Monday, February 18, 2008

Đến lúc áp dụng Qui ước Ingelfinger

Bài này đã đăng trên Vietnamnet để làm đề tài cho seminar vào tháng 3 về "Truyền thông và khoa học" tại STR.

http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/02/768656/

Đã đến lúc nên áp dụng Qui ước Ingelfinger?
04:34' 15/02/2008 (GMT+7)

Các thông tin khoa học quan trọng trước khi công bố trên hệ thống truyền thông đại chúng cần phải được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Mọi công trình nghiên cứu khoa học nên được đánh giá và phản biện thông qua các tập san khoa học quốc tế, chứ không phải qua một hội đồng nghiệm thu như cách làm ở nước ta hiện nay…

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Ảnh minh hoạ (www.massgeneral.org)
Trong thời gian gần đây, báo chí nước ta, kể cả báo mạng, đều có chuyên mục “khoa học” hay “sức khỏe” nhằm cung cấp những thông tin khoa học trên thế giới và trong nước đến quần chúng. Thế nhưng, kết quả của những “nghiên cứu khoa học” đó có đáng tin cậy không thì thường là bạn đọc đại chúng chỉ còn trông cậy vào... uy tín và sự... "thẩm định" của tờ báo!

Một khó khăn ở đây là phần lớn nhà báo không phải là nhà khoa học, nên khả năng thẩm định thông tin khoa học của họ cũng có nhiều hạn chế. Sự hạn chế này nhiều khi dẫn đến những hiểu lầm, hay diễn giải sai kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu khoa học.

Trong khi đó, ở nước ngoài thì khác! Người ta có hẳn một quy ước có tên là là “Qui ước Ingelfinger“ rất phổ biến trong truyền thông khoa học.

Theo Quy ước này, các nhà khoa học chỉ có quyền tiếp xúc giới truyền thông đại chúng về các nghiên cứu khoa học sau khi những thông tin này đã được công bố trên một tập san khoa học. Cách làm việc này cũng là một trong những tiêu chuẩn về đạo đức khoa học.

Tin nhanh khoa học, tác hại khó lường…

“tập san khoa học quốc tế” ở đây dùng để chỉ các tập san có tên trong danh bạ của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information - ISI). Không một tập san khoa học nào của Việt Nam có trong danh bạ của ISI.
Việc công bố kết quả nghiên cứu một cách hấp tấp trên hệ thống truyền thông đại chúng có khi dẫn đến hệ quả nghiêm trọng, vì nó tạo nên một sự hi vọng hão huyền hay gây tác hại cho nền kinh tế nước nhà.

Vào thập niên 1980, báo chí Mỹ rầm rộ đưa tin rằng một nhóm bác sĩ bên Mỹ đã thành công điều trị bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ) bằng cách bơm bethanechol chloride vào não. Vì bệnh Alzheimer là bệnh nan y (ông Ronald Reagan từng mắc bệnh này trong thời gian làm tổng thống Mỹ), không có thuật điều trị dứt, cho nên báo chí Mỹ lúc đó ca ngợi đây là “một sự đột phá trong việc điều trị bệnh Alzheimer”, và “các bác sĩ hi vọng rằng bệnh Alzheimer sẽ được chinh phục nay mai”! Nhưng sự thật là họ chỉ điều trị 4 bệnh nhân, và kết quả được đánh giá một cách chủ quan theo cảm nhận của bác sĩ.

Đến khi thuật điều trị đó được áp dụng cho vài bệnh nhân khác, kết quả hoàn toàn vô dụng, và bản tin trở thành câu chuyện hài hước trong giới y khoa.

Mới đây, công trình nghiên cứu về một loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường được công bố, chỉ 3 tháng sau doanh thu của công ty từ thuốc này giảm 40% so với trước đó, và trị giá của công ty trên thị trường chứng khoán giảm 13%. Chúng ta còn nhớ năm ngoái khi thông tin về bưởi và ung thư được báo chí đưa tin, giá bưởi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm đáng kể, dẫn đến những mất mát lớn về kinh tế cho các hộ kinh doanh bưởi.

