Wednesday, January 9, 2008

Mười Đặc điểm của Phật giáo

Phật giáo là một hệ thống triết lí, rất khó mà hiểu hết hệ thống này. Càng có tuổi, càng đụng chạm với những vấn đề của sự chết và sự sống, về khoa học, sinh học phân tử, v.v... tôi càng thấm thía triết lí Phật giáo.

Tôi rất ấn tượng với câu "Làm sao em biết bia đá không đau" của Trịnh Công Sơn. Theo Phật giáo thì tất cả các sự sống đều có tri giác, đều biết đau. Bây giờ chúng ta biết rằng cây cỏ cũng biết đau (theo một nghiên cứu đột phá gần đây trên Science). Nếu xem đá là sự sống thì đá chắc cũng biết đau. Trịnh Công Sơn hoàn toàn có lí!

Nhưng đọc sao hết? Bài sau đây của HT Thích Trí Quang (một nhân vật từng có thời 'sóng gió' trong chế độ ông Diệm) rất ngắn gọn nhưng phản ảnh những nét chính của Phật giáo một cách đầy đủ. Xin giới thiệu các bạn.

NVT

======

Phật giáo như ánh sáng mặt trời mà nhìn ánh sáng ấy, chúng ta chỉ có cặp mắt nhỏ hẹp. Tuy nhiên một là tất cả, chúng ta có thể căn cứ một vài điều sau đây mà biết tất cả đặc điểm của Phật giáo.

Thứ nhất, đặc điểm của Phật Giáo là “In như sự thật”: Lý thuyết, phương pháp cùng kết qủa đều hợp lý, đều như thật. Phật Giáo không chen chủ quan của mình vào trước hay trong khi suy nghiệm sự thật, và chân lý của đạo Phật là lời kết luận sau sự suy nghiệm chung thực ấy. Đạo Phật chỉ thấy và chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt. Đạo Phật, nhân đó, cấm đoán những tín ngưỡng và những hành động không phát sinh từ sự hiểu biết như thật, luôn theo, đạo Phật không công nhận những kết qủa của tín ngưỡng mê mờ, hành động manh động là hợp lý. Cho nên đạo Phật cũng gọi là Đạo Như Thật.

Đặc điểm thứ hai là “tôn trọng sự sống”. Không sát sanh, ăn chay, là những điều tượng trưng cụ thể cho đặc điểm ấy. Đạo Phật xem sự sống trên tất cả. Hết thảy cái gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ sự sống ấy. Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội mà vì tham sống nên hại sự sống cũng là vô minh. Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau để sống còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống, nghĩa là có khi tiêu cực như ăn chay để cứu muôn loài, có khi tích cực như “thay khổ cho chúng sanh” để cứu vạn loại. Đạo Phật đặc biệt chú trọng và nêu cao chủ nghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn trọng sự sống.

Đặc điểm thứ ba của đạo Phật là chỉ thừa nhận sự “tương quan sinh tồn”. Đạo Phật dạy cho người ta thấy ở đời phải tự lập chứ không thể biệt lập. Phật tử không thấy, không tạo nên một đối phương. Vũ trụ là một lò tương quan; không có gì là trung tâm, không có gì là phụ thuộc, hay là ngược lại. Bởi thế cho nên phân ly là tự tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ là tương đối. Chiến đấu phải là một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc dĩ phải áp dụng trong trường hợp bất đắc dĩ. Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự tuyệt đối cần thiết trong mọi trường hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến tranh.

Đặc điểm thứ tư của đạo Phật là xác nhận “người là trung tâm điểm của xã hội loài người”. Đạo Phật không nói duy tâm, không nói duy vật, mà tất cả đều do người phát sinh và đều phát sinh vì người. Kết luận này thật tế ở đâu cũng rõ rệt cả. Trên thế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt động của con người tạo thành. Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả. Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người dã man hay văn minh. Người là chuá tể của xã hội loài người, xã hội loài người không thể có chúa trời thứ hai.

Đặc điểm thứ năm là đạo Phật chú trọng “đối trị tâm bịnh con người trước hết”. Lý do rất dễ hiểu. Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xã hội ấy tiến hoá hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt động con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội là phản ảnh trung thành của tâm trí con người. Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo con người, cải tạo tâm bịnh con người. Tâm bịnh con người nếu còn độc tài, tham lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bịnh con người được đối trị rồi thì hoạt động con người rất sáng suốt mà xã hội con người, kết qủa của hoạt động ấy, cũng rất cực lạc.

Đặc điểm thứ sáu, mục đích đạo Phật là “đào luyện con người thành bi, trí, dũng”. Bi là tôn trọng quyền sống của người khác. Trí là hành động sáng suốt lợi lạc. Dũng là quyết tâm qủa cảm hành động. Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn ác và manh động. Trí không có bi và dũng thì sẽ thành gian xảo và mộng tưởng. Bi không có trí và dũng sẽ thành tình cảm và nhút nhát. Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí thức tiến hoá, dũng là năng lực tiến hoá. Con người như thế là con người mới, căn bản của xã hội mới.

Đặc điểm thứ bảy của đạo Phật là “kiến thiết một xã hội mới” mà căn bản là con người mới. Cho nên tranh đấu cho xã hội mới ấy, trở lại vấn đề, là phải chiến thắng chính mình trước hết. Con người tự chiến thắng con người, nghĩa là cái “nhân cũ” (bóc lột, đàn áp, độc tài, xâm lược) không còn nữa, thì kết qủa được cái “qủa mới” là một xã hội mới. Trong xã hội ấy, quyền sống tuyệt đối bình đẳng như sự sống: bình đẳng trong nhiệm vụ, bình đẳng trong hưởng thụ.

Đặc điểm thứ tám của đạo Phật là “tiến lên vô thượng giác”. Đào luyện một con người mới, kiến thiết một xã hội mới rồi, không phải mục đích của đạo Phật cứu cánh ở đó. Cao xa, đạo Phật còn hướng dẫn con người tiến dần lên chóp đỉnh của sự tiến hoá là địa vị vô thượng giác, địa vị vô minh toàn diệt, trí tuệ toàn giác, địa vị Phật đà.

Đặc điểm thứ chín là đạo Phật dạy phải “tự lực giải thoát”. Đấy là một tinh thần tuyệt đối cần thiết. Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫn đạo con đường sáng cho chúng ta. Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ của mình mà soi đường, phải tự động cặp chân năng lực của mình mà đi. Con người mới là phải tự rèn luyện; xã hội mới là phải tự kiến thiết; vô thượng giác là phải tự tu, tự chứng. Tự lực giảì thóat là con đường duy nhất của mười phương các đức Phật Bồ-Tát. An lạc không phải cầu xin, trí giác không do cầu hồ. Một điều nữa, nước trong bản chất là nước đục, hoa sen không mọc trên cát vàng, cho nên người đạo Phật phải tự lực giải thoát ngay trong cảnh giới đau khổ mê muội. Lánh ngoài thế gian đau khổ để tìm giác ngộ, thì kinh dạy, đó là đi tìm sừng con thỏ. Phật tử không có đứng vào hàng ngũ thông minh mà phải hướng về lớp người ngu dốt dìu dắt họ. Hoa Đàm muôn thưở người ta chỉ tìm thấy trong ao bùn, tuệ giác vô thượng chỉ có bởi chúng sanh.

Đặc điểm thứ mười của đạo Phật là “hiện chứng thể nghiệm”. Đức Phật chỉ hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đem quay phim cho người thấy được. Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải là thứ ai dạy khôn cho ai. Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thể nghiệm. Sự tự lực thể nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thóat mà thôi, mà còn đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng. Thế nào gọi là sự hiện chứng? Ví dụ con đường đi đến Mai thôn có mười đoạn. Người đi không ham, không thể ham nhảy vọt đến Mai thôn mà không qua mười đọan đường, mà phải đi từng bước, bước từng đọan, được một đọan là đến Mai thôn một đọan. Con đường vô thượng giác cũng vậy, nương theo lời Phật chỉ dẫn, ta phải bước từng bước, hiện chứng đến đâu thể nghiệm chân lý đến đó, cho đến khi toàn giác. Đức Phật tạo cho ta cái thang, nhưng không kéo dàn hoa xuống hay đẩy thẳng ta lên được. Ta phải tự lực mà trèo từng nấc thang lên dàn hoa chân lý. Trèo được nấc nào là tự thể nghiệm chân lý nấc ấy. Đối với chân lý chưa hiện chứng, chúng ta chỉ nói học, không nói biết. Tinh thần tu chứng đạo Phật là thế.


Do tất cả đặc điểm trên đây, chúng ta thấy đạo Phật không phải chỉ là một tôn giáo. “Đạo Phật là tất cả”, đó là một đặc điểm vừa cuối cùng vừa trước hết của đạo Phật. Cho nên Phật tử không thực hành đạo Phật bằng cách để hoạt động của mình một phần chính vào sự lễ bái, cầu nguyện. Phật tử thực hành đạo Phật là áp dụng vào đời sống, áp dụng vào tất cả mọi hoạt động. Căn bản của đạo Phật là như thật, tinh thần đạo ấy là bi, trí, dũng. Sống trong căn bản và tinh thần ấy, Phật tử tự nhiên không thể không phủ nhận sự tàn sát, sự manh động và sự nô lệ. Cho nên họ phải tự lực hành động để thượng thượng năng tiến. Và hành động ấy không có lãnh vực trong không gian, không có giới hạn trên thời gian, không có phạm vi trong tổ chức, không có khu phân trong trường hợp. Ở đâu và lúc nào, với ai và cảnh nào, Phật tử cũng áp dụng căn bản và tinh thần bi, trí, dũng của đạo Phật vào để tác động và chi phối, hầu tạo thành một thế giới tịnh độ. Cho nên đạo Phật bao trùm tất cả. Nói ngược lại, tất cả có tinh thần đạo Phật mới tốt đẹp.

Hoà Thượng Thích Trí Quang

(Source: Báo PHẬT GIÁO HẢI NGOẠI - Số 17, năm 1999 - Phật Lịch 2543)










1 comment:

Việt Nam - Tổ Quốc Tôi said...

Xin mượn blog này giới thiệu đến các bạn tiểu truyện tự ghi của
"một nhân vật từng có thời 'sóng gió' trong chế độ ông Diệm".

Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.

Sinh chính quán của tôi là làng Diêm điền, thuộc khu vức phía tây sông Nhật lệ, nằm phía bắc con đường cái quan nối liền cổng Quảng bình, trung tâm thành phố Đồng hới, đến tận cửa Vũ thắng, ven chân dãy núi Hoành sơn. Cả làng gốc Bắc, có lẽ di cư thời kỳ tiếp thu đất sính lễ công chúa Huyền Trân, giọng nói đặc biệt, không như cả vùng Quảng bình gốc Nghệ tĩnh. Gia đình theo Phật từ đời cố. Cha pháp danh Hồng nhật, mẹ pháp danh Hồng trí, cùng là đệ tử của ngài Đắc ân, Quốc ân tự, Huế, nguyên người Đức phổ, đồng hương mẹ tôi. Cha tôi từng là nhân viên mật của 1 trong 2 quân thứ Phan Đình Phùng ở Quảng Bình.

Tôi sinh giờ thìn, ngày 14.11 Quí Hợi 2467 (31.12.1923). Xuất gia vào giờ giao thừa vía đức Di lạc năm bính tý 2480 (1936). Bổn sư là ngài Hồng tuyên, đồng sư với cha mẹ tôi, sáng lập và trú trì Phổ minh tự, nơi được kể như tổ đình của Phật giáo Quảng bình mà ngày nay hầu như không còn gì.

Xuất gia 1 năm, năm sau đinh sửu 2481 (1937) tôi nhập học Phật học viện của Tổng trị sự hội Phật học, Huế. Thân giáo sư là ngài Trí độ, trưởng giả Tâm minh Lê đình Thám cũng như là 1 vị giáo sư nữa. Ngài Trí độ thọ giáo với ngài Phước tuệ, Thập tháp tự, Bình định, thọ Bồ tát giới với ngài Đắc quang, Quốc ân tự, Huế - 2 ngôi chùa này cùng do ngài Nguyên thiều, vị Tổ khai sơn Phật giáo Nam hà thời Trịnh Nguyễn phân tranh, sáng lập.

Nhập học Phật học viện từ năm 2481 (1937) đến năm 2487 (1943) thì có 1 kỳ thi khác thường. Phật học viện có học trình 10 năm: 3 năm sơ đẳng, 3 năm trung đẳng, 2 năm cao đẳng, 2 năm siêu đẳng. Mỗi năm có một kỳ thi, đề tài lấy trong kinh sách đã học năm đó. Kỳ thi 2487 (1943) là tất nghiệp trung đẳng, đột nhiên có quyết định thi hết kinh sách đã học từ năm ấy trở lui. Có vài môn thi vốn không học như thi viết luận Hoa văn, thi nói Nghi lễ mà các điệu tán là chính. Viện cho biết thi tuyển sẽ khó khăn, và trúng tuyển kỳ thi này là trúng tuyển tất nghiệp. Học trình 2 năm cao đẳng và 2 năm siêu đẳng sẽ dồn lại làm một và không thi nữa. Kỳ thi này tôi có số điểm cao nhất. Và 2 năm sau, ất dậu 2489 (1945) tại Đại tòng lâm Kim sơn, cách 1 con sông sau chùa Thiên mộ, cơ sở mới của Phật học viện, lễ tất nghiệp được tổ chức, chỉ vài ngày trước ngày Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông dương.

Sau kỳ thi 2487 (1943), Phật học viện tổ chức lễ phát nguyện thọ Sa di giới do ngài Đắc quang chứng minh, ngài Trí độ cho mỗi người 1 pháp hiệu với chứ Trí đứng đầu. Cái tên Trí quang có từ đó. Mùa hè năm ấy, ngài Hồng tuyên chính thức cho tôi pháp danh Nhật quang, pháp tự Trí hải, lại tập chúng cử tôi làm Trú trì chùa Phổ minh. Mùa hè 2489 (1945), sau khi làm lễ tất nghiệp, tôi về Phổ minh thì đến Vu lan xảy ra Cách mạng tháng tám. Giao thừa vía đức Di lạc năm sau, bính tuất 2490 (1946) ngài Hồng tuyên tổ chức truyền thọ Tỷ kheo giới và đắc pháp cho tôi với hiệu Thiền minh. Mùa xuân năm ấy, lần đầu tiên, tôi thảo đề án thống nhất Phật giáo VN, kèm theo 1 hiến chương cũng được dự thảo, gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đường bưu điện. Nhưng mùa hè năm ấy, ngài Trí độ được Phật giáo Bắc mời ra lập Phật học viện. Tôi cũng được mời đi với ngài. Khi ra Quán sứ, việc đầu tiên là thầy Tố liên cho tôi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh có mời thầy và trao đề án nói trên. Nhưng lúc bấy giờ đang tiến hành thành lập Phật học viện nên chưa ai có thì giờ và cơ hội làm gì về đề án đó.

Phật học viện của Phật giáo Bắc thành lập cũng khá qui mô, đặc biệt tuyển sinh chu đáo, trên 1 tháng mà đã khai giảng được 2 lớp chính. Tăng ni tu học thật đáng trọng. Nhưng không mấy chốc mà đến tháng 9 kháng chiến toàn quốc. Tôi về quê nhà Quảng bình, có tin chắc chắn Pháp sẽ đổ bộ nên mồng 8 tháng 2 năm sau, đinh hợi 2491 (1947), tôi xin ngài Hồng tuyên truyền thọ Bồ tát giới. Bấy giờ đang tản cư, người chạy giặc, đồ dấu giặc, nên 1 thầy 1 trò trước bàn Phật chỉ còn tượng ngài với bát nhang mà thôi, ngài Hồng tuyên truyền thọ Bồ tát giới cho tôi, với lời kết thúc buổi lễ như vầy: Nguyện rằng đời đời kiếp kiếp tôi với thầy được làm thầy làm bạn với nhau, truyền thọ cho nhau Bồ tát giới của Phật.

Thọ Bồ tát giới rồi, không đầy 1 tháng sau Pháp đổ bộ Đồng hới, tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bệnh nặng, 4 anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ 3 tử trận 1 tuần sau ngày Pháp đổ bộ, 2 người thứ 1 và thứ 4 ở xa, tôi ở gần nhà nhất nên phải về nuôi mẹ. Hôm tôi về đúng vào ngày 23 tháng 10, mãn tang cha tôi mất từ năm ất dậu. Năm sau, mậu tý 2492 (1948), tôi vào Huế, giảng dạy cho Phật học viện Báo quốc. Năm sau nữa, kỷ sửu 2493 (1949), lần đầu tiên có quyết định Tăng sĩ đảm nhận Tổng trị sự hội Phật học, thầy Đôn hậu hội trưởng, tôi phó. Cuối năm ấy, lần đầu tiên tôi vào sài gòn, ăn Tết canh dần 2494 (1950) tại đây. Dịp này cũng làm được vài việc : chung sức vận động hợp nhất 3 Phật học đường Liên hải, Mai sơn và quang (sau đổi Ấn quang), thành lập Phật học viện Nam Việt, lại chung sức vận động thành lập hội Phật học Nam Việt. Rồi về Huế, làm chủ bút tạp chí Viên âm tái bản. Cuối năm ấy bắt đầu vận động thống nhất Phật giáo VN, có 1 phần do kích thích tố Phật giáo đồ thế giới hữu nghị thành lập tại Tích lan. Phật đản tân mão 2495 (1951), Đại hội Phật giáo Toàn quốc, gồm 2 tập đoàn Tăng sĩ và cư sĩ của 3 miền, họp tại Từ đàm, Huế, và Tổng hội Phật giáo VN được thành lập. Nhưng Tổng hội này gặp đủ thứ ma chướng: trong nhà có 3 tập đoàn thiếu hoan hỉ, ở ngoài thì chính quyền Trần Văn Hữu làm khó, chính quyền Nguyễn văn Tâm sau đó càng làm khó hơn ; bảng hiệu văn phòng bị hạ, ngài Hội chủ Thích Tịnh Khiết bị buộc nạp khuôn dấu, nhân viên quản trị Trung ương người phải lánh, người bị tù. Tôi mạo hiểm nắm việc. Sau 1 năm xuôi ngược, đầu năm quí t497 (1953), Tổng hội được thừa nhận - và đúng 10 năm sau, chính Tổng hội này là chủ chốt trong Pháp nạn quí mão 2507 (1963). Trong khi vận động cho Tổng hội Phật giáo VN được thừa nhận, có sự đề phòng không thành nên Giáo hội Tăng già Toàn quốc được thành lập bởi 3 tập đoàn Tăng sĩ của 3 miền, họp tại Quán sứ, Hà nội, năm nhâm thìn 2496 (1952).

Giáp ngọ 2498 (1954), kháng chiến chống Pháp kết thúc. Miền Nam ông Ngô đình Diệm đứng ra. Việc này được biết rõ khi hội nghị Genève sắp kết thúc. Lần chót, trước khi Nam Bắc phân cách, mẹ con tôi đã nói chuyện với nhau khá nhiều. Rốt cuộc mẹ tôi bảo, vậy là miền nam " quạ lang" vẫn hoành hành! Thôi thì con đi mà lo báo bổ cho Phật. Tôi đi, và ất mùi 2499 (1956) nhận chức vụ hội trưởng Tổng trị sự hội Phật học, vận động đổi tên Phật học ra Phật giáo, đưa Tổng hội Phật giáo VN vào đặt trụ sở ở Sài gòn. Rồi nghỉ việc cho đến quí mão 2507 (1963) nhận lại chức vụ nói trên. Với chức vụ này, Phật đản năm ấy tôi phát động, và chung sức lãnh đạo, việc chống chế độ Ngô đình Diệm.

Ông Ngô đình Diệm muốn Thiên chúa giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng giám mục Ngô đình Thục làm Hồng y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên chúa nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn Văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật giáo. Chương trình tú tài C thì đổi ra toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm 1 bằng ban D với cổ ngữ la tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở 1 nơi cùng 1 lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan hủy bỏ ngày Phật đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên chúa giáo cũng gấp đôi Phật giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với Phật giáo. Rồi sửa điện Thái hòa của hoàng thành Huế thì có lưỡng long mà không có nhật nguyệt để phòng cắm thánh giá. Mọi việc xuôi xả thì tòa Hồng y giáo chủ sẽ đặt ở đó. Cái làm cho không xuôi là cờ Phật giáo. Vatican điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô đình Thục, sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản thì cờ Phật giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ thì từ Lavang vào Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đình Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh mình báo cáo là giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) thì triệt hạ cờ Phật giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh mình hết rồi. Phật giáo thì suốt thời Pháp thuộc cho đến lúc đó chồng chất bao nhiêu chịu đựng. Nay thì không chịu nữa. Ngay sau khi tuyên bố như vậy, tôi gửi đến Tổng thư ký Liên hiệp quốc 1 điệp văn nêu lên tình hình vi phạm nhân quyền và kỳ thị tín ngưỡng của chế độ Ngô đình Diệm. Từ đó cho đến ngày ông bị lật đổ, mọi hoạt động trong và ngoài nước ai cũng biết không nhiều thì ít, không thể kể cho hết được. Có điều phải nói, trước và sau 1963, cho đến 1975, Phật giáo VN không bao giờ nằm trong túi ai cả, mặc dầu suốt thời gian này việc gì nổi lên mà không có sự khai thác theo ý riêng. Như bản thân tôi đây, vì ngài Quảng đức tự thiêu nên ông Ngô đình Diệm phải mời phái đoàn Phật giáo mở hội nghị với phái đoàn chính phủ, tôi phải vào Sài gòn để cùng quyết định tại chỗ những gì phái đoàn họp, theo tư thế của tôi và theo sự ủy nhiệm phải chung quyết thay ngài Hội chủ. Chuyến đi có ngài, có thầy Thiện minh và tôi, đi xe từ sân chùa Từ đàm thẳng xuống sân bay Phú bài. Ai cũng nghĩ tôi đi tiễn, khi máy bay sắp cất cánh mới biết tôi đi thì phản ứng không kịp, và việc này chỉ do sự sắp đặt khéo léo một chút của 1 Phật tử. Nhưng phi cơ thay vì vào Saigon lại lên Kontum, đậu ở đó đến 3 tiếng. Nhân viên phi hành đoàn bí mật cho tôi hay vì tôi và đang chờ Saigon quyết định. Saigon đã quyết định để bay về đây, coi như không có việc gì. Đại loại như thế, chưa bao giờ tôi thoát hiểm bởi ai mà tôi không quen biết. Ngay như tài liệu tôi gửi Liên hiệp quốc, nhiều đến 1 valy phải vài người khiêng, nhưng từ Xá lợi đi ra và qua thấu Liên hiệp quốc là do chính ông Bửu Hội, người của ông Ngô đình Nhu, khi gặp tôi thì tình nguyện giúp bất cứ việc gì giúp được.

Nhưng ông Ngô đình Diệm đổ rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn đề Phật giáo không phải kết thúc mà là bắt đầu. Từ đây sắp đi, Phật giáo ở trong tình trạng cây muốn lặng mà gió không ngừng ; mặt khác, cường độ chiến tranh khiến Phật giáo phải chống chiến tranh. Chỉ nói vắn tắt 2 câu như vậy cũng thừa để thấy vấn đề Phật giáo ngang trái đến mức nào. Những cái gọi là Thượng hội đồng quốc gia, Quốc hội lập hiến hay Thành phần đối lập, cùng những sự lên xuống của bao chính phủ, toàn không đáng gì mà nói. Cho đến bính ngọ 2510 (1966), vấn đề đã lên cao độ. Sau 1 cuộc họp của Phật giáo, tôi nói với người MyՍ rằng Phật giáo phải chính thức vận động hòa bình, người My nói với tôi rằng hòa bình là chiến tranh tàn rụi dần đi. Quan điểm tương phản đến mức đó nên phải có vụ 1966 ; có vụ ám sát thầy Thiện minh (mà không chết); có vụ âm mưu lừa tôi ra đi mà từ 1965 đã được bàn lén; có vụ cầm tù tôi ở dưỡng đường Duy tân; có vụ viện Hóa đạo của Việt nam quốc tự; có vụ hủy bỏ hiến chương của Phật giáo; có vụ ra giá nếu tôi chịu cho thu thanh 1 lời lên án việc tấn công nhân Tết mậu thân thì trả hiến chương, bỏ Tâm châu, biếu tặng quyền lợi thật hấp dẫn; có vụ bắt tôi sau đó; có vụ ly gián Phật giáo lần nữa theo kế hoạch Thiệu Trung; có vụ 1 viên tướng tưởng mình đàn áp được Phật giáo năm 1966, nhưng sau nhờ 1 viên tướng đàn anh đến vận động tôi ủng hộ cho ứng cử Tổng thống, và, cho đến nay, vẫn cho rằng mình làm Tổng thống thì miền nam không bại trận mà còn chiến thắng. Tuy có lắm vụ mà có vụ chỉ là trò bắng nhắng như vậy, nhưng từ tháng 9.1966 tôi biết đích xác Hoa My sẽ quan hệ bình thường, cuộc chiến VN sẽ thương thuyết kết thúc, mọi cường độ quân sự chỉ là áp lực tranh thắng.

Ấy thế, mọi việc diễn ra có lúc đến chóng mặt. Cho đến mùa xuân 2519 (1975) thì 1 ngày mà có người 3 lần đến vận động tôi đừng chống việc ông Dương văn Minh đứng ra, " vì chính quyền của ông ấy sẽ có 7 phần 10 là người tiến bộ". Tôi không nói lại gì cả, chỉ quan tâm lời thầy Trí thủ nói, rằng chim cá còn mua mà phóng sinh, lẽ nào đồng bào mà không hy sinh cấp cứu. Rồi ông Dương văn Minh gặp tôi, đưa ra 2 mảnh giấy báo cáo mật cho thấy ngân hàng trống rỗng và quân sự nguy ngập, và nói ông không vụ lợi vì lợi không còn gì, không cầu danh vì danh đến quốc trưởng là cùng, ông chỉ không nỡ ngồi nhìn chết chóc. Tôi nói, nếu lòng ông như thế là ông làm như lời thầy Trí thủ nói, và có nghĩa ông thay người khác mà vác cờ trắng ! Sau đó mấy tháng, tôi trả lời 1 thầy Phật giáo cấp tỉnh, rằng Phật giáo VN bước qua một giai đoạn khác.
Tổng chi, tôi có tham vọng không? Có, mà có đến nỗi có người đã nói hơi chướng nữa. Tham vọng của tôi không mơ mộng Phật giáo trở lại vị thế quốc giáo như thời xa xưa, càng không muốn Phật giáo thành một Thiên chúa giáo thứ hai. Tôi chỉ mong ước trong cơn nghiêng ngửa của đất nước, ai nhìn vào Phật giáo cũng nghĩ rằng đất nước này còn có cái ấy.

Phật giáo của tôi, và tôi, đúng là
Cao cao sơn thượng hành thuyền,
thâm thâm hải để tẩu mã:
ngựa phi dưới nước,
thuyền chèo trên non.

HVP