Sunday, December 30, 2007

Chậm rơi chiều miền Kinh Bắc

Một bài viết hay về quê của thi sĩ Hoàng Cầm ...

====

http://www.sgtt.com.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=585&news_id=30718#content

Đông về, tôi lại lặng lẽ lên đường tìm về một miền quê, bên kia bờ sông Đuống, nơi có một góc hồn của xứ Kinh Bắc. Sông Đuống lặng lẽ trôi, không phải là một dòng nghiêng nghiêng lấp lánh. Sông Đuống ngày cuối năm khoác trên mình vẻ tịch mịch.

Một góc tĩnh lặng chùa Bút Tháp

Cỏ may khô hanh ngả rạp trên triền đê, chặng đường đất mờ trong bụi đỏ. Tả ngạn dòng sông, ngô trổ hoa đỏ sậm, xanh xanh bãi mía bờ dâu. Thấp thoáng trong màn sương chưa tan, lò gạch đứng xếp hàng, thả khói vươn tận mây xa

Con đường đê cong như dải lụa mềm, vắt mình giữa dòng sông và cánh đồng. Cải bắp cuộn mình chật căng, cà chua trĩu quả, xen giữa dăm luống đất nâu mới xới, ẩm ướt đang chờ ngày gieo hạt. Gió hun hút thổi dọc, cuốn đám cỏ khô quay vòng vòng. Ngay sát thủ đô mà những đàn bò thanh thản gặm cỏ bên đường. Những ngôi làng lần lượt hiện ra kiến trúc đặc trưng của nông thôn miền Bắc: ao cá nước xanh, tường gạch trần bao quanh, mái ngói đỏ thẫm. Ngõ nhỏ loanh quanh và đụn rơm vàng nằm xéo bên cổng đình. Tiếng gà gáy trưa eo óc cất lên xa xa, gợi về biết bao kỷ niệm của ngày thơ ấu trốn mẹ ra đồng bắt cào cào, mò cua nát cả ruộng lúa nhà người, hay những buổi trưa đuổi chuồn chuồn bêu nắng chang chang.

Cánh đồng hoa cải trắng

Chặng đường từ Phú Thuỵ sang Sen Hồ, cứ như ngược về với tuổi đầu trần chân đất. Đến đất Lệ Chi, gặp bạt ngàn vườn cải trải dọc theo triền sông. Giữa tiết trời lạnh lẽo và xám xịt, những luống cải ngồng cao ngang thắt lưng bung hoa rực rỡ, dịu dàng hai sắc trắng vàng đan xen, chờ lấy hạt cho mùa sau. Hít thật sâu mùi đồng nội, lơ đãng không biết bao giờ “gió đưa hoa cải về trời”...

Từ Lệ Chi đến Đông Hồ, mải miết theo con đê già cứ một đoạn lại có một biển báo di tích. Lăng Kinh Dương Vương nằm đón gió trên triền sông, bên trong đê là đền thờ thuỷ tổ của con Lạc cháu Hồng. Lăng Tam Quốc Công giấu mình trong một vườn cây rậm rạp... Hầu như xóm làng nào cũng gìn giữ được những dấu ấn thời gian để lại, đình làng, chùa tháp, lăng tẩm... Và khi tiết xuân về, triền đê này sẽ tưng bừng hội hè đình đám có từ thuở xa xưa.

Đám trẻ chơi đáp ngựa ở đình làng Đông Hồ

Trong những câu chuyện xứ Kinh Bắc, làng nghề Đông Hồ danh bất hư truyền. Rời triền đê theo con đường mòn về phía đình làng, nơi vào dịp tết sẽ có vài phiên chợ đón khách đường xa về mua tranh Đông Hồ trên giấy dó. Đàn lợn âm dương, đám cưới chuột, những em bé tóc để chỏm đào… quen thuộc. Đình làng hôm nay cửa đóng then cài, nằm trầm tư bên cánh đồng trơ gốc rạ vàng. Hồ bán nguyệt thả đầy hoa súng. Rêu phong xanh rì lên bức tường bao. Làng Đông Hồ bây giờ không làm tranh nhiều nữa, mà chuyển sang nghề làm “hàng mã” để mưu sinh. Cả làng chỉ còn hai nghệ nhân Trần Nhật Sở và Nguyễn Hữu Sam còn lưu giữ, bảo tồn nghề tranh nức tiếng. Mong sao, dòng nghệ thuật làm tranh đặc sắc của Đông Hồ đừng bao giờ phai nhạt theo thời gian.

Rời làng Đông Hồ, chạy ngược lại quãng đường vừa qua. Tóc rối tung trên vai, gió chiều mang theo đầy hơi lạnh từ dưới sông về. Bút Tháp – ngôi chùa có thể coi là đẹp nhất xứ Kinh Bắc bởi những nét cổ xưa nằm bên hữu ngạn dòng sông Đuống. Nằm giữa một cánh đồng lớn của xã Đình Tổ (Thuận Thành, Bắc Ninh) với một kiến trúc độc đáo, chùa là sự kết hợp của nhiều chất liệu gạch, gỗ, đá tinh xảo và hoà nhập với môi trường tự nhiên.

Chuông treo trên tháp Bảo Nghiêm

Bước qua cổng Tam Quan, muộn phiền ở lại phía sau. Không gian diệu vợi và thanh tịnh đón chờ. Vuông đá lát nền trơ gan cùng tuế nguyệt. Những mảng tường gỗ trạm trổ hoạ tiết cầu kỳ cùng đôi dãy hành lang dài hun hút chạy dọc hai bên chùa, nối các công trình thành một khối gọn gàng chặt chẽ.

Tâm điểm của chùa Bút Tháp là tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt được tạc từ 350 năm trước. Dù thời gian đã làm tróc lở vết sơn son thếp vàng, nhưng vẫn không làm mất đi vẻ duyên dáng thanh thoát của những cánh tay và nét từ bi trên khuôn mặt đức Quan Âm.

Toà tháp đá Bảo Nghiêm bên phải, tuyệt đẹp hình tháp bút, nơi thờ hoà thượng Chuyết Chuyết. Tháp cao năm tầng được xây theo hình bát giác, các mặt đều được tạc nổi hay tạc chìm hình ảnh Phật bà hay các con vật như chim bay cá nhảy, ngựa chạy, khỉ leo, rồng cuốn, hổ chầu… Mặt chính còn có hai cột đá, trên tạc rồng uốn lượn, đuôi vắt trên cao, đầu vươn lên sinh động. Chuông nhỏ treo ở đầu mái đao không ngớt leng keng giữa gió đồng.

Chiều chậm rơi trên miền Kinh Bắc. Tự mơ màng đi tìm kiếm “những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu toả nắng”, trong tiếng chuông chùa thánh thót phiêu diêu. Đã mấy trăm năm rồi, mộng bình yên vẫn còn thấp thoáng…

Sư cô đang chuẩn bị cúng cháo chiều

Hoạ tiết trang trí trên tháp Bảo Nghiêm

Bài và ảnh : Thuỷ Trần

Ái Vân - Hồng nhan trắc trở...

Xin giới thiệu các bạn một bài viết về nghệ sĩ Ái Vân. Tôi cũng là một “fan” của chị này. Hiện nay tôi vẫn còn mấy CD và tape nhạc cũ của chị này, trong đó có bài Vợ chồng quê (của Phạm Duy) chị ta ca chung với Elvis Phương rất hay. Chờ hôm nào hồi kí của chị ta ra đời, tôi phải tìm mua cho được (hay hỏi Đoan Hùng xin một bản copy) để viết bài điểm sách mới được.

Hình như tác giả bài viết này tặng thêm cho chị Ái Vân + 10 tuổi. Rồi còn 10 vạn khán giả nữa, mà tôi đoán là chắc 10 ngàn khán giả.

NVT

====

http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=1055054522627139522

Vậy là ca sỹ Ái Vân đã lại trở về. Chị cho biết vẫn đều đặn viết hồi kí về những đoạn trường truân chuyên đời mình. Kể cả chuyện vì sao chị ra đi. Ái Vân đã tiết lộ chút xíu với NNVN về điều đó, cả chuyện tin đồn về video sex năm nào…

Tôi gặp Ái Vân vì tò mò. Gặp để xem chị đẹp đến nhường nào mà cứ nhắc đến Ái Vân là cả một thế hệ những người tuổi cha chú của tôi lại tự dưng mê mẩn. Đến nỗi, mỗi người đều ao ước có được tấm ảnh chị Nhung (một vai diễn trong phim Chị Nhung do Ái Vân đóng) xếp ngay ngắn trong ví để thỉnh thoảng lôi ra mân mê. Gặp để kiếm chứng những tin đồn, cả những giai thoại về chị mà lứa chúng tôi được/ phải nghe.

Cuối tháng 11/2007, Ái Vân về nước tham gia chương trình “Vì cuộc sống bình yên” do chồng cũ của chị làm đạo diễn. Nghe chị thể hiện “Bản tanggo cho em” không ai nghĩ người phụ nữ này đã ngoại lục tuần. So với tuổi chị, tôi chỉ là đứa con nít nhưng quả thực chị vẫn còn rất đẹp; không hổ danh kiều nữ Hà Nội nổi tiếng một thời. Tóc highlight, quần bò gọn gàng, gương mặt sáng quyến rũ và nụ cười sang trọng…

Một nhà thơ nổi tiếng biết khá tỏ tường về Ái Vân khi nghe tôi kể chuyện mới gặp chị, nói đầy thương cảm: “Viết làm chi. Đời cô ấy khổ lắm”. Một người bạn vong niên khác sống cùng khu tập thể Nguyễn Công Trứ với Ái Vân thuở trước kể, đúng hôm đám cưới Vân lần đầu thì cả khu đùng đùng … mất điện; có thể nó báo hiệu một điều gì đó cho những truân chuyên của người hồng nhan chăng?

