Monday, April 21, 2008

Nhà thơ Lê Đạt (1929 - 2008)


Mới nghe tin Nhà thơ Lê Đạt vừa từ trần hồi sáng này (21/4/08) ở Hà Nội. Thật là một tin buồn. Mới 5 phút trước tôi đọc một bài phỏng vấn ông, mà giờ đây ông đã ra người thiên cổ!

Dù đọc sách của ông và về ông khá nhiều, nhưng tôi không biết gì về tiểu sử của ông, ngoại trừ vụ NVGP. Sau đây là những gì tôi biết về Lê Đạt: tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1929, quê ở Á Lữ, Bắc Giang. Ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vào những năm 1950 rồi vắng bóng trên văn đàn suốt 30 năm. Ông trở lại với bạn đọc gần đây qua tập thơ Bóng Chữ xôn xao dư luận cả trong lẫn ngoài nước. Có lần tôi đọc bài của cụ Trương Chính phê cuốn bóng chữ thấy cũng vui vui. Ông cụ Trương Chính có vẻ không hạp với cách dùng chữ và làm thơ của Lê Đạt.

Theo tôi biết thì Lê Đạt chủ trương đường lối thơ "tạo sinh", tức là thơ phải dựa vào "ý tại ngôn ngoại", phải cô đúc, đa tầng, đa nghĩa, và đa ngã. Có điều tôi cảm nhận được là thơ của ông giàu nhạc điệu; nhiều sáng tạo, cách tân; phảng phất nhiều điển cố văn học và lịch sử; chất chứa vô vàn những lối "chơi chữ" tạo hình hóm hỉnh, đòi hỏi ở độc giả một trình độ thưởng thức cao.

Vắng một người thế giới thêm hoang vu. Có lẽ nói không ngoa là sự ra đi của ông cũng là một sự mất mát cho văn đàn Việt Nam. Xin chia buồn cùng gia đình Nhà thơ Lê Đạt từ một người ông chưa hề biết tên hay quen.

Mời các bạn nghe một bài vọng cổ Thích Ca tầm đạo do Út Trà Ôn ca:

boomp3.com

NVT

Cập nhật ngày 22/4/08

Thấy trên trang của Nguyễn Trọng Tạo có một bài viết về Lê Đạt với vài thông tin có ích, tôi xin trích vài đoạn như sau:
http://vanchuong.vnweblogs.com/post/2192/62500

"

Trong những nhà thơ cùng trang lứa, Lê Đạt (cùng với Trần Dần) là nhà thơ vị chữ. Ông đề cao tinh thần lao động chữ của nhà thơ đến mức ông gọi nhà thơ là “Phu Chữ”. Phu hay cu-li cũng vậy, đều cực nhọc muôn phần. Ông ghét thứ thơ đơn nghĩa và gọi nó là “thơ lộ thiên”. Vì vậy ông chủ trương đào sâu vào chữ để tìm ra nhiều vỉa từ nhằm làm cho thơ đa nghĩa, cô đúc và sâu sắc. Và ông muốn những con chữ ấy phải mang dấu ấn riêng của nhà thơ. Trong một bài tiểu luận viết cho báo Thơ theo “đặt hàng” của tôi, ông đã nắn nót viết hai chữ tựa đề là “Vân Chữ”. Ông nói “Vân chữ cũng quan trọng như vân tay ấy mà, có thể làm dấu ấn vào giấy thông hành của nhà thơ”. Thời kỳ chín muồi của thơ ông chính là thời ông cho ra mắt tập thơ Bóng Chữ gây xôn xao dư luận, khen chê “tóe lửa” trên văn đàn. Nhưng sau tất cả những tranh luận về thơ ông, người ta thấy ông có lý. Vậy là sự tìm kiếm sáng tạo mới của nhà thơ đã có tác động đến sự phát triển nền thơ của ta những năm cuối thế kỷ XX.

