tội đại nghịch, như giết vua soán ngôi, tiếm hiệu, xâm lấn đất thiên triều, giết sứ giả….) là giam trong ngục ở Nam Kinh chờ phán quyết (Minh thực lục, Minh sử), nhưng sau đó thì chẳng thấy phán quyết nào, nên sử Việt Nam như Đại Việt Sử ký Toàn thư (gọi tắt Toàn Thư) chỉ nói chung chung rằng cha con nhà Hồ phải đền tội là hợp với đạo trời, tuy nhiên bộ Khâm Định Việt Sử Thông giám Cương Mục (Cương Mục), dựa vào tài liệu của nhà Minh (Minh sử ký sự) thì cho rằng Hồ Quý Ly không bị giết mà bị đưa đi làm lính ở Quảng Tây. Kiểm tra lại tài liệu (sử Việt Nam khi trích dẩn tài liệu Trung Quốc thường hay nói tắt, nên đôi lúc gây nhầm lẫn) của phía Trung Quốc (Minh sử ký sự bản mạt của Cổ Ưng Thái đời Thanh Khang Hy, dựa trên tài liệu tàng trữ của nhà Minh; và một số tài liệu khác như Dã ký của Chúc Doãn Minh (1460-1526), Minh sử diễn nghĩa (tuy là diễn nghĩa nhưng theo sát chính sử, rất có giá trị) của Sái Đông Phiên (đời Thanh mạt)) thì Hồ Quý Ly quả thực bị bắt làm lính thú tại Quảng Tây. Vấn đề là tại sao nhà Minh lại chọn hình thức và địa điểm “cải tạo “ đầu sỏ ngụy” như thế thì đến nay không có tài liệu nào cho biết cả! Xét cho kỹ thì việc xử lý Hồ Quý Ly của nhà Minh thật là thâm độc. Nhà Minh không giết, nhưng cũng không tha chúa ngụy, có thể vì những lý do sau:

- không giết Hồ Quý Ly vì Quý Ly là cha của một nhân tài là Hồ Nguyên Trừng, một người không những nắm rõ bí quyết chế tạo “thần cơ pháo”, “hỏa long pháo”, mà còn rất giỏi trong việc chế tạo các sản phẩm có giá trị khác (sẽ nói rõ hơn ở dưới). Tính mạng của Hồ Quý Ly hầu như là vật thế chấp để Hồ nguyên Trừng phải ra sức mà phục vụ cho nhà Minh trong việc nắm vững ‘thần cơ pháp”.

-không thể tha Hồ vì Hồ là “đầu đảng ngụy”, tội lỗi đã được xét xử công khai trong buỗi lễ “hiến phù” (dâng tù) tại điện Phụng Thiên ngày 3 tháng 10 năm 1407, và bản án đã tuyên là “cấm cố chờ phán quyết tiếp”.

-Để “giải quyết” Hồ (Quý Ly) mà thỏa mãn được cả hai điều trên thì phải làm sao cho Hồ “được chết” do nguyên nhân hợp lý khác.

