Sunday, December 28, 2008

Thời khắc lịch sử

Một băng rôn rất có ý nghĩa! Hi vọng rằng chúng ta sẽ nói như thế trên mặt trận khoa học với Thái Lan




Thắng rồi!

Tiếng hét vang vội trong một quán nhỏ trên đường Xuân Diệu, bên cạnh bờ biển Quy Nhơn làm tôi chú ý. Trước đó, trên đường đến quán này, tôi hỏi anh tài xế taxi tình hình “phe ta” ra sao, thì anh ta nói “mình thua nó 1-0 chú à”. Giọng nẫu của anh taxi làm tôi chùng lòng. Nhưng đến phút cuối cùng này thì tôi thấy mình có lí do để vui mừng.

Đúng vào lúc đó, một người bạn từ Sài Gòn gửi message báo tin Việt Nam chiến thắng. Tiếp theo sau message của Sài Gòn là một cú điện thoại từ một người bạn khác từ Tây Nguyên báo tin vui: Đội tuyển Việt Nam đã gỡ hòa 1-1 trên sân Mỹ Đình, Hà Nội.

Thế là cả quán, kể cả chủ quán và tiếp viên, đều bắt tay nhau chúc mừng chiến thắng, một chiến thắng vẽ vang đưa Việt Nam trở thành vô địch AFF. Sau 49 năm chờ đợi, Việt Nam đã thực hiện được giấc mơ của mình.

Tôi hân hạnh được chứng kiến một thời khắc lịch sử ngay tại quê hương của Nguyễn Huệ. Đường xá tràn ngập cờ quạt. Có thanh niên chẳng biết kiếm đâu ra cái nón của lính thời Tây Sơn hiên ngang trên xe gắn máy đánh trống ầm ĩ. Con đường An Dương Vương và Nguyễn Tất Thành đầy nghẹt người với người, nhưng nhìn kĩ thì phần lớn là thanh niên. Người nhiều và náo nhiệt đến nỗi xe taxi không đi thêm được bước nào. Hai ba chiếc xe của cảnh sát cũng đành … bó tay. Tôi đành phải cuốc bộ về khách sạn. Đi bộ mà trong lòng tràn ngập niềm vui. Trên đường về tôi còn được mấy em đến tặng cho cái băng rôn “Việt Nam vô địch” để đeo ngang đầu, nhưng tôi cười xin từ chối. Tôi không còn ở độ tuổi “ham vui” nữa, mà lúc nào cũng thấy canh cánh chuyện đời …

Thắng Thái Lan trên sân cỏ lần này là một kì tích. Nhưng chúng ta vẫn chưa thắng trên sân chơi khoa học, nơi mà chúng ta còn quá kém. Năng suất khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/5 Thái Lan. Nói cách khác, chúng ta chỉ mới bắt đầu có cơ bắp, nhưng về trí lực chúng ta vẫn chưa hơn họ. Phải hơn cả hai thì mới xứng đáng làm người Việt. Cuộc chiến, nói như huấn luyện viên Calisto, vẫn chưa kết thúc. Mừng thì cứ mừng, nhưng vẫn chưa có lí do để vui trọn vẹn.

Viết những dòng này vào lúc 10:30 pm 28/12/2008, một thời khắc lịch sử.

NVT

Wednesday, December 24, 2008

Tên đề tài nghiên cứu và động từ

Hôm qua (24/12) tôi có cơ duyên nói chuyện với các đồng nghiệp ở Bệnh viện Nhân dân 115 (chẳng hiểu từ đâu có cái con số 115 này). Tôi nói về hai chủ đề: cách viết và công bố một bài báo khoa học, và cách trình bày kết quả nghiên cứu khoa học bằng powerpoint. Chỉ có 2 tiếng đồng hồ, nên tôi phải nói nhanh và … chạy. Tuy nhiên, điều làm tôi thấy vui là có nhiều người quan tâm đến nghe, hội trường chật kín người và hình như họ cũng theo dõi nghiêm chỉnh chứ không ngủ gật như tôi hay thấy trong các hội thải khoa học khác ở trong nước.

Trong phần câu hỏi và thảo luận, có một đồng nghiệp hỏi một câu khá lạ (nhưng sau này thì tôi mới biết là hoàn toàn không lạ). Anh ấy hỏi rằng các tập san khoa học có một qui định nào về cách viết tựa đề (title) cho một bài báo khoa học hay một đề cương nghiên cứu hay không. Anh ấy nói thêm rằng ở trong nước, nhất là ngoài Bắc, người ta có qui định rằng tên đề tài nghiên cứu phải có động từ. “Người ta” ở đây là các vị trong Bộ nào đó, trong đại học nào đó, hay trong hội đồng khoa học nào đó.

Tôi rất ngạc nhiên với qui định này. Mới nghe qua thì cứ như là thời bao cấp: cái gì cũng phải như thế này, như thế kia, phải cao thấp theo chuẩn mực, và chuẩn mực thì giống như rơi từ trên trời xuống.

Hèn gì khi đọc các đề cương nghiên cứu từ Việt Nam tôi bắt gặp những cụm từ như “Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên”, “'Nhận thức của thanh niên nông thôn về chất lượng cuộc sống gia đình hiện nay”, “Phát huy vai trò của tri thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới”, "Nhận thức của công chức hành chính về việc sắp xếp lại bộ máy của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố”, “Xác định tỉ lệ lưu hành bệnh ABC”, “Bước đầu thiết lập hệ thống XYZ” (rất nhiều nghiên cứu với “bước đầu”!).

Nhưng tôi trả lời dứt khoát cho anh biết là: không. Tôi phục vụ trong ban biên tập của một số tập san lớn về nội tiết học và loãng xương trên thế giới, và tôi biết rõ rằng hoàn toàn không có một qui định nào về đặt tên cho một đề cương nghiên cứu. Tác giả muốn đặt gì thì đặt, chẳng cần phải có động từ hay gì gì đò, và cũng chẳng có ai can thiệp. Tác giả phải chịu trách nhiệm cho việc chọn tên đề cương của mình, chứ chẳng ai cầm tay chỉ việc để tác giả phải làm.

Tuy nhiên, người có kinh nghiệm làm khoa học thường đầu tư thời giờ để suy nghĩ về tựa đề nghiên cứu khoa học của họ, vì họ ý thức rằng tựa đề là cái mà người đọc sẽ thấy và đọc đầu tiên khi cầm bài báo trên tay, là cái thu hút sự chú ý của người đọc. Ngoài ra, trong thời đại điện tử ngày nay, tựa đề thường có những “từ khóa” (keywords) để cho người truy tìm dễ dàng tìm bài báo trong chủ đề của mình theo đuổi. Chính vì thế mà việc đặt tên bài báo khoa học hay công trình khoa học thường theo các định hướng “nên” và “không nên” như sau.

1. Nên cố gắng đặt tựa đề với một thông điệp mới hay “new thing”. Làm được như thế rất dễ gây sự chú ý của người đọc. Ví dụ: “A novel relationship between osteocalcin and diabetes mellitus”, ở đây chữ novel có tác dụng gợi ra một cái mới và làm cho người đọc thấy thích thú.

2. Không nên viết tựa đề theo kiểu phát biểu (statement). Khoa học không có gì là bất biến và “sự thật” hôm nay có thể sai trong tương lai. Do đó những tựa đề kiểu như “Smoking causes cancer” nó chẳng những cho thấy sự ấu trĩ hay ngây thơ trong khoa học của tác giả mà còn làm cho người đọc cảm thấy rất khó chịu.

3. Không bao giờ sử dụng viết tắt trong tựa đề bài báo. Mỗi công trình nghiên cứu thường tập trung vào một vấn đề chuyên sâu nào đó, và nếu chúng ta sử dụng viết tắt thì chỉ những người trong ngành mới hiểu, còn người ngoài ngành không hiểu và đó là một thiệt thòi cho nghiên cứu của mình.

4. Không nên viết tựa đề theo kiểu nghịch lí. Những tựa đề nghịch lí là “Yếu A ảnh hưởng xấu đến X, nhưng tác động tốt đến Y”. Những tựa đề kiểu này có thể làm cho người đọc khó chịu, và có khi làm lẫn lộn vấn đề của nghiên cứu.

5. Tựa đề không nên quá dài hay nhiều chữ. Tựa đề có nhiều chữ làm khó đọc và làm cho người đọc … dễ quên. Thông thường, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề dưới 20 chữ. Có nhiều bài báo mà tựa đề có khi chỉ một chữ!

Hi vọng những chỉ dẫn này sẽ giúp cho các bạn vài thông tin có ích. Sau cùng, tôi muốn nói rằng những ai đó ở Việt Nam ra điều lệ rằng tên đề cương nghiên cứu cần phải có động từ nên bỏ ngay cái qui định quái đản đó đi. Bỏ ngay! Nói chuyện hội nhập khoa học quốc tế mà đi kèm bên nách với một qui định như thế thì rất dễ làm trò cười cho thiên hạ.

NVT

Trí lực và cơ bắp

2-1.

Đó là tỉ số banh giữa đội tuyển Việt Nam và Thái Lan trong trận vào chung kết để tranh giải “AFF Cup”. Tôi có cơ may chứng kiến “thời khắc lịch sử” đó trong một quán ăn trên đường Phạm Ngọc Thạch. Đang ngồi bàn tán chuyện thế sự với anh em bè bạn thì cả quán reo mừng vỗ tay khi một cầu thủ Việt Nam ghi bàn thắng thứ nhất. Rồi bàn thắng thứ hai. Nhưng đến khi Thái Lan ghi bàn thắng thì phe ta có vẻ không ồn ào gì cả! Việc đội tuyển Việt Nam thắng Thái Lan ngay trên sân xứ người và ngay vào đêm 24/12 là một điều quá xứng đáng để mừng.

Đã lâu lắm rồi (hình như là từ 1998) Việt Nam chưa thắng Thái Lan trên sân cỏ. Vì thế, thắng lợi lần này rất có ý nghĩa, và có thể nói là có tác dụng nâng cao khí thế quốc gia trong năm mới đầy thách thức. Nhưng bóng đá là một trò chơi với nhiều bất định, chúng ta thắng hôm nay, nhưng không có gì đảm bảo Thái Lan sẽ tiếp tục thua ngày mai. Thành ra, tôi rất tâm đắc với phản ứng chừng mực và dè dặt của huấn luyện viên Calisto, khi ông nói cuộc chơi vẫn chưa kết thúc và chúng ta vẫn chưa thắng. Quả thật như thế, chúng ta vẫn còn đấu với Thái Lan một trận nữa trên sân Mỹ Đình. Chỉ khi nào chúng ta thắng trên sân Mỹ Đình vào ngày 28/12 thì chúng ta mới có đầy đủ lí do để ăn mừng.

Người ta nói đấu nhau trên sân Mỹ Đình, chúng ta có nhiều lợi thế vì là sân nhà. Có lẽ đúng như thế, nhưng thực tế cho thấy suy nghĩ đó chỉ đúng có một nửa. Chúng ta đã thua người ta trên sân nhà, nhưng thắng người ta trên sân của họ. Vậy thì, chưa có lí do gì thuyết phục để nói chúng ta có lợi thế trên sân nhà chỉ vì chúng ta có nhiều cổ động viên. Không thể chủ quan. Càng không chủ quan khi họ đang thua và đang cay cú sẽ tìm mọi cách để tấn công chúng ta. Nói gì thì nói, tôi vẫn mong và hi vọng chúng ta sẽ làm nên lịch sử trong những ngày cuối năm này để Việt Nam chiếm AFF Cup.

Hôm qua, tôi nói chuyện tại Bệnh viện Nhân dân 115 về đề tài kĩ năng thông tin trong khoa học (như cách viết bài báo khoa học, cách đương đầu với tập san, và cách trình bày kết quả nghiên cứu khoa học bằng PowerPoint) cho đồng nghiệp và các nghiên cứu sinh. Trong bài nói chuyện 2 giờ đó, tôi trình bày những số liệu về năng suất khoa học giữa Việt Nam và Thái Lan, những số liệu cho thấy chúng ta thua kém Thái Lan khá xa trên “mặt trận khoa học” (thời đại này mà dùng “mặt trận” nghe sao kì cục quá, nhưng … quen rồi). Số bài báo khoa học nước ta có tăng trong mấy năm gần đây, nhưng đến nay thì chỉ bằng 1/3 Thái Lan. Trong khi Thái Lan tập trung nghiên cứu những đề tài khoa học ứng dụng (như công nghệ dược phẩm, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, sinh học phân tử, v.v….) thì Việt Nam lại tập trung vào các lĩnh vực lí thuyết như toán thuần túy, vật lí lí thuyết, vật lí chất rắn, y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm, v.v… So sánh này cho thấy khoa học Việt Nam là loại khoa học với công nghệ thấp, trong khi đó khoa học Thái Lan đi sâu vào công nghệ cao. Những nghiên cứu về toán ở VN cũng chẳng thấy ai quan tâm, vì gần phân nửa những công trình về toán và vật lí lí thuyết của Việt Nam chẳng được ai trích dẫn.

Khoa học là hoạt động của tâm trí, còn thể thao là hoạt động của cơ bắp. Hiện nay, ở cả hai mặt này, Việt Nam đều thua Thái Lan. Thua đậm. Trí lực của ta thấp kém, mà cơ bắp lại càng thấp hơn. Do đó, chiến thắng ngày hôm qua (và hi vọng chiến thắng ngày 28/12) sẽ là một kích lực khí thế cho Việt Nam trong năm 2009.

Tuesday, December 23, 2008

Hậu bão Melamine

Mấy hôm nay vì bận lu bù nên không có thì giờ vào net đọc báo (mà thật ra đọc báo giấy cũng còn khó, do khó tìm chỗ mua báo), nên không “tiếp cận” với thông tin báo chí thường xuyên về những chuyện mình quan tâm. Nhưng hôm nay nhân dịp vào net tôi thấy có bài này trên Tuanvietnam. Bài viết nói về sự vô cảm của Bộ Y tế trước những mất mát của doanh nghiệp trong cơn “bão Melamine” vừa qua. Bài viết còn cho chúng ta thấy những “trước sau không như một” của BYT rất buồn cười. Nói chung thì cũng như câu chuyện mắm tôm và bao nhiêu chuyện khác do BYT gây ra mà thôi. Tôi thấy tác giả là người can đảm, dám nói thẳng -- thẳng đến nhức nhối và xấu hổ cho BYT -- những chuyện tưởng tư khôi hài. Phục tác giả quá.

NVT

====

http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/5642/index.aspx

Hậu bão Melamine: Bộ hết trách nhiệm, DN tự xoay xở

Đành rằng cơn bão nào đi qua cũng để lại sự hoang tàn, đổ nát, thế nhưng hậu cơn bão sữa nhiễm độc Melamine ở Việt Nam chúng ta còn để lại nỗi cô đơn, nỗi đau cho doanh nghiệp mà có lẽ đó là do sự đóng góp của con người, của cơ quan quản lý.

Phản ứng chậm trễ, xử lý bối rối

Còn nhớ, khi các thông tin về sữa nhiễm độc chất Menaline uống vào gây suy thận trẻ em bùng nổ bên ngoài biên giới mà tâm điểm xuất phát từ nước láng giềng Trung Quốc đại lục thì lúc đó các cơ quan quản lý của chúng ta mới tá hỏa phát hành thông tin cảnh báo và tiến hành rầm rộ các biện pháp chuyên môn và biện pháp của quyền lực nhà nước, kéo theo đó các doanh nghiệp sản xuất, chế biến sữa được một phen dâu bể tìm cứu cánh từ lời vàng ý ngọc của Bộ Y tế rằng thật sự sữa của họ ra sao?

Các trung tâm xét nghiệm độc chất trong sữa lúc ấy bối rối trăm bề và quá tải trước đòi hỏi nóng bỏng của người dân và doanh nghiệp với chỉ một việc đưa ra kết luận rằng sữa của ai? ở đâu? có và không có độc chất.

Trong khi chờ kết luận kết quả xét nghiệm không kịp thời thì phản ứng an toàn và mặc nhiên của người tiêu dùng là tẩy chay sản phẩm sữa, động thái này không chỉ gây khốn đốn cho nhà sản xuất, chế biến sữa mà còn gây lao đao cho người nông dân một nắng hai sương, sữa bò vắt ra phải đổ đi trong khi không thể yêu cầu bò nhịn đói, tiếc quá một nông dân ở vùng chuyên nuôi bò sữa ở Hà Nội lấy sữa bò tắm những mong làm đẹp da nhưng không ngờ gây nên hệ lụy cho cơ thể.

Nhiều doanh nghiệp không thể chờ hay không thể tin kết quả của Bộ Y tế đã tự mình gửi mẫu sản phẩm ra nước ngoài xét nghiệm và gửi đến nhiều trung tâm xét nghiệm khác nhau trong nước. Càng bố rối hơn khi các kết quả xét nghiệm không giống nhau cho cùng một lô sản phẩm, thậm chí đối lập nhau. Đến nước này, nhà sản xuất chỉ còn biết đứng giữa ngã 3 ngửa mặt lên trời than thở và cầu mong sự may mắn đến từ đó.

Khi cơn bão tạm lắng xuống, một số nước bắt đầu công bố chỉ số an toàn của Melamine trong sữa thì ở Việt Nam, Bộ Y tế lại thêm 1 lần nữa lúng túng, nói theo cũng không được mà bảo không theo cũng chẳng xong. Cho đến khi WHO (Tổ chức Y tế thế giới) công bố chỉ số an toàn Melamine trong sữa thì Bộ Y tế cũng đành gật đầu.

Và bình thản, vô can

Cơn bão Melamine đi qua, có lẽ người trút được gánh nặng nhiều nhất cũng chính là Bộ Y tế, nhưng hậu bão tố Melamine thì còn dai dẳng với những người trong cuộc mà tâm điểm chính là các công ty sản xuất sữa. Vụ Công ty CP sữa Hà Nội (Hanoimilk) bị oan do chính kết quả xét nghiệm không chuẩn của Bộ Y tế là một khúc bi ai.

Chỉ vài dòng chữ với con dấu đỏ của cơ quan Bộ Y tế nhưng kéo theo đó là sinh mạng của cả một doanh nghiệp bởi họ chỉ sản xuất một mặt hàng này, là sự đe dọa đời sống của hàng trăm công nhân, hàng ngàn bà con nông dân nuôi bò sữa vốn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho Hanoimilk, kéo theo đó là hàng trăm tỷ đồng đội nón ra đi.

Trả lời trước báo chí về vấn đề: Trách nhiệm của Bộ Y tế đến đâu trong việc đưa ra những phán quyết thiếu chính xác về sản phẩm gây ra thiệt hại lớn về uy tín và kinh tế cho doanh nghiệp? Ông Trần Quang Trung, Chánh thanh tra Bộ Y tế phân trần: “Đúng là có một số nhầm lẫn trong quá trình phân tích, kiểm tra một số sản phẩm của Hanoimilk. Tuy nhiên, Bộ chỉ có trách nhiệm tăng cường kiểm tra và đã công bố sản phẩm của doanh nghiệp này an toàn”.

Với câu hỏi, ngoài động tác minh oan cho doanh nghiệp bằng văn bản, Bộ Y tế có nghĩ đến biện pháp giúp doanh nghiệp khôi phục thương hiệu? Ông Trung trả lời: “Đó là việc của họ, cứ làm tốt là được. Bộ đã có công văn rồi thì thôi chứ!” (*)

Thế nhưng đại diện có thẩm quyền của Bộ Y tế trả lời trên báo chí rằng: đó là việc của doanh nghiệp.

Khó tìm được từ nào để mô tả thái độ này của những người gọi là “công bộc của dân”, mà chỉ cảm nhận thấy cảm giác tê tái, cô đơn trước cái gọi là tình đồng loại, chứ chưa nói đến trách nhiệm của người cầm cân nảy mực, trách nhiệm của cơ quan công quyền.

Có thể trong xu thế phát triển - hội nhập, cách truyền giáo bằng lý tưởng và đạo đức chung chung sẽ không còn phù hợp và ít hiệu quả, vậy thì nhất thiết chúng ta phải có thiết chế quản lý xã hội chặt chẽ, minh bạch và nghiêm ngặt.

Nhà nước cần có một bộ luật và một tòa án độc lập xét xử những người, những cơ quan hành chính sai sót gây nên hậu quả xấu cho doanh nghiệp và người dân. Trong bộ máy hành chính, xin đừng để sự tắc trách gây nên thiệt hại, xin đừng để sự vô cảm giết chết cảm hứng cống hiến và phấn đấu của doanh nhân, doanh nghiệp và người dân.

BS Minh Tân
(*) "Nghi án" Melamine: Doanh nghiệp đòi Bộ Y tế công khai xin lỗi. Báo Dân trí

Sunday, December 21, 2008

Ung thư cổ tử cung: tầm soát hay phòng ngừa?

Ung thu cổ tử cung (UTCTC) là một dạng ung thư tương đối phổ biến và nguy hiểm ở nước ta. Gần đây, có ý kiến cho rằng biện pháp phòng ngừa UTCTC lí tưởng nhất là tầm soát thay vì tiêm vắc-xin. Lại có ý kiến vắc-xin chỉ phòng ngừa 2 loại vi khuẩn, nên ảnh hưởng không cao. Tuy nhiên, cả hai lí giải này đều không thuyết phục, nếu không muốn nói là sai. Ngoài ra, ý kiến này còn thể hiện một sự nhầm lẫn về mục tiêu của hai biện pháp đó. Tầm soát là nhằm mục đích phát hiện ung thư ở những phụ nữ chưa bị ung thư hay chưa có triệu chứng ung thư; còn tiêm vắc-xin có mục đích chính là phòng ngừa bệnh UTCTC trước khi bệnh phát sinh. Hai phương án này hỗ trợ lẫn nhau, chứ không phải “cạnh tranh” nhau để biết phương án nào tốt và phương án nào không tốt.

UTCTC là một vấn đề y tế công cộng ở nước ta, bởi vì tần số bậnh khá cao và hệ quả nghiêm trọng. Theo thống kê của Viện ung thư quốc gia, hàng năm có hàng chục ngàn ca UTCTC mới phát hiện, đứng vào hàng thứ hai trong số các loại ung thư. Tỉ lệ phát sinh UTCTC ở phụ nữ người Việt thuộc vào hàng cao nhất thế giới. Phụ nữ ở miền Nam có nguy cơ mắc bệnh UTCTC cao gấp 4 lần phụ nữ ở miền Bắc hay phụ nữ người da trắng. Nhưng có lẽ quan trọng hơn là tuổi thọ của những phụ nữ mắc bệnh UTCTC giảm đáng kể so với tuổi thọ trung bình của dân số.

Tầm soát ung thư

Tình trạng UTCTC ở nước ta đặt ra những vấn đề liên quan đến chiến lược phòng chống ở qui mô cộng đồng. Hiện nay, có hai chiến lược chính: đó là tầm soát và tiêm vắc-xin. Hiện nay, hai phương pháp tầm soát UTCTC phổ biến nhất là pap smear và colposcopy. Cả hai phương pháp xét nghiệm đều mang tính xâm phạm khá cao, và nếu biết được chi tiết, không phải phụ nữ nào cũng muốn tự “dâng mình” để kinh qua hai phương pháp xét nghiệm này.

Tầm soát UTCTC bằng pap smear và colposcopy có mục tiêu chính là phát hiện ung thư ở những người chưa có triệu chứng hay chưa mắc bệnh, với hi vọng phát hiện bệnh sớm, chữa trị sớm, và sẽ cứu mạng sống cho người bệnh. Ý tưởng này chỉ đúng khi nào hai điều kiện sau đây đáp ứng: thứ nhất, phương pháp xét nghiệm có thể phát hiện ung thư; và thứ hai, chữa trị sớm có hiệu quả tốt hơn chữa trị trễ.

Nhưng trong thực tế thì không đúng với hai giả định đó. Khoảng 5% đến 14% kết quả xét nghiệm pap smear là ASCUS (atypical squamous cells of unknown significance, tức các tế bào bất bình thường nhưng không quan trọng) và SIL (squamous intraepithelial lesion). Hầu hết những trường hợp với ASCUS hay SIL sẽ không phát triển thành ung thư. Tuy nhiên, bác sĩ có xu hướng muốn chữa trị những trường hợp này, và do đó điều trị quá nhiều hơn cần thiết và gây tác hại cho cộng đồng.

Về mặt kĩ thuật, cả hai phương pháp xét nghiệm đều không hoàn hảo. Một số phụ nữ có kết quả xét nghiệm dương tính nhưng họ không mắc ung thư (còn gọi là dương tính giả); ngược lại, một số phụ nữ có kết quả âm tính nhưng họ thật sự mắc ung thư (âm tính giả). Tỉ lệ dương tính giả của phương pháp pap smear dao động từ 5% (ở phụ nữ trên 60 tuổi) đến 16% (ở phụ nữ dưới 50 tuổi).

Vắc-xin

Vài năm gần đây, qua nhiều nghiên cứu khoa học, người ta nhận ra rằng một trong những nguyên nhân quan trọng của UTCTC là virus HPV (human papillomavirus). Tưởng cần nhắc lại rằng công trình nghiên cứu về HPV và ung thư cổ tử cung vừa được trao giải thưởng Nobel nằm 2008. Dựa vào mối liên hệ giữa miễn dịch và ung thư, các nhà khoa học phát triển vắc-xin để phòng ngừa ung thư ngay từ độ tuổi vị thành niên.

Nhưng vắc-xin cũng không phải là biện pháp có thể ngăn ngừa 100% trường hợp UTCTC. Theo kết quả của một nghiên cứu lâm sàng công bố trên tập san y học danh tiếng New England Journal of Medicine năm 2005, vắc-xin Gardasil có hiệu quả ngăn ngừa ~100% trường hợp tiền UTCTC. Nghiên cứu này chia 12167 phụ nữ tuổi từ 16 đến 26 thành 2 nhòm: nhóm tiêm Gardasil (5301 người) và nhóm giả dược (5258 người). Sau 12 tháng theo dõi, không có ai trong nhóm được tiêm vắc-xin phát sinh tiền UTCTC, nhưng có 21 người trong nhóm giả dược phát sinh tiền UTCTC.

Do thiếu thời gian nên chúng ta chưa biết vắc-xin có thể ngừa bao nhiêu phần trăm UTCTC. Tuy nhiên, dựa vào giả định về tiến trình của UTCTC, các nhà khoa học mô phỏng rằng vắc-xin có hiệu quả ngăn ngừa một phần lớn sự phát sinh UTCTC.

UTCTC do nhiều (hàng trăm) virus gây ra. Vắc-xin vừa đề cập có hiệu quả chống hai chủng virus 16 và 18, còn các chủng virus khác thì vắc-xin chưa có hiệu quả rõ ràng. Tuy nhiên, vì hai loại virus này chiếm khoảng 70% trường hợp UTCTC, nên vắc-xin vẫn được xem là có giá trị phòng chống ở qui mô cộng đồng.

Do đó, dù với hai hạn chế vừa trình bày, các giới chức y tế cộng đồng ở các nước tiên tiến như Úc và Mĩ vẫn xem chiến lược phòng chống UTCTC bằng vắc-xin là một phương án tốt, an toàn, và tích cực. Chính vì thế mà ở các nước này, các giới chức y tế đã phát động phong trào phòng chống UTCTC bằng cách khuyến khích thiểu niên (trước khi đến tuổi dậy thì) tiêm vắc-xin chống UTCTC.

Dựa vào bằng chứng khoa học!

Bất cứ chiến lược phòng ngừa nào cũng cần phải dựa vào bằng chứng khoa học, chứ không nên dựa vào những phát biểu cá nhân của các chuyên gia. Theo triết lí của y học dựa vào chứng cớ (evidence based medicine), ý kiến chuyên gia có giá trị khoa học thấp nhất, bởi vì các ý kiến này thường chịu ảnh hưởng của cá nhân và chi phối của cảm tính. Chỉ có kết quả nghiên cứu khoa học mới là kim chỉ nam cho hành động.

Ở nước ta chưa có một nghiên cứu lâm sàng nào và do đó chưa có bằng chứng nào cho thấy tầm soát ung thư, kể cả UTCTC, có hiệu quả ngăn ngừa ung thư hay kéo dài tuổi thọ cho phụ nữ. Thật ra, chúng ta thiếu rất nhiều dữ liệu nghiên cứu để có thể phát biểu một cách khách quan và khoa học. Các chuyên gia, các quan chức y tế có thể hi vọng và mơ tưởng, nhưng sự thật vẫn là sự thật: chúng ta chưa có bằng chứng tại Việt Nam (hay trên thế giới) cho thấy tầm soát UTCTC sẽ kéo dài tuổi thọ thực tế cho bệnh nhân. Thật ra, thực hiện một nghiên cứu như thế có khi ngoài tầm tay và kinh nghiệm của Việt Nam.

Có một số nghiên cứu qui mô từ nước ngoài cho thấy tầm soát ung thư có hiệu quả rất khiêm tốn trong việc kéo dài tuổi thọ cho phụ nữ; có nghiên cứu thậm chí còn cho thấy những người tham gia vào các chương trình tầm soát có tỉ lệ tử vong cao hơn người không tham gia vào các chương trình này!

Trong khi chúng ta chưa có bằng chứng về hiệu quả của tầm soát ung thư, thì chúng ta có bằng chứng về hiệu quả của vắc-xin. Nhưng hiệu quả của vắc-xin không phải áp dụng cho tất cả dạng ung thư mà chỉ cho một số dạng ung thư chính. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của phòng ngừa và cứu người, thì cho dù vắc-xin phòng ngừa tiền ung thư vẫn được xem là một biện pháp hứa hẹn để phòng chống bệnh ở quy mô cộng đồng.

Như đề cập ngay tử phần đầu, không nên nhầm lẫn về mục tiêu của tầm soát (vốn để phát hiện ung thư) và vắc-xin (là để phòng ngừa sự phát sinh của ung thư). Đối tượng chính của tầm soát ung thư là những phụ nữ cao tuổi, trong hay sau thời kì mãn kinh, tức những người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao; còn đối tượng của vắc-xin là thanh thiếu niên. Y đức không cho phép tầm soát UTCTC ở thiếu niên.

Vắc-xin có hiệu quả ngăn ngừa sự phát sinh tiền ung thư ở tuổi vị thành niên, nhưng một số phụ nữ dù không có tiền ung thư ở tuổi thiếu niên mà vẫn phát sinh UTCTC ở độ tuổi sau mãn kinh do đột biến gien. Ở những phụ nữ cao tuổi này, việc tầm soát cẩn thận có thể đem lại lợi ích cho một số người. Do đó, một chiến lược phòng chống UTCTC hữu hiệu phải phối hợp cả hai việc tiêm vắc-xin ở tuổi vị thành niên và xét nghiệm ở tuổi sau mãn kinh.

NVT

Wednesday, December 3, 2008

Khoa học chứng minh …

Hôm nay đọc báo VNN thấy có nhà khoa học nói rằng ông đã chứng minh [blah blah blah] làm tôi phân vân. Có bao nhiêu người lầm tưởng chuyện này? Chắc nhiều lắm. Thành ra, tôi phải viết vài hàng nhật kí để nhắc nhở rằng chuyện “chứng minh” không có trong khoa học thực nghiệm.

Chúng ta thường hay thấy câu “khoa học đã chứng minh rằng …” trong nhiều bài báo khoa học phổ thông hay trên hệ thống truyền thông đại chúng. Hai chữ “khoa học” phía trước hai chữ “chứng minh” như có tác dụng tăng trọng lượng cho một phát biểu mà người viết muốn chuyển tải đến người đọc. Cụm từ này được sử dụng để thuyết phục người đọc từ những vấn đề mang tính tâm linh như sự hiện hữu của Thượng đế, sự hiện hữu của cõi âm, đến các vấn đề mang tính thực dụng hơn như hiệu quả của thuốc men và an tòan thực phẩm. Một vài ví dụ tiêu biểu có thể thấy “chứng minh khoa học” được sử dụng như thế nào. Một bài báo trên tờ Khoa học Phổ thông cho biết “tác dụng của trinh nữ hoàng cung đã khoa học chứng minh”. Trên Lao Động, nhà báo viết về hiệu quả của trái gất như sau: “theo những chứng minh trong công trình này thì trong tiểu đường có hai phản ứng quan trọng ...”

Thật ra, chẳng riêng gì giới truyền thông đại chúng thích cụm từ “khoa học chứng minh”, mà ngay cả các cơ quan Nhà nước có chức năng quản lí khoa học cũng có xu hướng thích sử dụng “chứng minh”. Thông tư 08/2004/TT-BYT của Bộ Y tế (ngày 23/8/2004) về quản thực phẩm chức năng viết như sau:Đối với thực phẩm chức năng có chứa hoạt chất sinh học […] thì phải có báo cáo thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của sản phẩm hoặc tài liệu chứng minh về tác dụng của thành phần của sản phẩm có chức năng đó […]”.

Nhưng rất tiếc là những phát biểu trên đây thể hiện một sự hiểu lầm về thế giới tự nhiên và thực hành khoa học, hay sự nhầm lẫn giữa toán học và khoa học. Nói một cách ngắn gọn, trong khoa học không có khái niệm “chứng minh” một giả thuyết hay lí thuyết nào cả. Do đó, những phát biểu như vừa đề cập trên không phù hợp và cũng không có ý nghĩa khoa học.

Khái niệm chứng minh (proof) chỉ có trong toán học và logic học, chứ không có trong khoa học thực nghiệm. Toán và logic học bao gồm những mệnh đề khép kín, còn khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, mang tính kinh nghiệm (empirical) và quan sát những hiện tượng tự nhiên như chúng tồn tại. Tiêu chí số một và tiêu chuẩn để đánh giá một lí thuyết hay giả thuyết là bằng chứng, chứ không phải chứng minh. Bằng chứng có thể phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết. “Phù hợp” ở đây có nghĩa là có thể giải thích được giả thuyết. Nếu trong trường hợp có nhiều bằng chứng phù hợp với một giả thuyết, thì nhà khoa học cần đến phương pháp phân tích định lượng xem bằng chứng nào phù hợp nhất với giả thuyết.

Khái niệm chứng minh có hai đặc điểm mà khoa học không có: những chứng minh trong toán học mang tính kết thúc và có giá trị nhị phân. Một khi một định lí đã được chứng minh thì nó sẽ là một sự thật sau cùng, sự thật vĩnh viễn, không thay đổi trong tương lai (ngoại trừ có sai sót trong cách chứng minh mà người khác phát hiện). Chẳng hạn như định lí Pythagoras là một “chân lí” tiêu biểu đứng vững với thời gian. Nhưng trong khoa học, tất cả tri thức đều mang tính thử nghiệm và lâm thời, không có gì có thể nói là sau cùng. Trong khoa học, không có cái gọi là tri thức được chứng minh vĩnh viễn như là một sự thật. Một liệu pháp y khoa được xem là có hiệu nghiệm ngày hôm nay, nhưng có thể được đánh giá là vô hiệu nghiệm trong tương lai.

Kết quả chứng minh trong toán học có giá trị nhị phân. Một định đề hoặc là đã được chứng minh hoặc chưa được chứng minh. Một định đề đã được chứng minh đúng thì sẽ trở thành một định lí và tồn tại với thời gian; khi chưa được chứng minh định đề chỉ là một phỏng đoán (conjecture). Ngược lại, trong khoa học không có một phân định rạch ròi giữa có và không như toán học. Lí thuyết và giả thuyết khoa học không mang tính tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai. Để hiểu nhận xét này, có lẽ cần nhắc lại qui trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học như sau:

  • Bước 1: phát biểu một giả thuyết H;
  • Bước 2: thí nghiệm và thu thập dữ liệu D;
  • Bước 3: ước tính xác suất dữ liệu D phù hợp hay không phù hợp với H và quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H.

Thước đo sự phù hợp (hay có thể nói là đo lường cái “đúng”) cho một lí thuyết khoa học là xác suất. Do đó, vấn đề là mức độ phù hợp của bằng chứng với lí thuyết, chứ không có cái đúng hay sai tuyệt đối.

Nhà khoa học thực thụ không bao giờ (ngoại trừ lỡ lời) nói đến hai chữ “chứng minh”. Những ai nói đến “chứng minh” thì đó là dấu hiệu cho thấy họ không phải là nhà khoa học. Những người tin vào thuyết sáng tạo (Creationism) thường hay phê phán rằng thuyết tiến hóa của Darwin chỉ là “lí thuyết” chưa được chứng min (unproven theory). Điều này đúng, nhưng chỉ đúng phần đầu, còn phần sau thì sai: không có nhà khoa học nào nói đến chứng minh lí thuyết tiến hóa. Có điều những tín đồ của thuyết sáng tạo “quên” nói rằng tất cả các lí thuyết khoa học cũng chưa được (và không ai) chứng minh!

NVT

Tuesday, December 2, 2008

Bàn thêm về những “làng ung thư”

Tôi vẫn ngạc nhiên tại sao các tin tức về làng ung thư lần lượt xuất hiện trên báo chí, mà ngành y tế có vẻ quá dửng dưng, không vào cuộc gì cả. Bây giờ thì tôi biết tại sao họ không vào cuộc, vì họ cho rằng tử vong vì ung thư ở các làng như thế là … bình thường.

Trong bài viết mang tựa đề hoài nghi “Sự thật về làng ung thư Thạch Sơnđăng trên trang nhà của Tổng cục Môi trường, trả lời phỏng vấn của báo chí về làng ung thư Thạch Sơn (Phú Thọ), thứ trưởng Bộ Y tế Lê Ngọc Trọng nói: “tỉ lệ ung thư tại Thạch Sơn tương đương các tỉnh thành phía Bắc. Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.” Một chuyên gia ung thư khác (giáo sư Phạm Duy Hiển của bệnh viện K) thì cho biết: “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”. Có lẽ xuất phát từ đánh giá như thế của các quan chức, dù các làng ung thư lần lượt xuất hiện mà ngành y tế chưa có động thái nào để kiểm soát tình hình.

Nhưng rất tiếc là dữ liệu thực tế không phù hợp với những đánh giá trên của các vị quan chức! Tôi đã thu thập một số dữ liệu về các làng ung thư và trình bày trong bảng dưới đây. Theo nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia, ở nước ta cứ 100.000 dân số thì có 106 nam và 59 nữ tử vong vì bệnh ung thư. Áp dụng tỉ lệ này cho làng Thạch Sơn với dân số khoảng 7.000, chúng ta kì vọng sẽ có khoảng 6 người tử vong vì bệnh ung thư, nhưng trong thực tế ở làng này mỗi năm có 15 người chết vì ung thư. Nói cách khác, tỉ lệ tử vong vì ung thư ở Thạch Sơn cao hơn tỉ lệ quốc gia đến 2,6 lần! Như vậy, không thể nói rằng “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”.

Thật ra, số liệu mà tôi thu thập trong bảng dưới đây (rất có thể chưa đầy đủ) cho thấy ở bất cứ làng ung thư nào mà báo chí nêu, tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư đều cao từ 3 đến 9 lần so với tỉ lệ tử vong của cả nước. Chẳng hạn như làng Kim Thành (Nghệ An) chỉ 1.900 dân số, mà trong thời gian 7 năm có đến khoảng 100 người tử vong vì ung thư, và tỉ lệ này cao gấp 9 lần so với tỉ lệ của toàn quốc.

Tỉ lệ tử vong vì ung thư tại một số làng xã

Làng / xã (tỉnh)

Dân số (ước tính)

Số tử vong do bệnh ung thư mỗi năm

Tỉ lệ tử vong tính trên 100.000 dân

So sánh với tỉ lệ trung bình toàn quốc (1)

Thạch Sơn (Phú Thọ)

7.000

15

214

2,6 lần

Đông Lỗ (Hà Tây)

5.800

22

379

4,6 lần

Minh Đức (Hải Phòng)

?

67

?

?

Thổ Vị (Thanh Hóa)

1.700

80 (14 năm)

336

4,1 lần

Kim Thành (Nghệ An)

1.900

100 (7 năm)

752

9,1 lần

Khánh Sơn (Đà Nẵng)

760

10 (5 năm)

263

3,2 lần

Đại An (Quảng Nam)

1.140

33 (10 năm)

289

3,5 lần

(1) Tính trên tỉ lệ tử vong do nguyên nhân ung thư toàn quốc là 82.5 trên 100.000 dân số (nguồn: PH Anh, ND Duc. Jpn J Clin Oncol 2002;32:S92-S97).

Tôi cực kì kinh ngạc trước phát biểu “Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.” Trời đất! Ông thứ trưởng này đúng là gan cùng mình! Trong vài thập niên qua, đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh ung thư. Chỉ lấy vài trường hợp tiêu biểu:

  • Nghiên cứu ở nước láng giềng Trung Quốc cho thấy những cư dân sống trong vùng phải dùng nước giếng (khoan từ lòng đất) có nguy cơ mắc bệnh ung thư đường ruột cao gấp 2 lần so với nguy cơ trung bình trong dân số.
  • Nghiên cứu ở Nhật cho thấy nồng độ NO2 và SO2 trong không khí có ảnh hưởng đến sự phát sinh ung thư phổi.
  • Ở Mĩ, có nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị phơi nhiễm diesel có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cao gấp 1,4 lần so với nguy cơ trong dân số.

Cái mẫu số chung của các “làng ung thư” này là sự hiện diện của các nhà máy kĩ nghệ và xuống cấp môi trường. Cho dù hiện nay chưa có dữ liệu để kết luận mối liên quan giữa sự hiện diện các nhà máy này và ung thư, các nghiên cứu từ các cụm/làng ung thư ở Mĩ cho chúng ta biết rằng các chất sau đây làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư trong cộng đồng: arsenic, cadmium, chronium, nickel, asbestos, và benzene. Các chất hóa học này cũng giải thích tại sao cư dân thành phố và cư dân sống trong vùng gần nhà máy kĩ nghệ có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn cư dân trong các vùng nông thôn.

Nước ta đang trong quá trình độ thị hóa rất nhanh. Nhưng phát triển kinh tế nhanh thường kèm theo những hệ lụy về môi sinh và môi trường có ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Chúng ta nhìn sang Trung Quốc và đã thấy những tàn phá về môi trường, nhưng chúng ta chưa có giải pháp tránh những tàn phá như thế ở nước ta. Hệ quả là ngày nay rất nhiều sông rạch ở nước ta đang trong tình trạng ô nhiễm ở mức báo động. Chất lượng không khí ở những vùng kĩ nghệ và thành phố lớn cũng bị ô nhiễm ở mức báo động. Với những hóa chất có khả năng gây ung thư như vừa kể trên, không ai ngạc nhiên khi thấy tần suất bệnh ung thư trong cộng đồng càng ngày càng gia tăng. Hai thập niên phát triển kinh tế đã giúp nâng cao thu nhập cho người dân, nhưng e rằng cái giá về suy giảm chất lượng cuộc sống mà chúng ta phải trả vẫn chưa được cân đo đúng mức. Nếu không quan tâm ngay từ bây giờ, thu nhập kinh tế có thể sẽ không bù đấp được cho những hao hụt trong chi tiêu cho các dịch vụ sức khỏe.

Nền tảng của y tế dự phòng là: duy trì sức khỏe lành mạnh tốt hơn là mắc bệnh hay chết. Đó là tiền đề và cũng là cứu cánh của một nền y tế hiện đại. Phát biểu đó cần và đủ. Mỗi cái chết là một mất mát cho quốc gia. Sứ mệnh của ngành y tế là cứu người và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Nếu không hoàn thành sứ mệnh này thì không nên gọi là “y tế” làm gì.

NVT

Chữ nghĩa của sếp

Hồi sáng gặp bà AH làm về PR (public relations, hay nói nôm na là tuyên truyền) của Viện Garvan chúc mừng tôi được đề bạt. Tôi ngạc nhiên hỏi là sao bà biết được thì bà nói vừa được UNSW thông tin! Cái gì liên quan đến thông tin tôi thấy hình như trường UNSW cũng đòi nắm trong tay trước khi mình có! Bà này là người giúp tôi rất nhiều trong việc đối phó với báo chí Úc. Bà chỉ dẫn tôi cách trả lời cho các phóng viên truyền hình và cách đóng phim để họ quay phim. Nói chung, bà là một ân nhân của tôi, và có điều hay nữa là bà rất có cảm tình với người Á châu.

Qua bà AH tôi mới biết năm nay Viện Garvan tôi có hai người đươc đề bạt professor. Ngoài tôi ra, còn có một đồng nghiệp bên bộ môn ung thư là Liz Musgrove. Liz lớn hơn tôi gần chục tuổi, là một trong những công thần lâu đời nhất của Garvan, làm nghiên cứu ở đây từ những năm trong thập niên 1980s, tức trước tôi vài năm. Liz nổi tiếng với những công trình về cell apoptosis. Hôm nay, Garvan Institute of Medical Research vừa ra thông cáo nội bộ với lời bình luận của sếp viện trưởng John Shine như sau:

Two new Professors

The UNSW Academic Board met in late November and approved the promotions of Tuan Nguyen and Liz Musgrove to full Professor.

"It's becoming increasingly difficult to achieve full professorships these days," said John Shine.

"There are so many requirements to fulfil and people to convince. It's never guaranteed, no matter how impressive your academic achievements on paper."

Congratultions to both!”


Đại khái sếp nói thời bây giờ càng ngày càng khó để đạt chức danh professor, vì có quá nhiều yêu cầu phải đáp ứng và nhiều người phải thuyết phục. Không bao giờ có cái gì bảo đảm cả, bất kể thành tựu khoa bảng của bạn ấn tượng cỡ nào trên giấy tờ.

Cũng ngày hôm nay (1/12), tôi chính thức nhận được thư của Hiệu trưởng UNSW chính thức bổ nhiệm. Lần trước khi được đề bạt associate professor cũng có thư như thế này, nhưng họ viết chỉ có 2 đoạn văn. Còn lần này họ cho thêm … một đoạn văn. :-) Xin gõ lại để làm kỉ niệm, kẻo mai kia mốt nọ tôi quên. Dạo này tôi hay quên và hồ sơ chạy tùm lum cả.













PROFESSOR FREDERICK G HILMER, AO
Vice-Chancellor and President

28 November 2008

DOCTOR TUAN VAN NGUYEN
The Garvan Institute of Medical Research
The University of New South Wales


Dear Tuan,

I am very pleased to advise you that I have approved the recommendation of the Qualifications Committee that you be promoted to Professor of Medicine with effect from 1 January 2009.

You were recommended for promotion by your Faculty Promotions Committee, which itself shows the highest regard in which you are held by your peers, and I am happy to say this was endorsed by the University Promotions Committee.

Promotion to Professor at UNSW is a significant achievement, given the standard of scholarly work and effort reflected in the criteria. Please accept my warmest congratulations. I look forward to hearing more of your outstanding achievements in the years ahead.

Yours sincerely,


Fred G Hilmer
Vice-Chancellor


Tạm dịch:

Tuấn thân mến,

Tôi rất hân hạnh thông báo cho ông biết rằng tôi đã phê chuẩn đề nghị của Ủy ban Chức danh đề bạt ông lên chức Giáo sư Y khoa có hiệu lực từ ngày 1/1/2009.

Ông được Ủy ban Đề bạt của phân khoa đề nghị đề bạt. Qua nhận xét của các đồng nghiệp ông, Ủy ban bày tỏ lòng kính trọng cao nhất đối với ông, và tôi hân hạnh báo cáo rằng Ủy ban Đề bạt của trường cũng tán thành với những nhận xét đó.

Đề bạt lên chức Giáo sư tại UNSW là một thành tựu quan trọng, với những tiêu chuẩn về khoa bảng và nỗ lực được phản ảnh trong các tiêu chí đề bạt. Xin ông nhận nơi đây lời chúc mừng nồng hậu nhất của tôi. Tôi hi vọng sẽ nghe thêm về những thành tựu xuất sắc của ông trong những năm sắp tới.

Kính thư,


Fred G Hilmer
Hiệu trưởng



Cám ơn sếp! Hi vọng đây không phải là mẫu thư viết sẵn mà ổng chỉ điền tên vào. Nói đùa vậy thôi, chứ tôi nghĩ đây là thư cá nhân nên chắc sếp cũng không đến nỗi tiết kiệm chữ nghĩa lắm đâu.

Nhân dịp này, tôi xin thành thật cám ơn các bạn xa gần có lời chức mừng và hỏi thăm. Thật cảm động khi biết có nhiều người để chia sẻ buồn vui. Một lần nữa, thành thật cám ơn các bạn.

NVT

Monday, December 1, 2008

Làng ung thư: ngẫu nhiên hay lí do khác ?

Hôm nay đọc báo Tây thấy họ đề cập đến chuyện làng ung thư. Tựa đề bài báo “’Cancer village’ the dark side of Vietnam’s industrial boom” nói rằng hiện tượng làng ung thư là một mản tối của phát triển kĩ nghệ ở nước ta. Chắc khó có ai bất đồng ý kiến với nhận xét tổng quan này, nhưng chi tiết về dữ liệu mới là điều đáng bàn.

Bài báo cho biết dân số làng là 7000 người, nhưng trong năm qua đã có 15 người chết vì ung thư. Như vậy tỉ lệ là 0.21% (nhưng cách tính này không chính xác vì chưa xem xét đến độ tuổi của dân làng và độ tuổi của bệnh nhân tử vong). Tuy nhiên, năm 1999 chỉ có 3 người chết vì ung thư, và như vậy, con số tử vong tăng quá nhanh để phải có hành động. Cần nói thêm rằng trong bài báo trên VNN thì nói con số tử vong vì ung thư ở làng Thạch Sơn là 114 người.

Hiện tượng làng ung thư, hay nói theo ngôn ngữ dịch tễ học là “cancer cluster”, không phải là cái gì quá mới. Ở nước ngoài (như Mĩ chẳng hạn), hiện tượng các ca ung thư tập trung vào một địa phương nào đó cũng từng được ghi nhận trước đây. Người thì cho đó chỉ là ngẫu nhiên, người thì nói do môi trường và … lan truyền.

Vấn đề đặt ra về mặt dịch tễ học là: có phải số trường hợp ung thư ở làng Thạch Sơn là ngẫu nhiên hay không? Khi nào chúng ta “chứng minh” rằng con số đó không phải ngẫu nhiên thì chúng ta sẽ có lí do để nghiên cứu cẩn thận. Tôi suy nghĩ đến trả lời câu hỏi ngẫu nhiên bằng lí thuyết dịch tễ học. Gọi X là số ca tử vong vì ung thư ở làng Thạch Sơn trong một năm, thì theo luật phân phối nhị phân chúng ta có:

P(X = k) = C(n, k) p^k (1 – p)^(n-k)

Trong đó P(X = k) là xác suất số trường hợp chính xác bằng k, và n là dân số (n = 7000), và p là tỉ lệ tử vong vì bệnh ung thư trên toàn quốc. Bạn đọc nào biết R có thể tính toán dễ dàng.

Số liệu của Bộ Y tế thì hầu như vô dụng (y chang như số liệu thời bao cấp), nên tôi phải tìm trong y văn. May quá, có một nghiên cứu từ Hà Nội cho thấy tỉ lệ tử vong vì ung thư ở nam là 105.9 và nữ là 58.5 tính trên 100,000 dân. Nói cách khác, có thể tạm lấy p là khoảng 85/100,000 hay p = 0.00085. Trong năm qua có 15 người chết vì ung thư. Do đó, với n =7000, chúng ta có câu trả lời là (qua R):

p = dbinom(15, 7000, 0.00085)

p = 0.0008224785

Như vậy, xác suất có 15 người dân chết vì ung thư ở làng Thạch Sơn là chỉ 0.08%. Nói cách khác, đây không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Vì không phải ngẫu nhiên, nên tôi nghĩ các nhà dịch tễ học phải vào cuộc để tìm hiểu tại sao có quá nhiều người chết vì ung thư ở Thạch Sơn.

Cái khác giữa Ta và Tây là bên Mĩ các nhà nghiên cứu thực hiện điều tra dịch tễ học cẩn thận để xác định nguyên nhân, còn bên Ta thì hình như chẳng thấy giới chức y tế động móng tay nào! Không hiểu tại sao các quan chức y tế không chịu điều tra / nghiên cứu dịch tễ để hiểu tình hình. Tôi nghĩ đây là cơ hội lí tưởng để y khoa Việt Nam góp một tiếng nói trên trường quốc tế. Trong bài báo Tây này có đoạn nói dân làng Thạch Sơn thấy quan chức xuống làng lấy mẫu nước đi thử rồi họ chẳng nghe gì cả!

NVT

Sunday, November 30, 2008

Khoa học Việt Nam: cần cả số lượng và chất lượng!

Bác BTL mới viết một bài thú vị trên Diễn Đàn (Chuyện quê nhà), mà Vietnamnet đổi thành “Chấn hưng giáo dục: Chớ để số lượng đè chất lượng”. Không cần đọc qua bài viết tôi nghĩ ai cũng đồng ý với bác BTL là không nên xem nhẹ chất lượng để chạy theo số lượng. Trong bối cảnh trường đại học ở nước ta đang mọc lên như nấm, vấn đề chất lượng được đặt ra quá đúng lúc. Nhưng bài viết lấy câu chuyện số lượng và chất lượng bài báo khoa học để cảnh báo vấn đề số lượng và chất lượng đại học. Tôi e rằng lí giải như thế là thiếu thuyết phục. Thiếu thuyết phục bởi một lí do đơn giản: không có mối liên hệ gì giữa số bài báo khoa học và số trường đại học.

Những trường hợp gian lận khoa học mà bác ấy lấy làm ví dụ về mối liên hệ giữa số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học cũng không thuyết phục. Nếu lấy trường hợp nhà vật lí Jan Hendrik Schön công bố bài báo khoa học như cơm bữa để làm ví dụ về việc chạy theo số lượng mà xem nhẹ chất lượng (gian lận) thì chỉ mới có một mặt. Mặt khác nhà sinh học Hwang Woo-Suk hay William Summerlin (là bác sĩ về da [dermatologist] chứ không phải miễn dịch học như bác BTL viết) là những người không có nhiều bài báo khoa học và thành tích khoa học của họ cũng mõng (Gs Hwang Woo-Suk chưa có đến 30 bài), nhưng họ vẫn gian lận! Nêu ra điều này để biết rằng gian lận trong khoa học không tùy thuộc vào số lượng bài báo khoa học. Số lượng bài báo khoa học không phải là yếu tố giảm chất lượng khoa học. Thật ra, có bằng chứng cho thấy nhà khoa học công bố càng nhiều nói chung cũng chính là những người có nhiều công trình với chất lượng cao!

Tôi nghĩ trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta cần nâng cao cả hai phần số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học. Nâng cao số lượng ấn phẩm khoa học cũng là một cách cải tiến chất lượng khoa học.

Bức tranh lớn

Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn (citations) của những bài báo khoa học. Số lượng bài báo phản ảnh “sản lượng” nghiên cứu khoa học và mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu của một nước. Nhưng số lượng chỉ phản ảnh một phần của tình trạnh hoạt động khoa học, một khía cạnh khác cũng không kém phần quan trọng là chất lượng nghiên cứu khoa học, vốn chưa được quan tâm đúng mức. Gần đây có vài ý kiến cảnh báo không nên quá quan trọng số lượng mà quên phần chất lượng, vì một xu hướng như thế có thể tác động tiêu cực đến khoa học nước nhà.

Quan tâm đến chất lượng nghiên cứu khoa học không phải là một điều mới, nhưng ít ai định nghĩa cụ thể chất lượng là gì. Chất lượng nghiên cứu khoa học là một khái niệm phức tạp, bởi vì nó có liên đới đến ý nghĩa xã hội, triết lí, và đạo đức khoa học. Có người đề nghị hiểu chất lượng khoa học qua hai nghĩa: một bên là “ý nghĩ nội tại” của chuyên ngành, và một bên là “ý nghĩa ngoại tại” chuyên ngành. Đối với những người trực tiếp làm nghiên cứu khoa học chuyên ngành (tức là những người thiết kế và thực hiện công trình nghiên cứu) thì chất lượng của một công trình khoa học là giá trị khoa học của nó. Chất lượng khoa học trong trường hợp này là phản ảnh đánh giá của đồng nghiệp trong chuyên ngành, vá đó chính là ý nghĩa nội tại. Còn ý nghĩa ngoại tại đề cập đến tác động hay ảnh hưởng của công trình nghiên cứu đến xã hội và kinh tế.

Theo khái niệm chất lượng như vừa đề cập, thì việc đo lường chất lượng là một vấn đề rất khó khăn. Cho đến nay, vẫn chưa có một thước đo nào là hoàn hảo cả. tuy nhiên, giới khoa học dễ dàng nhất trí với nhau những thước đo tương đối khách quan là dựa vào chỉ số trích dẫn cho mỗi bài báo khoa học, hay trong trường hợp cá nhân thì thước đo là chỉ số H mà tôi đã có dịp giới thiệu trước đây.

Số lượng

Nước ta hiện nay có 38.217 giảng viên dạy đại học; trong số này có 303 giáo sư, 1805 phó giáo sư, 5643 tiến sĩ. Năm 2008, tổng số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế xuất phát từ Việt Nam là khoảng 910 bài, tức chưa đầy 10% tiềm năng của số lượng giáo sư và tiến sĩ! Ngay cả trong thưc tế có 70% các tiến sĩ giữ chức vụ quản lí cũng không thể nào biện minh được tình trạng yếu kém về năng suất khoa học như vừa trình bày.

Con số ấn phẩm khoa học ở nước ta chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 1/5 của Singapore. Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, 20 năm nữa, con số bài báo khoa học nước ta có thể chỉ 2500 bài, tức chỉ bằng phân nửa con số của Singapore hay 20% thấp hơn Thái Lan của năm 2008.

Tuy nhiên, so sánh tỉ lệ tăng trưởng trong thời gian 2004 đến 2008, năng suất khoa học Việt Nam có chiều hướng tích cực. Con số bài báo khoa học của Việt Nam trong năm 2008 phản ảnh một tỉ lệ tăng trường gần 2 lần so với năm 2004. Trong cùng thời gian này, Thái Lan tăng 78%, Mã Lai tăng 95%, và Singapore tăng 21%. Các nước như Philippines và Insonesia có tỉ lệ tăng trường khoảng 30 đến 40%

Phần lớn các ấn phẩm khoa học của Việt Nam là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Chỉ có khoảng 30% công trình là do tác giả người Việt Nam đứng tên đầu hay chịu trách nhiệm chính. Dù hợp tác khoa học là xu hướng toàn cầu, nhưng sự thật trên cho thấy chúng ta vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào ngoại quốc, và chúng ta có nguy cơ mất quyền làm chủ tri thức liên quan đến khoa học Việt Nam.

Chất lượng

Chẳng những số lượng thấp và chất lượng cũng không cao so với thế giới. Đại đa số các công trình nghiên cứu từ Việt Nam chỉ công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor) thấp, thậm chí những tập san địa phương như của Hàn Quốc và Nhật! Để đánh giá cụ thể chất lượng (vì trích dẫn cần thời gian) tôi chọn những công trình công bố trong thời gian 2000-2001. Có 675 bài báo khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế. Tổng số lần trích dẫn trong thời gian 2001 đến 2006 là 6576 lần ; do đó, chỉ số trích dẫn trung bình là 9,74 lần cho mỗi bài báo.

So sánh với các nước trong vùng cho thấy chỉ số trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so với Thái Lan (9,09), Singapore (9,26), Nam Dương (9,47) và Phi Luật Tân (9,33). Nếu dựa vào chỉ số RCI để đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ số RCI (0,59) cao nhất trong vùng. Ngay cả Trung Quốc hàng năm "sản xuất" trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27.

Tuy chỉ số RCI của Việt Nam cao hơn các nước trong vùng, nhưng vẫn còn quá thấp so với trung bình trên thế giới. Thật vậy, chỉ số RCI = 0,59 của Việt Nam cho biết chất lượng và tầm ảnh hưởng của các nghiên cứu khoa học Việt Nam thấp hơn mức độ trung bình trên thế giới khoảng 40%. Ở các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ và Tây phương, chỉ số RCI thường cao hơn 1 (cao hơn trung bình thế giới).

Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố . Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là "có ảnh hưởng". Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Do đó, nếu tính theo số lần trích dẫn trên 5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan. Tính trung bình, khoảng 42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là cao hơn số trung bình trên thế giới. Các ngành khoa học Việt Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học. Riêng hai ngành toán và kĩ thuật số lần trích dẫn không cao và có thể chẳng có ảnh hưởng gì lớn trên thế giới. Điều đáng quan tâm là 41% các bài báo về kĩ thuật từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố. Nói cách khác, có khá nhiều nghiên cứu từ nước ta hoặc là không được đồng nghiệp quốc tế quan tâm, hoặc không có giá trị đáng kể cho chuyên ngành.

Mối tương quan giữa số lượng và chất lượng

Một thực tế ở nước ta là nhiều trung tâm nghiên cứu và đại học Việt Nam chưa có văn hóa công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Thật vậy, rất nhiều nghiên cứu sinh chưa biết đến công bố quốc tế là gì, bởi vì một phần ngay cả người hướng dẫn luận án cũng chưa từng có kinh nghiệm công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế.

Do đó, chúng ta cần nâng cao số lượng ấn phẩm khoa học và chất lượng nghiên cứu khoa học. Theo tôi, cần phải trước mắt tập trung vào việc nâng cao số lượng trước để tạo một “văn hóa công bố quốc tế” trước, và sau đó là nâng cao chất lượng nghiên cứu.

Câu hỏi đặt ra là nâng cao số lượng có liên quan với chất lượng hay không? Câu trả lời ngắn gọn là: có. Phân tích số và chất lượng công trình nghiên cứu về ung thư của 19 nước Âu Mĩ cho thấy nước nào có nhiều công trình thường là những nước có nghiên cứu chất lượng cao (nhưng không phải tuyệt đối). Ở mức độ cá nhân, phân tích số lượng ấn phẩm của 26 nhà vật lí cấp giáo sư cho thấy người có nhiều ấn phẩm cũng thường là người có chỉ số H cao (xem Biểu đồ dưới đây). Chỉ số H là một thước đo chất lượng nghiên cứu khoa học cho một cá nhân. Các dữ liệu này cho thấy tuy có ngoại lệ, nhưng số lượng ấn phẩm khoa học thường đi song song với chất lượng nghiên cứu khoa học.

Biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa xếp hạng về số lượng ấn phẩm khoa học và chất lượng nghiên cứu khoa học của 19 nước Âu Mĩ (nguồn: Lawani, Scientometrics 1996;9:13-25). Biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa số lượng bài báo và chỉ số H (phản ảnh chất lượng nghiên cứu) của 26 giáo sư vật lí (nguồn: M Schreiber, Ann Phys (Leipzig) 2007;9:640-652).

Thật ra, điều này cũng không khó hiểu. Nghiên cứu khoa học là một quá trình tích lũy kiến thức. Khi sự tích lũy đến mức độ “critical mass” (đầy đủ thực lực) thì mới có thể cho ra một công trình có giá trị lớn. Rất hiếm có, nếu không muốn nói là chưa thấy trong khoa học thực nghiệm, ai đùng một cái cho ra một công trình có giá trị cao mà trước đó chưa bao giờ có công bố. Một nhà khoa học bình thường phải góp mặt trên trường quốc tế một thời gian, phải khởi đầu với những công trình trung bình (nếu không muốn nói là dưới trung bình) một thời gian rồi mới dần dần tìm ra một định hướng mới cho riêng mình và có đóng góp quan trọng.

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học là một đầu tư lâu dài. Nhưng không có nhà tài trợ (trong trường hợp Việt Nam là Nhà nước) cho nghiên cứu phải chờ đến 20 năm để cho nhà khoa học cho ra một công trình có giá trị lớn. Cũng không thể biện minh rằng vì cần có công trình có chất lượng cao nên nhà khoa học không cần công bố những nghiên cứu “tầm thường”, vì nói như thế là ... ngụy biện.

Bác BTL cho rằng nếu tập trung khuyến khích số lượng thì sẽ gây nguy cơ gian lận khoa học. Tôi e rằng ý kiến này thiếu tính thuyết phục. Thật ra, có thể lí giải ngược lại: chính những nhà nghiên cứu có ít bài báo khoa học nên phải cố gắng ngụy tạo số liệu để có công trình có chất lượng. Trường hợp của Hwang Woo-Suk là một ví dụ cho những người chạy theo hào quang bằng ngụy tạo trong khi không có thực lực. mặt khác, những người đã có nhiều công trình (số lượng), thì họ không có nhu cầu ngụy tạo mà cần nâng cao chất lượng khoa học hơn. Nhìn vấn đề theo cách này, số lượng là một động cơ để nâng cao chất lượng. Và, điều này phù hợp với dữ liệu thực tế mà tôi trình bày trên.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy gian lận khoa học và chất lượng khoa học có liên quan với nhau. Khó có thể lấy vài trường hợp gian lận trong khoa học để biện minh rằng không cần số lượng mà chỉ cần chất lượng, vì trong thực tế, gian lận khoa học xảy ra ở bất cứ nơi nào trong bất cứ thời đại nào và ở bất cứ ngành khoa học nào.

Nói tóm lại, trong bối cảnh Việt Nam, tôi nghĩ cần phải khuyến khích để nâng cao số lượng và cải tiến chất lượng nghiên cứu. Tôi cho rằng tập trung vào chất lượng để xem nhẹ số lượng là một xa xỉ trong tình hình hiện nay, trong khi cả hai phần này đều thiếu ở nước ta.

Chàng “lãng tử-kiếm khách”

Bài này có lẽ viết khá đầy đủ về Minh Phụng. Miền Tây, đặc biệt là An Giang và Vĩnh Long, là cái nôi của vọng cổ. Cũng như nhiều nghệ sĩ cải lương khác, Minh Phụng cũng xuất thân bần hàn.

Bài này có nhắc đến một số tuồng nổi tiếng do Minh Phụng diễn thời trước 1975. Tôi đã nghe và xem tất cả. Đúng như nhà báo này nhận xét, hình ảnh của Minh Phụng có lẽ là “kiếm khách lãng tử”. Rất tiếc tôi không còn cái server nào để upload bài Xin một lần yêu nhau do Minh Phụng và Lệ Thủy diễn xuất. Phải nghe bài này để thấy MP hát hay như thế nào.

NVT

http://www.phapluattp.vn/news/van-hoa/view.aspx?news_id=235556

NSƯT Minh Phụng: Chàng “lãng tử-kiếm khách” đã qua đời!

50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu... Trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương.

Sáng 29-11, Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Minh Phụng đã qua đời tại nhà riêng sau khi gia đình cố hết sức giữ gìn những hơi thở sau cùng cho anh trên đường đưa từ Bệnh viện Chợ Rẫy về nhà. Gia đình, đồng nghiệp, khán giả ngậm ngùi tiếc thương anh, mãi nhớ về một nghệ sĩ hào hoa trong hình tượng những “lãng tử-kiếm khách” lay động con tim khán giả...

Vẫn một tâm hồn nghệ sĩ đến phút cuối

Trên chiếc xe ca, người nhà vẫn cố sức bóp bóng hỗ trợ nhịp thở cho nghệ sĩ Minh Phụng nhưng việc ấy chẳng tỏ ra có tác dụng gì. Về đến nhà, anh đã hoàn toàn bất động.

Nghệ sĩ Kiều Tiên òa khóc, nhờ nghệ sĩ Lệ Thủy làm mặt cho chồng như một “tục lệ” trong giới nghệ sĩ. Giữa lúc ruột gan rối bời, thi hài chồng nằm đó, người nhà, bạn bè xúm quanh hỏi lắm chuyện cần, nghệ sĩ Kiều Tiên như giật mình, vội vàng chạy đi kiếm cái đầu tóc giả. Chị thổn thức: “Phải đội vô cho đẹp, ảnh sợ xấu lắm. Ảnh nói mình là nghệ sĩ, lúc nào khán giả cũng nhìn vô mình như tượng trưng cho cái đẹp”. Vừa thoa son, phủ phấn cho thi hài nghệ sĩ Minh Phụng, người bạn diễn ăn ý từng được mệnh danh là cặp đôi Bão biển trên sân khấu Kim Chung với mình, nghệ sĩ Lệ Thủy vừa nói như dỗ dành: “Rồi nè, đẹp rồi nè, ra đi tươi tắn nghe anh!...”.

Nghệ sĩ Kiều Tiên khóc, kể: “Anh Minh Phụng mất lần này một phần vì ảnh là nghệ sĩ, sợ xấu, sợ phải cưa chân. Cách đây nửa tháng, ảnh đau quá, gia đình mới đưa vào Chợ Rẫy. Bác sĩ nói phải cưa chân mới giữ được mạng sống nhưng ảnh không cho. Qua giới thiệu, gia đình đưa ảnh qua Bệnh viện Đại học Y Dược để một bác sĩ từ Pháp về chạy chữa theo cách khác. Mấy ngày gần đây ảnh đau quá, hôn mê, gia đình lại đưa ảnh vào Chợ Rẫy, quyết định cưa bớt một khúc chân bị hoại tử vì suy tim, suy thận để giữ mạng sống cho ảnh mà ảnh vẫn không qua khỏi. Ảnh đâu có muốn chết, ảnh vẫn mang tâm nguyện được sống thêm hai năm nữa để nhìn đứa con trai út lấy vợ mà...”.

Thẫn thờ, nghệ sĩ Lệ Thủy cho biết cách nay 10 ngày, khi chị vào thăm, nghệ sĩ Minh Phụng vẫn còn rất tỉnh táo. Anh vẫn đau đáu chuyện ca diễn, gặp gỡ khán giả. Anh hăng hái bàn tính với chị Tết này sẽ diễn nguyên tuồng Xin một lần yêu nhau. Anh nói lúc đang trên giường bệnh: “Tôi sẽ hát đến hơi thở cuối cùng. Căn bệnh suy thận hiện nay buộc tôi phải ba ngày trong tuần đến bệnh viện chạy thận nhưng tôi vẫn hết sức lạc quan vì bên tôi vẫn còn đồng nghiệp, khán giả yêu mến mình”.

Và thật, đúng là anh đã hát đến hơi thở sau cùng. Đêm 1-11, trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương. Còn năm 2005, khi vừa từ cõi chết trở về sau một lần thay tim, còn khá yếu, anh vẫn sóng đôi cùng các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy trên sàn diễn tạo nên những khoảnh khắc vừa mong chờ vừa thỏa lòng người xem...


Hình Minh Phụng chụp hôm 1/11/08 trong đêm nhạc của nghệ sĩ Ngọc Đáng

Nhớ mãi “áo vũ cơ hàn”...

Trong lòng khán giả cải lương hằng bao thế hệ, vở tuồng Tâm sự loài chim biển đã trở nên vô cùng quen thuộc. Thậm chí nhiều người còn có thể ngân nga một vài câu vọng cổ mô tả ngạo khí ngang tàng của một tay kiếm khách nghèo lang bạt nhưng trọng nghĩa, trọng tình có cái tên “Áo vũ cơ hàn”.

Sở dĩ “Áo vũ cơ hàn” có sức sống như thế là nhờ công không nhỏ của nghệ sĩ Minh Phụng. Anh đã thể hiện nhân vật bằng một giọng ca vừa khí khái, vừa u buồn, vừa tha thiết khiến người nghe rất dễ nhập tâm và dễ cảm. Và dĩ nhiên, trong cái dễ cảm, dễ nhớ của những nhân vật lãng tử-kiếm khách không thể thiếu sự hào hoa cùng những mối tình ngang trái. Minh Phụng thường rất thành công trong những vai diễn như thế với một vóc dáng sân khấu sáng đẹp, giọng ca hay trời phú và khả năng diễn được xem là vượt trội so với những nghệ sĩ được xếp hạng là “đào - kép ca” (khác đào - kép diễn) như anh.

Bây giờ những “Áo vũ cơ hàn” trong Tâm sự loài chim biển, Âu Thiên Vũ trong Xin một lần yêu nhau, Mộ Dung Thạch - Kiếp nào có yêu nhau, Trần Tự Tâm - Máu nhuộm sân chùa, hay một Mẫn Vân Lâu - Mùa thu lá bay mang nét lãng tử phong trần, si tình của nghệ sĩ Minh Phụng vẫn sống mãi cùng khán giả. Và bởi các nhân vật của nghệ sĩ Minh Phụng dễ nhớ, dễ cảm quá nên khi nghe ông sức khỏe suy kém, cần thay thận vào năm 2005, đã từng có một người hâm mộ tình nguyện tặng cho ông quả thận của mình...

Vinh quang đến từ cơ cực

Nghệ sĩ Minh Phụng sinh năm 1944 tại Chợ Gạo, Tiền Giang với tên thật là Ngô Văn Thiệu, còn tên khai sinh sau này là Nguyễn Văn Hoài.

Tuổi thơ cậu bé Thiệu trôi qua khốn khó trong gia đình có 10 người con. Từ bảy tuổi, hàng ngày cậu bé đã phải dậy từ 4 giờ sáng để phụ mẹ dọn gánh hàng nhỏ ra chợ bán. Còn nghề chính của Thiệu sau giờ đến trường là bán đậu phộng rang, chuối chiên giúp gia đình. Tuổi thiếu niên, nhờ giọng ca hay, Thiệu được nhạc sĩ Hương Huyền giới thiệu vào gánh hát Tân Đô và được ông bầu đặt nghệ danh là Tân Tiến.

Vai diễn đầu tiên của anh “kép con” Tân Tiến lại là vai một nhà sư già trong vở Bến tang thương. 17 tuổi, kép Tân Tiến đổi tên thành Minh Phụng ghép từ hai cái tên “Minh” và “Phụng” của con một người bạn thân. Từ đó, cuộc đời nghệ sĩ Minh Phụng trôi nổi hơn 10 năm qua hàng chục đoàn hát lớn, nhỏ với đủ dạng vai và cả cái nghề nhắc tuồng để kiếm sống.

Sự gian khổ và lòng kiên trì đã tôi luyện anh kép trẻ ngày một sáng giá hơn để lọt vào mắt các ký giả kịch trường. Từ những năm 1968, cái tên Minh Phụng bắt đầu được báo chí nhắc đến trên sân khấu Thủ Đô. Sau đó, được đoàn Kim Chung mời ký hợp đồng, cũng là lúc giọng ca chín muồi, nét diễn trở nên sắc sảo, từ cơ cực, nghệ sĩ Minh Phụng bắt đầu đón nhận vinh quang của một ngôi sao sân khấu. Cái tên của anh sánh cùng tên những cô đào hạng nhất thời bấy giờ như Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ... từ lĩnh vực băng đĩa ra đến sân khấu. 50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu...

NSƯT Minh Phụng mất lúc 7 giờ sáng 29-11. Nhập quan lúc 15 giờ ngày 29-11. Tang lễ được tổ chức tại nhà riêng, số 791/7D Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, TP.HCM. Lễ động quan lúc 6 giờ sáng 6-12, đưa đi an táng tại chùa Nghệ sĩ, TP.HCM.

Saturday, November 29, 2008

Minh Phụng

Hôm nay đọc một tin buồn: nghệ sĩ Minh Phụng qua đời. Theo báo chí thì MP sinh năm 1945, tức thọ 64 tuổi ta. So với tuổi thọ của người Việt Nam ngày nay, có thể nói sự ra đi của MP là sớm.

Có lần tôi viết rằng mỗi người Việt mình đều có một “cái quê” trong người, bởi vì suy cho cùng không ai mà không xuất phát từ quê. Với tôi, “quê” là cái làng nhỏ tí tẹo mà mình lớn lên. Mà, ở dưới quê thì không thể nào “thoát” khỏi âm hưởng vọng cổ được. Ở quê tôi, nhà cửa thường cất ven sông, nhà tôi bên này sông, còn nhà hàng xóm thì bên kia sông. Tôi còn nhớ hồi đó, trưa trưa là nhà hàng xóm mở radio để nghe vọng cổ, họ mở âm lượng lớn lắm, đến nổi tôi ở bên này mà cứ mồng một. Cái làn điệu vọng cổ đó nó đi vào mình chẳng biết từ lúc nào và trở thành một hành trang trong cuộc đời của mình.

Hồi xưa khi đi học trên tỉnh thành, tôi không dám nói mình thích vọng cổ vì sợ đám bạn nó chê mình là “dân cải lương”, và hai tiếng cải lương hồi đó đồng nghĩa với cái gì lạc hậu, quê mùa, hay nói như thời nay là “Hai Lúa”. Nhưng lớn lên tôi mới biết đó chính là làn điệu của mình, của dân tộc mình, thì hà cớ gì mình không tự hào mà lại dấu diếm. Tân nhạc là của người ta mình chỉ bắt chước mà thôi, mà bắt chước thì ngàn đời anh vẫn đi sau người ta. Thành ra, bây giờ tôi có thể ngẩng đầu cao nói: tôi thích cải lương, tôi thích vọng cổ.

Một trong những tiếng hát cải lương làm tôi mê hoặc là tiếng hát của Minh Phụng. Tiếng hát trong veo đó không thể nhầm lẫn với bất cứ tiếng hát nào đã chinh phục biết bao nhiêu người trong quê như tôi. Sau này vẫn có nhiều người bắt chước tiếng hát của MP, nhưng bắt chước thì làm sao bằng “bản gốc” được. Ngay cả sau này ra hải ngoại tôi vẫn sưu tầm mấy bài trước 75 của MP, và nay cũng có cả một kho cải lương.

Minh Phụng đương nhiên là một trong những giọng ca vàng của thập niên vàng của cải lương thời trước 1975. Tuy không phải là vua vọng cổ như Út Trà Ôn (không ai thay thế được ông này), nhưng Minh Phụng chắc chắn được rất rất nhiều người hâm mộ qua những tuồng cải lương nối tiếng một thời như Áo Vũ Cơ Hàn chẳng hạn. Hồi còn nhỏ thấy mấy kép diễn cải lương rất oai phong lẫm liệt, tay cầm kiếm, mặc quần áo như tướng như vua, rồi lại còn bay qua bay lại, tôi có thời mơ mình được … bay.

Hôm nay, thấy một người tài ra đi, tôi không khỏi ngậm ngùi cho tương lai của nghệ thuật cải lương ở nước ta. Thời bây giờ ít người trẻ -- có nhưng mà ít – đi xem cải lương. Nhiều nghệ sĩ than là không biết cải lương sẽ sống được bao lâu nữa, vì những nghệ sĩ vàng lần lượt ra đi hay sắp ra đi. Tôi thì theo thuyết “hết xuống lại lên”, tôi nghĩ cải lương sẽ có ngày cất cánh sau khi kinh tế ta khá lên và đời sống người dân ổn định. Đến lúc đó thì chắc Minh Phụng ở suối vàng có thể mỉm cười thấy hậu duệ của mình duy trì nền nghệ thuật dân tộc và rất độc đáo này.

NVT

http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n49/minhPhung.html

Minh Phụng

Tiểu Minh Tinh

Có ai đã từng nói “Nhân tài hay có những dĩ vãng phi thường”. “Dĩ vãng phi thường” ở đây không phải theo nghĩa người đó được may mắn sinh ra trong một gia đình quyền thế, dư thừa điều kiện theo đuổi tới cùng mọi đam mê, mà ngược lại, trong tận cùng của hố thẳm đen tối tương lai, họ vẫn miệt mài vươn tới mỗi ngày bằng tấm lòng đam mê và những giọt mồ hôi tập luyện khổ nhọc. Có lúc phải trả bằng vết bầm, bằng huyết lệ cho niềm khao khát của chính mình. Bị đánh, bị đập... vì không tiền mua được một tấm vé vào xem những tài năng, những thần tượng của mình, đành phải leo tường, xé rào... để được nhìn tận mặt, học từng lối nói, cách diễn, hoặc được nhìn chỉ một nụ cười của thần tượng đó ngoài đời thường.

Cậu bé Nguyễn Văn Hoài (nghệ sĩ Minh Phụng sau này) cũng bắt đầu từ những khởi điểm đơn độc đó. Nhà nghèo với mười anh chị em, ban ngày đi học, bốn giờ sáng phải dậy để ra chợ bán cá, bán khóm, bán bánh mì phụ đỡ Mẹ hiền. Nghề gì cực khổ nhất cậu bé cũng đã trải qua. Có khi sáng dậy tới trường Trương Công Định trễ, bị thầy giáo bắt quỳ dưới cột cờ, nước mắt chan hòa. Mỗi chiều đi học về, cậu bé còn phải đi bán phụ thêm đậu rang, bánh chuối... Thấy nhóm người nào họp lại hát ca cải lương tài tử, đàn địch um xùm là cậu buông mọi thứ để chúi người vào thưởng thức. Thấy thằng bé mặt mày đẹp trai, ngoan ngoãn… nhiều bác, nhiều chú cho vào ngồi ké nghe. Oâi tiếng đàn bầu, đàn kìm nghe ảo não nhưng tình tự làm sao. Và khi tiếng vọng cổ của chú Tư Xuân hàng xóm cất lên rồi dứt, cậu cùng bà con trong xóm vỗ tay rầm rầm. Cậu bé Hoài còn giỏi về ca tân nhạc. Lúc đó là thời của nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết với Trăng Rụng Xuống Cầu, Khúc Ca Ngày Mùa… được giới bình dân hát nguyên bản, hát đổi lời... ở mọi nơi mọi chỗ. Hoài hát giỏi, mặt duyên dáng… nên mỗi lần hàng xóm tổ chức “hùn” ăn cháo gà rồi sau đó trống kèn ca hát, cậu bé lúc nào cũng được mời trước nhất. Nhớ nhất là những ngày bán ế, người chung quanh biết tài hát hay của Hoài bèn nói “Mày hát đi, hát rồi tụi tao mua cho”. Thế là hát, và bán được thêm hàng.
Hoài có khiếu về nhạc, chỉ mười ba tuổi, nghe trên đài phát thanh nhà kế bên, cậu bé thuộc hết mấy bài ca của Thanh Hải, Hữu Phước hoặc của Uùt Bạch Lan, Uùt Trà Oân, các bài Gánh chè khuya, Tình anh bán chiếu, Tấn Quỳnh khóc bạn, Em bé bán trà... Cậu bé thuộc từng lời từng chữ bài ca nhuyễn nhừ hơn cả bài học hàng ngày. Những ngày trong trường Nguyễn Đình Chiểu của thành phố Mỹ Tho sắp nghỉ lễ, thầy giáo tổ chức văn nghệ ca hát giữa các em trong lớp với nhau, lúc nào Nguyễn Văn Hoài cũng là người đầu tiên được mọi người đề cử lên hát. Lúc này, buổi chiều đi học về, Hoài tranh thủ chạy ra sân banh quần vợt làm thêm nghề lượm banh, vì kiếm thêm tiền một phần, nhưng chính là để nhìn tận mặt cầu thủ kiêm danh ca Hữu Phước xách vợt vào sân. Thời đó, đầu thập niên 60, những tên tuổi Uùt Trà Oân, Hữu Phước... là những tên tuổi thần tượng lẫy lừng trong lòng cậu bé Hoài, và nếu được có cơ hội gặp gỡ ngoài đời dù chỉ là giây phút, quả là một hạnh phúc vô bờ.

Trong suốt thời gian được góp mặt, góp tiếng đó đây… cậu bé Nguyễn Văn Hoài may mắn quen được soạn giả Hương Huyền. Nhân cơ hội đoàn Tân Đô đang tập tuồng ở đình Điều Hòa, cậu ngỏ ý đi theo đoàn hát. Sau khi nhìn sắc vóc, diện mạo lẫn thử tiếng ca... soạn giả Hương Huyền vui vẻ đưa Anh đến gặp ngay ông bầu Công Tạo. May mà lúc này đoàn Tân Đô đang tập tuồng Bến Tang Thương cần vai một ông sư. Vai nhà sư này Anh không thích lắm nhưng miễn sao được lên sân khấu là hạnh phúc lắm rồi. Và buổi diễn đầu tiên của “nhà sư” Minh Phụng với vở Bến Tang Thương, Anh còn nhớ như in là tại rạp Viễn Trường (Mỹ Tho) năm 1962, lúc Anh vừa tròn 17 tuổi. Lúc đó, Anh đang quen với người bạn gái rất dễ thương, để lấy lòng nàng, Anh đặt nghệ danh đi hát cho mình bằng tên hai đứa cháu của cô bạn gái. Một người tên Minh, một kẻ tên Phụng... từ đó nghệ danh Minh Phụng theo Anh suốt 43 năm trời dài đăng đẳng.

Sau Tân Đô, cuộc đời đưa đẩy Minh Phụng đến với những đoàn hát nhỏ khác như Hoa Thảo – Hậu Tấn, rồi đoàn Thanh Phương. Phút giây Anh không thể nào quên với đoàn Thanh Phương là khi được giao vai chánh – dũng sĩ Ai Dũng Phương – một chàng trai Ai Cập – trong vở tuồng Bên Cầu Định Mệnh. Giọng ca lanh lảnh cao vút và nét đẹp trai của kép mùi Minh Phụng đã thu hút người đến xem tuồng này mỗi đêm càng nhiều.

Đầu năm 1964, Minh Phụng luân lưu về đoàn Quốc Việt, và thời gian ở đoàn này, Anh đã quen và yêu thầm cô đào hát Kiều Tiên. Có một cây viết văn nghệ kịch trường thuật lại sự kiện này như sau: “Hồi tuổi 20, tánh Minh Phụng nhút nhát, chỉ lén nhìn Kiều Tiên diễn trên sân khấu, vì Anh chuyên đóng vai lão, còn chị đóng vai đào; giỏi lắm chỉ dám hỏi thăm chuyện gia đình hoặc bàn bạc về vai diễn. Mưa dầm thấm lâu, tình yêu bén rễ. Năm đó chị 17 tuổi, tóc để ngang vai, nụ cười xinh xắn, nét mặt hồn nhiên… Minh Phụng yêu Kiều Tiên bởi tính thông minh, học đâu nhớ đó, thầy tuồng chỉ nói qua một lần là chị làm được. Đến cuối năm 1964, Anh được gánh đại bang Thủ Đô của ông bầu Ba Bảng mời về hát. Đối với một kép hát vô danh như Minh Phụng lúc đó, được bầu gánh đại bang mời là niềm tự hào. Không dám báo cho ai biết, vì nếu bầu của đoàn Quốc Việt biết sẽ làm khó làm dễ, anh lén trốn đi. Hôm đưa tiễn gặp nhau, Kiều Tiên khóc thật nhiều khi nghe anh hứa chừng nào nổi tiếng anh sẽ về cưới chị. Nhưng rồi lời hẹn thề giống như một cơn mưa. Những năm tháng phấn đấu với nghề hát, Minh Phụng đã có một mối tình khác trong khi chị Kiều Tiên vẫn ở vậy. Lúc đó, Anh không giấu được tâm hồn xao động mỗi khi có người nhắc đến Kiều Tiên, song hoàn cảnh và duyên số đã cuốn Anh đi đến cuộc hôn nhân với một người nghệ sĩ khác, và có 3 mặt con với cuộc tình này”.

Đến cuối năm 1964, sau khi rời đoàn Quốc Việt, một bước nhảy vọt khá xa khi tên tuổi kép Minh Phụng lọt vào mắt ông bầu Ba Bảng – chủ nhân đoàn Thủ Đô, một đại ban nổi tiếng ai ai cũng biết. Chỉ cần xuất hiện vài đêm trong vai chánh những vở Sầu Quan Aûi, Hoa Chiều Hương Muộn, Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, Mây Trôi Về Phương Cũ... tên tuổi Minh Phụng lên như diều gặp gió. Và tất nhiên, Anh sẽ là đích nhắm trên đường tìm tòi các tài năng của các ông bà bầu uy tín nhất lúc bấy giờ của các sân khấu cải lương miền Nam.

Thời điểm đó, đoàn Kim Chung của bầu Long tạo dựng được 5 đoàn, vừa hát ở Sài Gòn, vừa đi trình diễn ở các tỉnh miền Nam và Trung. Chỉ cần nhìn thấy sắc diện, và nghe làn hơi cao vút của Minh Phụng, không cần suy nghĩ, bầu Long đã hạ bút ký một hợp đồng dài hạn cho Anh. Các vai chánh đều giao cho Anh, và lần lượt Minh Phụng sánh vai cùng những người bạn diễn rất nổi tiếng như Uùt Bạch Lan (tuồng Trinh Tiết Một Loài Hoa), Mỹ Châu (Bích Vân Cung Kỳ Aùn), Diệu Hiền... và đến thời điểm 1970, khi đóng cặp với Lệ Thủy trong những vở Xin Một Lần Yêu Nhau, Kiếp Nào Có Yêu Nhau... tên tuổi Minh Phụng đã ở trên một đỉnh cao chót vót của nghệ thuật.
Trên mười năm làm mưa làm gió ở các sân khấu cải lương miền Nam, Minh Phụng đã tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trong các vở tuồng hương xa như Xin Một Lần Yêu Nhau, Hỏa Sơn Thần Nữ, Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Băng Tuyền Nữ Chúa… mà ấn tượng nhất là vai “Aùo Vũ Cơ Hàn” trong vở Tâm Sự Loài Chim Biển của soạn giả Yên Lang.

Năm 1976, mái ấm gia đình Minh Phụng tan rã bởi một vài biến cố cuộc đời. Minh Phụng tham gia đoàn Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An, soạn giả của những vở tuồng nổi tiếng Con Cò Trắng, Gánh Cỏ Sông Hàn… Thời gian này, Kiều Tiên cũng tình cờ được mời về gánh hát này và đến cuối năm 1977, hai người mới chính thức chung sống với nhau, và hơn một năm sau, bé Y Phụng ra đời.

Tính đến nay, đã suốt 43 năm rong ruổi trên con đường nghệ thuật miệt mài… để đánh dấu những kỷ niệm ân tình của tiếng hát Minh Phụng với khán thính giả hải ngoại, một đêm cải lương thật giá trị với sự góp mặt của các tài danh sân khấu cổ nhạc như Tài Linh, Cẩm Tiên, Châu Thanh, Tuấn Châu, Kiều Tiên… đặc biệt là sự xuất hiện bất ngờ của ngôi sao “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết cùng với Minh Phụng trong một trích đoạn ấn tượng bao lâu nay có tên Mùa Thu Lá Bay vào đúng 6 giờ chiều, Chủ Nhật ngày 11 tháng 12 năm 2005, tại nhà hàng Seafood Kingdom. Phần điều khiển chương trình sẽ do MC Trần Quốc Bảo và Anh Lê Bá Chư phụ trách.