Tôi gặp ông không nhiều, nhưng lần nào gặp cũng thấy ông cười rất sảng khoái. Ông bảo ông có bệnh cười. Ngay cả trong cuộc họp nghe ai đó phát biểu sai về mình là tự nhiên ông bật cười phá lên. Vì thế mà hồi Nhân Văn Giai Phẩm, có người cho ông là ngông. Nhưng thực ra cái tính ông thế. Năm ngoái tôi đưa mấy nhà thơ hải ngoại đến Phó Đức Chình thăm và phỏng vấn ông, thì cứ sau mỗi câu hỏi là ông lại cười. Ông cười thoải mái rồi mới trả lời. Có ý gì mạnh, ông cũng cười, khiến mọi việc đều nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng những điều ông nghĩ, ông nói thì vô cùng nghiêm túc và sâu sắc.

Tôi là người thế hệ sau, nhưng khi trò chuyện với ông hình như không có khoảng cách. Ông chú ý đọc kỹ từng nhà thơ lớp sau, và yêu mến những gì ông thích. Đấy là tính bình đẳng của một nhà thơ luôn đi tìm cái Mới. Nhớ lần tôi ghi tặng ông tập thơ Đồng Dao Cho Người Lớn, nhà thơ Võ Thanh An bảo tôi: “Mày ghi tặng Sư Phụ đi”, nhưng ông cười rất vui: “Tớ với Tạo là Thi Hữu thôi”, còn tôi đã ghi “Quý tặng Thi Huynh Lê Đạt”, và ông rất vui. Chỉ một chi tiết nhỏ ấy khiến tôi rất ấn tượng và yêu quí ông hơn.


Vâng, một nhà thơ cuộc đời đầy sóng gió như Lê Đạt, mà vẫn kiên trì đi tới đích, cũng không phải dễ hiểu với nhiều người. Tôi nghĩ đơn giản là vì ông có niềm tin vào cái Đẹp mà thơ ông luôn hướng tới. Chỉ có khám phá, sáng tạo đúng lương tâm của mình, đúng cách riêng của mình, đúng tài năng của mình thì ông sẽ gặt được niềm vui chính thơ ca mang lại. Vì thế mà khi nghe tin ông đột ngột qua đời, những câu thơ rất đẹp, rất Lê Đạt cứ vang vọng trong trí nhớ của tôi:

Em về trắng đầy cong khung nhớ

Mưa mấy mùa

mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Em vẫn đây mà em ở đâu

Chiều Âu Lâu

bóng chữ động chân cầu.

Và giờ đây Người Phu Chữ Lê Đạt đã ra đi, nhưng ông vẫn còn đó trong Bóng Chữ của chính ông.

Hà Nội, 21.4.2008"


Và một bài viết khác của Đặng Tiến trên Diễn Đàn:

http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-042/le-dat-va-bong-chu/

Lê Đạt và Bóng Chữ


I. Lăm răm nắng cúc


Bóng Chữ của Lê Đạt ghi lại lịch sử một đời người, qua buồn vui một cá nhân, giữa thăng trầm của dân tộc, và trăn trở của một nghệ sĩ thường xuyên tra vấn ngôn ngữ. Ba yếu tố ấy quyện vào nhau làm nền cho tập thơ, nhưng thành phần thứ ba, những thí nghiệm ngôn ngữ có phần khúc mắc, che lấp tình, ý của tác giả, dễ làm người đọc lạc hướng và lạc lõng. Sự thật Lê Đạt chỉ tạo rung cảm mới bằng một vài thủ pháp : đảo ngữ, ẩn ngữ, nhấn mạnh vào ngữ âm, khai thác tính đa nghĩa trong từ vựng, sử dụng điển cố văn học một cách rộng rãi, từ tục ngữ, ca dao đến thi pháp nước ngoài. Khai thác kinh nghiệm những người đi trước, từ Baudelaire, Maiakovski đến thơ siêu thực và hiện đại Pháp, tiếp cận những lý thuyết văn học, ngữ học và nhân học mới, Lê Đạt thực tâm muốn làm mới thơ mình. Nói theo ngôn ngữ phê bình hiện đại, thì Lê Đạt khai thác triệt để khả năng văn học của ngôn ngữ về hai mặt từ hệ (paradigme) và từ tổ (syntagme), lịch đại (diachronie) và đồng đại (synchronie). Thơ Lê Đạt, dù cầu kỳ, cũng không thoát khỏi bốn cạnh của ô vuông đó.