Quý Ly đã trên 70 tuổi (sinh năm 1336) nay bắt đi làm lính thú (lính đóng đồn dài ngày) tại Quảng Tây thì cầm chắc là “tiêu sớm”, vì lúc này (1408) Quảng Tây đang đại lọan, còn loạn hơn cả Giao Chỉ nữa: các dân thiểu số Quảng Tây đang thi nhau “làm lọan” vì bị đói và phục dịch quá sức (một hậu quả của việc chinh phạt An Nam các năm trước, mà Quảng Tây phải cung cấp lính, dân công, gạo…). trong vòng mấy chục năm liền các sắc dân Dao, Miêu (Mèo/Hmong), Choang liên tục nổi dậy dưới sự lãnh đạo của các anh hùng (một điều buồn cười là Trung Quốc vừa ca ngợi các anh hùng khởi nghĩa, vừa ra sức tán tụng công lao thống nhất quốc gia của nhà Minh) Hầu Đại Cẩu, Lam Ái Nhị (cả 2 là người Dao); cha con Vi Triều Uy, Vi Ngân báo (người Choang). Nhà Minh phải huy động 16 vạn quân đến đàn áp, kể cả đại quân của tên đồ tể Trương Phụ từ Việt Nam kéo sang, dùng chiến thuật 3 diệt (giết không còn người nào, đốt không chừa ngôi nhà nào, bỏ thuốc độc không chừa nguồn nước nào) để khủng bố nghĩa quân (theo Minh sử Trương Phụ đã tàn sát 2/3 dân theo “bọn giặc”). Sau đó cho lính đóng đồn bao vây nghĩa quân (vì người Dao cố thủ ở vùng núi Đại Đằng Hiệp, J.Barlow của đại học Hawaii dịch là Grand Rattan Gorge-mà lính Tàu không tài nào vào được). Ông già 71 tuổi Hồ Quý Ly là một trong các lính đóng đồn (lính thú) này, thân già, mang án tù đi hiệu lực, lại đóng đồn trong vùng ác địa thì nếu không tự chết thì trước sau cũng bị dân man giết (người Dao rất thiện chiến và “hung tợn”, họ đã 7 lần chiếm Ngô châu và diệt không sót một người dân Tàu nào trong thành). Nhà Minh quả là cao tay (theo Toàn Thư thì những quan nhà Hồ hàng nhà Minh- chứ không phải bị bắt- đều được ban thưởng, phong quan chức, cho ăn yến và sau đó tất cả đều trúng độc rồi chết, không biết Toàn Thư dựa vào tài liệu nào, riêng Cương Mục cho rằng việc này có lẽ không đúng, vì “phi nghĩa” quá!): đưa tên “nghịch tặc An Nam “ Hồ Quý Ly về Quảng Tây vừa làm chấn động dân man (vua của Giao chỉ mà chỉ một trận đã bị Minh bắt dễ như mèo bắt chuột, và nay mèo cho chuột tạm sống dưới móng vuốt của mèo), vừa tạo cơ hội cho Quý Ly sớm tiêu vong.

Quý Ly chết sống ra sao sau đó thì sử sách chính thức của nhà Minh coi như không biết (như thế đủ chứng minh rõ ràng là Quý Ly không bị xử tử vào năm 1407 như một số tài liệu nói). Tài liệu gần đồng thời cho biết Hồ Quý Ly không bị chết ở Quảng Tây mà chết ở ‘kinh sư” là cuốn bút ký của Chúc Dõan Minh(1460-1526). Theo những ghi chép trong sách này, gần nhất với thời Hồ Quý Ly ở Trung Quốc, có thể Chúc Doãn Minh nghe con cháu của Hồ Nguyên Trừng kể lại, thì:” 季犁死葬京师,其子后迁葬于钟山之傍“(Dã Ký, tập thượng, có thể kiểm tra lại trên Internet) (Quý Ly chết, táng ở kinh đô, con ông ta cho cải táng cạnh núi Chung Sơn).

Núi Chung Sơn ở ngoại thành Nam Kinh, theo ý câu văn của Doãn Minh thì kinh sư đây là Nam Kinh, nơi Hồ Nguyên Trừng làm quan. Vậy Hồ Quý Ly chết trứơc năm 1421, khi kinh sư chuyển lên Bắc Kinh. Tại sao lại cải táng bên cạnh Chung Sơn, có lẽ ban đầu nhà Minh cho chôn tên tù chung thân cấm cố Quý Ly tại nhà tù ở kinh đô một thời gian, sau tha, cho con cháu di dời đem về phần mộ của gia đình gần núi Chung Sơn (cách Nam Kinh ngày nay khoảng 10 km). Vậy tạm cho “lý lịch” của Hồ Quý Ly nằm trong khoảng (1336-1420), Quý Ly khi chết khoảng 83-84 tuổi, sau lần “sát hạch” thứ nhất của Hồ Nguyên Trừng (mà Trừng đã dây dưa rồi xù luôn việc khai lý lịch để giao cho Bộ Lại xem xét )

Hồ Nguyên Trừng, như đã nói, nắm giữ cái bí quyết mà nhà Minh cần, nên được thả ngay và cho làm quan kha khá (chủ sự, chính ngũ phẩm, cỡ Giám đốc sở của VN hiện nay), chuyên lo chế tạo súng đạn, thuốc nổ cho Cục Quân Nhu (Binh trượng cục). Lúc đầu Trừng có lẽ chưa “an tâm công tác” nên còn tư tưởng “tiêu cực”, làm cho có lệ, không mong gì tiến thân, vì thân phận vốn là “ngụy quân”, hơn nữa cha và em còn bị “cải tạo”, như tài liệu sau cho thấy:

* Tuyên Đức nguyên niên, tam nguyệt, thập thất nhật (ngày 24/4/1426) “Viên chủ sự Doanh thiện Thanh lại ty thuộc Bộ Công tại Nam Kinh (hành tại) là Lê Trừng đã đủ thời gian để sát hạch. Bộ Lại dâng biếu hặc tội Lê Trừng, cho rằng lần sát hạch trước y đã không nộp cho Bộ bản Lý lịch sự vụ sau khi kết thúc chín năm làm việc. Nay đến kỳ sát hạch này y mới chịu nộp bản lý lịch, như thế là vi phạm quy định. Hoàng thượng phán: Trừng khi còn tại An Nam đã phạm trọng tội, hoàng tổ (ông nội) ta đã đặc xá và dùng y, nay việc y vi phạm là không lớn, vậy có thể bỏ qua “ ( Minh Tuyên Tông thực lục quyển 16, trang 0409, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985). (行在工部營繕清吏司主事黎澄考滿。吏部劾奏澄歷九載悉不赴部給由。今又歷兩考始给由,有違定制。上曰: 澄在安南罪重, 皇祖特宥而用之。所犯小罪,可宥也)

Có thể Lê Trừng không muốn khai lý lịch (năm 1417) sau 9 năm làm việc (theo quy định để làm cơ sở thăng chức) vì cha còn bị tù, khai ra chẳng lợi lộc gì, đừng nói thăng thưởng. Mãi đến lần sát hạch thứ 2 (chín năm sau, năm 1426), Lê Trừng mới chịu khai lý lịch là con em của “đầu đảng ngụy”, vì lúc này có khai cũng chẳng sao (do Quý Ly đã chết lâu rồi, và em là Thương đã được thả sau đó, theo Dã Ký). Nếu Quý Ly còn sống và bị nhốt thì chẳng dễ dàng cho vua Tuyên Tông bỏ qua và còn ngay sau đó liên tiếp thăng thưởng cho Trừng, như cho thấy sau đây:

* Tuyên Đức tam niên, chính nguyệt, nhị nhật (ngày 18/1/1428) “ Lệnh phát lương tháng toàn bằng gạo cho viên hữu thị lang Lê Trừng thuộc bộ Công tại Nam Kinh (hành tại). Trừng là anh của tên đầu sỏ ngụy An Nam Lê Thương trước dây, y bị bắt đến kinh đô, Thái Tông Văn Hoàng-đế tha và dùng y; khởi đầu giao cho chức chủ sự ở bộ Công, Hoàng thượng tức vị, y được thăng Lang trung. Nội thần tâu y nghèo, bèn thăng chức Thị lang; đến nay lại ra lệnh cấp bổng hàng tháng toàn bằng gạo.”

( Minh Tuyên Tông thực lục, quyển 35, trang 0875, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985). (命 行 在 工 部 右 侍 郞 黎 澄 月 俸 支 全 米. 澄前 安 南 僞 主 黎 蒼 之 兄, 俘 獲 至 京, 太 宗 皇 帝 赦 而 用 之. 初 授 工 部 主 事, 上 卽 位 陞 郞 中. 內臣 有 言 其 貧 者, 遂 陞 侍 郞, 至 是 復 命 月 俸 給 全 米 云)

Vì lúc này con tin Lê Quý Ly đã mất, chỉ còn dùng bổng lộc mà nắm Lê Trừng thôi, cũng quả là cao tay (đến nỗi các quan nhà Minh cứ thắc mắc tại sao Lê Trừng được ưu đãi quá, trong khi gốc là tên giặc ngụy, xem Vương Thế Trinh (1570-1633): 工部尚书黎澄、 子侍郎叔林,以俘夷。澄即伪虞大皇黎苍弟,在本国官为….天长等路大都督、特进、开府仪同三司、入内检校、左相国、平章军国事、上柱国、赐紫金鱼袋卫国大王。澄幸免于僇,而以善造神枪,父子至八座,禄 食者近五十年,年八十余,子亦近八十,可谓遇矣。(Hoàng Minh dị điển thuật, tập 5)

(Thương thư Bộ Công Lê Trừng, con là Thị lang Lê Thúc Lâm, vốn là tù binh người di (mọi). Trừng là em (đúng ra là anh) của vua ngụy Đại Ngu Lê Thương. Khi còn ở bản quốc (Giao Chỉ) làm quan đến …Thiên Trường đẳng lộ Đại đô đốc, đặc tiến, khai phủ nghi đồng tam ty, nhập nội kiểm hiệu, tả tướng quốc, bình chương quân quốc sự, Thượng trụ quốc, tứ Tử kim ngư đại, Vệ Quốc Đại vương (lược một đọan trong cái tên quan tước của Lê Trừng dài dằng dặc đến 81 chữ, Vương Thế Trinh cố ý nhắc lại để nhấn mạnh Trừng cũng là ngụy đầu sỏ!). Trừng đã may (sic) không bị hành tội (để ý chữ dùng của tác giả, cũng là chữ lục, nhưng có nghĩa là làm nhục, khác chữ lục là giết), mà do giỏi chế tạo súng thần thương nên cha con làm quan đến bát tòa (nhị phẩm), ăn lộc đến gần 50 năm, thọ hơn 80 tuổi (thực ra không đến); con y cũng thọ gần 80, có thể nói là hiếm có vậy!)

Từ một tên “giặc ngụy đầu sỏ” bị bắt mà Lê Trừng được người Tàu cho làm quan đến Thượng Thư cũng là điều hiếm thấy thật, hơn nữa Trừng lại là dân Nam man, không phải người Hán, lại càng cho thấy người Tàu quả là có óc thực dụng, khi cần thì chẳng nề hà man mọi, ngụy quân ngụy quyền, cứ có tài là họ chấp nhận, kể cả dàn hòa với giặc và cho giặc làm vua nếu thấy cần cho Trung Quốc (Mông Cổ Hốt tất Liệt, Mãn Châu Nỗ Nhĩ cáp Xích vốn trước là giặc sau làm hoàng đế của Tàu).

Việc Lê Trừng làm đến Thượng Thư là sự thực (các bộ Minh sử trên mạng thường bị thiếu phần về Lê Trừng lúc làm Thượng thư, nay bộ Minh sử tân hiệu bản của Academia Sinica, Đài Loan khôi phục lại rất đầy đủ, xem bộ sử này trên Internet tại Quyển 111, Biểu 12, Thất khanh niên biểu, bảng 3418-3419, Công Bộ Thượng thư: 十年己丑, 黎澄安南王子。六月任,專供內府事。十一年丙寅, 澄七月卒。 (Năm thứ 10 (Chính Thống), Kỷ Sửu (đúng ra là Ất Sửu 1445), Lê Trừng, vương tử An Nam, nhậm chức (Công bộ thương thư) vào tháng 6, chuyên lo cung cấp các thứ đồ dùng cho nội phủ. Bính Dần, năm thứ 11, tháng 7, Trừng chết.

Để ý giọng văn hoàn toàn thay đổi, không nhắc nhở gì đến việc Lê Trừng là ngụy cả, mà chỉ viết gốc tích Lê Trừng là vương tử An Nam.

Trước đó, theo Minh sử cảo (dưa trên tàng thư của nhà Minh, biên tập lại đầu đời Thanh, trước (Minhsử), thì 正统八年, “澄年七十,例应致仕,上疏乞留用,上怜其交趾远人,从之” (Chính Thống năm thứ 8 (1443), Trừng 70 tuổi, theo lệ phải về hưu, nhưng dâng sớ xin lưu dụng, hoàng thượng xét thương hoàn cảnh ông ta là người từ Giao Chỉ xa xôi đến, nên thuận cho). Để ý cách dùng chữ “lân” (thương, nhấn mạnh sự chiếu cố đặc biệt) (dẫn lại theo Trương Tú Dân- Minh đại Giao Chỉ nhân tại Trung Quốc chi cống hiến-Đài Bắc 1992)

Theo Giáo sư người Nhật Wada Masahiko, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì Lê Trừng không những giỏi làm súng, mà còn biết chế tạo nhiều thứ rất tinh xảo, nên khi làm Công Bộ thương thư thì chuyên lo chế tạo đồ dùng cho nhà vua (như đã nói trên) (xem Namô Moraku ni tsuite- Chugoku soku ni nokosareta Betonamu-jin no chosaku/ Về quyển Nam Ông Mộng lục-tác phẩm hiện còn của người Việt Nam sáng tác tại Trung Quốc).

Lê Trừng chết tại chức, nên con là Lê Thúc Lâm (1401-1470) được nhà Minh thăng chức lên Công Bộ Hữu thị lang (chính tam phẩm), chuyên lo chế tạo quân nhu, năm 1470, Thúc Lâm đến kỳ sát hạch, lại vừa 70 tuổi, theo lệ phải về hưu nhưng lại được lưu dụng: “叔林九载秩满,自陈年已七十,例应致仕,但以交趾远人,无家可归,乞容臣复任,以图报称。上许之” (Thúc Lâm đủ thời gian sát hạch sau chín năm làm việc, bèn làm đơn trình bày đã 70 tuổi, theo lệ phải trí sĩ, nhưng quê tại Giao Chỉ xa xôi, không còn thân thuộc để về, xin tiếp tục làm việc, để báo đáp ân sủng, Hoàng Thượng (vua Thành Hóa) chấp thuận) (dẫn lại theo Trương Tú Dân từ Minh sử cảo).

Trước đó một năm, Lê Thúc Lâm cũng chuẩn bị lo cho con đang làm quan ở xa về gần nhà mình, như sau:

*Thành Hóa ngũ niên, tứ nguyệt, giáp tý ( ngày 21 tháng 5 năm 1469): “Lấy con của viên Công bộ hữu thị lang Lê Thúc Lâm là Thế Vinh làm Trung thư xá nhân. Thúc Lâm là người Giao Chỉ, cha tên Trừng, là em của con (Lê) Quý Ly là (Lê) Thương, vốn là tù binh bị bắt về (Trung Quốc). Thái Tông Văn Hoàng Đế tha tội cho y (Trừng) và dùng làm quan, chuyên coi sóc việc chế tạo súng, đạn, thuốc nổ tại Binh trượng cục, cuối cùng làm đến Công bộ thượng thư. Thúc Lâm kế nghịệp cha, tiếp tục giám đốc việc chế tạo quân khí. Đến nay (Lê Thúc Lâm) xin cho con của y là Thế Vinh làm quan tại kinh đô để tiện cho việc chăm sóc. Hoàng đế nghĩ đến hoàn cảnh người từ phương xa đến, nên rủ lòng chấp thuận đề nghị ấy”. (Minh Hiến Tông thực lục, quyển 66, tờ 4.A (trang 1329), Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985). (錄工部右侍郎黎叔林子世荣為中書舍人。叔林交趾人,父澄,季犛之子蒼之第, 以俘至。太宋文皇帝赦之,授以官,專督造兵仗局銃箭火药。终工部尚書。叔林繼之,仍督造軍器。至是請官其子世荣于京便養。上念其遠人,俯從之)

Theo Wada Masahiko (trong bài viết dẫn trên), Lê Thế Vinh có tên tự là Mạnh Nhân (孟 仁), trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông. Con cháu Lê Thế Vinh ra sao không rõ! Lê Trừng, Lê Thúc Lâm, Lê Thế Vinh đều được an táng tại thôn Nam An Hà, xã Bắc An hà, khu Hải Điện đã nói trên, gần chùa Tú Phong , cách trung tâm Bắc Kinh ngày nay độ khoảng 30 km. Chùa Tú Phong là một ngôi chùa Việt Nam tại kinh đô Trung Quốc, do nhà sư Trí Thâm họ Trần từ Việt Nam sang xây dựng trong khỏang năm 1428-1442, sư tăng trong chùa đa số là người Việt Nam, chùa được vua nhà Minh ban sắc chỉ liệt vào danh thắng năm 1443, ngày 8/4 âm lịch cùng năm, Lê Trừng đã sọan văn bia nói về việc xây chùa này. Toàn văn thác bản văn bia hiện lưu trữ tại Thư viện Bắc Kinh (Sắc tứ Tú Phong tự bi, Chính nghị đại phu, Tư trị doãn, Công Bộ tả thị lang, Giao Nam Lê Trừng sọan, Quý Thuần viết chữ chính văn, Tưởng Khâm viết chữ triện, Chu Hưng khắc, Trí Thâm pháp sư đốc tạo). Bia có kích thước 156 x 78 cm, hiện còn tại chùa Tú Phong. Xem toàn văn văn bia theo ảnh chụp tại trang web của Thư viện Bắc Kinh: res2.nlc.gov.cn, ký hiệu bản chụp 8377) .

Sinh thời, tại Trung Quốc, tuy làm quan to, nhưng Hồ Nguyên Trừng luôn nhớ về cố quốc, luôn xưng mình là người Việt Nam (trong Sắc tứ Tú Phong tự bi, ông cũng viết rõ mình là người Giao Nam). Cuốn Nam Ông mộng lục đã cố ghi lại những gì mà ông còn nhớ khi ở “bản quốc”, mà ông cho là những việc trong giấc mộng. Nhờ có tài năng mà ông và gia đình thoát chết, nhưng dù làm gì thì cũng xuất thân là tù nhân trong đất nước rộng lớn kia. Khi nào nắm xương tàn của ông về tới quê hương Thanh Hóa, Việt Nam thì chắc ông mới yên lòng!

Wednesday 14 November 2007 - 06:49PM (ICT)