Ở nước ta trong thời gian gần đây, có quá nhiều thông tin khoa học được báo chí đưa tin nhưng chưa bao giờ được công bố trên các tập san quốc tế, và chưa bao giờ qua bình duyệt bởi giới chuyên môn.

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Tin khoa học được phổ biến đến đại chúng ngày càng nhiều trên các phương tiện truyền thông (Ảnh: http://www.jmir.org)
Vài tuần qua, giới khoa học trong và ngoài nước xôn xao về bản tin cho biết các nhà khoa học Việt Nam đã thành công trong việc ứng dụng kĩ thuật tế bào gốc để điều trị một bệnh nhân bị hỏng mắt (hội chứng Stevens – Johnson). Nhưng theo dõi tin tức thì thấy một số chuyên gia trong hội đồng nghiệm thu đề án nghiên cứu tỏ ra dè dặt trước kết quả này vì họ cho rằng có thể các nhà nghiên cứu do hiểu lầm về thành quả của mình và hiểu lầm này có thể xuất phát từ vấn nạn thiếu thông tin khoa học.

Thật ra, vì nghiên cứu này chưa bao giờ được công bố trên một tập san khoa học quốc tế, nên rất khó mà đánh giá thành tựu của công trình nghiên cứu này.

Tôi thấy ý kiến của GS. Nguyễn Văn Thuận là hoàn toàn hợp lí khi ông nói “Mọi công trình nghiên cứu phải được đánh giá thông qua các tạp chí khoa học thế giới. Như vậy, không cần phải có hội đồng nghiệm thu làm mất thời gian mà lại tranh thủ được sự góp ý của các nhà khoa học trên thế giới trong nghiên cứu của mình".

Để tiếp theo ý này của GS. Thuận, tôi xin trích lại câu nói nổi tiếng của giáo sư Frank Davidoff, cựu tổng biên tập tập san Annals of Internal Medicine (một tập san y học hàng đầu trên thế giới) rằng “khoa học chỉ tồn tại sau khi kết quả của nghiên cứu khoa học được công bố trên các tập san quốc tế".

Cũng cần nói thêm rằng vì năng suất khoa học nước ta (tính theo số lượng bài báo khoa học trên các tập san quốc tế) còn quá khiêm tốn. Tôi đã làm phân tích và thấy số lượng bài báo khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/10 của Singapore và 1/5 của Thái Lan. Do đó, vấn đề công bố quốc tế cần phải được xem là một chuẩn mực trong hoạt động khoa học ở nước ta. Thực hiện chuẩn mực này sẽ đảm bảo chất lượng thông tin khoa học tốt hơn trong tương lai.

Nên chăng ở nước ta cũng đã đến lúc cần thực hiện “Qui ước Ingelfinger" trong công bố thông tin khoa học ? Vậy "Qui ước Ingelfinger" là gì?

Truyền thông Việt Nam nên áp dụng “Qui ước Ingelfinger“

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn

Bác sĩ Franz J. Ingelfinger (trái). (Ảnh: http://usuarios.cultura.com.br)

Năm 1969, bác sĩ Franz J. Ingelfinger (1910-1980) được bổ nhiệm làm tổng biên tập tập san New England Journal of Medicine (NEJM), một tập san có lịch sử trên 100 năm và cho đến nay vẫn là tập san số 1 trong ngành y.

Khi mới nhậm chức, ông phát hiện một số công trình nghiên cứu khoa học đang được xem xét cho in hay sắp in trên tập san NEJM đã được hệ thống truyền thông đại chúng... công bố trước!

Không hài lòng trước tình trạng “cầm đèn chạy trước ô tô” này, ông đề ra một qui ước mà sau này được biết đến là Qui ước Ingelfinger. Theo Qui ước Ingelfinger, NEJM sẽ không công bố bất cứ bài báo nào nếu kết quả bài báo đó đã được các cơ sở truyền thông đại chúng đưa tin.

Thoạt đầu, Qui ước này bị giới báo chí phản đối dữ dội, và ngay cả giới y khoa cũng không đồng tình. Nhưng ngày nay tất cả các tập san khoa học đều chấp nhận đây là một biện pháp để đảm bảo chất lượng thông tin y khoa đến công chúng.

Để hiểu tầm quan trọng và ý nghĩa của Qui ước Ingelfinger, có lẽ cần phải điểm qua vài nét chính trong qui trình nghiên cứu khoa học. Xin nói thêm rằng tôi chỉ nói đến nghiên cứu khoa học thực nghiệm, như y sinh học, vốn có truyền thống tương tác với truyền thông, chứ không nói đến các ngành “khoa học cơ bản” như toán học.

Sau khi một công trình nghiên cứu được hoàn tất, nhà nghiên cứu thường trình bày kết quả trong một (hay vài) hội nghị chuyên ngành cấp quốc tế hay quốc gia dưới hình thức một bài báo ngắn. Mục đích chính của việc trình bày kết quả trong hội nghị là xin ý kiến phản biện của các đồng nghiệp. Sau khi đã có những ý kiến phản biện, nhà khoa học soạn một báo cáo đầy đủ hơn và đệ trình cho một tập san chuyên ngành để được bình duyệt (hay phản biện) nghiêm chỉnh hơn. Qua bình duyệt, bài báo có thể được chấp nhận hay từ chối cho công bố.

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn

Ảnh minh hoạ (Ảnh: medmeeting.googlepages.com)

Theo Qui ước Ingelfinger, chỉ khi nào bài báo được công bố trên một website hay báo giấy của tập san thì nhà nghiên cứu mới có quyền được tiếp xúc với giới truyền thông đại chúng để nói về thành quả nghiên cứu của mình. Trong thời gian bài báo còn được bình duyệt, hay ngay cả sau khi đã được chấp nhận cho công bố nhưng chưa đưa lên website, nhà nghiên cứu vẫn không có quyền tiếp xúc với truyền thông.

Do đó, một khi bản tin được chuyển tải đến công chúng, thì các chi tiết về ý tưởng, phương pháp, kết quả, và diễn giải của công trình nghiên cứu được phê bình và duyệt qua bởi những chuyên gia trong ngành, và đảm bảo chất lượng của thông tin. Nếu không qua khâu “nội bộ” này thì công chúng không thể biết công trình nghiên cứu đó có giá trị khoa học ra sao, phương pháp đúng hay sai, cách suy luận có quá đà hay không...

Nhưng trong thực tế vẫn có một số nhà khoa học vì lý do nào đó vi phạm quy ước này. Năm ngoái, một chuyên gia về bệnh tim mạch, giáo sư Martin Leon, tiết lộ với báo chí về kết quả của một công trình nghiên cứu mà ông bình duyệt cho tập san NEJM, nhưng công trình chưa được công bố. Hệ quả là ông bị tập san “kỉ luật”, không cho công bố bài báo trên tập san trong vòng 5 năm, và cũng tước luôn vai trò chuyên gia bình duyệt cho tập san.

… Có thể xem các bài báo trên các tập san khoa học như là những viên gạch để xây dựng kho tàng tri thức con người. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, thiết tưởng đã đến lúc giới truyền thông Việt Nam nên áp dụng Qui ước Ingelfinger để đảm bảo chất lượng thông tin khoa học cho công chúng. Giới truyền thông chỉ nên công bố những thành quả khoa học nào đã qua bình duyệt bởi chuyên gia, hay đã được công bố trên một tập san khoa học quốc tế.

Tập san khoa học quốc tế phải có tên trong danh bạ của ISI

Thật ra, cụm từ “tập san khoa học quốc tế” là cách gọi của các nhà khoa học nước ta, và cách gọi này có thể gây ra vài hiểu lầm, thậm chí tranh luận. Chẳng hạn như có người lý giải rằng các tập san khoa học của Thái Lan, Lào, hay Myanmar cũng có thể xem là “quốc tế”!

Tuy nhiên, cụm từ “tập san khoa học quốc tế” ở đây dùng để chỉ các tập san có tên trong danh bạ của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information - ISI). Để có tên trong danh bạ của ISI, tập san phải đáp ứng một số yêu cầu và tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng bài báo khoa học, thành viên ban biên tập, cơ chế bình duyệt (peer-review), tính quốc tế của ban biên tập và tác giả bài báo khoa học… Mỗi năm, ISI thẩm định khoảng 2.000 tập san trên thế giới, và chỉ 10-12% được công nhận cho vào danh bạ. Tuy nhiên, mỗi năm, một số tập san bị loại ra khỏi danh bạ ISI vì tiêu chuẩn bị xuống cấp hay do gian lận trong việc báo cáo.

Hiện nay có khoảng 7.600 tập san khoa học trên thế giới nằm trong danh bạ ISI; phần lớn xuất phát từ Mỹ và Âu châu. Các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Singapore… đều có một số tập san được ISI công nhận. Không một tập san khoa học nào của Việt Nam có trong danh bạ của ISI.

1 comment:

Pappel said...

Kính gửi thầy Tuấn,
Về tiêu chuẩn bài báo đăng trên "tạp chí khoa học quốc tế" mà MoET có dự kiến đưa vào để tuyển NCS, thực tế nó rất không rõ ràng và bị lên án khá nhiều trong các trường ĐH.

Một mặt, thật khó xác định tiêu chuẩn "quốc tế" của một tạp chí - cũng như thầy và nhiều đồng nghiệp khác đã nói, liệu việc đăng bài trên tạp chí của một đại học Lào hay Campuchia có được gọi là có bài viết đăng trên "tạp chí khoa học quốc tế"? (Thật ra điều này có thể được lắm chứ? Ai nói là Lào hay Cam bốt sẽ không có những viện, trường, tạp chí đạt đẳng cấp quốc tế???)

Mặt khác, nếu lựa chọn một tổ chức trung gian được thừa nhận chung để giải quyết vấn đề đẳng cấp, uy tín của tạp chí, thì cũng gặp rất nhiều bất cập. Thầy đưa ra phương án chọn ISI là đã có thể giải quyết vấn đề "quốc tế" ở rất nhiều lĩnh vực mà các nhà khoa học của các nước "có đối tượng nghiên cứu chung" như các khoa học cơ bản, Y, tế bào học, sinh học người, công nghệ mới, kinh tế phát triển, ... Tuy nhiên ở những lĩnh vực riêng, đặc thù của mỗi nước, vùng miền, ISI không thể giúp gì được cho việc đánh giá này. Lý do của điều này xuất phát từ một trong những tiêu chí lựa chọn của ISI: tần suất được trích dẫn. Hơn nữa, ISI cũng chỉ là một viện thuộc một tập đoàn truyền thông, thông tin mà họ sưu tầm, cập nhật có mục đích cuối cùng là "for sale". Thông tin không có nhiều người cần tham khảo, sẽ không được quan tâm nhiều. Bởi vậy, một nhà khoa học dành cả đời để nghiên cứu văn hóa của người Dao tiền ở miền Bắc Việt Nam chắc chắn sẽ không tìm thấy một cơ hội nào để công bố bài viết lên một tạp chí nằm trong danh mục của ISI. Cũng tương tự như vậy một luật gia Việt Nam nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho trưởng thôn, già làng ở Tây Nguyên cũng không thể công bố kết quả đề tài của mình lên Chicago Kent law review hay Oxfford Law Journal. Mà công bố ở đó để làm gì nhỉ? Thế nhưng ai dám bảo nhà văn hóa dân gian hay luật gia kia không "làm khoa học"?

Dù vậy công trình của họ cũng có thể được nhắc đến thậm chí được công bố trên các tạp chí luật học hay nhân chủng học danh giá nếu đề tài của họ được tài trợ bởi một tổ chức danh giá như AUSAID, SIDA hay CIDA !!!

Bởi vậy có nên bỏ chế độ nghiệm thu bằng một hội đồng?

Vài dòng comment dông dài.
Kính

Một đồng nghiệp khác chuyên ngành với thầy.