Thursday, January 17, 2008

Về thủ phủ Miền Tây sông nước

Xin giới thiệu các bạn loạt bài phóng sự viết về cuộc đời của những người dân nghèo ở Cần Thơ. Bài viết cũng được, nhưng không hay. Loạt bài có nhiều hình ảnh tốt, đáng giữ lại làm kỉ niệm, nhất là khi xe lôi bị “tiệt chủng”. Nói gì thì nói, chứ xe lôi là một nét văn hóa của người miền Tây. Đành rằng phải có ngày xe lôi phải ra đi, nhưng tôi vẫn thấy tiếc khi không còn bóng dáng loại xe này nữa.

NVT

====

http://www1.dantri.com.vn/Sukien/phongsu/2007/12/211590.vip

Kỳ 1: Đô thị của những mảnh đời cần lao

Mệt mỏi chờ phà
Chuyến xe đò từ TPHCM về Cần Thơ - thủ phủ miền Tây - chỉ có tròn 5 khách, nhưng nhà xe kiên quyết không bắt thêm, dù rằng hành trình dài 170km có rất nhiều khách vẫy ven đường. Chiếc xe Ford Transit 16 chỗ cứ lao đi vun vút. Bây giờ, những chuyến xe chất lượng cao như thế từ Sài Gòn về Miền Tây rất nhiều, cạnh tranh nhau cũng rất gay gắt. Xưa kia người ta gọi Cần Thơ là Tây Đô để ví mảnh đất sầm uất này là thủ đô của cả miền Tây Nam Bộ rộng lớn.
Chen chúc phà đêm.
Anh Tán Ngọc Thanh, công tác tại công ty cổ phần dược Hậu Giang trở thành bạn đồng hành của tôi trong suốt chặng đường. Anh Thanh cho biết, những chiếc xe khách vì cạnh tranh nhau gắt quá nên nhà xe nào cũng nâng cao chất lượng tốt nhất để khách nhớ đi lần sau.

Phà Cần Thơ, một trong những cụm phà lớn nhất Việt Nam từ nhiều ngày nay luôn bị kẹt. Mặc dù cụm phà này đã huy động toàn bộ phà gồm 11 chiếc loại 100 và 200 tấn để giảm kẹt xe nhưng tình hình không mấy thuyên chuyển. Chiếc xe khách của chúng tôi nối đuôi sau một hàng dài. Anh Thanh ngán ngẩm rủ tôi xuống đi bộ: “Đi bộ ra phà còn nhanh hơn anh ạ, chứ ngồi trên xe chờ thế này thì cả tiếng nữa chưa xuống được tới bến”.

Phà Cần Thơ là nút giao thông quan trọng trên tuyến quốc lộ 1A, nối vùng đồng bằng sông Cửu Long với TP HCM. Vì thế mật độ giao thông luôn dày đặc. Tôi nhận thấy không bến phà nào tấp nập hơn ở đây, hàng chục chiếc phà tấp nập qua lại, những công nhân bến phà đi lại làm việc như máy, nhưng vẫn quá tải.

Những công nhân trên phà cho hay, nguyên nhân chủ yếu của việc kẹt phà là do quốc lộ 80 đi qua Đồng Tháp (đi An Giang, Kiên Giang) đang nâng cấp sửa rất nhiều cây cầu, xe cộ đổ dồn về quốc lộ 1A, qua phà Cần Thơ. Hiện tại có gần 7.000 lượt xe ô tô, 25.000-30.000 xe gắn máy và 50.000 hành khách qua phà Cần Thơ mỗi ngày.

Sông Hậu mênh mông nước chảy, cách phà khoảng 3km, các trụ nhịp của cần Cần Thơ nhô lên cao. Khi nào cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất Đông Nam Á này hoàn thành thì cảnh ách tắc trên phà cũng chấm dứt. Khách đi phà vẫn chỉ trỏ về phía cầu, nhắc lại vụ tai nạn kinh hoàng trong lịch sử ngành xây dựng Việt Nam.

Mưu sinh trên bến Ninh Kiều

Bến Ninh Kiều đã đi vào thi ca với vẻ đẹp mộng mơ của nó: “Về bến Ninh Kiều thấy chàng đợi người yêu”. Nhưng thực tế thì vẻ lãng mạn ấy cũng không làm xoá nhoà ấn tượng của người khách viễn phương về sự mưu sinh trên Ninh Kiều đầy nhọc nhằn.
Bến Ninh Kiều luôn nhộn nhịp.
Ở cái bến nổi tiếng sầm uất và nhộn nhịp đông đúc ấy, cuộc sống lúc nào cũng hối hả. Những chiếc tàu chở khách đi các miệt Trà Ôn, Xuân Hoà, Cái Trâm, Đại Nghĩa… xếp thành hàng trên bến nước. Chủ tàu í ới mời khách lên. Những người làm nghề chở hàng thì hối hả bốc xếp từng thùng các tông xuống xe đẩy, họ chính là người gắn bó với bến Ninh Kiều hơn cả.
Anh Tư mặc chiếc áo ướt lấm tấm mồ hôi, quệt ngang khuôn mặt lem nhem đầy dầu, đặt sọt trái cây xuống rồi than: “Cực lắm anh ạ. Tôi ở bến ngót chục năm rồi, cứ thế kiếm sống qua ngày thôi. Đất Cần Thơ này ở đâu sung sướng tôi không biết, chứ bến Ninh Kiều thì toàn người dân lao động, mỗi ngày kiếm được một đôi chục nghìn chứ bao nhiêu”. Mấy người bốc xếp thấy anh Tư nói chuyện với phóng viên, liền cười: “Anh Tư sắp lên báo rồi kìa, mà nhanh lên kẻo chủ tàu đang gọi ra dỡ nốt hàng cho xong”.
Mưu sinh trên bến. (ảnh: Bảo Trung)
Mấy ngày lang thang ở bến Ninh Kiều, tôi chỉ lặng lẽ quan sát. Cánh xe ôm đứng thành hàng dài nhưng chẳng mấy khi có khách. Họ túm tụm nói chuyện phiếm giết thời gian. Mấy người bán hàng rong, quán nước cũng chẳng đông khách. Bến chỉ xôn xao tiếng người, nếu có gì sinh động nhất thì đó là những ghe, thuyền, vỏ lãi… ngược xuôi phành phạch trên sông Hậu. Buổi chiều, gió sông thổi lồng lộng, làm dịu đi những mệt mỏi của cuộc sống cần lao.

Nhưng gió sông Hậu không làm bớt đi những lo lắng của những người làm nghề xe lôi, bởi chỉ vài ngày nữa thôi là xe lôi bị cấm hoàn toàn ở khắp nẻo miền Tây. Một hình ảnh đã đi sâu vào ký ức những người dân chốn sông nước này, giờ sắp mất. Hàng nghìn người đang hành nghề xe lôi ở Cần Thơ cũng chưa biết sẽ làm gì để lôi theo cuộc sống của cả gia đình khi chỉ còn vài ngày nữa thôi, loại xe tự chế này bị cấm.

Kỳ 2: Vĩnh biệt xe lôi


Phương tiện cho giới bình dân

Xe lôi, cũng như tất cả những gì đang hiện hữu ở Tây Đô, đều có lịch sử của nó. Xưa kia, từ đầu thế kỷ 20 người dân vẫn chỉ biết tới xuồng, ghe đi lại trên sông nước là phương tiện giao thông phổ biến nhất. Sau đó, xuất hiện xe kéo bánh gỗ và đến khoảng năm 1930 thì xe đạp lôi xuất hiện. Nó là sự kết hợp giữa xe đạp và xe kéo. Phía trước là xe đạp, phía sau là cái thùng của xe kéo. Vì tính tiện dụng của nó mà ngay từ khi xuất hiện, loại xe này đã lập tức phổ biến rộng rãi ở khắp vùng Tây Nam bộ.
Một chiếc xe lôi có thể chở được tới 5-6 người.
Khắp các ngả đường từ thành thị đến những miệt vườn ở các tỉnh Đồng Tháp, Long An, An Giang, Cần Thơ... đều có chiếc xe lôi quen thuộc. Nó tồn tại bình dị như cuộc sống ở nơi đây, thay thế cho ghe xuồng. Xe lôi chở học sinh tới trường, chở các chị ra chợ, chở những thùng trái cây tươi rói, và nhiều xe chuyên chở cuộc sống của cả một gia đình, tất cả dồn lên đôi vai người chồng, người cha.
Sau này, khi xe gắn máy bắt đầu phổ biến và mật độ ngày càng tăng thì xe lôi cũng lập tức thay đổi, các bác tài bỏ xe đạp, gắn vào thùng chiếc xế nổ. Phổ biến và thịnh hành nhất phải kể đến Honda 67, thùng xe được trang bị thêm mui để che mưa nắng, giống như xích lô ở Hà Nội bây giờ.

Ở thành phố Cần Thơ, vài ba năm trước xe lôi nhiều vô kể, nườm nượp khắp các tuyến phố. Tới nay, do chính quyền chủ trương hạn chế loại xe tự chế này nên số lượng xe lôi giảm đi đáng kể, tập trung vào một vài bãi đỗ nhất định và cũng chỉ được phép chạy một số tuyến đường nhất định mà thôi.

Nhưng chỉ vài ngày nữa, đến 1/1/2008 thì xe lôi phải lùi vào dĩ vãng. Cần Thơ là địa phương cuối cùng của miền Tây vẫn còn xe lôi. Các đường phố sẽ vắng bóng hoàn toàn, một nét văn hóa của miền Tây, của Tây Đô sẽ chỉ còn tìm được trong hoài niệm. Xe lôi sẽ chết!
Xe chết, người khóc
Tôi ra bến Ninh Kiều, một trong những nơi tập trung xe lôi đông đúc nhất Cần Thơ. Ở đây, các bác tài có bến đỗ theo quy định của thành phố, hoạt động cũng thành nghiệp đoàn, các thùng xe đều có số hiệu. Những chiếc xe nối đuôi nhau thành hàng dài dọc phố Ngô Quyền, khuôn mặt các bác tài suy tư buồn bã. Đây sẽ là những ngày cuối, những chiếc “xe vua” theo cách gọi của dân miền Tây, được tung hoành.
"Bến xe lôi" trên đường Ngô Quyền, Cần Thơ.
Bác tài Nguyễn Kim Châu ngồi buồn so trên chiếc xe màu đỏ điệu đà. Dù đã biết trước ngày này nhưng khi nó đến, bác không khỏi chạnh lòng: “Buồn chứ! Nhưng tôi còn đỡ hơn nhiều anh em, vì các con đều đã lớn, có công ăn việc làm đàng hoàng. Tôi chỉ đi làm kiếm thêm đồng ra đồng vào cho vui thôi, chứ tôi ở nhà cũng vẫn đủ ăn. Nhiều anh em khác, họ phải nuôi cả gia đình. Giờ chưa biết tính sao”.

Ngày ít, cánh xe lôi kiếm được 30-40 nghìn, ngày nhiều thì 50-60 nghìn. Cuộc sống dù không khá giả, nhưng chiếc xe vẫn giúp họ túc tắc đủ ăn, thậm chí nuôi sống tới 4-5 con người.

Tôi gặp bác tài Trần Văn Tới, người đã có thâm niên 14 năm liên tục hoạt động nghề xe lôi. Bác Tới thở dài não nuột: “Lệnh cấm thì phải theo thôi. Nhưng giờ buồn quá chú ạ, sinh hoạt của cả nhà tôi trông mong tất cả vào chiếc xe này. Giờ chưa biết tính sao. Chuyển sang honda ôm thì cũng khó, làm sao giành khách được với cánh bên kia (bác Tới chỉ tay tới dãy xe ôm tới gần 20 chiếc phía bến Ninh Kiều), đông lắm”. Đôi mắt bác Tới đỏ hoe: “Mà xin đi làm bảo vệ thì chẳng đâu người ta nhận chúng tôi nữa, già hết rồi”.
Bác Tới: "Già rồi, không xin được việc gì khác nữa".
Bác Tới hoạt động trong Hợp tác xã xe lôi, hình như cũng có chút vai vế. Bác cho biết, trong hợp tác hiện có 500 chiếc xe đang hoạt động. Nhưng hiện tại TP cũng đang tồn tại khoảng hơn 500 chiếc khác hoạt động chui. Làm sao mà hàng nghìn người có thể có công ăn việc làm cùng lúc như thế. Bác tài Nguyễn Hùng Dũng - người hoạt động xe lôi gần 20 năm - thì thật thà: “Chắc là chúng tôi kiểu gì cũng phải tìm nghề khác mưu sinh thôi. Cuộc sống thật chật vật”.

Không còn lối thoát nào

Mấy bác tài kể: Hợp tác xã đã đề nghị lên trên xin được giữ lại độ mươi chiếc xe, tân trang sạch đẹp để phục vụ khách du lịch. Dù sao xe lôi cũng là một nét văn hoá của vùng sông nước này. Nhưng “trên” không nghe. Cấm là cấm. “Ngoài Hà Nội xích lô vẫn đi nườm nượp trên phố cổ, nhưng xe lôi ở đây là chắc chết rồi anh ạ”, bác tài Dũng than vãn.
Xe lôi chở cồng kềnh, gây mất an toàn giao thông.
Chiều Tây Đô. Tôi lên xe, đề nghị được đi một vòng. Bác tài nổ máy rồi vui vẻ buông câu hát của Phạm Duy: “Mời người lên xe, về miền quá khứ”. Thú thật, cảm giác ngồi xe lôi rất khó tả, vừa thích, vừa sợ, nhất là mỗi khi xe vào cua. Đây sẽ là lần cuối tôi được ngồi xe lôi, vì lần sau trở lại đây chắc chắn sẽ không còn bóng dáng xe nào nữa. Bác tài vẫn thao thao nói chuyện về đời xe, có lẽ bác đã vui lên ít nhiều. “Tôi sẽ đi làm đến ngày cuối cùng (31/12/2007) và sẽ chở miễn phí những chuyến cuối”, bác hào sảng.

Thật ra, chẳng phải riêng gì xe lôi gặp khó, có tiếp xúc mới thấy ngay cả cuộc sống trên sông vốn là “sở trường” của bà con miền Tây cũng đầy vất vả nhọc nhằn.

Kỳ 3: Lênh đênh chợ nổi

Câu chuyện của chị Tư

Từ trung tâm TP Cần Thơ ra tới chợ nổi Cái Răng chỉ độ 5km. Chợ bắt đầu họp từ lúc 3-4h sáng và kéo dài tới 9-10h. Hầu như ai tới Cần Thơ cũng đều tìm ra đây, để tự mình được nhìn ngắm cảnh huyên náo nhộn nhịp của hàng trăm, hàng nghìn chiếc thuyền lớn bé ngồn ngộn cây trái đổ dồn về khúc sông này giao thương. Tiếng nổ cùng lúc của hàng trăm chiếc động cơ chạy dầu ầm ì, phàch phạch. Giữa trời xanh mây trắng, những chiếc thuyền qua lại như mắc cửi trông vô cùng ngoạn mục.

Chợ bán đủ các loại nông sản miệt vườn, mỗi ghe thuyền đều cắm một cây sào dài trước mũi, người ta treo lên đó thứ mình đang có bán, gọi là cây bẹo. Nhìn vào cây bẹo, người mua sẽ biết ngay ghe bán thứ gì. Dân thương hồ (người buôn bán trên sông- PV) ở đây quanh năm lênh đênh bầu bạn cùng sông nước.

Lẫn trong các ghe thuyền lớn của những thương lái lớn nhỏ là những người buôn bán lặt vặt sống bám vào chợ, lần tảo qua ngày. Chị Tư là một điển hình.Chị vốn là dân gốc Cần Thơ, nhà ngay sát chợ nổi Cái Răng. Nhưng nhà nghèo quá không có vốn buôn trái cây nên chị đành kiếm bánh mì về bán nhì nhằng. “Chồng làm phụ hồ thu nhập chẳng được bao nhiêu. Mấy sắp nhỏ đều đang học phổ thông, chúng ngốn tiền ghê lắm chú ạ, nên các sinh hoạt đều chỉ trông chờ vào mấy cái bánh mì của tui thôi”, chị Tư vuốt mồ hôi trên má.
Chị Tư bươn chải suốt ngày cũng chỉ đủ ăn. (ảnh: Bảo Trung)
Hàng ngày, chị Tư bắt đầu đi bán bánh từ 4h sáng. Đó cũng là lúc bán được nhiều hàng nhất. Chợ nổi Cái Răng dài cả cây số, chị chèo tới chèo lui, tiếng rao bán bánh lẫn vào tiếng thuyền ghe đang tấp nập đổ về cho một buổi chợ mới. Suốt ngày, tiếng ghe thuyền, vỏ lãi phành phạch bên tai, chị nghe riết rồi cũng quen. Chiếc thuyền nhỏ, chị cứ chèo tay, len lỏi quanh các thuyền lớn. Ai gọi mua bánh mì thì tấp vào. Giữa sông, nhưng bánh mì trứng, patê… đều có đầy đủ. Cả buổi chợ chèo ngược xuôi tới vài chục km, bán hết chỗ bánh cũng lãi được 20-30.000đ. Số tiền ấy cũng chỉ đủ chi dụng trong một ngày. Thường thì đến trưa là hàng bán hết, chị Tư lại quay ra chợ Cái Răng buôn bán thêm mớ cá cho hết buổi chiều. Sáng hôm sau lại tiếp tục một ngày mới.

Những người buôn bán nhỏ lẻ như chị ở chợ nổi Cái Răng là rất nhiều. Mặt hàng cũng đa dạng. “Trên bờ có gì thì dưới sông có đó chú à, ở đây có nhiều người sống quanh năm trên mặt nước, nên chúng tôi phục vụ hết. Thậm chí từ cây kim sợi chỉ trở đi”, chị Tư khoe. Cuộc sống cứ thế túc tắc, chị quen rồi.

Cửu vạn: ráo mồ hôi là hết tiền

Ở những chợ nổi thường có các thương lái chờ chực trên bờ, ở những bến đã giao ước sẵn. Ghe thuyền bán hoa trái chỉ việc ghé vào đó và bán buôn sản vật của mình cho thương lái. Tiếp đó, chủ buôn sẽ chuyển hàng đi các thành phố khác, như Sài Gòn, thậm chí vươn ra tới các tỉnh phía bắc.

Ở những bến này, đội cửu vạn thường tập trung tới cả chục người. May là việc không lúc nào thiếu, chỉ sợ không có sức. Chú Hiến đã già, ria mép trắng bạc, cởi trần trục trục, nước da đỏ au, đội một sọt quýt dễ đến năm bảy mươi cân từ thuyền lên bến. Chú mệt nhọc: “Đã đi đội hàng thuê, có nghĩa là cuộc sống thiếu thốn lắm rồi. Chứ anh bảo tôi gầy thế này, sức còn bao nhiêu nữa. Nhưng ráo mồ hôi là hết tiền anh ạ”.

Ở Hà Nội đang giữa mùa đông rét ngọt, nhưng ở miền Tây thì nắng nóng “vật vã”, nhìn mồ hôi nhễ nhại trên vai áo những người cửu vạn khiến tôi không khỏi ái ngại. Anh Mười ghé tai tôi: “Chú Hiến cách đây mấy tháng vừa phải đi chỉnh đĩa đệm cột sống. Nhưng cảnh nhà éo le quá nên nghỉ được một thời gian ổng lại ra đây. Mấy anh em khuyên nhủ nghỉ làm đi, như ổng không chịu. Cơ cực lắm em ạ. Vợ ổng bệnh mấy năm nay, thuốc men cũng tốn nhiều rồi…”
Cứ ráo mồ hôi là hết tiền. (ảnh: Bảo Trung)
Anh Mười còn nói, mỗi ngày giỏi thì kiếm được 40-50 nghìn. Nhưng không may ngã trẹo chân, trẹo tay hoặc nặng hơn là chệch đĩa đệm như chú Hiến thì tiền vào bệnh viện còn phải đi vay mượn khắp nơi. Thế là nợ chồng nợ, đời cửu vạn vì thế mà chằng bao giờ dứt ra được.

Chiều. Chợ buồn tẻ biết bao nhiêu. Những chiếc ghe đã vợi đi cây trái, hoặc để trôi theo dòng sông Hậu, hoặc phi thật lực về các miệt vườn để nhập hàng cho buổi chợ hôm sau. Cánh thương hồ trông cuộc sống trông đầy vẻ phóng khoáng. Vẻ hào sảng của họ bất chợt khiến tôi liên tưởng tới hình ảnh những hảo hán ở Lương Sơn Bạc trong Thuỷ Hử. Nhưng đời thương hồ đâu chỉ có bạn cùng sông nước trời mây, mà cơ cực muôn vàn. Mới đến Cần Thơ, nhưng tôi cũng được cánh thương hồ truyền thụ một câu rất mùi: "Đời thương nhân nắng mưa ấm lạnh/Chốn thương hồ một cảnh buồn than", ngẫm ra thấy đúng vô cùng.

Kỳ cuối: Khốn khổ đời thương hồ

Khi con gà trống buộc ở đầu ghe vừa cất tiếng gáy đầu tiên thì Ba Dưa cũng xua vợ và mấy sắp nhỏ thức dậy, lúc ấy là tờ mờ sáng. Ghe của anh vừa “ăn” đầy dưa hấu, đi suốt đêm và bây giờ là lúc tới chợ Cái Răng để đổ hàng. Hoặc là bán cho những ghe buôn khác, hoặc anh sẽ tấp vào bến nào đó để cân tại bến.
Ngày nào cũng như ngày nào, cảnh thức khuya dậy sớm đã trở thành nếp sống của gia đình Ba Dưa. Trái cây dễ hỏng, nếu không cố dậy sớm để giao cho hết, lỡ hỏng thì chỉ còn cách quẳng cả xuống sông Hậu.
Đồng hồ của dân thương hồ.

Ba Dưa bảo tôi: “Đời thương hồ cực lắm, chú cứ nhìn tui này. Người không biết thì nghĩ nghề này phóng khoáng. Ừ thì phóng khoáng thật, nhưng mỗi bát cơm đều phải đánh đổi cả bát mồ hôi chú ạ. Không có sức làm không nổi”.

Mặc dù trời mới bắt đầu bình minh, mặt trời còn chưa ló dạng, nhưng vợ chồng Ba Dưa đã mồ hôi nhễ nhại ướt sẫm lưng, khom người tung dưa lên ghe bạn. Mấy đứa nhỏ cũng hì hụi giúp bố mẹ xếp dưa gọn gàng vào trong ghe. Nhìn cảnh ấy, không khỏi ngao ngán thương cho vợ chồng nhà anh. Chị vợ đang mang thai đứa thứ ba, trông đã nặng nề lắm rồi, nhất quyết không chịu cho tôi chụp ảnh: “Chú hỏi gì thì tôi nói, chụp hình tôi ngại lắm”. Mồ hôi trên trán lăn xuống cả đôi mắt chị Ba, chị lấy chiếc khăn rằn quệt ngang mặt: “Hết cách sống rồi mới phải làm nghề này, mà giờ dính vào cũng không thoát ra khỏi”.

Chị Ba ngồi thụp xuống, tái mặt. Đứa bé trong bụng lại đạp. Chị giải thích vì sao không “thoát” khỏi nghề: “Bây giờ đã trót làm nghề thương hồ, tức là buôn xuôi bán ngược. Mà nghề buôn bán thì chỗ nọ nợ tiền, chỗ kia chậm, rồi người vay người mượn, mình cũng đi vay của người ta nhiều chứ… cho nên đã trót theo nghề thì chỉ còn cách theo đến lúc không còn sức, đến khi không thể rong ruổi khắp Cửu Long. Thế đấy chú!”.
Kiếm sống rất cơ cực.

Mà không có sức thì cũng chẳng thể làm gì được. Như nhà Ba Dưa, cứ nơi nào có trái cây rẻ là “sáp vô”, ở đâu cũng đến, kênh rạnh bé cỡ nào cũng mò vào. Cả nhà cứ xoay lưng chống sào, chèo ghe, mệt mỏi thế nhưng không thể làm khác hơn được.

Gần ghe nhà Ba Dưa, ghe Tám Thơm cũng đang hối hả thảy thơm (dứa) cho khách. Chị Tám nhoẻn miệng cười khi thấy tôi giơ máy ảnh lên. Cả một ghe đầy ắp thơm nhưng tới 8h sáng đã vợi đi phân nửa.

Những cảnh đời như cảnh nhà anh Ba, chị Tám… trên sông không thiếu. Mà nhà anh Ba còn thuộc vào loại khá, sắm được chiếc ghe cũng ngót nghét bảy tám mươi triệu, vất vả nhưng cũng có của ăn của để. Nhiều nhà khác còn cơ cực hơn rất nhiều.

Sống nhờ sông, chết vì sông

Với dân thương hồ, điều ám ảnh họ luôn là các tai nạn trên sông. Những con sông ở vùng Cửu Long mang đến nguồn sống cho hàng vạn người, nhưng nó cũng cướp đi không biết bao nhiêu người chồng, người cha, cướp cả những đứa trẻ trót xảy chân rơi xuống…

Cánh thương hồ rùng mình khi kể lại những vụ tai nạn mà bạn buôn truyền miệng cho nhau. Đã là “người trong thương hồ”, ai chẳng biết bơi lặn, có người còn được ví như “thuỷ thần”, “rái cá”… nhưng số chết vẫn chết. Sống nhờ sông, chết vì sông, không ai dám nói mạnh.
Sinh ra đã theo cha mẹ sống kiếp thương hồ.

“Nguy hiểm lúc nào cũng chầu chực”, Ba Dưa thở dài, “nhẹ là chìm ghe, mất tất cả của nhưng còn người. Còn nặng là mất người. Anh Hai tôi cũng chết vì lặn xuống nước không lên kịp. Nghề bạc, nhưng luôn phải cố quên những mặt trái ấy đi để mà sống, luôn phải cố lạc quan chú ạ”.

Cái ngày Hai Dưa chết cách đây đã mấy năm, nhưng nhiều người ở chợ Cái Răng chưa quên. Anh Hai lặn xuống gỡ neo ghe, nhưng luống cuống không lên được, chết ngạt. Đến khi cánh thương hồ lao cả xuống tìm thì xác anh đã trôi đi cách đấy 1 đoạn dài, hô hấp cả tiếng cũng không được.

Đấy là còn chưa kể nạn xin đểu, mặc dù ít xảy ra hơn nhưng không phải không có. Các “băng đảng” miệt vườn sẵn sàng từ kênh nhỏ lao ghe ra xin xỏ khơi khơi một bữa nhậu, “không cho là chúng quậy không làm ăn được”, anh Ba kết luận.

Bao giờ cho đến bao giờ!

Đời thương hồ nay đây mai đó, không biết đâu là bến bờ, lênh đênh như cánh lục bình trên sông. Nhiều lúc nghĩ cảnh dập dềnh quanh năm suốt tháng, mấy đứa nhỏ học hành chữ được chữ mất, anh Ba, chị Tám không khỏi chạnh lòng.

Cuộc sống trên sông thiếu thốn đủ bề, thậm chí có người chết vì bị bệnh, không kịp đưa lên bờ cấp cứu, nhưng không vì thế mà người ta bỏ đi cuộc sống đã cha truyền con nối từ vài thế hệ. Những đứa trẻ cứ sinh ra, lớn lên và lại tiếp tục nối nghiệp cha mẹ mình, sẽ lại tiếp tục các quan hệ buôn bán cũ, đi đòi những khoản nợ khó đòi trong nhân gian và trả nốt cho đời những gì cha mẹ mình còn vướng bận.
Một ghe, một gia đình.
Nên là, thương hồ vẫn mãi là thương hồ, chẳng bao giờ khác được. Hình ảnh ấy, dù 5 năm, hay 10 năm nữa, vẫn mãi như thế. Họ vẫn là những con người cần lao, sống khó khăn nhưng đầy phóng khoáng, những nghệ sĩ thơ ca hò vè lai láng giữa đất trời miền Tây.

***

Về miền Tây sông nước, ở giữa đất Tây Đô, giữa đô thị đã thoáng chút xô bồ, những cảnh sống của bác xe lôi, anh cửu vạn, của vợ chồng người khách thương hồ… vốn là những hình ảnh nổi bật ở đây từ bao năm nay, tới thời buổi kinh tế thị trường, lại càng hiện hữu rõ hơn bao giờ hết.

Cuộc sống ấy chỉ là một lát cắt nhỏ, một phần đặc trưng của cuộc sống nơi đây mà người viễn khách cảm nhận được vội vàng mà thôi.

Bảo Trung

No comments: