Tuesday, January 1, 2008

Hiệu quả y tế của nón bảo hiểm

Bài này đã đăng trên Vietnamnet nhưng do nhu cầu biên tập nên họ làm ngắn đi. Đây là bản gốc với nhiều tài liệu tham khảo cho nghiên cứu thêm. Theo tôi đây là cơ hội lí tưởng để các bạn trong ICU làm một nghiên cứu bệnh chứng để tìm hiểu hiệu quả của việc đội nón bảo hiểm.

Theo thống kê của Bộ Y tế, tai nạn giao thông ở nước ta đứng hàng thứ 6 trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cao nhất trong dân số. Theo thống kê của Ngân hàng Á châu, mỗi ngày có khoảng 33 người chết vì tai nạn giao thông (tức khoảng 12.000 người chết hàng năm – số liệu năm 2006 của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Việt Nam), và con số này vẫn còn tăng nhanh theo tỉ lệ thuận với số xe gắn máy đăng kí. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm 2007, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy có 5.300 vụ tai nạn giao thông làm chết 4.700 người và bị thương nặng cho 4.100 người. Chi phí liên quan đến tai nạn giao thông chiếm đến 2% tổng sản lượng quốc dân (tức khoảng 1 tỉ USD)!

Số lượng xe cơ giới của Việt Nam chỉ <5% style=""> Có người chỉ ra rằng ngày nay con số người Việt Nam chết vì tai nạn giao thông thậm chí còn cao hơn con số tử vong trong thời chiến tranh! Đó chỉ mới tính đến tử vong, nhưng con số thương tật vĩnh viễn và hệ quả đến nền kinh tế còn nghiêm trọng hơn nữa.

Tai nạn giao thông và hệ quả y tế của tai nạn là một vấn nạn y tế công cộng ở nước ta. Không ngạc nhiên khi thấy vấn đề này được đưa lên chương trình nghị sự của Quốc hội và Chính phủ. Luật bắt buộc đội nón bảo hiểm đã được chính phủ ban hành từ ngày 15/12/2007. Đây là một luật rất cần thiết cho nước ta. Thật ra, tôi nghĩ đáng lẽ luật này nên ra đời lâu hơn nữa.

Tại sao bắt buộc đội nón bảo hiểm?

Nhưng cũng như bất cứ vấn đề gì, vẫn có những ý kiến “phản biện”. Tiêu biểu cho những ý kiến đó là bài viết mang tựa đề hơi giật gân “Tôi thưa thật với thủ tướng” của Tạ Thị Ngọc Thảo, được một trang web ở nước ngoài quảng cáo và phát tán. Bài viết được một số người không ưa đội nón bảo hiểm lấy làm tài liệu để phản bác luật đội nón bảo hiểm. Bài viết gồm một số ý kiến, theo tôi, rất xác đáng và thú vị, nhưng tiếc thay lại hàm chứa một số thông tin nhiễu và thậm chí ngụy biện.

Tôi thấy cách lí giải (hay nói đúng hơn là phê phán) của tác giả -- nhưng qua hình thức mượn lời nói của “những người đội nón bảo hiểm” -- về cụm từ mũ bảo hiểm khá thú vị. Lí giải thế này: “Gọi nón bảo hiểm là không đúng, vì chấn thương sọ não là chấn thương cái đầu của dân, dân tự chi tiền, dân tự nằm viện, chẳng ai trả tiền thay cho dân mà gọi là bảo hiểm.” Vâng, muốn hiểu thế cũng được, nhưng e rằng hơi ngụy biện. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa bảo hiểm như thế này: “Giữ gìn phòng ngừa tai nạn”. Nếu hiểu theo cách hiểu chuẩn này thì cụm từ mũ bảo hiểm (tôi quen gọi theo người miền Namnón bảo hiểm) cũng không có gì sai. Cá nhân tôi thì thấy cụm từ mũ bảo hộ có lẽ thích hợp hơn, vì bảo hộ có nghĩa là – vẫn theo Từ điển Tiếng Việt – “che chở không để bị hư hỏng, tổn thất”, rất đúng với mục tiêu thiết kể của nón. Tuy nhiên, tôi sẽ theo cách nói của đám đông và dùng nón bảo hiểm trong bài này.

Tác giả phàn nàn rằng một luật bắt buộc đội nón bảo hiểm như thế đáng lẽ phải hỏi dân trước rồi hãy ban hành. Điều này tôi chỉ đồng ý một phần, vì đối với một số chính sách y tế cộng đồng có thể đem lại lợi ích lớn cho cộng đồng, chính phủ không cần thiết phải tốn tiền đề trưng cầu dân ý hay tham khảo ý kiến dân để hoạch định chính sách. Các chính phủ ở các nước phương Tây không tham khảo ý kiến dân khi họ ra luật bắt buộc người lái xe ôtô phải thắt dây bảo hiểm, hay xét nghiệm nồng độ alcohol ngẫu nhiên, hay cho phép cảnh sát ngụy trang để bắn tốc độ, v.v… Tương tự, những chương trình y tế công cộng khuyến khích ngưng hút thuốc lá, hay chính sách tăng thuế bia rượu, vì có thể đem lại lợi ích cho nhiều người, chính phủ không cần phải tổ chức thăm dò ý kiến của dân để ban hành. Luật bắt buộc đội nón bảo hiểm có thể cứu nhiều người, và Nhà nước không nhất thiết phải tham khảo thêm.

Tạ Thị Ngọc Thảo cho rằng “đội nón bảo hiểm khi đi xe gắn máy là chuyện bình thường ở nước bạn, nhưng lại không bình thường của nước ta. Tại sao ư? Tại vì nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế xe gắn máy!” Đây là một loại ngụy biện. Ngụy biện thay đổi luận đề: một bên là nón bảo hiểm, và một bên là kinh tế, không có liên hệ gì giữa hai sự việc này. Mục tiêu số một của luật bắt buộc đội nón bảo hiểm là ngăn ngừa hay giảm tử vong. Tử vong có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế nào, chứ chẳng riêng gì “nền kinh tế xe ôtô bốn bánh” (mượn cách nói của tác giả “nền kinh tế xe gắn máy”).

Đứng trên quan điểm của y tế, phòng ngừa tử vong là nhiệm vụ số 1 của y tế dự phòng. Con người muốn sống hơn là muốn chết. Đó là dẫn nhập và cũng là kết luận của bất cứ một biện luận nào về y tế cộng đồng. Biện luận đó cần và đủ.

Do đó, đội nón bảo hiểm khi đi xe gắn máy và xe đạp cần được khuyến khích, trong bất cứ nền kinh tế nào, và ở bất cứ thành phần xã hội nào. Ở các nước tiên tiến, trẻ em khi lái xe đạp, dù ở bất cứ đường nào, kể cả trong công viên, đều phải bắt buộc đội nón bảo hiểm. Vấn đề ở đây không phải là nền kinh tế phát triển hay không phát triển, mà là tôn trọng và bảo vệ mạng sống con người.

Hiệu quả của nón bảo hiểm ?

Tạ Thị Ngọc Thảo viết tác dụng thật sự của việc đội nón chưa thuyết phục, và không phải ai cũng có sẵn tiền để mua nón”. Đây là một phát biểu cực kì sai lầm và thiếu cơ sở khoa học. Tôi rất ngạc nhiên khi tác giả viết ra câu này! Thật ra, có rất nhiều nghiên cứu trong vòng 20 năm qua cho thấy đội nón bảo hiểm chẳng những có hiệu quả giảm thương tật, mà còn giảm độ nghiêm trọng của thương tật, và quan trọng hơn là giảm nguy cơ tử vong.

Trong một nghiên cứu trên gần 3400 đối tượng đi xe đạp và xe gắn máy bị tai nạn, các nhà nghiên cứu so sánh nguy cơ bị chấn thương sọ não giữa nhóm đội nón bảo hiểm và nhóm không đội nón bảo hiểm. Kết quả cho thấy, đội nón bảo hiểm giảm nguy cơ bị chấn thương sọ não đến 69%, và nguy cơ chấn thương sọ não nghiêm trọng cũng giảm đến 74% [1]. Nghiên cứu này còn cho thấy nón bảo hiểm có hiệu quả trong tất cả độ tuổi và trong tất cả tình huống tai nạn, kể cả tai nạn liên quan đến xe ôtô 4 bánh. Ở trẻ em, đội nón bảo hiểm có thể giảm nguy cơ bị chấn thương sọ não nghiêm trọng đến 85% khi bị tai nạn giao thông [2].

Hai nhà nghiên cứu Anh phân tích số liệu về tai nạn giao thông trong 4 năm, sau khi chương trình bắt buộc đội nón bảo hiểm được triển khai, số trường hợp bị thương, kể cả chấn thương sọ não, nhập viện giảm từ 40% xuống còn 28% [3]. Sự thay đổi tích cực này được ghi nhận trong tất cả độ tuổi. Một kết quả như thế cũng được ghi nhận ở Úc và Tân Tây Lan [4,5].

Tại Đài Loan, luật đội nón bảo hiểm được ban hành từ tháng 6 năm 1997. Các nhà nghiên cứu Đài Loan phân tích số liệu tai nạn giao thông xe gắn máy trước và sau khi luật được ban hành, và thấy số ca thương tật giảm 33% (từ 5260 ca xuống còn 3535 ca). Họ kết luận rằng đội nón bảo hiểm có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong và nguy cơ thương tật cho những người lái xe gắn máy [6].

Gần nước ta hơn, một nghiên cứu chi tiết ở Thái Lan so sánh những người bị tai nạn đội món bảo hộ và không đội nón bảo hộ [7]. Số liệu từ 900 trường hợp tai nạn xe gắn máy ở Los Angeles và 969 tai nạn ở Thái Lan với 1.082 người lái xe được phân tích. Trong cả hai nghiên cứu, khoảng 20-25% người lái xe bị tai nạn nhập viện để điều trị, và khoảng 6% tử vong. Tính chung, nguy cơ bị chết ở những người không đội nón bảo hiểm cao gấp 2-3 lần so với người đội nón bảo hiểm. Ngoài ra, người không đội nón bảo hiểm có nguy cơ bị thương nghiêm trọng cao gấp 3 lần những người độ nón bảo hiểm.

Vì nón bảo hiểm có hiệu quả giảm mức độ nghiêm trọng của thương tật nên cũng có hiệu quả giảm chi phí điều trị. Số liệu thu thập từ các tai nạn giao thông ở Mĩ từ 1994 đến 2002 cho thấy tỉ lệ nhập viện ở những người không đội nón bảo hiểm là 78,6%, nhưng trong nhóm đội nón bảo hiểm tỉ lệ này là 73,3%. Chi phí điều trị cho mỗi trường hợp tai nạn không đội nón bảo hiểm là 39.390 USD, nhưng trong nhóm đội nón bảo hiểm chi phí này là 36.334 USD [8].

Ở nước ta, ngay từ khi luật đội nón bảo hiểm được áp dụng, số ca chấn thương do tai nạn giao thông lập tức giảm thấy rõ. Bệnh viện Việt Đức số bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đã giảm từ 40 ca/ngày năm ngoái xuống còn 30 ca/ngày chỉ sau 3 ngày luật được áp dụng. Ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh, báo chí cũng cho biết các ca chấn thương sọ não đã giảm rõ rệt sau khi luật đội nón bảo hiểm có hiệu lực.

Nên đội nón bảo hiểm!

Một số người ở các nước phương Tây, nhất là bên Anh, phản biện rằng các nghiên cứu mà tôi vừa trình bày tuy cho thấy đội nón bảo hiểm giảm nguy cơ tử vong và chấn thương sọ não, nhưng chưa thể chứng minh rằng đội nón thật sự có hiệu quả. Đây cũng là viện dẫn mà vài người ở Việt Nam dựa vào để chất vấn luật đội nón bảo hiểm. Nhưng lí giải hay viện dẫn này cực kì sai lầm. Sai là vì trong khoa học không ai có thể “chứng minh” một giả thuyết, mà chỉ có thể kết luận dữ liệu có nhất quán với giả thuyết hay không. Số liệu trong thời gian nhất quán với giả thuyết đội nón bảo hiểm có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong và chấn thương sọ não.

Một cách để biết hiệu quả của nón bảo hiểm là làm nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial). Theo mô hình này, chúng ta cho một nhóm đội nón bảo hiểm và một nhóm không đội nón bảo hiểm, rồi theo dõi một thời gian xem nhóm nào có nguy cơ chấn thương cao hơn (tức là cách làm theo mô hình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá hiệu quả của thuốc). Nhưng có ai dám làm một nghiên cứu như thế hay không? Y đức và đạo đức khoa học không cho phép chúng ta làm thử nghiệm như thế. Chúng ta không có cái xa xỉ để làm những nghiên cứu hàn lâm như thế. Điều này có nghĩa là một chính sách y tế cộng đồng đi một bước "nhảy vọt", phải dựa vào những nghiên cứu bệnh chứng (case-control) hay nghiên cứu quan sát. Dù giá trị khoa học các nghiên cứu này không cao, nhưng cũng cung cấp đầy đủ thông tin để can thiệp. Dù can thiệp có thể cứu sống chỉ 1 người, thì can thiệp đó đáp ứng hai tiêu chí cần và đủ.

Có người lí giải rằng đội nón bảo hiểm vẫn có thể bị chấn thương sọ não. Điều này đúng nhưng là kiểu lí luận một chiều (phiến diện), bởi vì người không đội nón bảo hiểm có nguy cơ chết cao hơn người đội nón bảo hiểm. Nón bảo hiểm có thể không hoàn toàn ngăn ngừa các tai nạn hay cứu sống người bị tai nạn (vì một số trường hợp tai nạn người lái xe chết do thương tật quá nghiêm trọng hay đội nón không đúng qui trình, hay nón thiếu chất lượng), nhưng nón bảo hiểm là một phương tiện cực kì hữu hiệu để giảm nguy cơ tử vong và chấn thương sọ não. Trong y học, như tôi đã nói, dù can thiệp chỉ để cứu 1 người cũng cần thiết và xứng đáng.

Chấn thương do tai nạn xe gắn máy chiếm khoảng 2/3 các trường hợp được điều trị trong ICU và chiếm 3/4 tử vong. Chấn thương sọ não nếu may mắn sống sót vẫn phải sống trong khó khăn và nhiều khi phải tùy thuộc vào sự hỗ trợ của thân nhân, gián tiếp làm ảnh hưởng đến năng suất kinh tế quốc gia. Giới y tế và hoạch định chính sách y tế cộng đồng có nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, và phải hành động dựa vào bằng chứng khoa học. Bằng chứng nghiên cứu từ hai thập niên qua cho thấy đội nón bảo hiểm có hiệu quả ngăn ngừa hoặc giảm nguy cơ chấn thương sọ não, giảm nguy cơ tai nạn nghiêm trọng. Do đó, việc Chính phủ ban hành luật bắt buộc người đi xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm là hoàn hợp lí.

Có lẽ đây là lúc lí tưởng để giới y tế tiến hành những nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh để biết được hiệu quả của việc đội nón bảo hiểm, và làm cơ sở cho các chính sách y tế cộng đồng sau này.

Chú thích:

[1] Thompson DC, Rivara FP, Thompson RS. Effectiveness of bicycle safety helmets in preventing head injuries. A case-control study. JAMA Vol. 276 No. 24, December 25, 1996.

[2] Thompson RS, Rivara FP, Thompson DC. A case-control study of the effectiveness of bicycle safety helmets. N Engl J Med 1989; 320:1361-1367.

[3] Cook A, Sheikh A. Trends in serious head injuries among cyclists in England: analysis of routinely collected data. BMJ 2000;321:1055.

[4] Scuffham P, Alsop J, Cryer C, Langley JD. Head injuries to bicyclists and the New Zealand bicycle helmet law. Accid Anal Prev 2000;32:565-73.

[5] Carr D, Skalova M, Cameron M. Evaluation of the bicycle helmet wearing law, in Victoria during its first four years. Melbourne: Monash University Accident Research Centre, 1995. (No. 76.)

[6] Chiu WT, Kuo CY, Hung CC, Chen M. The effect of the Taiwan motorcycle helmet use law on head injuries. Am J Public Health. 2000 May; 90(5): 793–796.

[7] Ouellet J, Kasantikul V. Motorcycle eelmet effect on a per-crash basis in Thailand and the United States. Traffic Injury Prevention 2006; 7(1): 49-54

[8] Eastridge BJ, Shafi S, Minei JP, Culica D, McConnel C, Gentilello L. Economic impact of motorcycle helmets: from impact to discharge. J Trauma. 2006 May;60(5):978-83.

1 comment:

Anonymous said...

Cho e gop y ty,

Vui long doc ky lai bài của TTNT.
Bai cua TTNT da bao gom y kien cua a.
Dung mang nang ly thuyet va nhung con so ben Tay ben Tàu.
Thuc te mot chut, chuyen do dang o Viet Nam.