Những năm 80, Ái Vân được khán giả cả nước cưng chiều. Được phong danh hiệu NSƯT khi còn rất trẻ. Được giải thưởng lớn tại Đông Đức. Đang ở đỉnh cao danh vọng, đầu năm 1990, Ái Vân làm người hâm mộ choáng váng khi hay tin chị vượt biên sang Tây Đức. Thời đó, chị bị coi là “kẻ phản bội”…

- Khi mới sang Đức, cuộc sống của chị thế nào?

- Tôi phải sống trong trại tị nạn. Cuộc sống nơi đất khách quê người, không có người thân thích, xa con trai 4 tuổi, xa cha mẹ và xa khán giả tạo nỗi trống trải tinh thần không bù đắp được.

- Thế rồi sau đó?

- Tôi ở Đức 4 năm. Thời gian đầu rất nặng nề. Mình là người của công chúng, được rất cưng chiều ở trong nước, có vị trí nhất định. Sang Đức, tôi như người bình thường khác, phải xếp hàng để lấy phần ăn. Khi đó, tôi rất sốc nhưng phải cố để lấy được tờ giấy định cư.

- Vì sao chị lại ra đi?

Vì chuyện riêng tư thôi. Xin phép cho tôi không được nhắc lại vì có thể còn ảnh hưởng đến người này người nọ.

- Tôi hiểu và cũng không muốn xới lại chuyện riêng của chị. Nhưng thưa chị, thời gian cũng đã ngót 30 năm rồi, khán giả vì yêu mến chị nên vẫn muốn biết một phần nguyên nhân đó. Hình như, khi đã ở Đức rồi, vì sức ép mà chị phải viết thư về cho Bộ Văn hoá?

- Đúng là tôi có viết thư về để giải thích. Chỉ biết tôi rất khó khăn khi quyết định hết rời xa quê hương. Đó là sự liều mạng. Lúc đó, tôi gặp một mâu thuẫn không thể giải quyết nổi. Thực ra tôi không muốn đi, bởi lúc đó ở trong nước tôi đang ở đỉnh cao, được phong danh hiệu NSUT. Có một đứa con 4 tuổi, tuổi đáng yêu nhất. Khán giả đang rất yêu mến mình. Đi là đứt ruột. Nhưng nếu không đi thì mình sẽ bị điên mất, hoặc bị vùi dập hoặc xảy ra một điều gì đó hết sức nguy hiểm. Người ta cũng không cho mình giải pháp ly hôn nữa. Thậm chí là sẽ có thể có án mạng xảy ra. Khoảng 20 năm nữa, tôi sẽ kể lại điều này kĩ hơn.

Cưới nhau được 2 tháng rưỡi đã xảy ra một sự kiện kinh hoàng. Người ta đã không cho tôi đi hát, doạ tưới xăng vào người doạ đốt. Khi quyết định ly hôn thì tôi biết mình có bầu và lúc đó tôi nghĩ, khi có đứa con thì tình cảm sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng, đâu cũng vào đó, thậm chí là trầm trọng hơn. Mình ra người của công chúng mình phải trình bày những điều đẹp đẽ, có văn hoá nhưng về cuộc sống riêng thì rất tồi tệ, hạ lưu. Đấy là sự thật, tôi không muốn bào chữa cho mình.

- Bây giờ, người đó và chuyện đó thế nào rồi thưa chị?

- Đó là quá khứ rồi. Bây giờ chúng tôi là bạn. Giúp đỡ nhau nhiều trong công việc. Không thù hằn chi nữa. Tôi nghĩ đó là một kết thúc có hậu.

- Khi chị ra nước ngoài, có rất nhiều tin đồn về chị, thậm chí là rất sốc. Ví như, về cuốn video sex của chị chẳng hạn…

- Tôi có biết chuyện đó, biết và rất buồn cười. Ở bên Đức thì bảo ở VN xem được. Còn ở Việt Nam viết thư thì khẳng định bên Đức xem được. Gia đình tôi ở Việt Nam cũng biết được tin đó nhưng các cụ rất tin con gái không làm chuyện đó. Cuối cùng, các cụ phải ra một thách đố: Nếu ai đưa ra được cuốn băng đúng như vậy thì sẽ được thưởng một khoản tiền rất lớn. Nhưng cũng chẳng ai tìm được.

Khi tôi ở trại tị nạn. Có cô phiên dịch kể rằng, có một chú nhà văn ở VN nói rằng rất quen biết tôi và muốn hỏi thăm thực hư về câu chuyện ấy. Đó chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tác giả kịch bản phim Chị Nhung. Chú bảo đã xem có một bộ phim như thế. Tôi bảo: Cháu ở trong trại suốt, có được ra ngoài đâu mà làm chuyện đó. Sau này, khi tôi xuất hiện rộng rãi trên sân khấu các nước thì mới hết tin đồn đó…

- Khi chị ra đi, các fan hâm mộ và dư luận phản đối rất nặng nề?

- Đúng vậy. Đối với đại đa số người hâm mộ, sự ra đi của tôi là khó chấp nhận, thông cảm. Tôi cũng bị áp lực lớn từ dư luận, báo chí trong nước. Lúc đó tôi bị coi là kẻ phản bộ Tổ quốc, khiến tôi rất đau lòng.

- Gia đình chị có bị liên luỵ gì không?

Gia đình bị công an gọi lên hỏi... Các hoạt động chính sách cũng bị “xem xét”, thiệt thòi rất nặng.

- Thưa chị, khi đã sang Mỹ theo chồng, biểu diễn bên đó, không ít lần chị bị tẩy chay vì “thân cộng”?

Đúng như vậy. Họ bảo tôi là “thân cộng” vì khi họ thấy cứ có đoàn cán bộ cao cấp nào của VN sang Mỹ, tôi cũng có mặt ở đó. Họ chụp ảnh và quy kết, biểu tình tẩy chay tôi. Năm 2004, 90% sô diễn bị huỷ. Suốt ngày tôi phải ngồi ở nhà để nghe điện thoại huỷ các sô diễn. Đó là năm rất nặng nề. Thỉnh thoảng cũng có những cú điện thoại gọi điện đến để lăng mạ, đe doạ. Nhưng cũng phải nói rằng, có những nhà tổ chức rất can đảm giữ chương trình mặc dù có biểu tình phản đối tôi. Điều đó khiến tôi buồn nhưng đành chấp nhận.

- Các cụ bảo: Hồng nhan thì truân chuyên. Có khi nào chị tự ngồi ngẫm về điều đó và đời mình?

Thực ra, tôi cũng đang viết, tuy không được đều đặn lắm. Cũng ngồi điểm lại sơ sơ và thấy đời mình cũng “vui” phết, viết cũng có thể làm nên điều gì đó. Cuộc sống của tôi có nhiều truân chuyên nhất là về mặt tình cảm. Có những biến cố ít người gặp phải, thì tôi đều gặp. Đôi lúc, tôi cảm thấy may mắn vì đã vượt qua được những biến cố đó.

- Biến cố đó là đo thiên định hay do quyết định sai của chị?

Có lẽ do tôi quyết định sai. Trước mỗi cuộc hôn nhân, tôi đều bị gia đình ngăn cản. Nhưng, do tính bướng, càng cấm càng lao tới để chứng tỏ mình không sai nhưng hoá ra là mình sai thật.

- Cuộc sống gia đình bên Mỹ của chị thế nào?

Cũng như cuộc sống của các gia đình khác thôi. Chúng tôi lấy nhau bên Đức. Anh đấy là một fan của tôi. Chúng tôi ở với hai đứa con. Nhiệm vụ của tôi là nội trợ, đưa con đi học... Không có những biến cố gì đặc biệt và không có gì đáng phàn nàn cả. Các cháu ngoan, biết yêu quý những người thân yêu của mình. Khi về VN thì rất thích, và năm sau chúng sẽ tham gia nhiều chương trình về cội.

- Bao nhiêu những sóng gió cuộc đời đến với chị. Nghe nói, chị đã bị ung thư nữa. Chị bấu víu vào đâu để vượt qua gian nan?

Tôi cho rằng, có hai yếu tố. Đó chính là bản năng sinh tồn của con người. Và, với riêng tôi, cái quan trọng nữa đó là âm nhạc, khán giả. Đó là “liều thuốc” quan trọng để quên đi bệnh tật của mình. Sau khi mổ 10 ngày, tôi đã lên sân khấu diễn trước 10 vạn khán giả mặc dù trên người vẫn loằng ngoằng chỉ, dính ống lung tung. Và, không tuần nào là tôi không chạy sô mặc dù trên đầu không còn một sợi tóc nào. Cái đó, làm tôi quên hết những đau đớn những sụp đổ trong đời sống để có niềm tin.

- Chị muốn cống hiến cho Tổ quốc những gì sau bao nhiêu năm ra đi?

Tôi có một tham vọng, sau khi không còn hát nữa tôi thèm khát mở một nhà hát tại VN để phục hồi lại văn hoá ả đào Khâm Thiên ngày xưa để cho khách du lịch thưởng thức. Không biết có là chủ quan hay không nhưng tôi thấy hiện nay khách du lịch đến VN thì có ít cái để xem. Tôi muốn giới thiệu vốn văn hoá cổ của VN ra thế giới.

- Xin cảm ơn Ái Vân!


Mai Xuân Nghiên (thực hiện)

Saturday, December 29, 2007

Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa

Có khi nào các bạn cảm thấy lúng túng khi viết danh từ riêng không? Đôi khi tôi rất bực mình khi thấy người ta viết "Việt nam", "Trung quốc", "Hàn quốc", "Thái lan", v.v... Đáng lẽ tên một quốc gia, cả hai chữ đều phải viết hoa chứ. Bản Qui định sau đây rất có ích:

http://ngonngu.net/index.php?p=335

Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng

trong sách giáo khoa

(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

I. Cách viết tên riêng Việt Nam

1. Tên người: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.

Ví dụ:

- Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo.
- Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Thị Minh Khai.
- Tố Hữu, Thép Mới.
- Vừ A Dính, Bàn Tài Đoàn.

* Chú ý: Tên danh nhân, nhân vật lịch sử được cấu tạo bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là tên riêng và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người.

Ví dụ:

- Ông Gióng, Bà Trưng.
- Đồ Chiểu, Đề Thám.

2. Tên địa lí: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.

Ví dụ:

- Thái Bình, Trà Vinh, Cần Thơ.
- Thừa Thiên - Huế, Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Sa Pa, Mù Cang Chải, Pác Bó.

* Chú ý: Tên địa lí được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung, danh từ chỉ hướng với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là danh từ riêng chỉ tên địa lí và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên địa lí.

Ví dụ:

- Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc.
- Vàm Cỏ Đông, Trường Sơn Tây.
- Hồ Gươm, Cầu Giấy, Bến Thuỷ, Cửa Việt, Đèo Ngang, Vũng Tàu.

3. Tên dân tộc: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.

Ví dụ:

Kinh, Tày, Sán Dìu, Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì.

4. Tên người, tên địa lí và tên các dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số anh em có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.

Ví dụ:

- Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Tà-ôi.
- Kơ-pa Kơ-lơng, Nơ-trang-lơng.
- Y-rơ-pao, Chư-pa.

5. Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng.

Ví dụ:

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I;
- Trường Tiểu học Kim Đồng;
- Nhà máy Cơ khí Nông nghiệp I.

6. Từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật được dùng làm tên riêng của nhân vật: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng.

Ví dụ:

- (chú) Chuột, (bác) Gấu, (cô) Chào Mào, (chị) Sáo Sậu;
- (bác) Nồi Đồng, (cô) Chổi Rơm, (anh) Cần Cẩu;
- (ông) Mặt Trời, (chị) Mây Trắng.

II. Cách viết tên riêng nước ngoài

1. Tên người, tên địa lí:

1.1. Trường hợp phiên âm qua âm Hán - Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí Việt Nam.

Ví dụ:

- Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành.
- Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Triều Tiên.

1.2. Trường hợp phiên âm không qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát theo cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.

Ví dụ:

- Phơ-ri-đơ-rích ăng-ghen, Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin.
- Mát-xcơ-va, I-ta-li-a, An-giê-ri.

2. Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể nước ngoài

2.1. Trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể Việt Nam.

Ví dụ:

- Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát-xcơ-va mang tên Lô-mô-nô-xốp.
- Viện Khoa học Giáo dục Bắc Kinh.

2.2. Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt. Tuỳ từng trường hợp, có thể ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc ghi thêm tên nguyên dạng không viết tắt

Ví dụ:

WB (Ngân hàng Thế giới), hoặc WB (World Bank).


Friday, December 28, 2007

Phản biện cần thông tin khoa học

Phản biện cần thông tin khoa học

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=235958&ChannelID=3

Thứ Năm, 27/12/2007, 08:04 (GMT+7)

Bộ Y tế: quyết định dừng sử dụng mắm tôm là cần thiết

TT (Hà Nội) - Quyết định dừng sử dụng mắm tôm trên phạm vi toàn quốc vào thời điểm cao trào của dịch tả là phù hợp với tình hình thực tế, là biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm đe dọa sức khỏe và tính mạng người dân.

Hôm qua 26-12, Bộ Y tế đã có thông báo chính thức, khẳng định như trên, trả lời băn khoăn của dư luận xung quanh quyết định dừng sử dụng mắm tôm.

Trong thông báo này, Bộ Y tế dẫn kết quả cuộc điều tra 61 người bệnh đầu tiên trong vụ dịch, trong đó mắm tôm bị nghi là thực phẩm mang mầm bệnh và có nhiều khả năng gây bệnh. Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng.

L.ANH

Tưởng rằng không có gì để nói thêm nữa trong vụ mắm tôm, nhưng khi đọc được bản tin trên đây, cúng tôi không thể không có thêm vài hàng bình luận.

Bộ Y tế vẫn viện dẫn kết quả 61 người bệnh đầu tiên có tiền sử ăn mắm tôm để kết luận rằng mắm tôm là thủ phạm của vụ bệnh tả và tiêu chảy cấp tính. Một người đọc bình thường phải hỏi ngay: tại sao mắm tôm? Thế còn các “thói quen” khác như ăn uống khác như ăn cơm, ăn rau sống, uống nước, uống bia, tắm sông, v.v… thì sao?

Thật là ngạc nhiên khi động từ “nghi” được sử dụng để “kết tội” một yếu tố dịch tễ học. Trong khoa học, phải có giả thuyết khoa học và kiểm định giả thuyết khoa học (chứ không thể nói “nghi” được). Dựa vào lí do sinh học gì để nói mắm tôm là thủ phạm bộc phát bệnh, khi hàng chục nghiên cứu trong y văn chỉ ra rằng với nồng độ muối lên đến >15% thì vi khuẩn tả không thể tồn tại.

Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể tồn tại trong môi trường pH<3.>

Câu văn “Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng” hàm nói đến một mối liên hệ nhân-quả (cause-effect relation). Lí giải của Bộ Y tế có thể diễn giải một cách gọn như sau: sau khi mắm tôm bị cấm, số bệnh nhân giảm xuống; suy ra, mắm tôm là nguyên nhân.

Nếu dùng cách lí giải và logic trên, chúng ta cũng có thể tiên đoán: ngưng cấm mắm tôm, bệnh tả sẽ bộc phát. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Do đó, lí giải trên cũng có vấn đề về logic và thực tế. Thật ra, chúng tôi thấy cách lí giải như thế của Bộ Y tế quá dễ dãi, và càng không phù hợp chút nào đối với một ngành hoạt động được xem là khoa học: ngành y tế.

Dịch tiêu chảy và bệnh tả vừa qua không phải là lần đầu ở nước ta. Trong quá khứ, đã có hàng chục vụ như thế. Thật ra, năm nào các bệnh viện cũng đều có điều trị nhiều ca bệnh tiêu chảy và bệnh tả. Nhưng trong thời gian đó mắm tôm vẫn được sản xuất, vẫn được phân phối, và vẫn được tiêu thụ. Như vậy có thể cho rằng mắm tôm là thủ phạm không? Câu trả lời quá hiển nhiên!

Nếu mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh thì tại sao 134 mẫu mắm tôm được lấy đi xét nghiệm và tất cả đều âm tính với vi khuẩn tả? Xác suất của một kết quả 134/134 âm tính như thế là bao nhiêu? Thấp lắm. Nếu không tin, Bộ Y tế thử hỏi các chuyên gia trong Bộ tính toán thử xem. Nếu cần, chúng tôi có thể hướng dẫn (miễn phí) cách tính.

Nói tóm lại, những phát biểu mới nhất của Bộ Y tế liên quan đến mắm tôm vẫn chưa mang tính thuyết phục. Chưa thuyết phục vì các phát biểu này thiếu khoa học tính, và không phù hợp với thực tế.

Có lẽ Bộ Y tế nên công bố cho quần chúng biết cách thu thập thông tin về 61 bệnh nhân đó ra sao (cụ thể câu hỏi nào được đặt ra và ai thu thập các thông tin đó), và xử lí các thông tin đó như thế nào, mà Bộ đi đến kết luận lúc ban đầu. Các thông tin này sẽ giúp cho sự phản biện khách quan hơn và không phải mang tính một chiều như hiện nay.

Thursday, December 27, 2007

Một năm nhìn lại - Phần 5

Ấn phẩm khoa học Việt Nam

Sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Tôi đã dành khá nhiều thì giờ và công sức để viết và kiến nghị cách cải tiến nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu y học, ở Việt Nam. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết “Nghiên cứu y học ở Việt Nam: Đặc điểm, thiếu sót, và sai sót” đăng trên tạp chí Thông tin Y học TPHCM hai số vào đầu năm nay để biết thêm chi tiết. Trong bài này, tôi chỉ ra hàng loạt thiếu sót và sai sót về nghiên cứu y học ở Việt Nam. Bài này có thể “đụng chạm” đến nhiều đồng nghiệp, nhưng đó là những điều tôi thấy cần phải nhìn thẳng và học hỏi.

Mới đây, tôi và đồng nghiệp tôi (Nguyễn Đình Nguyên) đã làm một phân tích chi tiết so sánh số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học Việt Nam với các nước trong vùng Đông Nam Á. Bài viết sẽ đưa lên ykhoanet.com nay mai. Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên thấy khoa học của ta còn kém quá. Nhưng phải nhìn nhận cái kém của mình để vươn lên, nên trong bài này tôi nói thật và nói thẳng.

Nói ngắn gọn, trong thời gian từ 1996 đến 2005 (10 năm), các nhà khoa học Việt Nam công bố được khoảng 3500 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Con số này thoạt đầu thì khá đấy, nhưng sự thật là thấp nhất trong vùng, thấp hơn cả Indonesia và Phi Luật Tân. Con số công trình khoa học của Việt Nam chỉ bằng 1/5 số bài báo từ Thái Lan, 1/3 so với Mã Lai, 1/14 so với Singapore (n = 45.633) ! Tôi cũng ước tính rằng nếu tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005 !

Đó là mới nói về số lượng. Còn chất lượng cũng kém lắm. Nhưng điều đáng quan tâm nhất với tôi là chỉ có 20% các công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam là do nội lực, phần 80% còn lại là do hợp tác hay giúp đỡ từ nước ngoài. Trong khoa học, chúng ta chưa đứng vững bằng đôi chân mình. Hợp tác khoa học là xu hướng tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nhưng điều tôi quan tâm là các hợp tác khoa học từ Việt Nam là theo kiểu "khoa học nhảy dù", tức nhà khoa học ngoại quốc vào Việt Nam hợp tác nhưng họ dành công trạng về họ !

Nếu chúng ta không sớm chấn chỉnh hệ thống hoạt động khoa học, kể cả hệ thống cung cấp tài trợ và xây dựng các chuẩn mực khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế, tôi sợ chúng ta sẽ tụt hậu và trượt dài trên trường quốc tế.

Đầu năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo có đề án đào tạo 20 ngàn tiến sĩ và thu hút người Việt ở nước ngoài về Việt Nam. Theo đó, Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục VN. Tôi có viết hai bài bàn về dự án này và cũng gây ra vài tai tiếng. Có người nói rằng tôi đánh giá thấp tiềm năng Việt kiều! Tôi vẫn cho rằng khó mà thu hút 1000 giáo sư “Việt kiều”, đơn giản vì con số giáo sư người Việt ở nước ngoài không nhiều đến như thế.

Theo sau các phát biểu mang tính chính sách của lãnh đạo Nhà nước, đã có nhiều bàn luận về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt (tôi sẽ gọi tắt là “Việt kiều”) về làm việc ở quê nhà. Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài Hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.

Vấn đề đặt ra là tại sao? Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến), lý do chính là Nhà nước vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!

Một vài "chuyển động" gần đây (như việc “Bộ Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng Đề án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo”) là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như thế trong thời gian qua, giới khoa học người Việt ở nước ngoài vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.

Thật ra, như tôi nói ở trên, người Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên truyền” hay “ưu đãi” để tham gia góp phần vào việc phát triển quê hương. Đã là người Việt, ai cũng muốn - không ít thì nhiều - đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có gì nãn lòng hơn là dù được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng mới vào cảng hàng không đã phải vướng víu những thủ tục rườm rà, những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm... Nhưng rất tiếc đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.

Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học Tây phương vì họ không muốn mất những giáo sư có tài). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.

Do đó, để thu hút được các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính chỉ tiêu duy ý chí, mà là một tầm nhìn xa và rộng hơn. Vấn đề không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà khoa học.

Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước ngoài không muốn hợp tác, mà vì trong thực tế lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.

Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, người Việt ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt ở nước ngoài vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Một vài lời kết

Dù sống xa quê nhà, nhưng tôi vẫn đau đáu theo dõi tình hình ở trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến y tế, giáo dục, và khoa học. Thú thật, tôi không nhớ hết đã viết bao nhiêu bài liên quan đến các chủ đề này trong vòng 12 tháng qua, nhưng chỉ biết là khá nhiều lần tôi đóng góp trên các tạp chí như Tia Sáng, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tuổi Trẻ, Hoạt động Khoa học, Sức khỏe và Đời sống, Thời sự Y học TPHCM, v.v... Phần lớn những ý kiến trên các diễn đàn này đều xuất hiện trên ykhoanet.com.

Năm nay kỉ niệm 7 năm ykhoanet.com chào đời và góp tiếng nói y khoa ở Việt Nam. Mối thâm tình giữa tôi và các anh em trong ykhoanet.com chỉ mới vài năm gần đây, nhưng đã ghi được nhiều dấu ấn quan trọng. Có nhiều bạn thắc mắc chẳng biết những gì chúng tôi làm trên ykhoanet.com có đem lại lợi ích cá nhân gì không. Đôi khi chúng tôi thấy câu hỏi hơi … xúc phạm. Câu trả lời đơn giản và thằng thắn là: không. Chúng tôi làm việc hoàn toàn tự nguyện. Ở ngoài này, trong giờ làm việc chúng tôi là người của cơ quan, của đại học, của viện nghiên cứu, nhưng sau giờ làm việc (phần lớn là ban đêm và ngày cuối tuần) chúng tôi làm việc vì Việt Nam, vì bạn bè, vì đồng nghiệp, và vì lợi ích cộng đồng. Nhìn lại một năm làm việc tôi thấy mình đã nói được những điều mình muốn nói, và rất vui khi biết ý kiến mình có người chú ý theo dõi hay lắng nghe.

Nhân dịp cuối năm dương lịch, và cũng là lúc năm con chuột sắp đến, tôi chân thành kính chúc các bạn và các đồng nghiệp một năm mới nhiều an lành và nhiều may mắn.

TB. Cuối cùng, xin các bạn thông cảm trong bài ê a này tôi sử dụng nhiều “tôi” – cái tôi đáng ghét. Nhưng biết sao đây, khi đó là ý kiến cá nhân, tức là ý kiến của … tôi.

Một năm nhìn lại - Phần 4

Đến chuyện đào tạo tiến sĩ

Một trong những vấn đề tôi rất quan tâm là đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Đây là vấn đề xã hội rất bức xúc, với không biết bao nhiêu bài báo phản ảnh tình trạng lạm dụng học vị này. Có phóng viên còn mỉa mai viết rằng ở nước ta ra đường là đụng tiến sĩ! Năm 2006 tôi viết khoảng 10 bài về chủ đề này, và nghĩ chắc mình không có gì để nói thêm nữa. Nhưng đến năm 2007, một số sự kiện nhức nhối xảy ra nên tôi lại phát biểu. Nhìn lại trong năm tôi viết đến 15 bài góp ý và đề nghị trong lĩnh vực này. Hầu hết các bài đều đăng trên Tia Sáng, Hoạt động Khoa học, và Người viễn xứ, nhưng một số nhỏ đăng trên Tuổi Trẻ Vietnamnet. Đôi khi nhìn lại tôi không ngờ mình có nhiều ý kiến như thế!

Năm ngoái tôi viết một bài báo mà tôi tự cho là quan trọng: đó là bài đề ra 7 tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ. Bài này đăng trêm tạp chí Hoạt động khoa học số 8/2006. Bài viết được đón nhận rất nồng nhhiệt và được in lại trên không biết bao nhiêu báo mà tôi không thể đếm hết nổi! Bảy tiêu chuẩn này là:

  • Tiêu chuẩn 1: Thí sinh phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học trong các lĩnh vực vật lí, hóa học, sinh học, di truyền học, kinh tế học, toán học và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi.

  • Tiêu chuẩn 2: Thí sinh phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi và phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.

  • Tiêu chuẩn 3: Thí sinh phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình.

  • Tiêu chuẩn 4: Thí sinh phải làm chủ được kĩ thuật thử nghiệm khoa học hay kĩ thuật thí nghiệm cơ bản.

  • Tiêu chuẩn 5: Thí sinh phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin.

  • Tiêu chuẩn 6: Thí sinh phải chứng tỏ mình đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

  • Tiêu chuẩn 7: Thí sinh phải chứng tỏ mình am hiểu tiếng Anh, có khả năng sử dụng hay ứng dụng các kĩ thuật trong công nghệ thông tin.

Một trong những tiêu chuẩn tôi nhấn mạnh là phải nghiên cứu sinh phải có ít nhất là một bài báo công bố trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Vài người không thích tiêu chuẩn này và có vài lời dèm pha, nhưng tôi thấy họ không có cơ sở gì đáng nói nên tôi không cần tranh luận.

Điều đáng mừng là sau khi bài này đăng vài tháng, các quan chức trong Bộ Giáo dục bắt đầu có chuyển hướng. Trong bài “2007 - năm chấn chỉnh đào tạo tiến sĩ”, bà Trần Thị Hà (Vụ trưởng Vụ ĐH và sau ĐH) cho biết: “Để được công nhận là tiến sĩ, các NCS cũng phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do cơ sở đào tạo quy định ….”

Nhưng một quan chức trong Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng công bố bài báo khoa học là một thách thức lớn, tôi có viết bài “Công bố bài báo khoa học: Thử lửa với nghiên cứu sinh?” Trong đó, tôi lí giải rằng công bố bài báo khoa học không phải là một thách thức lớn gì cả, nếu đầu vào, tức là tuyển nghiên cứu sinh, ta làm cho tốt và có người hướng dẫn có tư cách khoa học. Có điều làm tôi hơi “bực mình” là ban biên tập đề cái chữ “TS” (tiến sĩ) trước tên tôi, và hình nhữ vẫn chưa đủ, họ còn dán cái nhãn hiệu “Việt kiều Australia” sau tên tôi. Tôi rất ghét và không bao giờ sử dụng mấy danh xưng hay chức danh mà tôi hay nói đùa là “sĩ sư” trước tên mình khi viết báo, và càng bực mình hơn với cái chữ “Việt kiều” nghe rất khó lọt tai. Cái chữ “kiều” nghe rất xa lạ, trong khi đó tôi là người Việt thì làm sao xa lạ với Việt Nam được? Nếu có nhu cầu, tại sao không viết đại khái là “Người Việt sống ở ABC” thay vì cái chữ khó ưa “Việt kiều” đó?

Và chuyện đại học đẳng cấp quốc tế

Khi cựu Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mĩ ông có đặt vấn đề Mĩ giúp ta thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế. Dự án được một giáo sư Đại học Harvard soạn thảo, và một cuộc tranh luận (hay nói đúng ra là thảo luận) diễn ra khá sôi nổi trên báo chí. Tôi đóng góp 3 bài bình luận trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tia Sáng, và Vietnamnet. Trong ba bài đó tôi bàn đến thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế, và bàn luận những khía cạnh cần tiên lượng trước khi một trường như thế ra đời.

Đến năm 2007, chủ đề này lại xuất hiện trên báo chí. Tôi không có ý gì mới để nói, nhưng khi Tia Sáng đề nghị phỏng vấn thì tôi cho ý kiến. Bài phỏng vấn chỉ được đăng có một phần. Bây giờ nhân dịp cuối năm tôi trích bài đó để bạn đọc theo dõi câu chuyện:

Trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng

Tia Sáng: Anh suy nghĩ như thế nào về thực trạng khoa học của đất nước hiện nay trên cơ sở những gì mà các anh thu lượm được?

NVT: Những gì tôi biết được qua quan sát và làm việc thực tế cho thấy tình hình hoạt động khoa học ở nước ta còn quá kém so với các nước trong vùng. Ở bất cứ chỉ tiêu khoa học nào (như số lượng ấn phẩm khoa học, số chuyên gia có uy tín trên trường quốc tế, vị thế, v.v…) thì nước ta kém xa so với Thái Lan, Singapore, Mã Lai và thậm chí kém hơn cả Indonesia. Chỉ tính riêng trong ngành y sinh học, trong thời gian 5 năm (2002-2006), số lượng ấn phẩm khoa học từ nước ta chỉ bằng 9% so với Singapore, 22% so với Thái Lan, 36% so với Mã Lai, v.v…

Tình hình khoa học ở nước ta có vẻ “ảm đạm” như thế là hệ quả của những bất cập và hạn chế trong khâu tổ chức và lãnh đạo, trình độ nghiên cứu và thiếu thông tin của các nhà khoa học. Thứ nhất là kinh phí cho nghiên cứu khoa học hiện nay còn khá khiêm tốn, nhưng việc phân phối kinh phí đó đến tay các nhà khoa học lại là một vấn đề nổi cộm. Cách tổ chức cung cấp kinh phí cho nghiên cứu hiện nay giống như một qui trình đấu thầu trong kinh doanh, và nó không thích hợp cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu cụ thể, kêu gọi nhà nghiên cứu đệ đơn, rồi họ xét duyệt và cấp kinh phí cho nghiên cứu. Trong thực tế, nhu cầu nghiên cứu phải xuất phát từ thực tế lâm sàng, và chỉ có bác sĩ hay nhà khoa học trực tiếp với bệnh nhân, với quần thể cộng đồng mới biết những nhu cầu này, và chính họ mới là người trực tiếp giải quyết vấn đề. Bộ chỉ nên đóng vai trò quản lí và đề ra định hướng (chứ không phải đề tài) nghiên cứu.

Thứ hai là vấn đề qui trình xét duyệt đơn xin tài trợ. Đã có quá nhiều nhà khoa học than phiền rằng qui trình xét duyệt thiếu tính minh bạch, thậm chí thiếu công bằng, và hệ quả là kinh phí nghiên cứu tập trung vào một số nhóm gồm những “cây đa cây đề”. Các nhà khoa học trẻ hay mới từ nước ngoài về không có cơ hội thực hiện những hoài bảo khoa học của mình, và tình trạng này gây ra nhiều bất mãn, tiêu cực, và thui chột tài năng của giới trẻ. Chúng ta cần xem xét hệ thống bình duyệt và cung cấp kinh phí khoa học của Mĩ, Úc hay Canada để tiến đến một hệ thống công bằng hơn và minh bạch hơn.

Thứ ba là vấn đề thiếu thông tin và kĩ năng. Vì thiếu thông tin, cho nên rất nhiều nghiên cứu ở trong nước không mang tính đột phá, không có “cái mới”, mà thường chỉ lặp lại những gì người khác đã làm cả 50 năm trước. Chính vì thế mà rất nhiều công trình nghiên cứu (tôi chỉ nói trong ngành y sinh học) không có giá trị khoa học cao, và chẳng gây chú ý của đồng nghiệp. Có người nói thẳng rằng nhiều nghiên cứu y sinh học trong nước chỉ đơn thuần giả số liệu!

Quay trở lại với tình hình khoa học nước ta, tôi thấy chúng ta thường tự hào (và có lẽ cũng có lí do để tự hào) về ngành toán và vật lí, nhưng trong thực tế, phải nói thẳng đây là những ngành có đóng góp khiêm tốn cho việc phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất nước. Chúng ta có quyền tự hào về những học sinh đoạt những giải thưởng quốc tế về thi toán, vật lí, hóa học, tin học, v.v… nhưng tính trung bình thì sinh viên đại học của ta vẫn còn kém về trình độ học hành và kĩ năng làm việc sau khi ra trường. Chúng ta quá chú tâm vào một thiểu số nổi bật mà bỏ qua phần đa số lu mờ.

Tia Sáng: Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có phát biểu: đến 2020 Việt Nam sẽ xây dựng được một trường đại học lọt vào top 200 trường đại học thế giới Theo ý kiến cá nhân của các anh, để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải làm gì?

NVT: Chẳng riêng gì nước ta, hầu như nước nào cũng mong muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng ít ai bàn cụ thể một đại học như thế đòi hỏi những gì và phải vận hành ra sao. Có người đề nghị không nên gọi là “đẳng cấp quốc tế” mà chỉ gọi là “chất lượng cao”. Riêng tôi thì thích cụm từ “đẳng cấp quốc tế” (world class) hơn, vì chưa bao giờ nghe hay thấy đại học nào tự xưng là có “chất lượng cao” (high quality) cả và thấy cụm từ này không thích hợp để mô tả uy tín một đại học. Một trường đại học đẳng cấp quốc tế, theo tôi, phải đạt được những tiêu chuẩn hay điều kiện sau đây:

  • phải có những giáo sư đẳng cấp quốc tế. Đây là những giáo sư có uy tín cao, có “tên tuổi” trong chuyên ngành, có lượng ấn phẩm khoa học lớn với chất lượng tốt (có nhiều cách để đánh giá), có ảnh hưởng trong chuyên ngành, v.v… Có nhiều người hiểu lầm rằng hễ người nào đang giữ chức giáo sư bên Mĩ hay Âu châu là “đẳng cấp quốc tế”. Không phải như thế. Chỉ có một số (có lẽ 10-20%) các giáo sư Âu Mĩ xứng đáng với tầm cỡ quốc tế mà thôi, phần còn lại thì chỉ tầm trung bình. Rất nhiều giáo sư ở Âu Mĩ chỉ là những công tư chức khoa bảng, chứ chẳng có nghiên cứu gì đáng kể; vì thế, không nên nhầm lẫn giữa giáo sư đẳng cấp quốc tế và giáo sư đại học tại các nước Âu Mĩ.
  • phải là nơi nuôi dưỡng những tài năng đẳng cấp quốc tế tương lai. Những ai từng quen thuộc với cơ chế tuyển dụng của các trường đại học lớn ở Mĩ đều biết rằng các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp thấp thường được nâng đỡ trong vòng 3 đến 5 năm để họ tự chứng minh khả năng của mình, sau đó họ phải trải qua một quá trình bình duyệt từ bên ngoài, và chỉ có những người xuất sắc với những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế mới được giữ lại làm việc.
  • phải có (hay tạo ra) một môi trường nghiên cứu với những cơ sở vật chất nghiên cứu đầy đủ. Một đại học ngày nay, cho dù là đại học không phải đẳng cấp quốc tế, khó mà vận hành một cách hữu hiệu nếu không có một hệ thống thư viện và internet hoàn chỉnh. Do đó, nhu cầu cho một thư viện đẳng cấp quốc tế với hàng triệu sách tham khảo và tạp chí khoa học là một điều kiện hàng đầu.
  • phải có ngân sách nghiên cứu dồi dào. Một đại học đẳng cấp quốc tế mà không có nghiên cứu khoa học thì không xứng đáng với danh xưng đó. Đại học Mahidol của Thái Lan được xem là có đẳng cấp, vì trên 50% các bài báo khoa học từ Thái Lan xuất phát từ trường này. Nghiên cứu phải là những nghiên cứu mang tính khám phá, bởi vì phần lớn những tiến bộ khoa học gần đây đều xuất phát từ những công trình nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là công nghệ sinh học. Một công trình nghiên cứu khoa học khám phá trung bình có thể tốn đến một triệu USD trong một năm. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy ngân sách dành cho nghiên cứu tại các trường đại học lớn của Mĩ có khi lên đến con số một tỉ USD. Tại nhiều trường đại học Tây phương ngày nay, trường đại học chỉ cung ứng cho nghiên cứu và trả lương giáo sư trong vòng 3 hay 5 năm, sau thời gian này giáo sư phải tự tìm lấy nguồn tài trợ cho nghiên cứu. Thành ra, dù rằng một phần ngân sách nghiên cứu (có thể là 60%) do nhà nghiên cứu tìm được từ nước ngoài, nhưng trường đại học vẫn phải sẵn sàng cung ứng khi nguồn tài trợ từ nước ngoài gặp khó khăn.
  • lương bổng cho giáo sư. Không thể kì vọng một giáo sư đẳng cấp quốc tế với hàng trăm công trình khoa học và đang hưởng lương hàng trăm ngàn USD hàng năm lại chịu làm việc tại một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam với số lương 50 ngàn USD. Còn nhớ khi Hồng Kông được Anh trao trả về Trung Quốc, rất nhiều giáo sư ngoại quốc rời bỏ các đại học Hồng Kông vì họ không thể sống với lương bổng mới và cách quản lí mới. Phải cần đến 5 năm các đại học Hồng Kông mới mời các giáo sư này quay lại làm việc.
  • phải cần thời gian. Cần phải nhận thức rằng không phải một sớm một chiều chúng ta sẽ xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế, một đại học mà nói đến tên, người ta có thể đánh giá ngang cỡ với các đại học danh tiếng khác ở Tây phương. Các đại học danh tiếng như Harvard, Yale, Stanford, Oxford, Cambridge, v.v… phải trải qua hàng trăm năm để đạt được vị thế như ngày nay. Ngay cả các đại học mới và danh tiếng “khiêm tốn” hơn như University of Tokyo, Australian National University, National Singapore University, v.v… cũng phải phấn đấu qua nhiều thập niên để được xếp hạng trong danh sách các đại học đẳng cấp quốc tế.

Những điều kiện và tiêu chuẩn trên không phải dễ đạt được. Trước những yêu cầu này có lẽ nhiều bạn đọc sẽ hỏi trong điều kiện còn nhiều khó khăn hiện nay liệu bao giờ chúng ta mới có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vào cuối thế kỉ 19 ở Mĩ, cũng có người đặt câu hỏi đó. John D. Rockefeller từng hỏi Charles W. Eliot (lúc đó là hiệu trưởng Đại học Harvard suốt 40 năm liền) nếu muốn thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế cần những điều kiện gì. Eliot trả lời rằng cần 50 triệu USD và 200 năm! Nhưng Eliot đã sai lầm to. Trường Đại học Chicago được thành lập vào đầu thế kỉ 20, với trên 50 USD (do chính Rockefeller trao tặng) nhưng chỉ sau 20 năm hoạt động, đã trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế. Hiện nay, chúng ta bàn về đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng tôi thấy đang có xu hướng “chìm” sau một thời gian bàn thảo sôi nổi. Chúng ta cần quyết tâm để biến lời nói thành hiện thực.

Tia Sáng: Vừa rồi Bộ KHCN có bàn về vấn đề nghiệm thu các đề tài khoa học và có nhiều ý kiến khác nhau. Ý kiến của GS Hoàng Tụy cho rằng, đã nghiên cứu khoa học cơ bản thì phải có công bố quốc tế. Nhưng cũng có nhiều ý kiến khác lại nói, trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam chưa thể làm như thế được. Ý kiến nào các anh cho là đúng?

NVT: Tiêu chuẩn số 1 để đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học -- bất kể là khoa học cơ bản hay khoa học ứng dụng -- là ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế. Ấn phẩm khoa học thường phải là những bài báo được công bố trên các tập san chuyên ngành có hệ thống bình duyệt (peer-review) và có uy tín (tức là nằm trong danh bạ của ISI hay cơ quan tương tự) với hệ số ảnh hưởng (impact factor).

Tôi cũng biết có ý kiến cho rằng việc công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế là không thực tế. Tuy nhiên, tôi thấy ý kiến đó không đúng và mang tính … ngụy biện. Tôi không hiểu “hoàn cảnh” nào mà các nhà khoa học nước ta không công bố được, nếu những công trình của họ có giá trị và được thực hiện theo những tiêu chuẩn chung. Thật ra, các tập san quốc tế có xu hướng tạo điều điệu thuận lợi như không lấy chi phí in bài, dành ưu tiên đăng bài, châm chước vấn đề ngôn ngữ … cho các nhà khoa học ở các nước đang phát triển như ở nước ta để công bố ấn phẩm khoa học.

Tia Sáng: Đối với những ngành mà hoạt động nghiên cứu cơ bản còn thấp như vật lý địa cầu, môi trường,…rất khó có thể có công bố quốc tế. Như vậy, có nên tiến hành nghiên cứu cơ bản không?

NVT: Tôi không xem các hoạt động khoa học theo thang chuẩn thấp hay cao, cho nên tôi không xem khoa học vật lí địa cầu hay khoa học môi trường là thấp. Tôi nghĩ ở bất cứ lĩnh vực nào, nếu chúng ta chịu khó làm việc, tìm tòi và suy nghiệm vấn đề cho đến nơi đến chốn thì vẫn có thể đi đến những đề tài để công bố. Cần phải nói thêm rằng một nghiên cứu khoa học không chỉ đánh giá qua một phát kiến mới về ý tưởng hay kết quả mới, mà một phương pháp hay cách làm mới vẫn có thể xem là có giá trị khoa học. Chẳng hạn như chọn một quần thể độc đáo làm mô hình để nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố di truyền đến một bệnh vẫn có thể xem là mới, và vẫn có thể công bố bài báo khoa học.

Tia Sáng: Anh có thể cho biết cụ thể ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trên thế giới hiện nay như thế nào?

NVT: Hoạt động khoa học ngày nay mang tính liên ngành (inter-discipline), và vì thế, rất khó tìm một lằn ranh để xếp loại thế nào là khoa học cơ bản và thế nào là khoa học ứng dụng. Theo tôi, cách phân chia khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là không cần thiết và phản tác dụng. Nhìn chung, có nhiều người nghĩ rằng nghiên cứu toán học là cơ bản, còn y học là ứng dụng. Nhưng trong ngành y sinh học, người ta nghĩ rằng (hay xem) nghiên cứu di truyền học và nghiên cứu trên tế bào là cơ bản, còn nghiên cứu lâm sàng là ứng dụng. Nói như thế để thấy tất cả các nổ lực đi tìm một lằn ranh phân biệt hoạt động khoa học còn tùy thuộc vào ngành nghề nghiên cứu.

Phân biệt giữa khoa học cơ bản và ứng dụng là quan điểm của mấy thập niên trước, và không còn thích hợp cho khoa học thời nay nữa. Xin dẫn một ví dụ đơn giản: nếu tôi nghiên cứu về cách sử dụng gen để chẩn đoán bệnh béo phì, thì công trình này nên xếp là cơ bản hay ứng dụng? Tôi phải phân tích một mãng DNA để biết được thể gen và phải thử nghiệm xem nó có liên quan đến béo phì hay không (đó là một hoạt động nghiên cứu cơ bản), nhưng béo phì là một vấn đề lâm sàng (một lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng), và phải sử dụng các thuật toán thống kê để phát triển mô hình chẩn đoán (một lĩnh vực vừa cơ bản vừa ứng dụng). Nói tóm lại, công trình của tôi có tất cả các hoạt động khoa học ứng dụng và cơ bản. Không có chuyện phân cấp đó là khoa học cơ bản hay ứng dụng.

Ví dụ mà tôi trình bày cho thấy xu hướng nghiên cứu khoa học bây giờ mang tính liên ngành, bởi vì tôi cần đến các chuyên gia về sinh học phân tử, di truyền học, thống kê học, và chuyên gia lâm sàng. Sự hợp tác liên ngành đó chính là động cơ thúc đẩy phát triển khoa học. Đi tìm một lằn ranh để phân chia ranh giới giữa cơ bản và ứng dụng là một hình thức làm cho khoa học không theo kịp trào lưu quốc tế.

Tia Sáng: Theo đánh giá chủ quan của anh thì mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam ra sao? Nhà nước nên ưu tiên chú trọng đầu tư cho lĩnh vực trọng điểm nào cho tương lai?

NVT: Theo tôi, không nên phân biệt giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Các cơ quan tài trợ cho nghiên cứu ngày nay thường khuyến khích các nghiên cứu mà thuật ngữ tiếng Anh gọi là “Translational research”, tức là chuyển giao những thành tựu trong nghiên cứu khoa học cơ bản đến người tiêu dùng. Trong nghiên cứu y học, “người tiêu dùng” (consumer) đây chính là bệnh nhân. Bất cứ công trình hay dự án nghiên cứu y sinh học nào, tác giả phải nêu cho được tiềm năng chuyển giao thành tựu để nâng cao chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân.

Theo tôi, nước ta nên tập trung vào những nghiên cứu ở dạng này, thay vì theo đuổi những nghiên cứu mang tính khám phá (discovery) mà chúng ta chưa thể có điều kiện và kinh phí để theo đuổi. Xin lấy một ví dụ đơn giản để minh họa cho ý này. Các nhà khoa học Anh mới đây nghiên cứu trên 2000 bệnh nhân, mỗi bệnh nhân họ phân tích 500.000 SNP, và mỗi SNP tốn khoảng 0,5 USD, tức công trình này tốn khoảng nửa tỉ USD. Với số tiền đó, họ chỉ phát hiện một gen duy nhất có liên quan! Nước ta chưa thể làm những nghiên cứu đó, nhưng có thể ứng dụng thành tựu từ những nghiên cứu như thế cho tình hình thực tế ở trong nước.

Tia Sáng: Tầm nhìn phát triển khoa học công nghệ ở nước ta trong tương lai, theo các anh, chúng ta có nên đi theo mô hình của một số nước đi trước như Nhật, Hàn Quốc Singapore,…hay chúng ta phải vạch ra con đường riêng?

NVT: Tôi không rõ mô hình của Hàn Quốc hay Singapore ra sao, nhưng tôi nghĩ mỗi nước đều có một bối cảnh lịch sử riêng biệt, và do đó, sẽ không có “mô hình” nào hoàn toàn thích hợp cho nước ta cả. Chẳng hạn như chúng ta chưa thể đòi hỏi tất cả các giáo sư đại học trong nước phải hội đủ những tiêu chuẩn như giáo sư ở Mĩ, bởi vì một đòi hỏi như thế không thực tế. (Thật ra, ở Mĩ tiêu chuẩn giáo sư cũng rất khác nhau giữa các trường).

Nước Pháp tự hào rằng Pháp đã, đang và sẽ không bao giờ trở thành một phiên bản của bất cứ nước nào trên thế giới, nhưng các hoạt động nghiên cứu khoa học của Pháp cũng dựa vào các chuẩn mực quốc tế. Chúng ta cần phải có một “con đường” riêng cho chính chúng ta, nhưng con đường đó phải phù hợp với trào lưu của thời đại, phải tuân thủ theo những chuẩn mực quốc tế mà chúng ta là một thành viên. Chẳng hạn như chúng ta không thể biện minh rằng vì “hoàn cảnh” mà không công bố ấn phẩm nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế, trong khi đó chính là một chuẩn mực mà đại đa số các nước trên thế giới chấp nhận.

Hiện nay, chúng ta có quá nhiều viện nghiên cứu từ các bộ và tổng cục với chức năng nhiều khi chồng chéo nhau và thành phẩm cũng không rõ ràng mấy. Theo tôi, một trong những việc làm hàng đầu là chấn chỉnh (kể cả nhập lại) các viện nghiên cứu từ đó và các đại học thành những trung tâm nghiên cứu và đào tạo theo chuẩn mực quốc tế (cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một viện nghiên cứu y khoa có uy tín). Chúng ta cũng cần phải kiện toàn lại hệ thống bình duyệt và cung cấp kinh phí nghiên cứu sao cho đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của đồng tiền. Chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Mĩ hay Âu châu trong công tác quản lí khoa học và ngân sách khoa học. Việc này cũng không khó, không cần đến việc tốn tiền phải gửi hàng chục phái đoàn quan chức ra nước ngoài để tìm hiểu; chỉ cần hỏi các nhà khoa học gốc Việt có kinh nghiệm ở nước ngoài là họ có thể cung cấp thông tin cụ thể cho các giới chức trong nước.

Một năm nhìn lại - Phần 3

Lâm sàng thống kê

Qua đọc một nghiên cứu của một bác sĩ ở Đại học Y Dược TPHCM, tôi có viết bài “Về một sự hiểu lầm thuật ngữ ‘prospective’. Điều làm tôi bất ngờ là bài viết thu hút rất nhiều phản hồi của bạn bè và đồng nghiệp. Đại khái họ nói qua bài đó họ mới rõ những thuật ngữ liên quan đến thiết kế nghiên cứu. Tôi đã có ý định mở một mục Lâm sàng thống kê từ đó. Nhưng vì thời gian eo hẹp trong những tháng đầu năm nên ý định không thành hiện thực.

Đến khi Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật in và phát hành cuốn sách “Phân tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R” vào đầu năm 2007 thì ý định đã manh nha. Cuốn sách đã được các bạn đọc đón tiếp nồng hậu, với hàng trăm cuốn được bán ngay trong những ngày đầu xuất bản. Rất tiếc là hệ thống phân phối còn nhiều bất cập (theo tôi) nên sách không về đến các tỉnh lẻ và vùng cao sâu. Khi liên lạc để hỏi tại sao có tình trạng sách không đến các nhà sách tỉnh lẻ, Nhà xuất bản trả lời rằng họ chỉ gửi sách đến các tỉnh khi có nhu cầu!! Tôi phải sử dụng đến 2 dấu chấm thang ở đây để bày tỏ sự ngạc nhiên đến tột độ về cách kinh doanh này.

Rất nhiều bạn đọc gửi email hỏi đủ thứ vấn đề liên quan đến phân tích số liệu. Tôi cố gắng giải thích dần dần, nhưng thấy có một số câu hỏi trùng nhau, nên quyết định biến ý định mục Lâm sàng thống kê thành hiện thực. Tính từ tháng 3 cho đến nay mới có 9 tháng trời, như các bạn biết, đã có 20 bài trong đề tài này. Tôi viết các bài này với tâm huyết giúp đỡ các đồng nghiệp trong nước. Xin nói rằng ngay cả với các đồng nghiệp phương Tây, tôi chưa và không bao giờ giải thích tường tận như trong các bài đó. Mục này sẽ còn kéo dài và hi vọng sẽ in thành sách để truyền bá rộng rãi hơn.

Điều làm tôi đôi lúc chạnh lòng là nhiều khi mình tiêu ra khá nhiều thì giờ (phần lớn là ban đêm) giải thích, giúp đỡ, thậm chí viết cả codes phân tích cho nhiều bạn ở trong nước (những việc mà tôi không bao giờ làm cho đồng nghiệp Tây phương), nhưng khi thư gửi đi rồi tôi không hề nhận được một thư báo là đã nhận được, chứ chưa nói đến hai chữ “cám ơn”! (Cũng có thể “phe ta” chưa quen với cách nói cám ơn). Thậm chí, có người còn gửi email cho tôi cứ như là … ra lệnh. Với những email như thế tôi vẫn trả lời, nhưng thầm cười méo mặt vì nghĩ người gửi có vấn đề trong giao tiếp nên thông cảm. Tuy chạnh lòng, nhưng tôi cố an ủi mình làm hết mình, để sau này không ân hận với lương tâm và cũng không hỗ thẹn rằng mình đã trải lòng với mọi người.

Một năm nhìn lại - Phần 2

Vắcxin viêm gan B – nhiễu thông tin!

Ở nước ta, khoảng 13% trẻ em mới sinh (9 đến 18 tháng) và 18% trẻ em tuổi từ 4 đến 16 bị nhiễm viêm gan B. Ngay cả ở độ tuổi vị thành niên và trưởng thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B cũng khoảng 20%. Các tỉ lệ này khá cao so với các nước đã phát triển, nhưng tương đương với tỉ lệ ở các nước Đông Nam Á và Nam Mĩ. Do đó, chính sách tiêm chủng vắcxin phòng chống viêm gan B là cần thiết.

Nhưng với 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách này. Tôi có viết một bài “trấn an” trên Tuổi Trẻ rằng không vắcxin không nguy hiểm đâu, nó cứu nhiều người. Tôi trình bày nhiều bằng chứng khoa học từ Đài Loan và các nước trong vùng để chứng minh rằng chúng ta nên cần tiếp tục với vắcxin hóa.

Tiếp theo là một bài báo trên Tuổi Trẻ cho rằng Hàng trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ, nhưng rất tiếc đây là một thông tin rất sai lầm, vì phóng viên dựa vào một nguồn tin không đáng tin cậy. Phóng viên dựa vào thông tin trên website của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ý kiến “phi chính thống” và nổi tiếng chống đối các chương trình tiêm chủng ngừa. Ông này đã bị các cơ quan y tế Mĩ cảnh cáo vài lần về việc đưa tin … ẩu. Tôi có viết một bài cảnh báo trên ykhoanet.com và gửi cho các bạn trong Tuổi Trẻ chỉ ra rằng nguồn tin đó rất sai. Bài báo trên website Tuổi Trẻ sau đó đã được rút xuống ngay. Hoan hô các bạn trong Tuổi Trẻ!

Trong một bài trên ykhoanet.com (và đăng lại trên Tuổi Trẻ) tôi phát trình bày một vài kinh nghiệm từ nước ngoài về chương trình tiêm vắcxin ngừa viêm gan B cho thấy tiêm vắcxin đem lại lợi ích nhiều hơn là tác hại.

Qua bài học này, tôi thấy việc xử lí thông tin y khoa của các phóng viên báo chí nói chung có vấn đề. Nhưng đây là vấn đề chung trên thế giới, chứ cũng chẳng riêng gì với giáo báo chi trong nước.

Bưởi và ung thư vú – lại nhiễu thông tin!

Nói về nhiễu thông tin, chúng ta không thể bỏ qua bản tin về bưởi và ung thư vú đã được một số báo trong nước rầm rộ đưa tin. Số là vào tháng 7 năm 2007 một nhóm nhà nghiên cứu bên Mĩ công bố một nghiên cứu quan sát (observational study) trên tập san British Journal of Cancer, mà theo đó họ kết luận rằng ăn bưởi có thể liên quan đến ung thư vú ở phụ nữ sau mãn kinh. Bản tin này được các báo chí Tây phương như BBC và Daily Mail truyền đi gây chấn động giới sản xuất và phân phối bưởi.

Ở trong nước, các báo như Thanh Niên, Khuyến học, Dân trí, Netnam, và Khoa học phổ thông năng nổ dịch lại. Chỉ trong vòng mấy ngày sau khi bản tin xuất hiện trên báo chí Việt Nam, giá bưởi ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 10.000-16.000đ/kg xuống còn chỉ 8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg. Nhiều nông dân điêu đứng. Tôi cũng là người xuất thân trong quê nên biết thế nào là nỗi khổ của nông dân, không có tiếng nói trong mấy vụ “khoa học” này.

Tôi bỏ ra ngay đêm đó để viết hai bài phân tích về những khiếm khuyết của nghiên cứu trên và phân tích số liệu lại để chứng minh rằng sự khác biệt giữa tỉ lệ ung thư trong nhóm ăn bưởi và không ăn bưởi chỉ có 0,4%, tức chẳng có ý nghĩa lâm sàng gì cả. Bài ngắn đăng trên Tuổi Trẻ và được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, tuy nhiên bản gốc có đầy đủ thông tin thì (dĩ nhiên) là trên ykhoanet.com. Bài dài hơn tôi phân tích chi tiết về những sai lầm trong nghiên cứu đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Nhân việc hai bài này, mấy anh trong Kinh tế Sài Gòn phàn nàn gián tiếp là tại sao tôi đăng 2 báo. Xin thưa là hai bài không giống nhau. Tôi không bao giờ đăng một bài trên hai báo, lúc nào cũng có cái khác chứ không “ăn gian” đâu. Vả lại, đây là vấn đề quan trọng, nên cần phải đưa thông tin đến càng nhiều người càng tốt, và hai bài đó tôi nghĩ đã giúp ích, trấn an cho nhiều người nghiền bưởi như … tôi.

Vụ bưởi và ung thư có một kết thúc không hay. Tuy trong bài viết tôi có nói rằng các phóng viên trong nước là nạn nhân của bài báo trên BBC, nhưng Bộ Thông tin và Truyền thông vẫn xử phạt hành chính các báo Khuyến học, Dân trí, Thanh Niên, Netnam, và Khoa học phổ thông. Đây là một bài học truyền thông khoa học rất quan trọng, mà tôi hi vọng sẽ có dịp quay lại trong một workshop về khoa học và truyền thông sắp tổ chức ở TPHCM trong năm 2008. Tôi hi vọng sẽ sử dụng workshop này để giải thích cho các phóng viên biết về qui trình của một nghiên cứu y học như thế nào, và cách diễn giải dữ liệu khoa học sao cho chính xác.

Bệnh tả và mắm tôm

Những tháng cuối năm 2007 xảy ra nạn dịch tiêu chảy. Ykhoanet.com vào cuộc với hàng chục tham luận và bài viết chung quanh đề tài này. Ban đầu, các giới chức y tế gọi nạn dịch này bằng một bệnh danh dài dòng và khó hiểu: “Dịch tiêu chảy cấp”. Thế rồi vài ngày sau, bệnh được gắn thêm tính từ “nguy hiểm” thành “tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Nhưng cho đến nay, thì tên bệnh thành “dịch tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả”! Khi được phóng viên hỏi, các quan chức y tế nước ta lúng túng nói “Dùng từ tiêu chảy cấp trước hay tả trước thì cũng vậy thôi”! Từ đó, theo họ, cảnh báo tiêu chảy và tả thì biện pháp phòng chống như nhau!

Liên quan đến bệnh danh, tôi có phát biểu trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (“Sao không gọi là bệnh tả?”) và Tuổi Trẻ (“Gọi tên đúng bệnh để phòng ngừa hiệu quả”). Sau hai bài này và nhiều ý kiến của các đồng nghiệp khác trong nước, các quan chức y tế bắt đầu sử dụng từ “bệnh tả”, tuy họ vẫn còn khá quanh co và … khó hiểu.

Bệnh tả và tiêu chảy xảy ra vào ngày 30/10. Chỉ ba ngày sau, ngày 2/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm và sau đó ban hành “Quy trình xử lý dịch tả”. Phán quyết này dựa vào cơ sở rằng phần lớn bệnh nhân từng ăn mắm tôm. Ngày 8/11 tôi có nhận xét trên Tuổi Trẻ rằng “Chúng ta chưa có dữ liệu này. Do đó, chúng ta không thể nói mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, có thể nói mắm tôm là một yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả. Ăn thịt chó hay mắm tôm là yếu tố nguy cơ chứ không phải là thủ phạm, bởi vì thủ phạm là vi khuẩn V. cholerae. Vì thế, tôi e rằng đặt trọng tâm vào một loại thực phẩm như thế có thể làm xao lãng (hay đánh giá thấp) một tác nhân nguy hiểm hơn và qui mô hơn: nguồn nước.”

Câu chuyện mắm tôm và dịch tả kéo dài sau đó với nhiều ý kiến trái ngược nhau từ các chuyên gia trong Bộ Y tế. Tôi và Ts Nguyễn Đình Nguyên truy tìm trong y văn và phát hiện nhiều thông tin quan trọng về sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn tả. Tôi có viết hai bài để minh oan cho mắm tôm. Bài thứ nhất “Mắm tôm có phải là ‘thủ phạm’ gây bệnh tả? Xét lại bằng chứng khoa học” và bài kế tiếp là “Năm lí do cho mắm tôm vô tội” nhưng không báo nào dám đăng! Chỉ có báo Diễn Đàn bên Pháp đăng bài thứ hai, và bài này được lưu truyền khá rộng rãi.

Khi hàng trăm mẫu mắm tôm được đem đi xét nghiệm và kết quả hoàn toàn âm tính với vi khuẩn tả, thì lúc đó báo chí mới vào cuộc minh oan cho mắm tôm. Thậm chí, trong Quốc hội, giáo sư Nguyễn Lân Dũng cũng chất vấn về mối liên hệ giữa mắm tôm và dịch tả, nhưng rất tiếc là trả lời của Bộ trưởng Bộ Y tế không mấy rõ ràng.

Đến ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn kết luận: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Các nhà sản xuất mắm tôm được phép hoạt động trở lại.

Nhưng khổ thay cho mắm tôm! PGS TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục Vệ sinh An toàn thực phẩm, khi trả lời phỏng vấn báo Người lao động, nói: “Mắm tôm là nguyên nhân đầu tiên gây bệnh tả ...”

Trước tuyên bố này, Tạp chí Tia Sáng có hỏi tôi có ý kiến gì không. Tôi chỉ thấy phân vân với chữ “nguyên nhân” của ông cục trưởng, và điều này làm tôi có cảm hứng viết tiếp một bài tản mạn cho Tia Sáng, và như thường lệ, bản đầy đủ hơn vẫn trên ykhoanet.com qua bài “Mắm tôm, nguyên nhân và hệ quả. Qua bài viết này, tôi giải thích cụ thể thế nào là nguyên nhân và thế nào là yếu tố nguy cơ. Làm y tế cần phải phân biệt được hai khái niệm này. Nhưng mọi lí thuyết mang màu xám xịt / chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi (mượn thơ Xuân Diệu) nên tôi phải nhắc nhở các quan chức rằng thực tế còn quan trọng hơn. Chính vì thế mà trong phần cuối của bài đó tôi viết (và xin trích lại như sau):

Các lí giải trên tuy quan trọng, nhưng mang tính… hàn lâm. Hệ quả thực tế còn đáng quan tâm hơn. Do những phán xét vội vã của Bộ Y tế về mắm tôm trong thời gian qua, một bộ phận doanh nghiệp mắm tôm đã bị tổn thất về kinh tế. Theo Người lao động, ngày 19/12, 13 tấn mắm tôm lấy từ Thành phố Hồ Chí Minh đã được thiêu hủy. Điều đáng nói là việc làm này xảy ra sau khi các quan chức của Bộ Y tế xác nhận mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả. Điều đáng chú ý hơn nữa là các mẫu mắm tôm bị tịch thu này đã được xét nghiệm, về kết quả không thấy có mầm bệnh.


Do đó, việc thiêu hủy số lượng lớn mắm tôm như thế chẳng những không phù hợp với công văn của Bộ Y tế (trong đó có giải thích rõ rằng thiêu hủy chỉ áp dụng đối với sản phẩm mắm tôm đã được xác định ô nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh), mà còn thiếu nhất quán với các kết luận mới nhất của Bộ Y tế. Ai đứng ra bồi thường cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng? Và, cũng không một lời xin lỗi từ bất cứ một giới chức y tế nào.”

Vấn đề xin lỗi các doanh nghiệp bị tổn thất vì lệnh cấm mắm tôm được báo chí nêu lên. Nhưng Bộ Y tế … làm thinh. Thậm chí có quan chức nói không đặt vấn đề xin lỗi hay bồi thường. Bức xúc trước phát biểu này, tôi có viết một bài có thể xem là cuối cùng về sự việc, mà trong đó tôi nói về văn hóa xin lỗi trong y khoa. Bản ngắn thì trên Tuổi Trẻ (“Mắm tôm và chuyện xin lỗi”), còn bàn đầy đủ hơn thì trên ykhoanet.com. Bài viết cũng được nhiều bạn đọc đón nhận nồng nhiệt và khen ngợi. Cựu thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh cũng lên tiếng trên Tuổi Trẻ, nhưng Bộ Y tế vẫn … không xin lỗi!

Nhìn lại sự việc chung quanh bệnh tả và mắm tôm tôi rút ra một số bài học quí báu. Đó là những bài học mà báo Vietnamnet có đề nghị tôi làm một bài tổng kết. Loại bài viết đó tôi sử dụng các dữ liệu công bố trên ykhoanet.com để viết dưới ba tiêu đề: “Câu chuyện John Snow và bài học thông tin bệnh tả”, “Bệnh tả: Thông tin càng đưa, càng rối!”, và “Bệnh tả: Cần một thái độ khoa học”. Trong ba bài đó tôi muốn mượn câu chuyện của ông tổ ngành dịch tễ học (John Snow) để bàn về kinh nghiệm phát hiện nguyên nhân và phòng chống bệnh tả trong thời nay. Tôi cũng phê bình Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương chẳng có thông tin gì liên quan đến bệnh, vì trang nhà trống trơn. Tuy nhiên, cho đến nay, trang nhà của Viện vẫn chẳng có thông tin khoa học nào liên quan đến bệnh tả vừa qua!