Thursday, May 1, 2008

Một người viết báo kể chuyện Sài Gòn 30/4

Có rất nhiều câu chuyện mà người miền Nam thường hay kể ra để “nói xấu” bộ đội miền Bắc rất ngô nghê khi mới vào miền Nam sau 1975. Nào là khi được hỏi ngoài ấy có tủ lạnh hay không bộ đội thường khoe rằng ở ngoài Bắc tủ lạnh chạy đầy đường; thấy đồng hồ tự động thì họ nói đồng hồ “không có người lái”, và nhiều câu chuyện khác chỉ có thể nói là cười ra nước mắt. Cũng chỉ thể hiện cái inferiority complex mà thôi.

Thật ra, mấy câu chuyện đó được dân miền Nam kể lại (hay có khi sáng chế ra) để hàm ý chê dân Bắc “lạc hậu”. Nhưng làm sao biết thế nào là lạc hậu hay văn minh? Tôi nghĩ tất cả chỉ là văn hóa thôi. Dân ta khi ra ngoài này có biết lái xe đâu (lái xe hơi được xem là “văn minh”) vì hồi nào đến giờ chỉ đạp xe đạp hay chèo xuồng thôi. Nhưng nếu hỏi lại dân Tây có biết chèo xuồng không thì chắc chắn phần lớn chẳng biết. Vậy thì ai lạc hậu hơn ai, và lấy cái gì để làm cái chuẩn để định nghĩa văn minh với lạc hậu? Không dễ đâu. Thật ra, phần lớn người Tây phương vẫn xem dân Việt (hay Á châu nói chung) như ta xem người dân tộc là “mọi”. Thành ra, chê người mà không xem lại cái lưng mình thì cũng … phiền lắm đấy.

Bài sau đây ghi lại những chuyện ngộ nhận khi bộ đội mới vào Nam, đọc nhiều khi cũng cười ra nước mắt hay tội nghiệp. Còn bây giờ thì chắc khác rồi: người ngoài Bắc có lẽ muốn chứng minh mình không “lạc hậu” nên tỏ ra ăn chơi “quá cỡ thợ mộc” (thật ra là lố bịch).

NVT

====

http://www.tienphongonline.com/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=120954&ChannelID=13

Thứ Năm, 01/05/2008, 07:47

Một người viết báo kể chuyện Sài Gòn 30/4

TP ... Sáng 30/4, Sư đoàn 7 của tôi được lệnh xuất kích đánh chiếm Sài Gòn ở hướng Đông - Bắc. Đơn vị tôi ngồi xe bọc thép, xe tải chở quân. Còn tôi làm báo nên được đi xe máy Honda với cơ sở nội thành.

Dọc đường Xuân Lộc- Biên Hoà-Sài Gòn, quân Ngụy tan tác thành từng mảng, cởi bỏ súng đạn, quân trang, quân dụng vứt ngổn ngang dọc đường như rác dày đặc. Một giờ chiều chúng tôi vào tới Dinh Độc Lập.

Sư đoàn 7 được lệnh quân quản Quận Một. Bà con Sài Gòn đứng đông nghịt bên đường, phụ nữ mặc áo dài hoa, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào...

Một giờ chiều chúng tôi vào tới Dinh Độc Lập. Sư đoàn 7 được lệnh quân quản Quận Một. Bà con Sài Gòn đứng đông nghịt bên đường, phụ nữ mặc áo dài hoa, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào. Sài Gòn trưa tháng tư, nắng long lanh như mật.

Mùi sầu riêng ở cửa ngõ Xuân Lộc

Sư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1/4/1975. Sư trưởng Nam Phong lệnh không được ai chặt chuối của dân. Rừng chuối Xuân Lộc rộng đến nỗi có đường ô tô ngang dọc để xe ô tô đi thu hoạch.

Trong thời gian tấn công Xuân Lộc, anh em “làm báo” của sư đoàn như Phùng Khắc Bắc, tôi, Dương Huy... được điều về hầm chỉ huy Sư đoàn để hàng ngày nghe thông tin từ các mũi. Anh Phùng Khắc Bắc (Nhà văn, giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1992 với tập thơ “Một chấm xanh”, mất năm 1990) vào B2 (chiến trường Đông Nam Bộ) từ đầu năm 1967, ở khu 6. Trông anh gầy và đen như gỗ lũa, chỉ đôi mắt là long lanh sáng.

Tính anh hiền hậu, hay cười. Anh làm ở Ban tuyên huấn Sư đoàn, chuyên trách “bản tin”. Cuối năm 1973, anh Bắc đưa Đoàn văn công Sư đoàn về biểu diễn tại cứ Đồng Xoài, bên bờ Sông Bé phục vụ tiểu đoàn tôi. Chương trình văn nghệ gồm các tiết mục của Đoàn và các tiết mục chiến sĩ “tự biên”.

Thấy trong sổ tay tôi có bài thơ “Bài ca chốt chặn” viết về những ngày thực hiện hiệp định Pari ở đường 14, anh Đại, chính trị viên Đại đội (người Nam Hà, Việt kiều Thái Lan về nước) bắt tôi lên “ngâm” bài thơ. Tôi không ngâm được, mà đọc. Anh Phùng Khắc Bắc tìm đến, hỏi tôi làm được nhiều thơ không, có viết báo được không.

Tôi bảo tôi viết báo từ hồi nhỏ học cấp 2 ở làng, còn thơ thì mới viết. Anh bảo anh chưa bao giờ làm thơ, chỉ viết ít truyện ký và báo. Sau chuyến đi ấy anh về đề nghị với Sư đoàn điều tôi lên Ban chính trị để làm bản tin. Đợt đánh Xuân Lộc này, anh em cùng nhau ở một chỗ nên rất vui. Đêm đầu tiên đánh cứ điểm Xuân Lộc, bộ đội ta mấy lần ôm bộc phá vào mở cửa mở, nhưng địch bắn rát quá, thương vong nhiều.

Sư trưởng Nam Phong hét vào điện thoại chỉ huy hết mũi tiến công này đến mũi tiến công khác. Ông đang chỉ huy trận đánh mà nói năng rất tếu. Sư trưởng điện cho anh Đình chính trị viên D2 ( tiểu đoàn 2): “Cái chốt bằng cái l. trâu ấy mà một ngày rồi các anh không ăn được à? Tôi ra lệnh nội đêm nay phải ăn cho hết cáo l. trâu đó, nghe rõ chưa!”. Câu ra lệnh làm mọi người trong hầm chỉ huy ôm bụng mà cười.

Đêm hôm sau, tôi được cử ra chỗ bộ đội tiểu đoàn 2 đang đánh bộc phá mở cửa để tấn công một cứ điểm của địch để viết bài. Mật khẩu được phổ biến là “Sông Hồng”, phải trả lời là “Mê Kông”. Tôi đi một mình trong đêm trăng mờ giữa tháng 4. Bốn bề là rừng chuối và trảng cỏ khô! Tôi đang hoang mang tìm hướng đi thì nghe một tiếng quát “Sông Hồng”.

Thế là tôi quên béng việc trả lời bằng mật khẩu, mà gọi toáng lên: “Tôi là Khôi ở Ban chính trị đây!” Anh chiến sĩ đến chỗ tôi, cười bảo, em được lệnh đi đón nhà báo Sư đoàn từ tối tới giờ, đợi mãi. Biết là anh bị lạc đường. Mà sao anh không trả lời bằng mật khẩu? May em là người đi đón, tiểu đoàn cho biết tên anh, nếu không thì “toi” rồi đấy”! Tôi chui vào hầm tiền tiêu của đại đội Bảy. Ba chiến sĩ ôm bộc phá lên đánh hàng rào bị thương, máu chảy nhiều, được băng bó tạm bằng băng cá nhân, đang nằm rên ở góc hầm, đợi cáng về trạm phẫu thuật tiền phương.

Mấy anh em khác lại đang cười đùa, hò hét đánh bài “tiến lên”, trông mặt mũi anh nào anh nấy điềm nhiên như chẳng có việc chỉ một vài phút nữa thôi ba người trong số họ lại bò lên hàng rào đánh bộc phá, rồi có thể hy sinh và bị thương như đồng đội đang nằm kia! Ở chiến trường miền Đông ác liệt này, không điềm nhiên như thế không sống mà đánh giặc được!

Đêm 20 tháng 4, trước sức tấn công của Quân giải phóng, đường vô Sài Gòn bị chặt đứt ở Dầu Giây, sư đoàn 18 Ngụy Sài Gòn bỏ chạy khỏi Xuân Lộc, sư trưởng sư 18 là tướng Lê Minh Đảo chạy về phía Vũng Tàu bị quân giải phóng bắt. Sau này, đọc hồi ký của Thượng tướng Trần văn Trà, mới biết sáng kiến cắt đứt con đường từ Xuân Lộc nối Sài Gòn ở Dầu Giây là của một đồng chí Trung đoàn trưởng trong cuộc họp giao ban Bộ chỉ huy Miền, chứ không phải của ông tướng chỉ huy nào cả.

Đơn vị tôi hành quân vòng qua thị xã thì đã quá nửa đêm, nên được lệnh nghỉ. Để đảm bảo bí mật, tất cả rờ rẫm mắc võng trong đêm. Nằm lắc lư trên võng, tôi nghe mùi hương quả chín thơm vào trong giấc ngủ. Sáng dậy, trời đất ơi, ngay trên đầu võng tôi, một trái sầu riêng trĩu xuống, thơm lừng. Tôi bật dậy, nâng trái sầu riêng lên mũi...

Những ngày đó đơn vị tôi đóng quân ở rừng cao su Xuân Lộc, học chính trị, điều lệnh dân vận mới để chuẩn bị đánh Sài Gòn. Chúng tôi cắt tóc, cạo râu cho nhau. “Trước một trận đánh lớn vào “Cao điểm cuối cùng”, người chiến sĩ phải đàng hoàng. chững chạc”- Sư trưởng Nam Phong nói như vậy!

Sáng 30/4, Sư đoàn 7 của tôi được lệnh xuất kích đánh chiếm Sài Gòn ở hướng Đông - Bắc. Đơn vị tôi ngồi xe bọc thép, xe tải chở quân. Còn tôi làm báo nên được đi xe máy Honda với cơ sở nội thành. Dọc đường Xuân Lộc- Biên Hòa - Sài Gòn, quân ngụy tan tác thành từng mảng, cởi bỏ súng đạn, quân trang, quân dụng vứt ngổn ngang dọc đường như rác dày đặc. Một giờ chiều chúng tôi vào tới Dinh Độc Lập.

Sư đoàn 7 được lệnh quân quản Quận Một. Bà con Sài Gòn đứng đông nghịt bên đường, phụ nữ mặc áo dài hoa, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào. Sài Gòn trưa tháng tư, nắng long lanh như mật. Đơn vị tôi tập kết ở Sở Thú Sài Gòn.

Các mẹ, các thiếu nữ khoác khăn rằn, gánh tới những nồi cháo gà bốc khói thơm lựng. Các mẹ múc từng tô đưa cho chúng tôi, rồi ngồi ngắm chúng tôi ăn, như ngắm đàn con ở nhà. Tôi có cảm giác cháo gà ngon như cháo mẹ tôi nấu khi tôi còn nhỏ! Đó là bữa ăn đầu tiên trên đất Sài Gòn giải phóng!

In báo thủ công ở Sài Gòn

Sài Gòn 1975, công nghệ in báo đã đạt đến trình độ tiên tiến. Nhưng vào Sài Gòn từ 30/4, những người làm báo thủ công chúng tôi vẫn in báo theo cách của mình ở chiến khu. Vì bộ đội giải phóng hành quân nay đây mai đó, rất ít được đọc báo miền Bắc gửi vào hay báo xuất bản ở vùng giải phóng, nên đã hàng chục năm nay, nhiệm vụ của Ban chính trị là sau mỗi trận đánh hay một đợt huấn luyện phải ra “bản tin” và các tập sách “chuyên đề” để phát cho bộ đội đọc, Bản tin Sư đoàn 7, gọi là “Chiến Thắng”.

Tổ “Bản tin Ba Vì” chúng tôi có anh Dương Huy người Hà Đông, anh Toan, anh Minh chụp ảnh và tôi là người trẻ nhất. Tham gia viết ở các tiểu đoàn có anh Lê Huy Khanh, Nguyễn Quốc Trung (sau này đều trở thành nhà văn Việt Nam).

“Công nghệ in báo” của chúng tôi rất thủ công lạc hậu, không khác gì thời đánh Pháp. Đầu tiên là đánh máy vào giấy stelcil, đánh chia cột theo “mi” báo, có chừa chỗ để in tranh và kẻ tít. Tít báo thì kẻ bằng bút kim. Tất cả trình bày trên tờ giấy nến cỡ 30x40 cm.

Khi in, dán tờ giấy nến vào mặt sau khung lụa, đặt giấy báo bên dưới khung in, vặn vít cố định, rồi bắt đầu lấy một cái chổi bằng xơ dừa, quệt mực liên tục. Quệt “nháp” khoảng 20 tờ, thấy đều mực mới in chính thức. Khi in hai màu thì chờ khô màu thứ nhất, lại đưa vào khung in, in màu thứ hai, in màu thứ ba.

Vào Sài Gòn, việc đầu tiên của “tổ báo” chúng tôi là đi kiếm giấy in báo, vì hành quân cả mấy tháng trời hết nhẵn. Tôi nghĩ ra cách đến các nhà in của ngụy để lấy. Lúc này ở Sài Gòn đang có phong trào “giúp bộ đội giải phóng”. Ai giúp thì được Sư đoàn cấp một giấy xác nhận thành tích có chữ ký sư trưởng Nam Phong đóng dấu đỏ hẳn hoi. Chúng tôi được phát những tờ khống chỉ như thế để làm quân quản.

Tôi ra gọi một chiếc xe lam. Cậu y tá tên Thành, người Thái Bình ở trung đoàn bộ được điều đi giúp tôi lấy giấy in báo. Khi ra đường thấy chiếc xích lô máy chở nước đá cây đang lóng lánh bảy sắc cầu vồng trong nắng tháng Năm Sài Gòn, vì dân quê đi bộ đội là vào rừng, lần đầu tiên đến thành phố nên Thành không biết đó là thứ gì, Thành níu vai tôi la toáng lên:

“Anh Khôi ơi! Kim cương! Kim cương nhiều chưa kìa!”. Tôi nín cười, mắng: “Im đi, họ cười cho đấy, đó là nước đá, họ làm đông nước thành đá!”. Thế mà chỉ vài ngày sau, cậu ta lại là người sáng kiến lấy giấy báo để ủ để nước đá lâu tan.

Chúng tôi in báo Trung đoàn, Sư đoàn bằng “công nghệ thủ công” ấy mãi đến năm 1976 mới thôi!

Ăn cầy tơ và cưới vợ

Vô Sài Gòn, Ban chính trị chúng tôi ở số nhà 11, hẻm Cây Điệp, đường Nguyễn Đình Chiểu. Hôm trước hành quân vào Sài Gòn, chúng tôi thấy trên đường có rất nhiều quán quảng cáo “A, đây rồi! Cầy tơ bảy món”, nên hôm sau mấy anh dân Bắc thèm cầy tơ, bèn rủ nhau đi kiếm. Khoảng chín giờ đêm, sinh hoạt đơn vị xong, tôi và anh Lạc lẻn ra phố.

Bấy giờ là giờ thiết quân luật, nên khi nghe chúng tôi gõ cửa bảo: “Quân giải phóng đây”, thì chủ nhà mở cửa, mặt mày xanh lét, vì sợ! Nhưng nghe chúng tôi hỏi: “Có thịt cầy và rượu bán không bố?”, thì ông tròn xoe mắt ngạc nhiên, rồi mỉm cười xởi lởi. Không hiểu sao mấy hôm chiến sự căng thẳng thế mà quán này vẫn có thịt cầy và rượu.

Ông chủ quán hỏi các chú cần món gì. Chúng tôi kêu vài món thịt phay, thịt hong... Ông gọi đứa con gái dậy, vào bếp thái chặt, rồi bưng ra, gói thịt và rượu cho bộ đội.

Không biết giá bao nhiêu, nhưng lần đầu nên chúng tôi trả 500 đồng tiền ngụy, ông không lấy (phụ cấp của chúng tôi mỗi người được 2.000 đồng tiền ngụy một tháng. Hai ngàn đồng lúc đó có thể mua được gần tạ gạo). Anh Lạc liền rút tờ tiền Cụ Hồ 10 đồng của miền Bắc, mà anh mang giữ như một kỷ vật suốt bảy năm vào chiến trường ra biếu ông! Tờ Cụ Hồ 10 đồng lúc đó có thể mua được một chiếc đồng hồ Orien “ba cửa sổ”! Ông chủ quán cầm tờ tiền run run ấp vào ngực, rồi cám ơn rối rít.

Chúng tôi ra khỏi cửa còn nghe vọng tiếng cô gái: “Việt Cộng mà cũng ghiền thịt cầy, hay quá ba heng!”.

Đêm đó, anh Phùng Khắc Bắc ở Ban chính trị Sư đoàn về chơi uống rượu, tán gẫu. Anh bảo, khoảng tháng sau anh được đi phép ra Bắc. Anh em mừng lắm. Anh vào B từ năm 1967, đã tám năm trời rồi chả nhận được tin tức gì của gia đình cả.

Bẵng đi ba tháng, anh lại xuất hiện. Anh kể chuyện về nhà lo tiền cưới vợ mà cười ra nước mắt. Anh bảo mình về quê (anh quê ở Hà Tây nhưng gia đình chuyển lên thị xã Dĩnh Kế, thị xã Bắc Giang lâu rồi) các cụ bảo cưới vợ. Các cụ đã dạm cho một cô hàng xóm, cũng được lắm, mình thích ngay! Ngặt nỗi, gia đình mình thì nghèo, nhưng nghĩ mình đã ba hai tuổi rồi, phải lấy vợ để các cụ yên tâm.

Thế là có thằng bạn cấp ba cũ bày cho cách “lái lợn” kiếm tiền. Nó cho mình vay tiền, rồi dẫn mình đi mua lợn ở quê, về bán chui cho chủ lò mổ. Ngày ngày Phùng Khắc Bắc xắn quần móng lợn đạp xe đi mua heo, rồi về thị xã “nhập” cho chủ lò mổ! Thế mà đợt làm “lái lợn” ấy lời được hẳn con lợn để mổ trong ngày cưới mời bà con hai họ!

Không biết chuyện có thật hay “nhà văn nói láo nhà báo nói thêm” mấy chục phần trăm, nhưng kể xong, anh Bắc cười rung gò má xạm đen, rồi hai hàng nước mắt giàn giụa! Vài hôm sau, nhà văn Nam Hà từ Hà Nội vào, ngủ lại với chúng tôi ở hẻm Cây Điệp. Nghe chuyện Phùng Khắc Bắc về quê cưới vợ, anh lại bốc kể chuyện anh cũng mới ra Bắc, vừa yêu vừa cưới cấp tốc chỉ hơn tuần, cưới xong thì vào lại chiến trường...

Đi chợ Sài Gòn 30/4

Dọc đường từ Xuân Lộc vào Biên Hòa, trên sa lộ Sài Gòn có trưng rất nhiều tấm biển to tướng với đủ màu sắc lòe loẹt. Lớn nhất và gây ấn tượng là tấm biển vẽ một gương mặt người da đen đang cười, khoe hàm răng trắng tinh, đều răm rắp với chữ Hynos to tổ bố.

Tấm biển rộng hàng chục mét vuông, được dựng bằng khung sắt bê tông cao lớn giữa cánh đồng, đi xa hàng chục cây số vẫn thấy! Tôi hỏi một chị du kích dẫn đường ở Biên Hòa là họ vẽ cái gì thế. Chị nhìn tôi như thể từ mặt trăng rơi xuống, rồi cười toáng lên: “Họ quảng cáo loại thuốc đánh răng tên là Hynos! Cả miền Nam này dùng loại thuốc đánh răng này đấy!”.

Từ ngày 1/5/1975, ở Sài Gòn mua bán vẫn diễn ra bình thường. Sáng hôm đó và những ngày sau, chúng tôi lại “trốn” đi chợ Bến Thành, chợ Lớn. Lúc này, dù là quân quản nhưng các chợ ở Sài Gòn bà con tiểu thương vẫn buôn bán bình thường. Các cửa tiệm quần áo may sẵn, vải, len, dạ... vẫn mở cửa. Các xe nước mía, nước sinh tố, các xe bánh mỳ… rôm rả tiếng chào mời.

Loại hàng chạy nhất lúc ấy là cờ đỏ sao vàng đủ loại to nhỏ và tấm biển mi-ca nền đỏ chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Người ta đổ nhau đi mua. Cờ đỏ sao vàng để treo ở cổng nhà và lập bàn thờ Tổ Quốc có ảnh Bác Hồ, còn tấm biển “Không có gì quý hơn đọc lập tự do” để gắn lên tường.

Sau này tôi mới biết là các loại cờ, biển ấy là do làng Thổ Tang (Vĩnh Phúc) sản xuất và họ ùn ùn chở vào Nam theo ngay sau đoàn quân giải phóng! Nhạy bén như thế phải gọi là siêu! Loại hàng thứ hai là phù hiệu, quần áo quân giải phóng! Bà con tiểu thương Sài Gòn không biết rằng, quần áo, sao mũ, quân hàm quân hiệu bộ đội là thứ cấm bán. T

rang phục quần áo, dép cao su bốn quai (dép râu) và cả quân hàm, quân hiệu hai màu xanh đỏ của Quân giải phóng mới toe không biết ở đâu ra mà nhiều lắm, bày la liệt trên các hiệu tạp hóa. Có lẽ bà con cho rằng hễ cứ đeo sao, đội mũ, mặc quần áo bộ đội giải phóng thì khỏi bị làm phiền, sẽ tránh được tai vạ trên đường chăng?

Bán đầy các vỉa hè Sài Gòn trong những ngày đầu giải phóng còn có các thứ đồ dùng của lính Mỹ như bật lửa Zip-pô, các loại dụng cụ ăn uống bằng in-nox như dao, nĩa, thìa, khay đựng thức ăn lính, kể cả bình tông, ca uống nước, ba lô, quạt điện, bàn là, dao cạo râu...

Đó là những món hàng mà người dân hôi được từ các sở Mỹ. Người thì mua dùng, người thì mua để “kỷ niệm”. Chỉ cần vài nghìn đồng tiền Sài Gòn (cũ) hay nghìn tiền giải phóng lúc đó là có thể có một bộ đồ ăn của lính Mỹ mới tinh mà bây giờ có cả trăm nghìn bạc không thể nào mua được!

Loại hàng bán chạy thứ ba là hàng “lưu niệm” bán cho bộ đội về Bắc như: khung xe đạp, rađiô Nhật, đồng hồ Nhật, búp bê nhựa, áo len, khăn voan v.v… Trên các bến xe, hình ảnh người bộ đội ba lô căng phồng, trên buộc một chiếc khung xe đạp và treo vắt vẻo con búp bê có đôi mắt chớp nhấp nháy, long lanh đã trở thành quen thuộc! Các loại khăn len búp bê, áo comple, áo len… thời đó ở chợ Bến Thành, Chợ Lớn mua một chiếc được biếu một chiếc. Tất len (vớ) chỉ 5 đồng một đôi, lại được biếu thêm đôi nữa. Tôi hỏi chị bán hàng ở chợ Bến Thành: “Sao lại mua một biếu một thì còn gì lời lãi !” Chị bảo: “Buôn bán là dzậy, chú!”.

Bộ đội giải phóng đa phần là thanh niên học cấp 2 cấp 3 làng quê miền Bắc. Họ lớn lên ở nông thôn, ra chiến trường lại ở rừng núi, nên vào Sài Gòn anh em rất bỡ ngỡ. Anh Diên người Tày, quê Lạng Sơn là anh nuôi đơn vị tôi.

Ngay buổi sáng 1/5 /1975 đi chợ mua chục con cá lóc. Anh về đếm mãi vẫn cứ 12 con, bèn lật đật ra chợ tìm cho được bà bán cá trả lại hai con vì “tội người ta”, “buôn bán kiểu này thì lời cái gì”. Khi anh tìm được bà bán cá, bà cười toáng lên: “Chú giải phóng ơi, “một chục” ở đây là 12 chứ không phải mười nghen!”. Anh về kho nấu bữa tối, còn hai con cá để lại ngày mai , anh cho vào chỗ bồn cầu vì thấy ở đó có nước! Sáng mai anh đi bắt cá để nấu cháo thì cá không còn nữa. Anh đi báo cáo thủ trưởng, tưởng có người làm mồi nhậu ban đêm. Đến nơi ai cũng ôm bụng cười vì cá thì mất, mà cầu thì tắc, phải nhờ ông thợ hàng xóm sang thông hộ.

Chỉ vài ba ngày sau “anh nuôi” Ban chính trị của tôi đã không phải đi chợ mua thực phẩm nữa, mà đã có các bà ở chợ Cầu Bông gánh cá thịt vào bán ngay ở cổng. Còn các loại xe nước mía, nước sinh tố, các xe bánh mỳ... rôm rả tiếng chào mời đêm ngày. Ở hẻm Cây Điệp, cứ đêm đêm lại có tiếng rao hàng mà luyến láy du dương như hát: Bột nếp, bột mì, nhân đậu, nhân thịt... ờ hơ...”. Lúc đầu tôi chẳng hiểu họ rao gì. Hỏi chủ nhà bên cạnh, mới hay là họ rao bán bánh bao!

Mới đó mà đã ba mươi ba ba năm rồi. Con cái tôi bây giờ nó đã lớn hơn tuổi mình ngày đầu tiên đi mua thịt chó ở Sài Gòn. Nhưng sao những kỷ niệm cứ như mới hôm qua, thơm nức mùi quần áo lính...

Ngô Minh

No comments: