Thursday, August 7, 2008

Viết tiếp về Má tôi


Di ảnh Má tôi, Nguyễn Thị Thinh, pháp danh Thanh Ngọc (1928-17/7/2008)

Có quá nhiều chuyện về Má tôi mà tôi muốn kể nhưng có lẽ tôi chẳng bao giờ nhớ hết để viết ra đây. Cuộc sống hiện đại đầy bận bịu và với “bánh xe vội vã” làm cho tôi thỉnh thoảng mất đi những suy nghĩ nội tâm, chỉ đơn giản không có thì giờ. Tôi còn nhớ khi lên TPHCM để làm Hội nghị loãng xương, tôi phải bắt tay mọi người, phải chúc mừng, phải cười … mà cứ đêm về nằm vắt tay lên trán có khi tôi tự hỏi làm sao mình có thể tươi cười được khi Má mình mới qua đời mới vài ngày trước đây. Tôi muốn nói cuộc đời này nó làm cho mình đóng kịch, những màn kịch có tính bất hiếu trong đó. Những lúc này, kí ức về Má tôi cứ dần dần hiện về và tôi phải viết đến đâu hay đến đó, chứ không thì mai mốt sẽ quên.

Không ai biết Má tôi sinh ngày nào, chỉ biết năm. Năm Thìn. Đây cũng là tình trạng chung của những người cao tuổi dưới quê, vì có lẽ trong thời chiến tranh, nay đây mai đó, làm sao nhớ được ngày sinh của mình. Người ta chỉ nhớ đến năm sinh, hay nói cụ thể hơn là năm con gì. Ngày Má tôi mất là ngày rằm, và theo các thầy thì đó là “ngày tốt”. Cũng như Ba tôi, Má mất vào buổi sáng, và các thầy nói rằng vì muốn nhường bữa ăn cho các con. Không biết thực hư ra sao, nhưng tôi nghĩ trong suốt cuộc đời, Má tôi lúc nào cũng nhường bữa ăn cho con cháu.

Ông ngoại tôi là người gốc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ông đi kháng chiến chống Pháp, rồi chẳng biết tình thế thế nào mà ông xuôi Nam. Không ai biết ông giải ngũ lúc nào, nhưng chỉ biết rằng ông giải ngũ xong thì lập gia đình với bà ngoại tôi vào những năm đầu thế kỉ 20. Như có thể đoán được, ông ngoại tôi vào Nam chỉ với bàn tay trắng, nhưng gia đình bà ngoại tôi trong Nam rất lớn, thuộc vào hàng “vọng tộc”, “giàu có”, ruộng nhiều (nhưng không phải điền chủ). Cưới xong, hai ông bà ở lại lập nghiệp tại Kiên Giang.

Ông ngoại tôi có 4 người con: Má tôi là con gái lớn, kế đến là cậu Tư (tên là Trà, sau này đổi sang Đề), dì năm (Biên), và sau cùng là dì Út (Sổ). Ngoài ra, ông ngoại tôi còn có một người con trai thứ hai tên là Hạng. Thật ra, cậu Hai Hạng không phải là con ruột, mà là con của anh ruột ông ngoại tôi (tức là cháu gọi ông ngoại tôi bằng Chú). Cậu Hai Hạng theo ông ngoại tôi đi kháng chiến vào Nam, và trong hoàn cảnh xa nhà, ông ngoại tôi nhận cậu làm con. Chúng tôi xem cậu như cậu ruột vậy. Sau này cậu Hai Hạng hi sinh trong thời kháng chiến chống Pháp. Cậu Tư tôi qua đời trong một tai nạn xe gắn máy vào năm 1968. Nay thì Má tôi qua đời, và gia đình bên ngoại chỉ còn 2 dì tôi.

Má tôi, cậu Tư và các dì về Bình Định chỉ có một lần duy nhất. Chẳng ai nhớ năm đó là năm nào. Má tôi kể lại là lúc đó vì còn nhỏ quá, nên chẳng ai nhớ đường đi ra sao, chỉ nhớ rằng cả gia đình đi xe ngựa vào làng. Sau ngày đất nước thống nhất, chúng tôi, những đứa cháu bây giờ đã trưởng thành và muốn tìm lại bà con bên ngoại, chẳng ai biết ở đâu, chẳng ai biết đường đâu mà mò! Câu chuyện tưởng như là xong, mất quê luôn rồi, nhưng một ngày “lịch sử” đã xảy ra ...

Năm 2006, thằng em họ tôi (con của dì Năm) làm việc ngoài Rạch Giá chú ý đến một tin nhắn trên đài truyền hình Rạch Giá, mà trong đó người nhắn muốn tìm những người bà con có tên là “Thinh, Trà, Biên, Sổ”. Thinh là tên của Má tôi; Biên là tên của Má nó, Sổ là tên của dì Út. Còn Trà là ai? Nó nghĩ chắc là trùng hợp ai đó nên không chú tâm tìm hiểu thêm. Nhưng bản nhắn tin tiếp tục truyền đi ngày thứ hai, và lần này nó gọi điện về quê hỏi thăm Trà là ai. Chỉ có Má tôi biết: Trà là tên trong giấy khai sinh của Cậu Tư tôi. Ngày xưa ông ngoại đặt tên là Trà, nhưng sau này nghe nói khi đi học bị bạn bè chọc quê hay sao ấy, nên cậu đổi sang Đề! Như vậy thì người nhắn rõ ràng là bà con rồi. Mừng quá, nó gọi điện cho đài truyền hình và liên lạc với người nhắn tin. Người đó là Nghĩa đang làm việc ở Sở Tư Pháp TPHCM, là con gái của một cậu tôi ngoài Bình Định, tức là vai chị tụi tôi. Nói chuyện một hồi mới biết bà con mình vẫn ở Bình Định. Thế là sau hơn 70 năm, chúng tôi nối lại bà con Trung – Nam. Có vui mừng nào hơn!

Hóa ra, các cậu tôi là sĩ quan trong quân đội, từng tập kết ra Bắc, nhưng đã về hưu khoảng 20 năm qua và sống ở Phù Mỹ. Như vậy, gia đình bên ngoại tôi hình như làm quan võ nhiều hơn là quan văn! Nghe nói có một ông lên xuống chức thiếu tá hay đại úy cả 3 lần vì tính nóng như Trương Phi với lính! Sau sự kiện nhìn bà con, các dì tôi và mấy đứa em họ tôi có dịp về thăm các cậu ngoài Bình Định, còn Má tôi thì do sức khỏe nên chưa đặt chân về quê cha một lần thứ hai. Tôi cũng chưa về thăm quê ngoại lần nào. Có lẽ cuối năm nay tôi sẽ ra Bình Định thăm bà con bên ngoại. Tôi chờ ngày đó lắm …

Có thể nói rằng Má tôi là một bà mẹ Việt Nam tiêu biểu. Suốt đời chỉ làm nội trợ, lo cho chồng con, chứ chẳng biết lo cho mình. Tôi chưa bao giờ thấy Má tôi mặc một cái áo nào có màu tươi tắn một chút. Tất cả những quần áo Má tôi mặc, kể là áo dài, toàn là những màu nâu, màu đen, hay màu tôi tối. Ngay cả cái áo bà ba màu trắng, nhưng nhìn kĩ thì là màu trắng hột gà. Cũng chưa bao giờ thấy Má tôi trang điểm phấn son, cho dù là ngày cưới hỏi của mấy đứa em gái.

Bây giờ nhìn lại tôi thấy Má tôi có một cuộc đời cơ cực quá. Những năm trong thời Ngô Đình Diệm, Ba tôi bị bắt vì chính quyền tình nghi là do Việt Minh cài lại. Trong những ngày Ba tôi bị bắt nằm tù và bị tra tấn nhiều, Má tôi cực khổ lắm. Lúc đó tôi còn nhỏ nên không biết gì, mà chỉ nghe bác Ba Tể kể lại. Bác Ba kể rằng Má tôi phải nuôi 3 anh em trai tôi (lúc đó mấy đứa em gái chưa ra đời) mà còn phải đi thăm Ba trong tù. Ngoài bà con ra, làng xóm không ai dám đến giao du ban ngày. Bác ba Tể gái nói thấy trong nhà thiếu gạo ăn, bác Ba bèn chèo xuồng từ Kinh 7 xuống và quăng bao gạo trên sân nhà trong đêm tối để không ai chú ý và tránh liên lụy. Không nhớ Ba tôi nằm tù bao nhiêu tháng, nhưng hình như không đến 1 năm thì được thả ra. Trong thời gian đó, Má tôi làm đủ thứ việc đồng áng, nội trợ, buôn bán, v.v… Nghe nói có thời Má tôi bán xôi ở chợ. Nhưng khi sau này tôi hỏi thì Má không trả lời hay bình luận gì. Cần nói thêm rằng bác Ba Tể là anh kết nghĩa của Ba tôi vì hai người cùng đơn vị kháng chiến ngày xưa và cũng từ “miền ngoài” vào Nam. Bác Ba Tể tôi có ý chí sắt đá về cách mạng khi ông đặt tên con là: Quyết(gái), Chiến (trai), Sinh (trai), Bình (gái), Tồn (trai), Tiến (trai). Mấy năm sau bác lại sinh thêm 2 đứa con, và bác có vẻ “bí” tên, nên đặt thêm là: anh Yên, chị Lành. Nhắc đến Bác Ba Tể là tôi nhớ đến câu Quyết Chiến Sinh Bình Tồn Tiến Yên Lành. Bây giờ thì cả hai Bác Ba Tể đều đã qua đời khá lâu, và mấy anh chị đều lạc bốn phương tứ hướng …

Cuộc sống của Má tôi chỉ quanh quẩn trong nhà, đi chùa gần nhà, hay đi chợ làng, chứ chưa một lần đi xa. Nếu có đi xa như lên Sài Gòn thì lại là đi … chữa bệnh và nằm bệnh viện. Vì quanh quẩn như thế, Má tôi chưa bao giờ có dịp ăn một bữa ăn ngon cùng con cháu. Trong những năm tôi về thăm nhà, lần nào cũng định dẫn Má đi ăn nhà hàng “cho biết với người ta”, nhưng mỗi lần bày tỏ ý định là mỗi lần Má tôi bác bỏ lập tức. Lí do? Đủ thứ lí do. Lí do đưa ra đầu tiên lúc nào cũng là “Tốn tiền quá”. Khi lí do đó không ổn thì lí do “Ở nhà nấu ngon hơn” được đưa ra. Thành ra, cho đến khi qua đời, Má tôi chưa bao giờ hưởng được một bữa ăn sang trọng, cho dù là “sang trọng” theo tiêu chuẩn thị xã!

Cũng như nhiều bà mẹ trong quê, trình độ học vấn của Má tôi chỉ đến lớp 4, biết đọc và biết viết. Nhưng trong đời, Má tôi chèo xuồng và nấu ăn nhiều hơn là cầm cây viết. Thật vậy, Má tôi chưa bao giờ viết một lá thư cho con cái ngoài này, và cũng chưa bao giờ cầm đến cái điện thoại. Tuy nhiên, Má tôi rất tự hào về sự thành đạt của con cháu. Những năm tôi còn học tiểu học, cứ lần nào tôi có bằng tưởng thưởng (thời đó còn gọi là “bằng tưởng thưởng”) thì tôi được theo Má xuống chợ và được cho ăn bánh tằm bì, ngon ơi là ngon! Mà, tôi có nhiều bằng tưởng thưởng lắm, vì hồi đó, nói cho ngay, tôi học không đến nổi tệ. Suốt thời gian tiểu học cũng như trung học chưa bao giờ tụt xuống hạng ba cả. Thời đó, tôi còn nhớ hoài, cứ mỗi lần đi chợ quê thì có khi không may mắn gặp phải thầy Phát (thầy là hiệu trưởng trường tiểu học xã, rất uy nghi) thì tôi tìm cách trốn phía sau Má, vì sợ gặp Thầy là thế nào cũng bị “hỏi thăm”. Mỗi khi thấy Má tôi nói chuyện gì với Thầy Phát là tôi tìm cách … đi ra xa, nhưng cũng không trốn khỏi Thầy. Thật ra thì Thầy chẳng có gì khó khăn, tất cả chỉ vì tôi sợ Thầy quá mà thôi.

Tại sao tôi kể chuyện Thầy Phát ở đây? Tại vì thời đó, tôi được học môn học “Công dân giáo dục” do Thầy dạy. Cứ mỗi lần vào lớp học, câu đầu tiên Thầy hỏi: bữa nay có đứa nào vô lễ với ba má không? Tất nhiên, đâu có đứa nào dám tự nhận là vô lễ, nhưng câu nói như là tụng kinh đó nhắc nhở tụi tôi phải biết kính yêu ba má, không được vô lễ với người lớn. Tôi nhớ năm đi thi đệ thất (tức là lớp 6 bây giờ, hồi đó phải thi từ lớp nhất -- tức lớp 5 bây giờ -- lên đệ thất), Thầy tôi nói như đinh đóng cột và pha chút đe dọa: đứa nào thi rớt thì đừng có nhìn mặt thầy! Thời đó học trò quê như tôi phải lều chỏng để ra thị xã Rạch Giá để thi.

Sáng sớm hôm đó, Má tôi thức sớm nấu xôi, Má tôi cho xôi vào vỏ chuối kèm theo đậu phọng và muối (món này là món favorite của tôi) rồi nhét vào cặp vở. Bước lên cái xe đò cọc cạch, ghế ngồi bằng gỗ, Má tôi còn chạy theo xe nhét cho tôi vài đồng xu để uống nước đá xi-rô! Chiều về, Má tôi đã ngồi bên sông chờ tôi tự bao giờ, và hỏi tùm lum thi ra sao. Tôi còn nhớ nói với Má là trong đề thi có bài toán hai vòi nước chảy với hai tốc độ khác nhau, phải tính thời gian để bồn nước đầy. Trời đất ơi, bây giờ nghĩ lại thời đó, cái đề thi thật là khó động trời! Ấy vậy mà tôi cũng đứng hạng hai trong bảng xếp hạng toàn tỉnh đỗ vào … lớp 6, tức đệ thất thời đó. Nên nhớ rằng thời đó, anh hai tôi chỉ đỗ tú tài I (tức lớp 11) và con em họ đỗ tú tài II (lớp 12) bây giờ thì cả làng đều biết tiếng. Hồi đó học trò làng đỗ như thế hiếm lắm (vì phần lớn đều học đến biết đọc biết viết là đi làm ruộng), chứ chẳng phải mình hay ho gì.

Thời trung học, tôi lên thành học cùng với 2 người anh em họ, và ở trọ nhà của người bà con bên ngoại. Mỗi khi nghe tôi “có điểm”, Má tôi đi đò sớm ra thị xã, và lúc nào cũng kèm theo đủ thứ thức ăn, nào là xôi, trái cây, thậm chí có khi có gà vịt nữa. Những lúc như thế, hai mẹ con chỉ ở có vài giờ, mà tôi cũng chẳng biết nói gì, rồi Má tôi phải đón chuyến đò xế chiều để về nhà cho kịp tối. Thời đó, đi đò từ xã ra thị xã tốn đến 4 giờ đồng hồ (chứ không phải chỉ 25 phút bằng xe Honda như bây giờ!

Hết con rồi đến cháu. Sau này, mỗi khi hay tin đứa cháu ngoại hay cháu nội nào đỗ đạt thì Má tôi mừng lắm. Mấy năm trước, có đứa cháu ngoại vào đại học, Má tôi mừng như mở hội, khoe cùng hàng xóm: con bé Thuận nó vô đại học rồi! Có lần trong một chuyến về quê, vào một buổi trưa hè nóng bức, tôi để ý thấy Má ngồi trên bàn sofa lẩm bẩm đếm xem trong đám cháu của mình có bao nhiêu đứa vào đại học. Đếm xong rồi, Má cười một mình và nói như độc thoại rằng “Mấy đứa nó coi vậy mà không tệ”.

Rồi tôi xa nhà. Thời đó là thời bao cấp, cuộc sống cực kì khó khăn. Nhà tôi mất rất nhiều đất ruộng dưới danh nghĩa hợp tác xã, Ba tôi chán nãn, còn Má thì cứ than vắn thở dài. Mãi đến sau này đất ruộng vẫn không được trao trả lại cho gia đình tôi, còn những người được Nhà nước lấy đất nhà tôi giao cho họ thì họ bán lại cho Ba Má tôi! Những năm này, chúng tôi ở ngoài phải “chi viện” thường xuyên cho nhà. Từ những thước vải, những lọ thuốc, những bánh kẹo, v.v… đều được đóng thùng gửi về thường xuyên. Tôi chẳng biết Má tôi có thưởng thức mấy thứ này không, nhưng mỗi lần đóng thùng như thế là tôi nghĩ đến Má. Bây giờ ngồi nghĩ lại, trong suốt mấy chục năm xa quê, ngay cả những lúc khó khăn nhất như thế, Ba Má tôi chưa bao giờ viết bất cứ một lá thư hay đánh điện tín nào hỏi xin cái gì, chưa bao giờ gọi điện thoại mong muốn món gì.

Trong những năm đầu sau khi tôi đi, công an xã cứ liên tục làm khó làm dễ gia đình. Má tôi kể lại rằng hồi đó cứ mỗi thư tôi gửi về nhà, Ba Má tôi đều phải lên ủy ban xã đọc cho họ nghe. Được vài lần, Ba tôi nổi máu nhà binh nóng tính, không chịu đi đâu hết và cũng không đọc cho ai nghe, và thế là không còn cái cảnh đọa đày đó nữa. Trong giai đoạn khó khăn đó thì có người bạn cũ của Ba tôi giúp đỡ. Năm 1991 hay 1992 (?), có một ông nguyên là đồng đội của Ba tôi thời trước nay là trung tướng tư lệnh quân khu 9 hay gì đó đến xã tìm Ba tôi. Sau mấy mươi năm xa cách, hai người gặp lại trong nước mắt vui mừng. Chính ông tướng này đã làm thủ tục để Ba tôi hưởng lương thương binh, nên từ đó gia đình không bị làm khó nữa.

Mãi đến 15 năm sau tôi về quê thăm nhà lần đầu. Năm đó là 1997, nước ta đã “mở cửa” và qua 10 năm Đổi mới nên cuộc sống dễ thở hơn. Tôi nhớ hoài trên đường đi xe từ Phi trường Tân Sơn Nhất về nhà mà lòng cứ hồi hộp, không biết ở nhà bây giờ ra sao. Khi về đến nhà, mới bước hành lang đã thấy Má tôi lau nước mắt, tôi chỉ muốn khóc nhưng chẳng hiểu sao lại dằn nén được. Có lẽ cuộc sống cơ cực cùng những nhớ thương con cái ở xa đã làm cho Má tôi già đi nhiều và ốm hơn trước nhiều. Lần đó, Ba tôi quyết định làm tiệc lớn thiết đãi bà con hàng xóm, và tôi đã có một ngày thật vui. Nhưng tôi để ý chẳng thấy Má tôi ngồi vào bàn tiệc gì cả, mà chỉ đi đi lại lại như bận lắm. Ngay cả những lúc đáng lẽ phải nghỉ ngơi và vui như thế, mà Má tôi cũng chẳng ăn được một miếng ngon.

Ở Việt Nam, hình như người con út -- dù trai hay gái -- thường được ba mẹ “cưng” hơn những người con khác. Nhưng trong gia đình tôi, có thể nói rằng Má tôi thì không có cái tâm lí này; đứa nào Má cũng thương như nhau. Tôi là con trai út trong nhà, nhưng tôi không có được cái ưu ái nào so với hai ông anh hay mấy đứa em gái. Thật ra, Má tôi có xu hướng thương mấy người anh hơn, vì người anh thứ hai không may mất tích trên đường đi vượt biên, còn người thứ ba thì Má tôi thường than là “nó làm cực quá”. Má tôi cũng dành tình thương cho cháu nội và ngoại như nhau. Không có phân biệt gì cả. Thật ra, mấy đứa cháu ngoại có phần ưu ái hơn vì sống gần ngoại, còn mấy đứa cháu nội thì ở ngoài nên không có cơ hội sống gần Má tôi.

Má tôi cũng rất thương mấy đứa em họ, nhất là mấy đứa con của Cậu Tư. Có lẽ vì mấy đứa này là cháu nội của ông ngoại tôi, mà ông ngoại thì chỉ có một đứa con trai duy nhất chăng. Bất cứ ai nói gì về mấy đứa này một cách tiêu cực là Má tôi phản đối hay “điều chỉnh” ngay. Ngay cả những ngày tháng cuối đời, khi không còn nói được, Má tôi vẫn biểu lộ tình cảm đặc biệt cho mấy đứa con của Cậu Tư tôi. Cứ mỗi lần thằng Cao, con Đẹp, Hân, Huyền mà qua thăm là Má tôi đưa mắt nhìn rất lâu và lưu luyến. Mợ Tư tôi, tức là em dâu của Má, cũng là người Má tôi thương mến. Sau khi Cậu Tư tôi mất, dù có nhiều người “đánh tiếng” nhưng Mợ ở vậy nuôi con cho đến ngày nay. Mợ Tư nói rằng ngày xưa khi về làm dâu cho ông bà ngoại, Mợ rất ngại mấy bà chị em chồng, nhưng Mợ nói khi đã về nhà chống rồi thì chẳng có gì phải lo. Mợ kể rằng trong suốt thời gian làm dâu cho đến bây giờ, chưa bao giờ Má tôi nói gì lớn tiếng với đứa em dâu, chưa bao giờ Má tôi có bất cứ một thái độ “chị chồng em dâu” nào để Mợ phải buồn lòng.

Ở Tây phương người ta có câu nói đại khái rằng (tôi chỉ nhớ ý) thế giới này có rất nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt vời nhất và vĩ đại nhất vẫn là người mẹ. Thành ra, mất mẹ là mất cái kì quan vĩ đại đó. Trịnh Công Sơn có lần viết rằng “Mất mẹ là mất một phần lớn của cuộc vui muốn được đền đáp, chia sẻ. Mất mẹ là mất đi một tài sản lớn nhất trong toàn bộ sự giàu có của một đời người. Đúng như thế. Dù cho tôi có làm chức vụ gì hay đóng vai trò gì trong cái xã hội này, kể từ nay tôi nay trở thành nghèo hơn vì đã mất Má.

Nhạc sĩ Y Vân có ca khúc bất hủ Lòng mẹ mà trong đó có câu Lòng mẹ bao la như biển Thái bình. Với ai thì tôi không biết, nhưng với Má tôi thì câu hát này đúng 100%. Thật ra, chưa chắc so sánh này đầy đủ, bởi vì tấm lòng Má tôi dành cho mấy đứa con và cho tôi thì không có gì đo được. Không có gì đo được. Ấy thế mà chưa một lần tôi nhìn thẳng vào mắt Má để bày tỏ lòng cám ơn và ngưỡng mộ của mình. Và, có lẽ vì còn cái cá tính phương Đông trong người, nên tôi chưa bao giờ bày tỏ một cử chỉ gì đế cho Má tôi biết rằng tôi thương Má. Hôm nay, mượn trang blog này để nói câu đó: “con thương Má”.

7 comments:

Vuong said...

Xin có lời chia buồn đến bác Tuấn cùng gia quyến.

Như một anh bạn tôi ("Việt kiều" Nhật xa nhà Saigon xuốt từ trước 75 & có ba má vừa mới qua đời năm ngoái trong vòng chỉ hai tháng) tâm sự lại rằng: mất ba má không những buồn mà còn cảm thấy rất là cô độc, như đang ở giữa đại dương bao la, bơ vơ lắm!

Bên Nhật tôi thấy họ có nếp sinh hoạt sau rất tình cảm là con cái luôn chọn một dịp (mừng cha mẹ về hưu, hay tròn 60 tuổi, hoặc vào dịp đám cưới của mình) để bày tỏ tình cảm biết ơn công ơn của cha mẹ. Mà họ làm việc này rất nghiêm trang và thật sự cảm động trước sự chứng kiến của họ hàng và bè bạn. Họ thường viết lời cảm ơn ra giấy và đọc to lên để bày tỏ, có khi họ vừa đọc vừa sụt sùi khóc, nước mũi nhỏ ròng ròng thiệt chứ họ không có ngại ngùng chi cả như người Việt mình. Phải chăng tâm hồn người Việt mình đã chai sạn quá mất rồi?!

Không biết bên Úc có chuyện tương tự như vậy không bác Tuấn?

nguoi nha que said...

"Tôi nhớ năm đi thi đệ lục (tức là lớp 6 bây giờ, hồi đó phải thi từ đệ ngũ lên đệ lục ".
Anh có nhớ lộn không anh Tuấn.
Trước 75, Tiểu học gồm từ lớp năm ( lớp 1 bây giờ ), lớp tư, ba, nhì, nhứt ( lớp 5 bây giờ ). Lên trung học phải thi vô lớp đệ thất ( 6 bây giờ ), lục, ngũ, tứ,tam,nhị ( thi tú tài 1 ),nhất ( lớp 12, thi tú tài 2 ). Có trường chỉ dạy tới đệ tứ ( lớp 9 ), có trường dạy một mạch lên đệ nhất luôn, khỏi thi chuyển cấp như bây giờ. Cha mẹ có khi không biết trường con học nằm chỗ nào, con vô trường công được là khỏi tốn 1 cắc học phí.
Toán lớp nhất rất khó, nhứt là toán vòi nước chảy ra chảy vô, hoặc toán vận tốc xe chạy...Nghĩ lại còn sợ.
( 1 trong 37 dấu hiệu cho biết bạn đã già: nhắc chuyện xưa! Mà, nhắc chuyện xưa trật nữa là già hơn ).

Nguyễn Văn Tuấn said...

Rất thú vị khi biết ở Nhật người ta có ngày ghi danh công ơn cha mẹ như bạn vuong nói. Ở Úc, theo tôi biết, không có ngày đó. Nhưng ở Úc người ta có ngày kỉ niệm 20 năm, 30 năm, 50 năm hai vợ chồng sống chung nhau. Những ngày này con cháu tụ tề tổ chức ở một nhà hàng hay nơi nào đó, chúc tụng nhau, và thế là xong. Tôi thấy đây là một ngày, một cái cớ cho … ăn uống, chứ chẳng thấy con cái nó tỏ lòng thành kính biết ơn cha mẹ là gì. Có lẽ vì tỉ lệ li dị nhiều quá nên họ có những ngày này chăng, tôi không biết. Còn ở VN ta thì li dị ít hơn, nên mình không có những ngày như thế.

Hôm qua tôi nghe một tin buồn. Người bạn Úc của tôi chết trong nhà cả 4 ngày mà chẳng ai hay! Anh ta thọ 62 tuổi, đã li dị 20 năm nay, và sống một mình. Anh ta là một người rất giàu có, tài sản lên đến bạc triệu. Không ai biết con cháu hiện nay đang ở đâu. Anh ta chỉ chơi thân với các bạn người Việt. Nhưng ngay cả với các bạn người Việt, anh ta không bao giờ tiết lộ chi tiết về con cháu, nên nay anh ta được giao cho nhà chức trách lo. Có lẽ tài sản của anh ta sẽ được Nhà nước quản lí. Mời 3 tuần trước còn gặp anh ta, ăn nói linh tinh, nay nghe tin anh ta ra đi đột ngột trong một tình huống buồn như thế. Cuộc đời này thật là vô thường.

Cám ơn nguoi nha que nhắc nhở. Đúng là tôi nhớ lầm giữa “năm” và “ngũ” (có lẽ đây cũng là lí do bỏ cách gọi cũ). Ngày xưa, ở bậc tiểu học lớp nhất tương đương với lớp 5 ngày nay. Còn ở bậc trung học đi từ đệ lục (lớp 6 bây giờ), đệ thất (lớp 7), đệ ngũ (8), đệ tứ (9), đệ tam (10), tú tài 1 và tú tài 2. Hồi đó còn duy trì 2 hệ thống: trường công và tư thục. Trường công, như anh nguoi nha que nói, học trò không trả tiền. Nhưng muốn học trường công thì phải thi vào từ lớp nhất lên đệ lục. Cuộc thi rất gắt gao chứ chẳng chơi. Những đề thi như tôi kể không phải là dễ cho học trò thời nay, chứ nói gì thời đó. Nếu tôi nhớ không lầm thì chỉ có 5 hay 10% lọt vào trường công mà thôi. Có điều tôi thấy hồi đó thi cử nghiêm chỉnh hơn bây giờ rất nhiều. Cũng có lem nhem trong thi cử, nhưng không có trắng trợn và bê bối như ngày nay mà chúng ta đọc trên báo. Có lẽ vì thế mà học sinh hồi xưa được tuyển chọn đúng với khả năng của họ.

Kể mấy chuyện này là, nói như nguoi nha que, là một dấu hiệu của … già. Có lẽ bạn nguoi nha que và tôi đều đã hay đang già!
NVT

nguoi nha que said...

Hì hì,
Anh Tuấn lại quên nữa.
Thì thôi, cứ coi tụi mình là những người già nhắc nhau chuyện cũ, tiếng được tiếng không, rồi cãi qua cãi lại cũng vui rồi. Giảm được stress lắm.
Anh viết lộn nữa.
Chấm dứt lớp nhứt ( lớp 5 bây giờ )phải thi vô trung học. Trung học bắt đầu từ lớp đệ Thất ( lớp 6 )chứ không phải Lục như anh viết.
" Triết lý " của cách gọi này là:
Số năm còn lại phải hoàn thành bậc học.
Ví dụ lớp Tư ( lớp 2 hiện nay )
nghĩa là còn 4 năm nữa mới hết tiểu học ( Tư Ba Nhì Nhứt ). Đệ Thất ( lớp 6 ) là còn 7 năm nữa mới hoàn thành bậc trung học ( Lục Ngũ Tứ Tam Nhị Nhất ).
Vậy đó. Hì hì.

Nguyễn Văn Tuấn said...

À, đúng rồi: thất, lục, ngũ, tứ, tam, nhị, nhất. Mấy con số này sao mà tôi cứ lộn hoài. Cách gọi 1, 2, 3, ..., 12 bây giờ (thật ra là có từ trước 1975) coi bộ tốt hơn. Cám ơn anh nguoi nha que một lần nữa.

NVT

nguoi nha que said...

Đính chính:
Xin thêm chữ Thất vô mấy dòng cuối lần post trước:
.... còn 7 năm nữa mới hoàn thành bậc trung học ( Thất Lục Ngũ Tứ Tam Nhị Nhất ).
Chân thành xin lỗi.

Anonymous said...

Nguoi Me. nao cung cao ca,Nguoi Me. Viet Nam lai cang cao ca hon vi.....qua kho.Chien tranh thi kho da danh mong uoc co Hoa binh tro lai,nhung....Hoa binh da co tren 30 nam roi ma nguoi dang ba Viet Nam van con kho hon ,hinh anh bi dua len bao chi VN va nuoc ngoai hang ngay.
Hoi nhung nguoi VN co tam huyet,chung ta thuong Me.,chung ta cung thuong luon nhung nguoi dan ba khon kho do. Chung ta phai lam gi???