Thử đọc một câu thơ Lê Đạt :

Liễu đầu cành
độc thoại đoạn trường xanh

(Tỏ Tình, tr. 35)

Chữ nghĩa, mặc nhiên, nhắc tới cuộc chia ly trong Chinh Phụ Ngâm :

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng
(Dương liễu na tri thiếp đoạn trường)

Chữ độc thoại sâu sắc : con người hỏi cây liễu về nỗi lòng mình, còn cây liễu thì... hỏi ai ? Lê Đạt đã nói lên được niềm cô đơn câm nín của những cuộc đời không có tiếng nói, hay có tiếng nói mà không ai nghe, không ai hiểu.

Chữ xanh trong “ đoạn trường xanh ” rất hay vì nhắc lại ý “ đoạn trường tân thanh ”, và tạo cho hai chữ “ tân thanh ” một ý nghĩa khác với Nguyễn Du.

Vẫn một chữ liễu :

Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thướt
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình

(bài Nguyễn Du, tr.112)

Câu thơ nhắc đến Kiều, đoạn tả Thanh minh :

Dưới dòng nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

và có lẽ cần nhớ thêm cầu thệ thuỷ với quán thu phong của Ôn Như Hầu. Trong Kiều, khi chàng Kim ngoái lại nhìn, còn thấy Thuý Kiều, dần dần hình ảnh cô gái nhoà đi trong dáng liễu, nhưng vẫn còn dáng liễu và ánh nắng. Trong Lê Đạt, hạnh phúc qua đi là mất hết.

Một chữ liễu khác :

Cười tít ông già gốc liễu
Ở ẩn
còn trồng bích đào

(bài Đào Uyên Minh, tr.102)

Đào Tiềm, tự là Uyên Minh có bài ký kể Chuyện Ông Già Năm Cây Liễu, lánh đời, ẩn dật bên cạnh năm cây liễu. Câu thơ Lê Đạt tinh quái ở một chữ “ còn ” đối lập “ ở ẩn ” với “ bích đào ”, ý nói tránh tục luỵ mà vẫn còn mê nhan sắc. Chữ cười tít thân mật, hài hước, ngụ ý : trồng liễu, trồng cúc hay bích đào, mê say cái này hay cái khác ở đời, cũng vậy thôi.

Người xưa có chuộng cánh chim chiều trên núi Nam San như Đào Tiềm hay yêu cô gái hái sen như Bạch Cư Dị :

Cô gái trộm hái sen
về ủ tuổi
Lỏng khuy cài
gió cởi
một dòng hương

(bài Bạch Cư Dị, tr.104)

Ngày nay thích cái quần jin xổ dài cũng vậy thôi.

Bài thơ về Hồ Xuân Hương vỏn vẹn hai câu :

Xuân chẳng buông hương,
Sao bướm vượt đường
Kìa hoa leo tường
là hoa dâm bụt

(bài Hồ Xuân Hương, tr.112)

Câu sau cấu trúc theo đồng dao lại dựa trên hình ảnh leo tường theo cổ văn (Mạnh Tử, Tống Ngọc...) gợi cảnh trai gái vụng trộm, nhưng người đọc không cần hiểu đến ngành đến ngọn như thế, cũng đoán ra được ý. Và hay nhất là chữ “ dâm bụt ”, một loài hoa dại “ không trồng mà mọc ” tươi thắm, lộ liễu, nở trên những hàng rào bờ giậu : đã bụt rồi mà vẫn còn... dâm. Ranh mãnh không kém Xuân Hương. Một lối đối lập như vậy nhưng đau thương hơn :

Ai xui em đẹp em xinh
Ba lần con thiến gáy

(Mới Tuổi, tr.25)

Đau đớn vì một chữ “ thiến ” : con gà, bộ phận sinh dục bị phế thải, mà vẫn còn tình yêu, vẫn còn thê thiết “ gáy ”. Tiếng gọi tình tuyệt vọng, “ não nùng ” hơn tiếng gà trong thơ Lưu Trọng Lư. Ba lần là tiếng gọi hồn :

Hương thắp ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh

(Thanh Minh, tr.134)

Thơ Lê Đạt thường đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ về từ ngữ, ngay cả trong những đề tài thời sự :

Tuổi Việt Minh
thu băm sáu bến cờ hồng
Áo bướm phố truyền đơn
Nắng rám
má bòng thơm mười chín

(Tuổi Việt Minh, tr.100)

Hai câu đầu dễ đoán : Hà Nội ba mươi sáu phố phường, vào những ngày cách mạng mùa thu tràn ngập cờ hồng. Và truyền đơn bươm bướm bay như những tà áo, Hàng Đào, Hồ Gươm đã một thời nổi tiếng. Nhưng còn “ má bòng ” ? Ở đây phải biết câu tục ngữ : tháng tám nắng rám trái...bưởi, chị em với...bòng ! Từ đó, ló ra ý “ tháng tám ” và “ mười chín ” là ngày Hà Nội cướp chính quyền 19-8-1945. Dĩ nhiên ai hiểu tuổi mười chín thơm đôi má hay má chín như trái bòng, cũng không sao.

Thu Nhà Em là một bài thơ hay và trong sáng :

Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó

Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió

Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao

(Thu Nhà Em, tr.26)

Âm điệu bay nhẹ trên những cánh thơ sáu chữ nhiều âm bằng, nhiều chữ em và vần m. Một câu thơ cô đúc :

Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ

Chữ “ lăm răm ” không có trong từ điển, có lẽ do Tản Đà sáng tạo trong bài Gửi Chị Hàng Cau (1916) :

Ai đang độ ấy lăm răm mắt

Tản Đà tạo ra từ “ lăm răm ” trên nhiều cơ sở : tiếng Việt đã có những chữ na ná : “ lăm tăm ” và “ lâm râm ” : mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ trong ca dao. Lại có :

– Cô nào con mắt lá răm
Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền

– Cổ tay em trắng như ngà
Đôi mắt em liếc như là dao cau

Bài thơ Tản Đà gửi cô hàng cau, và gợi hình ảnh đôi mắt tình tứ. Trong câu thơ Lê Đạt, chữ lăm răm tả ánh nắng lăm tăm, lăn tăn trên vũng nước, mà đồng thời gợi tác dụng của đôi mắt : hình ảnh toàn bài thơ phản ánh ca dao :

Trên trời có đám mây xanh
(...)
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh

Trong thơ Lê Đạt “ vũng nhỏ ” nhắc lại đôi mắt, vào một ngày thu biêng biếc : nước phải thật trong và trời phải thật xanh, như trong thơ Nguyễn Khuyến, lại có thêm nắng cúc vàng hanh ấm áp.

Bình thường không ai nói “ nắng cúc ” mà chỉ nói trà cúc, rượu cúc : do đó màu nắng dậy lên chất men ngây ngất. Cảm giác ấy, ta có gặp trong văn xuôi : “ Buổi sáng mùa đông ngây ngất vào lối 10 giờ ” (Thanh Tâm Tuyền, Bếp Lửa, tr.11) hay thơ Huy Cận : Chỉ biết trời xanh là ta say. Người xưa nói : thu ẩm hoàng hoa tửu là ám chỉ rượu cúc. Lê Đạt không nói gì về rượu, người đọc vẫn ngất ngây, cho đến câu cuối :

Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao

Câu thơ trước chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nói lên được năm cảm giác của ngũ quan. Câu dưới biến từ loại (nature grammaticale) thành từ tính (qualificatif). Chữ “ rất ” biến “ em ” thành tính từ, trong khi chữ “ xanh ” trở thành thể từ. Không gian từ hữu thể như tan biến, như thăng hoa thành vô thể, trong “ quãng trời hình như không có màu nữa, cao lên và rộng mông mênh ” (Nhất Linh, trong Đôi Bạn, tr. 211).

Thu Nhà Em là một bài thơ hay và hàm súc. Bình luận sẽ không cùng khi đã biết rằng :

Nông nỗi heo may từ đó...

Đặng Tiến

(còn tiếp)


(1) In lại trong Tác Phẩm Mới, Hà Nội, số 3-1992

(2) Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, tháng 10 và 12 năm 1973


No comments: