Tuesday, February 26, 2008

Một phán quyết bất công

Bài bình luận này đã đăng trên Tuổi Trẻ (25/2/08), và một bản khác trên Người lao động trước đó. Nhưng cuộc đòi công lí vẫn tiếp tục …

NVT

Vụ kiện chất độc da cam (Agent Orange) đã đến hồi gần kết cục. Hôm qua (22/2/08) tòa án phúc thẩm New York bác đơn kháng cáo của phía nguyên đơn (Hội nạn nhân chất độc da cam) và giữ y phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein năm 2005. Tòa phúc thẩm lặp lại phán quyết của Weinstein rằng: (a) việc sử dụng chất độc da cam trong thời chiến tranh ở Việt Nam không vi phạm luật quốc tế vì chủ đích là nhằm diệt cỏ và khai quang; và (b) phía nguyên đơn không chứng minh được những vấn đề sức khỏe mà một số người Việt đang mắc phải là do chất độc da cam gây nên.


Cả hai phán xét đều có vấn đề.


Đến nay thì không ai tranh cãi một sự thật hiển nhiên: dioxin là một độc chất nguy hiểm nhất mà con người biết đến. Chất màu da cam hàm chứa dioxin. Năm 2003, một phân tích từ Chương trình nghiên cứu ung thư quốc tế (International Agency for Research on Cancer, một cơ quan thuộc Tổ chức y tế thế giới) xác định dioxin là một độc chất gây ung thư, và còn đi xa hơn cho rằng không có cái gọi là “nồng độ an toàn” dioxin trong con người. Nói cách khác, người bị phơi nhiễm dioxin dù ở nồng độ thấp hay cao vẫn có nguy cơ bị ung thư.


Câu hỏi thứ nhất: chiến dịch dùng độc chất trong chiến tranh có phải là phi pháp hay không? Qui ước Hague (còn gọi là Hague Convention) năm 1907 cấm dùng “độc chất và vũ khí tẩm độc chất” trong các cuộc xung đột quân sự.


Qui ước về Vũ khí hóa học (The Chemical Weapons Convention) định nghĩa vũ khí hóa học không chỉ bao gồm những độc chất nhưng còn kể cả đạn dược và thiết bị sử dụng để phân tán độc chất nữa. Độc chất được định nghĩa bao gồm “ ... bất cứ hóa chất nào có tác hại đến sự sống của con người, và gây ra tử vong, thương tật cho con người và thú vật.”


Báo cáo của Liên hiệp quốc viết năm 1969 định nghĩa các tác nhân chiến tranh hóa học) là “… những hóa chất – dù là khí, chất lỏng hay chất đặc – có thể sử dụng vì ảnh hưởng độc hại của chúng trên con người, thú vật và thực vật.”


Do đó, dựa vào các nghị định và công pháp quốc tế, việc sử dụng bất cứ chất lỏng, vật liệu, hay công cụ nào chứa độc chất dù chỉ đề đầu độc cây cỏ, tiêu hủy mùa màng và hủy hoại môi sinh có thể xem là vi phạm công pháp quốc tế. Chính vì thế mà năm 1975 Tổng thống Gerald Ford kí sắc lệnh sô 11850 tuyên bố rằng Mĩ sẽ dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh.


Câu hỏi thứ hai: bằng chứng về mối liên quan giữa chất độc da cam và bệnh tật? Năm 2005 thẩm phán Weinstein công nhận rằng phía nguyên đơn bị phơi nhiễm độc chất, mặt khác ông không tin rằng các nghiên cứu trong quá khứ đã chứng minh các độc chất này là nguyên nhân gây bệnh cho nguyên đơn (trang 18). Nhưng hôm qua tòa án phúc thẩm lại cho rằng phía nguyên đơn không chứng minh được mối liên hệ giữa chất độc da cam và tác hại đến sức khỏe!


Có thể nói đây là một phán quyết khó hiểu nhất, nếu không muốn nói là phi khoa học nhất. Năm 1984, các cựu chiến binh Mĩ được bồi thường vì nghiên cứu khoa học cho thấy họ mắc nhiều bệnh nan y có liên quan đến chất độc da cam. Nếu người phun độc chất bị nhiễm thì chắc chắn nạn nhân bị phun độc chất còn bị phơi nhiễm nhiều hơn và nặng hơn. Thật vậy, nghiên cứu của chúng tôi công bố trên tập san dịch tễ học quốc tế cho thấy những cựu chiến binh Việt Nam và người Việt bị phơi nhiễm độc chất có tỉ lệ sinh con dị tật bẩm sinh cao gấp 2 lần những người không phơi nhiễm độc chất.


Ảnh hưởng của độc chất không phân biệt nạn nhân là người Mĩ hay người Việt. Vậy thì hà cớ gì tòa án Mĩ đòi hỏi phía nguyên đơn phải có những bằng chứng mà cựu chiến binh Mĩ đã cung cấp ?!


Cần nhắc lại rằng năm 2005 thẩm phán Weinstein cho rằng chưa có đầy đủ bằng chứng về nhân quả để đi đến một kết luận trong tòa án Mĩ. Thực ra, nếu nói về cái gọi là chứng minh mối liên hệ nhân quả thì nó đi ra ngoài phạm vi của y khoa. Trong y khoa, người ta không có và sẽ không bao giờ có (ngoại trừ cố ý giết người) cái xa xỉ để thử nghiệm bằng cách cho nạn nhân uống dioxin để xem có bệnh hay không. Không ai biết một cách chính xác cơ chế gây tác hại của thuốc lá, nhưng vì người hút thuốc có nhiều bệnh so với người không hút thuốc lá, và sự thật đó cũng đủ để xã hội hạn chết hút thuốc lá. Tương tự, chưa ai biết chính xác những cơ chế sinh học gây tác hại của chất độc da cam và dioxin, nhưng sự thật là cựu chiến binh Mĩ và Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ sinh con với dị tật bẩm sinh cao, và sự thật đó cũng phù hợp với giả thuyết gây tác hại của độc chất da cam.


Cần nhắc lại vụ kiện “Erin Brockovich” ở California, mà trong đó nguyên đơn chỉ cần trưng bày bằng chứng cho thấy tỉ lệ bệnh tật trong nhóm bị nhiễm độc chất cao hơn nhóm không bị nhiễm (và đó không thể là mối liên hệ nhân quả) vẫn được xem là bằng chứng thuyết phục. Trong trường hợp này, có nghiên cứu cho thấy trong thời gian từ 1955-1964 (trước khi có chiến dịch phun độc chất) tỉ lệ dị tật thai nhi trong 3 làng là 2,1%, và giữa những năm 1965-1974 (sau khi chiến dịch da cam) thì tỉ lệ này trong 3 làng trên tăng đến 5% (Trích từ bài báo trong tập san Environmental Health Perspectives 2000; 108: số 10), và dùng lí luận của trường hợp Erin Brockovich, người ta cũng có thể xem đó là bằng chứng về tác hại của chất độc da cam. Do đó, việc đòi hỏi bằng chứng của tòa án Mĩ xem ra là một đòi hỏi quá máy móc!


Tuy nhiên, cho rằng trường hợp của các cựu chiến binh Mĩ không áp dụng thì quả là kiểu nói “lưỡng chuẩn” (double standard) bởi vì trong thực tế, chính phủ Mĩ chỉ bồi thường cho những cựu chiến binh nào mắc những bệnh mà có bằng chứng cho thấy là chúng có liên quan đến chất độc da cam. Xin nêu một ví dụ cụ thể: đầu năm nay 2003, một thông cáo báo chí từ Viện Y khoa Mĩ (Institute of Medicine; trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ) cho biết, sau khi duyệt xét qua 6 công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin (trong vòng 2 năm qua), các nhà khoa học tuyên bố họ đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng dioxin là nguyên nhân gây ra chứng ung thư bạch cầu mãn tính (tức là Chronic lymphocytic leukemia, hay CLL). Trước đây, người ta từng nghi ngờ CLL có liên hệ với dioxin, nhưng bằng chứng khoa học chưa được rõ ràng; nay thì mối liên hệ đó coi như đã được khẳng định. Điều quan trọng là các dữ kiện khoa học này không phải xuất phát từ nghiên cứu trên cựu quân nhân Mĩ, mà từ các nghiên cứu trên các công nhân làm việc trong các hãng xưởng hóa chất. Nếu dựa vào cách thẩm định bằng chứng của tòa án New York, người ta cũng có thể nói rằng chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa dioxin và CLL! Thế nhưng chính phủ Mĩ nghĩ khác: Với phát hiện mới này, chính phủ Mĩ tuyên bố là họ sẽ đồng ý bồi thường cho cựu quân nhân Mĩ, những người từng tham chiến ở Việt Nam, nếu họ mắc chứng bệnh CLL. Nếu chính phủ Mĩ chấp nhận những bằng chứng gián tiếp nhưng có cơ sở khoa học như thế thì hà cớ gì tòa án New York lại yêu cầu bằng chứng từ phía Việt Nam ?!


Công lí là bản chất của sự tồn tại của con người. Ngay cả những tên phạm tội ác chiến tranh kinh tởm nhất cũng là những người tin vào công lí khi họ đứng trước pháp đình biện minh cho việc làm của họ. Trước một phán xét bất công hôm qua, nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam vẫn đang chờ công lí từ phía những người tạo ra thảm nạn độc chất da cam trong cuộc chiến.


Diễn tiến sự việc và vụ kiện

· Trong thời gian 1961 – 1971, quân đội Mĩ phun xuống Việt Nam (chủ yếu là ở miền Trung và Nam) khoảng 77 triệu lít hóa chất khai quang, trong số này khoảng 64% là chất độc da cam. Đây là chiến dịch sử dụng hóa chất lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.

· Năm 1984 một nhóm cựu chiến binh Mĩ đệ kiện các công ti hóa chất Mĩ về những tác hại sức khỏe mà họ chịu phải khi tham gia vào chiến dịch phun độc chất. Vụ kiện, dưới sự chủ trì của Thẩm phán Jack Weinstein, tuy nhiên không được tiến hành, mà kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài tòa. Theo thỏa thuận này, các công ti hóa chất đồng ý lập ra một quĩ y tế xã hội khoảng 180 triệu Mĩ kim nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mĩ từng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Trong phiên tòa này, thẩm phán Weinstein cho rằng các công ti phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của họ. Ông nói thêm rằng các công ti không thể nói rằng họ chỉ làm theo đơn đặt hàng, vì họ có thể từ chối hợp đồng nếu họ muốn.

· Ngày 30/1/2004, Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam quyết định đệ đơn kiện các công ti hóa chất Mĩ. Các công ti này bị truy tố với 10 tội phạm, kể cả tội phạm chiến tranh, làm lợi bất chính, gây thương tích cho thường dân, v.v. Vụ kiện đã gây được chú ý của thế giới về nạn nhân dioxin ở Việt Nam, bởi vì trước đây nói đến dioxin người ta chỉ nghĩ đến cựu chiến binh Mĩ. Dư luận thế giới đồng loạt và nhiệt tình đứng về phía các nạn nhân. Hàng triệu chữ kí của công dân khắp năm châu là một biểu hiện sự ủng hộ của họ dành cho nạn nhân Việt Nam.

· Sau một thời gian xem xét bằng chứng từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10/3/2005, Thẩm phán Jack Weinstein thuộc tòa án địa hạt Brooklyn, New York, công bố phán quyết trong một tài liệu dài 233 trang. Trong bản phán quyết dài và phức tạp, ông Weinstein đề cập đến các trường hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lí thuyết của luật pháp Mĩ và luật pháp quốc tế, và kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lí dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế. Vụ kiện không được xét xử.”

· Phía nguyên đơn quyết định theo đuổi vụ kiện qua một phiên tòa phúc thẩm. Ngày 18/6/2007, tòa án New York bắt đầu xét xử đơn của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đệ đơn kiện 32 công ti hóa học từng sản xuất và cung cấp hóa chất, kể cả chất độc màu da cam sử dụng trong cuộc chiến kéo dài suốt 10 năm (từ 1961-1971). Phiên tòa thu hút sự chú ý của thế giới và ngay cả quốc hội Mĩ, vì một phần phiên tòa diễn ra ngay trước khi chuyến thăm Mĩ của chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Ngoài dư luận ủng hộ phía nguyên đơn (tức Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam), giới cựu chiến binh Hàn Quốc, New Zealand, và Úc cũng theo dõi xem phán quyết của tòa án vì họ cũng có dự định kiện các công ti hóa chất Mĩ do những phơi nhiễm mà họ chịu phải trong thời chiến.

· Ngày 22/12/08 phiên tòa phúc thẩm ở New York bác bỏ kháng đơn của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và giữ nguyên phán quyết của chánh án Weinstein. Luật sư phía nguyên đơn nhận xét rằng nếu đây là phán quyết sau cùng thì một chương lịch sử đau buồn trong chiến tranh Mĩ – Việt liên quan đến chất độc da cam đã chấm dứt. Người viết bài này không nghĩ như thế. Bất kể phán quyết của tòa án ra sao, vấn đề vẫn tồn tại khi thế giới này vẫn tồn tại vì nó là một vết nhơ trong chiến tranh mà thế giới không thể nào quên được.

No comments: