Wednesday, December 3, 2008

Khoa học chứng minh …

Hôm nay đọc báo VNN thấy có nhà khoa học nói rằng ông đã chứng minh [blah blah blah] làm tôi phân vân. Có bao nhiêu người lầm tưởng chuyện này? Chắc nhiều lắm. Thành ra, tôi phải viết vài hàng nhật kí để nhắc nhở rằng chuyện “chứng minh” không có trong khoa học thực nghiệm.

Chúng ta thường hay thấy câu “khoa học đã chứng minh rằng …” trong nhiều bài báo khoa học phổ thông hay trên hệ thống truyền thông đại chúng. Hai chữ “khoa học” phía trước hai chữ “chứng minh” như có tác dụng tăng trọng lượng cho một phát biểu mà người viết muốn chuyển tải đến người đọc. Cụm từ này được sử dụng để thuyết phục người đọc từ những vấn đề mang tính tâm linh như sự hiện hữu của Thượng đế, sự hiện hữu của cõi âm, đến các vấn đề mang tính thực dụng hơn như hiệu quả của thuốc men và an tòan thực phẩm. Một vài ví dụ tiêu biểu có thể thấy “chứng minh khoa học” được sử dụng như thế nào. Một bài báo trên tờ Khoa học Phổ thông cho biết “tác dụng của trinh nữ hoàng cung đã khoa học chứng minh”. Trên Lao Động, nhà báo viết về hiệu quả của trái gất như sau: “theo những chứng minh trong công trình này thì trong tiểu đường có hai phản ứng quan trọng ...”

Thật ra, chẳng riêng gì giới truyền thông đại chúng thích cụm từ “khoa học chứng minh”, mà ngay cả các cơ quan Nhà nước có chức năng quản lí khoa học cũng có xu hướng thích sử dụng “chứng minh”. Thông tư 08/2004/TT-BYT của Bộ Y tế (ngày 23/8/2004) về quản thực phẩm chức năng viết như sau:Đối với thực phẩm chức năng có chứa hoạt chất sinh học […] thì phải có báo cáo thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của sản phẩm hoặc tài liệu chứng minh về tác dụng của thành phần của sản phẩm có chức năng đó […]”.

Nhưng rất tiếc là những phát biểu trên đây thể hiện một sự hiểu lầm về thế giới tự nhiên và thực hành khoa học, hay sự nhầm lẫn giữa toán học và khoa học. Nói một cách ngắn gọn, trong khoa học không có khái niệm “chứng minh” một giả thuyết hay lí thuyết nào cả. Do đó, những phát biểu như vừa đề cập trên không phù hợp và cũng không có ý nghĩa khoa học.

Khái niệm chứng minh (proof) chỉ có trong toán học và logic học, chứ không có trong khoa học thực nghiệm. Toán và logic học bao gồm những mệnh đề khép kín, còn khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, mang tính kinh nghiệm (empirical) và quan sát những hiện tượng tự nhiên như chúng tồn tại. Tiêu chí số một và tiêu chuẩn để đánh giá một lí thuyết hay giả thuyết là bằng chứng, chứ không phải chứng minh. Bằng chứng có thể phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết. “Phù hợp” ở đây có nghĩa là có thể giải thích được giả thuyết. Nếu trong trường hợp có nhiều bằng chứng phù hợp với một giả thuyết, thì nhà khoa học cần đến phương pháp phân tích định lượng xem bằng chứng nào phù hợp nhất với giả thuyết.

Khái niệm chứng minh có hai đặc điểm mà khoa học không có: những chứng minh trong toán học mang tính kết thúc và có giá trị nhị phân. Một khi một định lí đã được chứng minh thì nó sẽ là một sự thật sau cùng, sự thật vĩnh viễn, không thay đổi trong tương lai (ngoại trừ có sai sót trong cách chứng minh mà người khác phát hiện). Chẳng hạn như định lí Pythagoras là một “chân lí” tiêu biểu đứng vững với thời gian. Nhưng trong khoa học, tất cả tri thức đều mang tính thử nghiệm và lâm thời, không có gì có thể nói là sau cùng. Trong khoa học, không có cái gọi là tri thức được chứng minh vĩnh viễn như là một sự thật. Một liệu pháp y khoa được xem là có hiệu nghiệm ngày hôm nay, nhưng có thể được đánh giá là vô hiệu nghiệm trong tương lai.

Kết quả chứng minh trong toán học có giá trị nhị phân. Một định đề hoặc là đã được chứng minh hoặc chưa được chứng minh. Một định đề đã được chứng minh đúng thì sẽ trở thành một định lí và tồn tại với thời gian; khi chưa được chứng minh định đề chỉ là một phỏng đoán (conjecture). Ngược lại, trong khoa học không có một phân định rạch ròi giữa có và không như toán học. Lí thuyết và giả thuyết khoa học không mang tính tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai. Để hiểu nhận xét này, có lẽ cần nhắc lại qui trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học như sau:

  • Bước 1: phát biểu một giả thuyết H;
  • Bước 2: thí nghiệm và thu thập dữ liệu D;
  • Bước 3: ước tính xác suất dữ liệu D phù hợp hay không phù hợp với H và quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H.

Thước đo sự phù hợp (hay có thể nói là đo lường cái “đúng”) cho một lí thuyết khoa học là xác suất. Do đó, vấn đề là mức độ phù hợp của bằng chứng với lí thuyết, chứ không có cái đúng hay sai tuyệt đối.

Nhà khoa học thực thụ không bao giờ (ngoại trừ lỡ lời) nói đến hai chữ “chứng minh”. Những ai nói đến “chứng minh” thì đó là dấu hiệu cho thấy họ không phải là nhà khoa học. Những người tin vào thuyết sáng tạo (Creationism) thường hay phê phán rằng thuyết tiến hóa của Darwin chỉ là “lí thuyết” chưa được chứng min (unproven theory). Điều này đúng, nhưng chỉ đúng phần đầu, còn phần sau thì sai: không có nhà khoa học nào nói đến chứng minh lí thuyết tiến hóa. Có điều những tín đồ của thuyết sáng tạo “quên” nói rằng tất cả các lí thuyết khoa học cũng chưa được (và không ai) chứng minh!

NVT

17 comments:

HnoiHN said...

Xin cảm ơn một bài viết hay mà tôi thấy học được nhiều.

Anonymous said...

Thu that toi cung hieu sai tu khoa hoc chung minh. Cam on GS
NXV

HB said...

Cháu nghĩ việc sử dụng từ Hán Việt có ưu điểm là ngắn gọn súc tích, nhưng có nhược điểm là dễ gây lẫn lộn. Cháu nhớ nhiều lần chú băn khoăn về chuyện dịch từ sao cho chuẩn và ước mong có đại nhân sống lại nghĩ ra các từ vừa đơn giản, vừa Việt hoá, vừa chuẩn, hi hi. Muốn dùng đúng từ phải hiểu rõ khái niệm. Sau khi đọc bài của chú, cứ cho là hiểu khái niệm rồi đi, cháu nghĩ mãi không ra từ nào ngắn gọn như từ "chứng minh" mà không phải giải thích thêm, để mọi người cùng hiểu ý mình muốn nói. Đó là chưa kể chuyện ngôn ngữ là một quá trình biến đổi, thói quen sử dụng chưa chắc đã là sai, ví dụ từ nhân tình nghĩa gốc khác hẳn nghĩa hiện nay đang dùng, và dùng từ nhân tình theo nghĩa hiện nay thì ai cũng hiểu đúng ý người nói, tức là dùng đúng. Nói túm lại, quay trở lại cụm "khoa học đã chứng minh", thì cháu muốn tìm hiểu là cùng khái niệm, trong tiếng Anh người ta dùng từ gì, trong tiếng Hán người ta dùng từ gì, từ đó may ra tìm được từ Hán Việt tương đương (đầu cháu cứ quanh quẩn mấy từ chứng minh chứng tỏ chứng thực thực chứng mà cuối cùng thấy cũng như nhau cả :-)). Cháu chắc rằng có nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng hiểu vấn đề chứng minh lý thuyết khác trong khoa học thực chứng như chú đã giải thích, nhưng viết như chú, thì dễ làm cho người đọc hiểu là nhà khoa học Việt Nam không hiểu vấn đề và phát biểu, dùng từ không chính xác (Ít nhất đó cũng là cảm nhận của riêng cháu khi đọc bài). Dù sao cũng cám ơn chú về bài viết trăn trở thú vị. Ôi tiếng Việt!

Anh-Tuan said...

Neu "proof = chung minh", thi chung ta phai dich "scientific proof" nhu the nao cho chuan xac?

Nguyen said...

kinh thua GS. toi le motfan cua GS va nhan thay bai viet rat thu vi. Dung la "khoa hoc chung minh" la cm tu mang tinh "hu doa"de "thuyet phuc" nguoi doc tin vao nhung thong tin do. Cung co the nguoi viet nho "mang ma'ng" da doc dieu do o dau do nen goi chung no la "khoa hoc". Nhung hinh nhu proof la chu*'ng cu*' con chung minh la prove chu a.
Mong duoc doc tiep nhieu bai viet bo ich cua GS trong tuong lai

Anonymous said...

Cám ơn chú về bài viết này. Có điều cháu hơi phân vân một tí, nhờ chú confirm. Bước 3 của qui trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học là “ước tính xác suất dữ liệu D phù hợp hay không phù hợp với D và quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H.” hay là “ước tính xác suất dữ liệu D phù hợp hay không phù hợp với H và quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H”?

HVP said...

Cảm ơn entry của Anh. Quả thật thì E cũng nghĩ và sẽ phát hiểu như "các nhà khoa học" này.

Băn khoăn của Anonumous là đúng và tôi nghĩ Anh Tuấn "gõ nhầm" chữ D thay vì chữ H thì Anh Tuấn sẽ confirm. Theo Tôi thì thì ước tính xác suất dữ liệu D phù hợp hay không phù hợp với H để quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H là đúng. Còn nếu như Anh Tuấn confirm rằng A không bị nhầm thì Tôi phải học lại và nguy hiểm là vốn kiến thức đã nghèo nay lại càng nghèo hơn. huhuhu

Vu said...

Chua dau trong b. loang xuong?

Chao a. Tuan, em post cau hoi nay o day co the bi lac de. Xong khong biet hoi anh o dau. Ma em bi loang xuong da lau nam (t/c dau khop goi man tinh + hinh anh loang xuong tren X quang). Dieu tri trieu chung dau bang cac thuoc khang viem giam dau thong thuong, cham cuu nhung khong may hieu qua. Anh vui long chia se kinh nghiem cua anh ve van de nay.

Cam on anh nhieu.

Vu

Anonymous said...

Kính hỏi GS Tuấn.
Trong các bài báo y khoa (nhất là tổng quan), người ta vẫn thường dùng cụm từ đại loại như "That study demonstrated that...". Vậy hiểu từ demonstrate ở đây như thế nào?
Xin cảm ơn.

Anonymous said...

Nếu GS nghĩ rằng proof là "chứng minh" thì có lẽ hơi lạ, vì lâu nay proof có nghĩa là "bằng chứng" chứ? Còn động từ prove hay demonstrate thường được dịch ra là "chứng minh/chứng tỏ".
Tôi cho rằng nếu muốn hiểu rõ vấn đề này thì trước tiên phải hiểu rõ cái cầu nối, mà ở đây chính là CÁCH DỊCH. Cần một tự điển làm trọng tài, nếu không mọi người không hiểu chính xác ý GS Tuấn, hoặc GS có thể không hiểu chính xác cụm từ "chứng minh" dùng hàng ngày trong đời sống VN (dù sao thì ông cũng bỏ VN đi khá lâu).

Cá nhân tôi nghĩ rằng từ "chứng minh" mà thiên hạ dùng hàng ngày chẳng phải là cái khái niệm "chứng minh của GS Tuấn đâu!

Phu Quoc said...
This comment has been removed by the author.
Phu Quoc said...

Tôi mới vừa bị thầy hướng dẫn chỉnh vì lỡ dùng từ 'prove' trong bài viết. Nếu tôi đọc được bài viết này trước thì tôi đã không mắc sài lầm đó.
Cám ơn Giáo sư, chúc sức khoe Giáo sư và mong được đọc nhiều bài hay.

Phu Quoc said...

Tôi mới vừa bị thầy hướng dẫn chỉnh vì lỡ dùng từ 'prove' trong bài viết. Nếu tôi đọc được bài viết này trước thì tôi đã không mắc sài lầm đó.
Cám ơn Giáo sư, chúc sức khoe Giáo sư và mong được đọc nhiều bài hay.

Nguyễn Văn Tuấn said...

Ah, cám ơn các bạn. Tôi đã sửa lại chỗ nhầm lẫn giữa H và D rồi. rất cám ơn sự tinh ý của bạn đọc. tôi đang bận việc ở VN nên không có thì giờ viết tiếp. khi nào ngồi xuống sẽ nói chuyện proof và evidence cho vui.
NVT

Anonymous said...

Vấn đề GS Tuấn nêu ra thật lý thú, song tôi nghi ngờ rằng nếu hỏi GS Tuấn dùng từ gì thay thế cho từ "chứng minh" thì bảo đảm là GS Tuấn sẽ không trả lời được, ít nhất là từ này dùng trong cuộc sống. Lý do là người ta dùng đã quen rồi, và cũng không phải có hàm ý như GS Tuấn nói.

Xin có 2 dẫn chứng:
1/http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns080816163608

Trong đoạn văn dài này, ở dòng thứ 9 đã có từ "chứng minh": Thực tế chứng minh Chính phủ Việt Nam đã quản lý và sử dụng rất có hiệu quả, rất đúng mục đích nguồn ODA của Nhật Bản và của các nước khác. Điều này đã được bè bạn thế giới, trong đó có Nhật Bản, công nhận.

(Chú ý rằng cụm từ "thực tế chứng minh rằng" được dùng rất phổ biến tại VN, hóa ra cũng trật lất?)

2/http://www.thanhnienkhcn.org.vn/bai.asp?code=7545

Ngay trong phần giới thiệu bạn sẽ thấy từ "chứng minh": ...Đặng Văn Soa đã chứng minh được điều mà thầy vẫn tâm niệm: mỗi nhà giáo phải là một kiến trúc sư!

Vậy nếu nói chỉ có toán học và logic học mới có "chứng minh", thì câu văn trên trật lất!!

Và còn nhiều ví dụ trong đời sống nữa, chắc ai cũng có thể tìm ví dụ cho mình.

Có lẽ từ "chứng minh" dùng khá phổ biến, đi vào đời sống thường ngày lẫn giấy tờ nhà nước, nếu nói như GS Tuấn thì dùng từ gì đây?

Còn việc người nào viết văn bản tiếng Anh khoa học, phải hiểu đúng từ mới dùng thì chuyện đó là...đương nhiên!

Anonymous said...

Bà con ráng đọc cái này:

http://www.hcmussh.edu.vn/USSH/ImportFile/Magazine/Journal171006034650.doc

Anonymous said...

Xin moi doc ke hoach tan cong VN trong 31 ngay

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/09/080905_viet_protest_china.shtml