Thursday, January 31, 2008

Ông Táo về Trời

Cám ơn các bạn đã bình luận trong mấy bài bút kí. Định post thêm để các bạn đọc, nhưng hôm nay sắp Tết rồi, nên phải có cái gì nhẹ nhàng một chút, nên xin dừng lại một thời gian nhé.

Hôm kia là ngày tiễn đưa ông Táo về Trời. Ngày xưa lúc còn ở quê nhà, ngày này là ngày cũng vui nhộn và ... say xỉn đấy. Ghé nhà nào trong quê cũng có món để ăn, để uống. Còn ở bên này thì mỗi ngày cứ như mọi ngày. Có ai biết Tết là cái quái gì đâu. Cuộc sống công nghiệp nó dã man ở chỗ là làm cho mình mất cái gốc văn hóa, hay có khi xem nhẹ những ngày lễ truyền thống như thế này.


Nhân ngày này, đáng lẽ tôi phải có vài hàng suy nghĩ, nhưng khi đọc bài dưới đây thì tôi thấy đã có người viết cho mình rồi.

À, xin giới thiệu bạn nào thích Kiều, tôi có một bài phân tích ở đây:
http://www.ykhoanet.com/vanngheykhoa/Doc%20truyen%20Kieu%20bang%20tk.pdf

Bài hơi dài, nhưng có nhiều số liệu. Đọc để vui 3 ngày Tết thôi mà.

NVT

===


http://www.tiasang.com.vn/news?id=2383

Cảm nhận về những chuyện buồn năm cũ
17:22:46 31/01/2008

Ngày Tết không ai nói chuyện buồn. Báo Xuân cũng vậy, toàn chuyện vui... như Tết! Có lẽ vì vậy mà tôi không còn có “ngách” nào để chen vào góp vui nữa, đành phải tự “gây ấn tượng” bằng cách nói chuyên buồn trên báo Xuân của Tia Sáng vậy!

Công bằng mà nói, năm 2007 đi qua, Việt Nam chúng ta chuyện vui cũng nhiều mà chuyện buồn cũng lắm. Những niềm vui từ thành quả hội nhập và phát triển kinh tế..., ai ai cũng cảm nhận được và đều thấy vui mừng, phấn chấn! Còn chuyện buồn từ những thảm họa do thiên tai hoặc do chính bản thân con người gây ra, từ “quốc nạn” tham nhũng, từ lạm phát và giá cả phi mã..., cả xã hội đều đã thấm, đã đau. Nhưng tất cả những niềm vui, nỗi buồn lớn lao đó đã được báo chí trong năm nói đến quá nhiều rồi. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này tôi chỉ muốn chia sẻ những cảm nhận cá nhân từ một vài chuyện không vui gần gũi với công việc của mình.

Chuyện buồn thứ nhất: Phản biện hay “ném đá ao bèo”?

Lần giở những số Tia Sáng trong năm 2007, tôi tần ngần lướt qua hàng loạt các bài viết về những vấn đề “nóng” nhất của xã hội với sự góp mặt của nhiều thế hệ trí thức Việt, cả trong và ngoài nước. Bao nhiêu là tâm huyết, bao nhiêu là “chất xám” đã thấm đẫm trong những trang viết có tính phản biện sâu sắc đó! Và một câu hỏi nảy sinh rất tự nhiên: đã có bao nhiêu phần trăm những ý kiến phản biện đó đã được những người có trách nhiệm (cả lập pháp lẫn hành pháp) ở các cấp xem xét, thừa nhận và áp dụng vào các chủ trương, chính sách, quy định hiện hành? Có lẽ không ai đo đếm được tỷ lệ chính xác để trả lời cho câu hỏi đó, nhưng cảm nhận của riêng tôi là ít, rất ít! Lẽ dĩ nhiên, không phải tất cả các ý kiến phản biện đều đúng và đều khả thi. Nhưng ngay cả những ý kiến mà những người trong cuộc đều thấy vừa đúng đắn, vừa khả thi (và hơn nữa còn nhận được sự đồng thuận của dư luận xã hội) hình như cũng chẳng có tác dụng gì? Rất nhiều minh chứng, chỉ xin kể ra đây một vài ví dụ gần gũi liên quan đến GD&ĐT và KH&CN:

Diễn đàn nghiên cứu khoa học: Thực trạng và Giải pháp của Tia Sáng

Ví dụ đầu tiên là chuyện đánh giá nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản. Diễn đàn do Tia Sáng tổ chức đã thu hút rất nhiều ý kiến của các nhà khoa học. Dĩ nhiên không phải tất cả các ý kiến đều đúng, thậm chí có một số ý kiến còn khá cực đoan và xa rời thực tiễn Việt Nam. Giáo sư Hoàng Tụy là người rất tâm huyết và có bề dày kinh nghiệm quản lý và trực tiếp nghiên cứu cơ bản nên đã góp rất nhiều ý kiến xác đáng. Cá nhân tôi, và chắc chắn tất cả những ai đã và đang tham gia một cách nghiêm túc các đề tài nghiên cứu cơ bản với sự tài trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đều bức xúc với các quy định về tài chính và đánh giá nghiệm thu hiện hành. Tất nhiên, ai cũng có cách “đối phó” với cơ chế, nhưng hậu quả là các bài báo khoa học được sản xuất và công bố theo kiểu “bán lúa non” của nhà nông. Đã có quá nhiều người nói về những chuyện “dở khóc, dở cười” này rồi. Cứ nghĩ rằng việc thay đổi cơ chế tuyển chọn và đánh giá các đề tài nghiên cứu cơ bản là không còn gì phải bàn nữa, và ý kiến của Giáo sư Hoàng Tụy về chuyện này là rất hợp lý và khả thi. Vậy mà trong bài viết “Có nên nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản” (Tia Sáng điện tử, 04/10/2007), Giáo sư Hoàng Tụy đã phải kêu lên: “Ngày 18/9 vừa qua, Bộ KH&CN đã ban hành Quy định đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên. Theo tôi không ở đâu trên thế giới có chuyện nghiệm thu các đề tài khoa học theo như các điều trong quy định đó”. Và ông nhận xét thêm: “Tóm lại, nghiệm thu chỉ là sáng tác của riêng Việt Nam ta!”.

Ví dụ thứ hai là chuyện chương trình và sách giáo khoa cho các trường phổ thông ở nước ta. Có thể nói các diễn đàn về vấn đề này sôi động và “xã hội hóa” hơn nhiều so với vấn đề trên. Đã có không ít trận “bút chiến” nẩy lửa, thậm chí đến mức mất bình tĩnh giữa các nhà giáo dục đủ loại (có các nhà giáo dục thực sự đã hoặc đang đứng lớp và các nhà giáo dục salon rất uyên bác nhưng chưa bao giờ trực tiếp dạy học trò). Ý kiến trái chiều không ít, nhưng có lẽ chuyện mà ai cũng thấy đúng và khả thi là phải xóa bỏ độc quyền sách giáo khoa. Vì lâu nay không theo dõi chuyện này nữa nên tôi cứ yên chí là Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đã có một cuộc “cách mạng” về chuyện này. Vậy mà mới đây đọc bài của tác giả Hiền Lê (VTC News) phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Lân Dũng (xem Dân Trí điện tử ngày 03/01/2008) tôi mới “té ngửa” khi thấy GS Dũng tự đánh giá kết quả đóng góp của mình với tư cách đại biểu của 3 khóa Quốc hội liên tiếp: “Còn nhiều vấn đề tôi không đấu tranh được. Cái thứ hai (cái thứ nhất, theo người viết thì GS Dũng muốn nói đến các góp ý về giải pháp “2 không” của ngành giáo dục) tôi thất bại là chương trình và sách giáo khoa. Quốc hội nghĩ đơn giản là: một cuốn còn chẳng ra gì nữa là nhiều cuốn!” và ông dự định trong năm 2008 “vẫn tiếp tục nói để Quốc hội hiểu rằng chương trình và sách giáo khoa của nước mình chẳng giống ai ”! (GS Nguyễn Lân Dũng được mọi người đánh giá là một trong những đại biểu “nói nhiều” của Quốc hội mấy khóa gần đây. Ông đăng đàn tham luận, chất vấn các Bộ trưởng, viết báo, trả lời phỏng vấn..., về rất nhiều vấn đề, đặc biệt là về GD&ĐT. Và tôi cứ đinh ninh rằng nhiều ý kiến xác đáng của ông đã được ghi nhận và sử dụng. Nhưng đọc bài viết nói trên tôi mới biết là mình đã nhầm! Ông đã không che giấu nỗi buồn vì sự bất lực của mình ở chốn Nghị trường).

Thật trùng hợp, hai giáo sư nói về hai chuyện khác nhau nhưng đều có nhận xét chung là Việt Nam đều “làm chẳng giống ai”! Điều đáng nói là cái cần giống người ta để hội nhập (như GD&ĐT, KH&CN) thì chúng ta lại làm khác người, còn cái cần khác người để giữ gìn bản sắc dân tộc (như Văn hóa) thì lại cứ muốn bắt chước người ta! Nghe nói Bộ KH&CN đang tiến hành lựa chọn các sản phẩm để tôn vinh là “sản phẩm KHCN quốc gia”! Không biết đây có phải lại là một chuyện “làm chẳng giống ai” nữa không?

Một ví dụ nữa là chuyện mâu thuẫn của các nhà quản lý giáo dục đại học VN khi vừa muốn nâng cao chất lượng, muốn đào tạo đạt “chuẩn”, muốn có nhiều trường đại học “đẳng cấp quốc tế”, lọt vào các top bình chọn các trường đại học trên thế giới, vừa cho mở trường đại học tràn lan với lý do “xã hội hóa”! Xung quanh chuyện này và nhiều vấn đề cốt lõi khác của GD&ĐT cũng đã có quá nhiều ý kiến mà bài viết “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” (Tia Sáng điện tử, 01/11/2007) của nhà nghiên cứu Nguyễn Trung đã tổng hợp và bình luận một cách hệ thống. Tuy nhiên, đọc xong bài viết, tôi có cảm nhận (nếu không đúng thì thành thật xin lỗi, còn nếu đúng thì tôi hoàn toàn chia sẻ) là tác giả Nguyễn Trung không mấy tự tin với tác động tích cực của các ý kiến mang tính phản biện của mình nên gần cuối bài viết ông đã phải “kéo” Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào cuộc với hy vọng chúng có thêm trọng lượng?

Vậy là, các nhà trí thức ơi! Các vị cứ việc nói thoải mái để cho nhau nghe là chính, còn những người cần nghe có nghe không hoặc nghe rồi để đấy thì không phải là việc của các vị! Đá cứ ném, ném nhiều và liên tục đi nữa thì cũng đến lúc người ném mỏi tay và ao bèo lại vẫn cứ là ao bèo muôn thuở chẳng đổi thay!

Chuyện buồn thứ hai: Thân phận những người thực thi quốc sách!

GD&ĐT cũng như KH&CN đều được coi là “quốc sách” thì dĩ nhiên các nhà giáo, nhà khoa học sẽ là những người “thực thi quốc sách”! Nghe thật là oai, nhưng có là người trong cuộc mới thực sự “biết thân, biết phận”!

Đã qua rồi thời bao cấp, đến hẹn lại lên lương, được phân nhà, cấp đất. Đã qua rồi cái thời, cứ chịu khó “thập diện mai phục” để kiếm một suất thực tập hay nghiên cứu sinh ở nước ngoài, chịu khó tằn tiện ở xứ người để về làm thượng lưu xứ ta. Giờ đây, các nhà giáo và nhà khoa học hoàn toàn đối mặt với sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường. Trừ một số người thế hệ trước có tài năng và vị trí vẫn còn “của để dành” từ thời bao cấp, đối với các nhà giáo, nhà khoa học ngày ngay, đặc biệt là lớp trẻ, đây thực sự là một cuộc chiến đấu để tồn tại. Thực tế là họ vẫn tồn tại và có không ít người sống sung túc. Nhưng số người tồn tại chỉ bằng đồng lương công chức là rất ít. Và số lượng những người sống sung túc hoàn toàn bằng nghề (giảng dạy, nghiên cứu) cũng rất ít. Đa phần trong số đó là có “tay trái dài hơn tay phải”, thậm chí có “nhiều tay trái”. Hậu quả đương nhiên là chất lượng làm việc của tay phải sút kém! Tôi đã đọc một bài viết nhan đề “Bi kịch giảng viên trẻ” đăng trên báo Sinh viên của Hội Sinh viên Việt Nam cách đây vài tháng, trong đó tác giả (tôi không nhớ tên) vì muốn nhấn mạnh tính “bi kịch” nên có làm một sự so sánh, đại ý: trong khi các giảng viên trẻ mới ở lại trường nhận lương còm hơn 1 triệu đồng/tháng, thì các Phó Giáo sư trở lên dạy 300 tiết/học kỳ và được trường thanh toán 100.000 đồng/tiết, vị chi mỗi học kỳ mỗi vị đút túi ngon ơ 30 triệu đồng!?. (Tôi đã định đến Tòa soạn Sinh viên để xin gặp tác giả hỏi xem trường nào mà ưu ái với PGS, GS như vậy để tìm cách xin về!) Đáng tiếc là một bài báo đưa tin “thất thiệt” như vậy lại đăng trang trọng trên báo của sinh viên làm cho các bạn trẻ nghĩ rằng tồn tại một sự bất công ghê gớm trong các trường đại học của ta. Nếu giáo viên mà sống “ngon lành” như vậy thì Giáo sư Hoàng Tụy đã chẳng mất công “khản cổ” nhiều lần đề nghị tăng lương cho ngành giáo dục. Và thực sự nếu có giáo viên nào sống sung túc được chỉ bằng nghề “bán cháo phổi” thì bi kịch của sự trả giá bằng sức khoẻ và mạng sống của mình trong tương lai gần đã được báo trước! Các nhà nghiên cứu cũng vậy thôi, cứ “thâm nhập” vào Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là thấy ngay nội tình. Nghề tay trái khá phổ biến là “chạy sô” dạy cho các trường đại học dân lập hoặc công lập mới mở. Kiếm sống vất vả như vậy nhưng các nhà giáo, nhà khoa học (cũng như phần đông các công chức khác) lại là đối tượng được cơ quan thuế “nắm tóc” dễ nhất để đóng góp thuế thu nhập cá nhân. Mức lương bình quân của các Giáo sư cũng chỉ mới vượt “đỉnh” 4 triệu đồng/tháng nên cứ thêm được đồng nào là bị đưa vào diện “cắt ngọn” ngay! Có chạy ra ngoài dạy thêm thì cũng không “thoát” vì trường nào cũng trừ luôn 10% khi thanh toán cho chắc ăn. Cho dù sự so sánh là khập khiễng nhưng cứ đọc báo thấy ca sĩ này, người mẫu nọ đóng thuế thu nhập đến hàng trăm triệu/năm mà thấy cám cảnh cho các giáo sư trong nước.

Vật chất là vậy, còn tinh thần thì sao? Lỡ mang nghiệp “sĩ” nên nhiều nhà giáo, nhà khoa học chẳng khác nào “người ngoài hành tinh” trong cơ chế thị trường. Làm thế nào để vẫn giữ được “đạo cao, đức trọng” mà không nghèo, không khổ? Hành động “phá rào” dễ chấp nhận nhất là “dạy thêm” nhưng không phải ai cũng có được sự thanh thản. Cơn lốc thương mại hóa giáo dục đã và đang cuốn nhà giáo vào dòng xoáy trong, đục khôn lường. Ngày 20/11 hằng năm vẫn có meeting đầy hoa và khẩu hiệu, vẫn có nhiều bài báo tôn vinh nhà giáo. Vẫn có hàng loạt nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân. Nhưng có là nhà giáo thực sự mới thấm nỗi đau khi thấy ý nghĩa cao đẹp của cụm từ “tôn sư trọng đạo” đang mất mát dần theo thời gian. Phải chăng, cố gắng níu kéo một truyền thống như vậy cũng là một việc làm “chẳng giống ai ?”. Tôi không thể trả lời được, và có lẽ rất nhiều người cũng không trả lời một cách thuyết phục được. Nếu không thì đã không có chuyện “chất xám” tích lũy bao năm của các trường đại học và viện nghiên cứu công lập đang chảy ra các doanh nghiệp (bao gồm cả các trường đại học của doanh nghiệp), trong khi “chất xám trẻ” rất khó bổ sung.

Chuyện buồn thay cho lời kết: Hậu Đề án 112

Kết thúc buồn của Đề án 112 đã được xếp vào một trong những sự kiện nổi bật về Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) trong năm 2007. Những công việc dở dang của 112 được chuyển về cho Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), chịu trách nhiệm trực tiếp là Cục ứng dụng Công nghệ Thông tin. Về mặt quản lý Nhà nước thì sự chuyển giao đó là hợp lý, nhưng nếu xét về nguyên nhân thất bại chủ yếu của 112 (theo sự phân tích của nhiều chuyên gia) xuất phát từ “lỗi hệ thống”, thì bức tranh toàn cảnh của ICT Việt Nam hiện tại chưa cho ta những tín hiệu đáng tin cậy về sự thành công của Hậu 112 trong tương lai. Tôi đã từng muốn viết một bài báo để thử phác thảo một bức tranh toàn cảnh ICT Việt Nam 2007 theo cảm nhận của riêng mình, nhưng rồi đã từ bỏ ý định đó sau khi đọc bài viết nhan đề “Thị trường ICT 2007: Những hệ lụy từ được và mất” của tác giả Hàn Phi (An ninh cuối tháng, 12/2007). Tác giả Hàn Phi đã vẽ được bức tranh như vậy, dù chưa phải là hoàn toàn đầy đủ nhưng rất thực và khách quan, đặc biệt ở nhận xét cuối cùng, đại ý “ICT Việt Nam 2007 đã khép lại xoay quanh 2 thái cực Được và Mất, trong đó cái Được cái Mất gần như song hành với nhau và những hệ lụy của nó chưa dừng lại mà sẽ là những vấn đề cần phải giải quyết vào những năm sắp tới”.

Dự án 112 thất bại do "lỗi hệ thống".

Đề án 112 thất bại, chúng ta mất nhiều thứ. Nhưng từ “một góc nhìn của trí thức”, có cái mất vô hình không phải ai cũng cảm nhận được, đó là sự mất mát về lòng tin của xã hội vào những người trí thức, bởi “góp phần” vào sự thất bại và tai tiếng của 112 còn có cả sự thỏa hiệp (nếu không muốn nói là đồng lõa) của cả một số người trong giới trí thức. Thế mới thấy trí thức của chúng ta thời buổi này “giữ mình” không dễ! Thật buồn, nhưng cũng có cái vui trong đó từ sự cảnh báo!

Ngày Xuân nói chuyện buồn cũng là để sòng phẳng trong suy nghĩ của mình khi giã từ năm cũ. Được-Mất, Vui-Buồn (cùng với những hệ lụy của chúng) càng rạch ròi sẽ càng giúp ta luôn “biết mình là ai” và “đang đứng ở đâu ?”, từ đó thêm tự tin để bước vào một Năm Mới dự báo sẽ có nhiều khó khăn, thách thức.

Nguyễn Thúc Hải

Tuesday, January 29, 2008

Câu chuyện trong quán bia ôm

Loạt bài viết về chuyến về quê năm 2005. Không gửi cho báo nào mà chỉ viết để làm "chứng từ" cho một thời ...
nvt

====

“Phần hồn rồi, bây giờ đến phần xác”. Một thằng bạn già tôi tuyên bố như thế. Sau một chầu cà phê tranh luận chuyện văn học nghệ thuật, và một chầu nhậu nhẹ tán hươu tán vượn chuyện xã hội - chính trị, mấy thằng bạn tôi định dẫn tôi đến một địa điểm khác mà chúng nó nói là “phần xác”. Nói cho rõ hơn, chúng nó sắp dẫn tôi đi quán bia ôm.

Thực ra, đó là ý định của tôi. Đã nghe qua quán bia ôm rất nhiều và khá lâu, nhưng thú thật tôi ít có dịp “đi thực tế” xem thực chất nó là những quán như thế nào. Thành ra, lần này tôi quyết định đi cho được, bằng cách nài nỉ đám bạn dẫn tôi đến vài quán cho biết thực tình xã hội ra sao. Nghe tôi tỏ ý định đi bia ôm, một thằng bạn là thương gia khá thành công ở Sài Gòn, tỏ vẻ lo ngại: Thằng này hay viết lách, nó mà đi bia ôm rồi viết lăng nhăng nêu tên tuổi bọn mình trên mặt báo thì phiền với bà xã lắm. Tôi nói cho với tên bạn yên lòng: Tao cam đoan không viết về bọn mày, tao chỉ muốn nghe qua những câu chuyện của mấy em thôi. Vả lại, báo chí trong nước đời nào đăng bài của tao về mấy cái vụ này mà bọn mày lo. Dẫn tao đi!

Đã hơn 9 giờ tối. Đường xá Sài Gòn vẫn còn đông nghẹt người. Chiếc taxi của hãng Mê Linh phải khó khăn lắm mới rời được quán nhậu, và vất vả chen chúc trong rừng xe gắn máy, xe đạp và xe bốn bánh để đến một địa điểm trên đường Trần Hưng Đạo. Xe vừa đậu lại, bốn chúng tôi chưa kịp mở cửa xe, thì hai thanh niên từ quán đã vội vàng mở cửa cho chúng tôi. “Chào các đại ca, vào quán tụi em nghen?”. Tôi chưa kịp trả lời thì một thanh niên khác quay mặt vào quán và hét ra lệnh: “Chuẩn bị phòng số 7 tụi bây!”

Bước xuống xe tôi mới định thần nhìn chung quanh. Quán là một tòa nhà 5 tầng, chiều ngang khoảng 5 hay 6 thước, phía trên có đề biển hiệu tên quán hẳn hoi, ngoài cái hiệu “Nhà hàng” màu xanh da trời nền trắng, phía dưới còn thêm một tiêu đề màu trắng nền xanh “Phục vụ các món ăn đặc sản miền Nam”. Cách chọn màu cho biển hiệu làm cho quán có vẻ xanh xao, nhợt nhạt, và huyền bí. Các “hàng xóm” của quán, một bên là khách sạn nhìn từ ngoài khá sang trọng, một bên là một quán mì hủ tíu, và kế bên nữa là một quán mà tôi đoán có lẽ là quán bia ôm. Đối diện quán bên kia đường là một loạt khách sạn kiểu gia đình và nhiều hàng quán ăn uống khác với nhiều thực khách đang ăn uống. Đèn đuốc sáng choang làm sáng cả một góc phố của con đường chính vốn nổi tiếng này của thành phố càng thêm sáng chói.

Chúng tôi vào phía trong quán, chẳng thấy bàn ghế như các quán thông thường ở đâu, mà chỉ một cái bàn tính tiền có hai nhân viên đang ngồi chơi game trên máy vi tính. Tuy đèn neon sáng choang, nhưng hai bên tường được sơn bằng màu sanh lá cây, màu tim tím nên tôi cảm thấy căn phòng hơi tối tăm. Phía sau bàn tiếp tân là một khu chuyên chất chứa đủ thứ bia, từ Bia Sài Gòn, Tiger, đến Heineken. Chúng tôi được hai thanh niên khác dẫn lên tầng số 4, phòng số 7. Quán không có thang máy mà cầu thang thì khá dốc, cho nên lên đến tầng 4 thì chúng tôi đều gần ná thở!

Căn phòng dài khoảng 5 thước và rộng khoảng 4 thước, chỉ có một cửa ra vào. Đèn trong phòng chỉ mờ mờ. Một bên tường được vẽ hình những nốt nhạc màu đen nền tím, và một bên tường được trang trí bằng một bức tranh cảnh mùa thu to tướng. Tường phía trước (hướng ra đường Trần Hưng Đạo) thì được che phủ bằng một tấm màn riđô màu đỏ bordeaux. Gần tấm màn là một cái tivi lớn hiệu Sony loại flat screen, và một dàn máy karaoke rất oách. Hai góc phòng là hai cái loa lớn hiệu JBL, và phía trên tường chung quanh phòng đều có các loa nhỏ. Đối diện cái tivi và dàn máy karaoke là một cái bàn lớn với nhiều món trái cây và la liệt li thủy tinh cùng khăn lạnh. Chung quanh cái bàn là một bộ sofa bọc nhựa màu nâu đậm bao bọc lấy một phần của ba bức tường. Tất cả tạo nên một khung cảnh mờ ảo, nhưng rất riêng tư.

Mới buớc vào phòng tôi đã thấy khó chịu với cái mùi rất khó tả: nó là hỗn hợp của mùi thuốc lá, mùi nước bia còn dư đọng sau một buổi tiệc, và mùi nước hoa rẻ tiền mới xịt. Máy lạnh chạy khè khè làm cho các mùi này cũng “dịu” dần và không khí trong phòng rất dễ chịu, chứ không oi bức như phía ngoài. Mới ngồi xuống ghế, đã có một cô khoảng chừng 25 tuổi nhanh nhẹn bước vào hỏi thăm xã giao. Tôi tạm gọi cô là “má mì”. Có lẽ mấy thằng bạn tôi đã quá quen chỗ này nên mới gặp nhau họ đã nói chuyện với nhau như người nhà. Cô ta quay sang tôi và ném một cái nhìn ngạc nhiên. Một thằng bạn tôi giải thích: À, đây là bạn của anh đó, nó là Việt kiều. Cô ta đổi nét mặt và tươi cười bắt tay tôi rồi hỏi han chuyện thời tiết bên trời Tây. Không phí thì giờ, cô ta đi ngay vào chuyện: vẫn như cũ hay các anh có yêu cầu gì đặc biệt hông? Với các anh thì không có gì cả, nhờ em lo lắng kĩ cho thằng bạn quí của anh đây nghen. Thằng bạn “chủ trì” của tôi chỉ tôi và nói với cô một cách ngọt ngào và quan tâm như thế.

Cô ta đi đâu một lúc, khoảng 3 phút sau, cô quay lại phòng với cả chục cô gái mặt hoa da phấn đứng xếp hàng ngang trước chúng tôi. Cô ta nói các anh tự chọn hay em chọn ? Mấy thằng bạn tôi mỗi thằng chọn ngay một cô, đến phiên mình tôi chẳng biết chọn ai. Mà trong thâm tâm tôi cũng hơi bất ngờ và cảm thấy không thoải mái (nếu không muốn nói là bất nhẫn) với cái trò chọn người như là chọn hàng như thế này. Thấy tôi do dự, cô má mì nhoẻn miệng cười và tình nguyện chọn cho tôi một cô. Còn các cô không được chọn, họ chẳng tỏ ra thất vọng chút nào cả, mỉm cười và đi đâu đó lên “tầng nhà” của các cô. Ba thằng bạn của tôi có người “chăm sóc” và chúng buông tay chân thả hồn theo khói thuốc ...

Cô gái được chọn sà vào ngồi sát bên tôi. Ở đây ai cũng gọi các cô là “em”. Em cao chừng 1 thước 6, có thân hình hơi gầy, da trắng xanh, tóc được bới một cách gọn gàng, cặp mắt to đen và tỏ ra lanh lẹ, tay đeo một chiếc nhẫn ở ngón tay giữa. Em ăn mặc rất ư là “mát mẻ”: cái áo hai giây và cái quần đùi vừa ngắn cũn cỡn vừa bó sát vào thân người như cố tình khoe những đường cong con gái của em. Thoạt đầu em ngồi bên tôi hơi ngượng nghịu, nhưng chỉ vài phút sau thì em trở nên nhanh nhẹn và tỏ ra rành nghề lắm. Chưa biết mình phải làm gì thì, cùng với các cô tiếp viên khác, em lấy cái khăn lạnh lau mặt cho tôi. Cái khăn lạnh và mùi nước hoa rẻ tiền như nhắc cho tôi biết thực tại. Anh mới tới đây lần đầu hả? Em thủ thỉ hỏi tôi. Ừ, anh mới đến đây lần đầu, mấy thằng bạn nó dẫn anh đến đây. Tôi giải thích như là lời biện minh cho sự “trong trắng” của mình. Không để ý đến câu nói đó, em tiếp: Hèn gì, thấy anh lạ hoắc, mấy ảnh hay tới đây chơi lắm, em biết hết hà. Bữa nay, em sẽ làm vợ anh trong vài giờ hén? Tôi sốc khi nghe em nói như thế một cách cực kì tự nhiên. Tôi đùa: Mình chưa cưới nhau mà vợ chồng gì em? Ôi, anh sao mà khách sáo quá, đã vào đây thì mình thành vợ chồng hết!

Đang nói thủ thỉ nói chuyện thì hai thanh niên dẫn chúng tôi vào phòng lúc nãy cũng đã vào phòng, khệ nệ bưng hai két bia “Ken” (Heineken) chai xanh và một cái xô như xô nước. Trong khi các cô tiếp viên vội vàng khui bia và rót vào li, hai thanh niên đó đến đấm bóp cho từng chúng tôi. Phải nói họ làm xoa bóp rất điệu nghệ, và tôi đã có những giây phút thoải mái dù khá ngắn ngủi. Tôi được cô tiếp viên ngồi bên nhắc là “bo” cho hai anh ta. Bao nhiêu vậy em? Tùy anh thôi, 10 ngàn một người cũng được anh à. Họ chỉ sống nhờ bo thôi đó anh. À, ra thế, tất cả mấy người làm việc ở đây, kể cả các cô tiếp viên, đều không có lương, mà chỉ sống nhờ vào tiền bo của khách mà thôi. Quán chỉ là cơ sở để họ làm ăn, và chủ quán ăn tiền nhờ vào bán bia, bán thức ăn, và huê hồng từ các tiếp viên. Hình như đây là qui định bất thành văn của các quán bia ôm.

Sau khâu xoa bóp đấm lưng khách, hai thanh niên này khởi động dàn máy karaoke, điều chỉnh âm thanh, và rời phòng. Khâu kế tiếp là chỉ chúng tôi: khách và các tiếp viên. Một cô tiếp viên đưa li bia lên mời các “ông xã, bà xã” cùng nâng li để, nói theo cô, là “mừng ngày tao ngộ”. Những bài karaoke được chọn và các cô cùng các bạn tôi say sưa ca theo. Qua danh mục được in sẵn, tôi để ý thấy hệ thống karaoke này có đến hàng ngàn bài hát, từ tân nhạc đến cổ nhạc, và tất nhiên phần lớn là những bài ca được lưu hành từ trước năm 1975. Một số nhạc được sáng tác ở hải ngoại cũng có mặt ở đây. Nhưng đây là “karaoke vi tính”, chứ không phải các đĩa karaoke bày bán ngoài thị trường. Điều này có nghĩa là màn hình chỉ quanh đi quẩn lại vài cảnh quan như cảnh đồng ruộng Việt Nam, cảnh hội hè cung đình Huế, cảnh tòa nhà con sò bên Sydney, nhà thờ Đức Bà và vài cảnh nổi tiếng khác bên Paris và Âu châu. Do đó, một bài ca có khi được “minh họa” bằng những hình ảnh lảng nhách, chẳng ăn nhằm gì với nội dung bài hát. Nhưng điều này có lẽ không quan trọng, vì đây không phải là nơi bình phẩm về nghệ thuật, mà là nơi thuộc về “phần xác” như cách nói của thằng bạn tôi.

Uống đi anh! Em ngồi bên tôi nhắc nhở. Tôi thoái thác rằng vì mới uống bia nên chắc không uống nhiều được. Không sao, anh uống tới đâu hay tới đó, có gì em đỡ cho. Em nói một cách tự tin như thế. Em uống hay quá hén, mà em uống được bao nhiêu chai nè? Em cũng hông biết nữa, mới đầu vào nghề thì em uống ít lắm, nhưng bây giờ thì có thể uống 10 chai. Em không say xỉn sao? Say chứ anh, nhiều đêm về nhà em bị té và ói mửa tùm lum hết trơn. Nói xong, như là một minh chứng, em vạch vai và tay cho tôi xem những vết bầm còn tồn đọng trên vai. Tôi cảm thấy thương hại cho em thật, và hỏi: Biết say xỉn sao em uống hoài vậy? Trời ơi, anh hỏi gì kì vậy cà, đây là nghề của em mà, em không uống thì sẽ bị chửi cho mà coi. Ai chửi em? Thì mấy chị đó, má mì đó, không uống là mất việc luôn chớ. Em coi đây là cái nghề à? Ủa, chớ em làm tiếp viên mấy anh hông phải là nghề thì là gì? Tôi lên giọng dạy đời, giảng morale: Nhưng em có thể chọn nghề khác. Nghề gì hả anh? Em chỉ học lớp 8, làm gì trong cái thời gạo châu củi quế này hả anh? Lãng đi câu nói của tôi, em lại cụng li đòi uống tiếp: Uống đi anh, anh là nhà báo hay công an sao mà hỏi hoài vậy?

Lợi dụng trong khi mấy thằng bạn tôi đang mê say trong lời ca tiếng nhạc, tôi tìm cách phỏng vấn để tìm hiểu đời tư và câu chuyện của em. Tôi được biết em là Nhung: Trần Ngọc Nhung. Năm nay em mới 20 tuổi. Biết rằng đây có thể chỉ là tên giả, một “thương hiệu” của em, nhưng tôi hãy tạm biết em là Nhung. Câu chuyện của em, mà sau này tôi có dịp kiểm chứng qua người khác là khá thật, làm cho tôi phải suy nghĩ hoài về số phận của các cô gái bán bia ôm. Em xuất thân từ một gia đình gồm 3 trai và 3 gái (em là đứa con thứ 5) rất nghèo ở một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ba của em đã theo vợ bé từ lúc em mới lên 10 tuổi, và lúc nào em cũng tỏ ra thái độ khinh ghét đàn ông con trai. Em mới học đến lớp 8 thì bỏ học theo mẹ đi bán cá ngoài chợ. Má em bị ung thư thyroid, đang được điều trị tại bệnh viện ung bứu Thành phố Hồ Chí Minh. Em trai của em năm nay học lớp 7. Gia đình em chỉ có 5 công ruộng chia nhau giữa các anh chị đã có gia đình làm. Phần em thì ở với mẹ, quá túng quẩn, kiếm được miếng ăn hàng ngày đã là một cuộc đối chọi chật vật với đời. Trong xã em có nhiều người đi bán bia ôm ở thành phố, và em quyết định theo bạn bè lên thành phố thử thời vận một phen. Lên Sài Gòn, em ở trọ cùng với bạn bè khác từ dưới quê trong một căn nhà em mô tả rất tồi tàn, mỗi tháng em chỉ trả có 100 ngàn đồng tiền phòng. Nấu nướng và ăn uống? Em không nấu nướng gì cả, ăn uống thì đêm về ăn hàng quán vĩa hè. Em được “nhận” vào bán bia ôm ở đây gần 6 tháng. Mỗi ngày em “làm việc” từ 12 giờ trưa đến 12 giờ đêm. Khi nào có khách “bay đêm” hay “đi suốt” (danh từ trong nghề của các em) thì em cũng đi theo đến sáng mới về nhà. Mỗi ngày em phục vụ cho một khách, hay khi may mắn thì hai khách. Mỗi tháng em kiếm được khoảng 2 triệu, sau khi trả tiền phòng và tiền ăn. Phần còn lại em gửi về cho em học và trang trải chi phí chữa bệnh cho mẹ em. Đó là số tiền (hay thu nhập) mà người dân quê có mơ cũng không có được trong một tháng.

Nhung vừa cắn hột dưa lốp cốp, vừa kể chuyện, vừa cụng li với tôi. Giọng em cứ đều đều, dửng dưng, không vui mà cũng không buồn. Tôi nhìn em kĩ xem em có cảm xúc gì không mà không phát hiện gì cả. Tôi có cảm giác em đã vào nghề lâu hơn em nói nên hỏi: Em nói mới vào nghề sao mà em nói không có cảm xúc gì hết vậy? Tôi mới hỏi thế thì em ập mặt vào lưng tôi òa lên khóc ướt cả áo tôi, khóc một cách sướt mướt như chưa bao giờ em được khóc. Nhung nói một mạch không cho tôi xen vào: Anh tưởng em là thú vật hay đá sao mà không biết nhục, biết đau, không có lương tri. Em nhục lắm anh ơi. Nếu người dưới quê em biết em làm nghề này, anh biết người ta kêu em là gì hông, là con điếm. Nhục nhã lắm anh ơi. Nhưng biết sao, không có tiền nên em phải cắn răng làm cái nghề hèn hạ này. Cuộc sống bây giờ chó má lắm, không có tiền là bị người ta khinh, bị người ta chửi. Em phải có tiền để lo cho em của em học đến nơi đến chốn, để cho má em hết bệnh. Anh biết không? Em sẽ đi học một nghề để nuôi thân sau này. Bộ anh tưởng em làm nghề này hoài sao chớ? Tôi xin lỗi em vì đã hỏi một câu xúc phạm. Em lau nước mắt và lại nâng li mời tôi uống tiếp: Uống đi anh, đêm nay em chỉ làm vợ anh có vài tiếng đồng hồ thôi, mai này là mỗi người một phương rồi ...

Nước mắt phụ nữ lúc nào cũng lợi hại. Tôi thật lòng cảm thông cho em, và ngạc nhiên em có vẻ quá thực tế trong độ tuổi đáng lẽ phải là mơ mộng này. Tôi phân bua: Nói ra em đừng giận nghen, anh không phải là chồng của em, và em cũng không phải là vợ của anh, dù chỉ vài giờ; anh vào đây chỉ muốn để nghe em câu chuyện của em mà thôi, anh muốn tìm hiểu tại sao em vào nghề này. Lau khô dòng nước mắt, Nhung tỏ vẻ ngạc nhiên: Mà anh là ông khách đặc biệt đó nghen, nãy giờ không thấy anh bóc hốt, mò mẫm gì hết trơn vậy? Tôi giả bộ hỏi: bóc hốt và mò mẫm là gì, em nói anh không hiểu? Xạo quá ông anh ơi, anh mà không hiểu thì ai hiểu, đàn ông mấy anh ai mà không vậy? Rồi em đưa mắt qua ghế đối diện như đưa đường dẫn lối cho tôi thấy cảnh mấy thằng bạn tôi đang âu yếm hôn hít những người vợ hờ của họ, và nói: Kìa, thấy mấy anh bạn của anh hông? Sờ mó mấy chị tùm lum hết đó. Tôi nói: À, vậy là bóc hốt đó hả, vậy anh có quyền làm với em chớ gì? Em cười rồi nói chua xót: Anh bỏ tiền ra mua em làm vợ mà! Tôi hỏi: Mà anh phải làm gì chớ? Em vừa nói vừa chỉ vào ngực mình: Lại xạo nữa, đàn ông mấy anh ai cũng xạo cả, nói anh nghe nghen: một trăm đàn ông vào đây là một trăm ông sờ chỗ này của tụi em cả, bởi vậy em mới ăn mặc mát mẻ như vầy. Ủa vậy ăn mặc vầy là để hành nghề hả, chứ em không ăn mặt vầy khi về nhà sao? Anh nói sao mà kì thiệt hén, chẳng lẽ tụi em vào đây ăn mặc thùy mị kín đáo để làm cảnh cho mấy anh à? Tôi phải đầu hàng trước cái logic tàn bạo đó.

Anh ca với em vài bản nghen? Ừ, em chọn bài đi rồi mình ca chung với nhau. Tôi nói để em vui, để cho mấy cô tiếp viên kia không để ý, và để cho họ biết tôi cũng … nhập cuộc vui. Em chọn mấy bài “nhạc sến” rồi nói: em chỉ biết ca nhạc sến thôi, anh đừng cười em nghen. Rồi em cất tiếng ca cũng có hạng lắm: Đời anh như là chim bay / vòng tay em thì bé quá, ngại ngùng anh rồi mai đây / sợ không giữ được chân anh / rồi mang nhiều chua xót / thà rằng thôi đừng yêu nhau / giữ cho nhau đẹp mãi mãi / giữ cho nhau như ban đầu … Em lại chọn một bài khác, và chúng tôi hát theo giọng ca trữ tình của cô ca sĩ Phi Nhung: Làng anh làng em, chung dòng sông văng vẳng câu hò / Trời nắng trời mưa, con đò đưa thức nước đôi bờ / Chiều chiều làng em lâng lâng hoa sứ dâng hương / Chiều chiều làng anh qua cao thơm ngát đa tình / dây trầu cau thấm tình ... Làng em làng em, yêu vần trăng soi mái tranh nghèo / Đầm thắm tình quê, con đường đê hương lúa đê mê / Ngồi chờ vầng trăng anh năm, cô bảy, cô ba / lẳng lặng tình nghe ngân nga câu hát câu hò trăng tàn run cành tre / Trời gần khuya ai đưa em về làng bên / Đò đưa qua, soi bóng trăng cười dưới nước / Soi bóng chung đôi hai mình / Em nắm tay anh thẹn thùng / Cùng cười đùa trêu gái trai làng khúc khích, câu hò đường quê …

Đến gần 12 giờ đêm. Cuộc vui tàn. Mấy thằng bạn tôi ra hiệu để về nhà ngủ chuẩn bị cho một ngày làm việc sắp đến của bọn nó. Sau khi bo cho Nhung 100 ngàn, em gượng gạo nhận và hẹn lần sau gặp lại sẽ tâm tình nhiều hơn, sâu hơn. Chúng tôi xuống đường tìm taxi về nhà, và trong khi chờ taxi tôi chợt thấy Nhung, trong cái quần jean xanh đắt tiền và áo pull thời trang cùng với áo khoác bên ngoài, cũng vừa xuống và đang chờ xe ôm đưa về nhà. Nhìn Nhung bây giờ khó ai nhận ra cô làm nghề bán bia ôm. Nhung nói gì đó với một thanh niên đang ngồi trước quán và dí cho anh ta một tờ 10 ngàn, rồi đưa mắt nhìn tôi cười một cách tinh quái.

Một lần khác, mấy thằng bạn tôi dẫn tôi đi thực tế tại một quán bia ôm khác thuộc Quận 5. Quán này có sang hơn nhưng nhỏ hơn quán ở đường Trần Hưng Đạo mà tôi đã kinh nghiệm qua. Quán nằm trên đường Nguyễn Trãi, một con đường rất tấp nập xe cộ và hàng quán bán đủ thứ từ vải lụa, đồ điện tử, đến thức ăn uống. Quán cũng được ngụy trang dưới danh nghĩa một nhà hàng, và tất cả trang trí trong cũng như ngoài quán chẳng có gì khác với quán ở đường Trần Hưng Đạo.

Tiếp tôi là một cô gái trẻ, khá xinh đẹp có tên rất nhạc là “Lưu Luyến” (tất nhiên, đó thương hiệu của cô, chứ chắc chắn không phải tên thật). Luyến xuất thân cũng từ Vĩnh Long, nhưng em nhất định không cho tôi biết từ xã hay huyện nào. Anh hỏi thêm về quê em, em sẽ bỏ anh đó nghen. Luyến dọa tôi. Mới sà vào ghế sofa, trong mùi nước hoa nồng nặc nhưng đắt tiền (có lẽ là Yves St Laurent) và bộ cánh rất hở hang, mát mẻ (vai trần, không mặc áo ngực, và cái váy cực ngắn bó sát vào hông), Luyến đã đặt một nụ hôn cái chụt vào má tôi, và kêu lên: Anh chưa rửa mặt hả. Rồi không để tôi trả lời cô sẵn tay cầm cái khăn lạnh lau mặt cho tôi như là một người tình. Cô choàng tay ôm eo tôi và phát hiện cái điện thoại di động, rồi sẵn tay rút nó ra và làm một cuộc khám xét. Cô bấm gì đó trên cái điện thoại, mà sau này tôi mới biết đó là cách cô lấy số điện thoại của tôi! Các cô tiếp viên khác nâng li mời tôi uống bia, Luyến liền phản đối: Ai cho phép chị mời ông xã tui, trong khi tui chưa mời ổng. Rồi quay sang tôi cô hỏi: Em nói vậy phải hông, ông xã ? Tôi nghiệm ra rằng ai vào bia ôm đều phải đóng vai vợ chồng hờ trong vài giờ đồng hồ.

Anh mới lại đây lần đầu hả? Luyến hỏi tôi. Tôi gật đầu và nói một câu xã giao. Thấy là biết ngay mà, mấy ảnh là khách quen ở đây cả; chắc anh là công chức hay là Việt kiều hả? Luyến đưa tay chỉ mấy người bạn của tôi nói như thế. Không, anh là công chức từ tỉnh Kiên Giang lên đây công tác, sẵn dịp ghé đây chơi. Vậy hả? Làm nghành nào vậy? Ngân hàng. Chà, chắc tiền bạc nhiều lắm hén. Tôi chống chế: Tiền nhiều, nhưng tiền của Nhà nước, chứ anh có đồng nào đâu em; anh cũng chỉ là nhân công như em thôi. Thấy Luyến là một cô gái khá thân mật, thích nói chuyện và rất tự hào về sắc đẹp của mình. Do đó, tôi cũng có một cuộc trò chuyện (hay nói đúng ra là “thẩm vấn”, nói theo cách nói của Luyến) về hoàn cảnh của cô.

Luyến mới 21 tuổi mà đã có 2 con vì một lần lầm lỡ lúc chưa tròn 19 tuổi. Nói chính xác hơn là con sinh đôi. Em là đứa con thứ ba trong một gia đình 4 anh em gồm 2 giái 2 trai. Em gái của Luyến cũng làm nghề bán bia ôm, ngay tại quán này. Gia đình làm ruộng. Mấy anh chị em đều đã có gia đình ở dưới quê. Luyến chỉ học đến lớp 5 thì thôi học, vì phải phụ giúp gia đình trong cuộc mưu sinh đầy khó khăn ở làng quê, mà theo em thì có bữa no bữa đói. Ba má em còn sống nhưng chờ chết vì cả hai mắc phải những chứng bệnh ngặt nghèo. Không ai có tiền lo cho ba má, em nghỉ học đi làm cho một hãng tôm đông lạnh ở An Giang. Đồng lương ít ỏi (khoảng 30 ngàn một ngày), còn thua thu nhập của một người bán vé số dạo, không đủ chi phí cho em tiêu xài, nên em đành phải theo bạn bè trong xóm để lên Sài Gòn tìm đường mưu sinh và kiếm ít tiền gửi về cho ba má. Em còn nói một lí do khác em lên Sài Gòn làm nghề này là vì muốn thuyết phục cô em gái nên bỏ nghề!

Vậy còn con em thì ai nuôi? Tôi hỏi. Em ngậm ngùi nói trong tiếng nấc như muốn khóc: Em gửi chúng vào cô nhi viện rồi; một ngày nào đó khi có đủ tiền em sẽ đem con về nuôi. Tại sao em chọn nghề này? Chứ em còn làm được nghề gì hả anh? Làm công nhân trong hãng xưởng chẳng hạn. Anh nói nghe hay quá hén, làm công nhân lương chỉ 30 ngàn một ngày, làm sao em đủ sống, làm sao em lo cho ba má em? Vậy ở đây mỗi ngày em làm được bao nhiêu? Tùy ngày, 100 ngàn có, 200 ngàn có, có khi có bo đậm thì cũng 300 ngàn. Ui chao, một ngày mà em làm được nhiều tiền vậy thì em quá khá rồi. Luyến nói như uất nghẹn: Nhục lắm anh ơi, chẳng qua vì hoàn cảnh, chứ ai muốn làm cái nghề dơ bẩn này hả anh. Khách đàng hoàng thì còn đỡ, gặp khách cà chớn thì chỉ có khổ thân. Mà thôi, anh hỏi em làm gì, mình chỉ làm vợ chồng một vài giờ thì đường ai nấy đi. Uống đi anh! Luyến lãng sang chuyện khác và kêu tôi nâng li rồi ca hát.

Trong khi mấy người khác say sưa ca hát, Luyến bấm remote control chọn bản nhạc cho tôi và em cùng ca. Tôi than là mình không biết ca, nên có gì em ca dùm nhé. Em gật đầu và vui vẻ chọn này. Tiếng nhạc cất lên, tôi và em cùng ca bài Qua cơn mê khá nổi tiếng của Trịnh Lâm Ngân: Một mai qua cơn mê / Xa cuộc đời bềnh bồng anh lại về bên em / Ngày gió mưa không còn / Nên đường dài thật dài ta mặc tình rong chơi / Cùng nhau ta sẽ đi sẽ thăm / Bao nơi xưa xuôi một thuở lênh đênh / Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ đi thăm từng nhà / Tình người sau cơn mê vẫn xanh / Dù bao tháng năm đau thương dập vùi ... Lại những bài ca sến mà tôi thấy hình như bất cứ quán bia ôm nào cũng có. Chiếc áo bà ba trên giòng sông thăm thẳm / thấp thoáng con xuồng bé nhỏ tới mong manh / Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ / Hậu giang ơi, em vẫn đẹp ngàn đời. Chiếc áo màu xanh len từng con sóng bạc / Lấp lánh mái chèo của Đồng Tháp Dương Châu / Sóng vổ thuyền đưa tiếng hò qua bến đợi / Hậu Giang ơi, dẫu yêu còn tuyệt vời ...

Tôi lại tò mò hỏi tiếp: Em làm nghề này không sợ công an bắt sao? Ồ, công an vẫn kiểm tra thường xuyên đó chớ, nhưng họ “ăn” hết rồi, nên làm cho có thôi, anh đừng lo. Ba má em biết em làm nghề này không? Trời, bộ khùng sao mà nói thật cho ba má biết. Vậy em nói với ba má em làm nghề gì? Em nói làm nghề bán hàng. Vậy là em nói dối. Luyến cười mà không trả lời nhận xét của tôi, như là một câu nói thừa. Thôi, đừng hỏi nữa, uống đi anh! Nói xong, em cắn đôi miếng dưa hấu ngọt ngào cho tôi.

Trong khi mấy thằng bạn tôi đang cùng các tiếp viên say sưa trong các bài ca rền rỉ khóc than về thân phận, tình yêu và tình đời, tôi lại làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng Luyến. Lần này vì biết qua vài danh từ trong làng nghề, nên tôi hỏi em bóng gió mà thực tế hơn. Em có từng “bay đêm” không? Em nhìn tôi một lúc như dò xét, rồi nói: Có chớ, bay đêm bay ngày gì em cũng bay cả, nhưng dạo này em phải chọn khách. Sao vậy? Sợ lắm anh ơi, bay đêm mà gặp khách tử tế thì còn an ủi, chớ gặp khách say rượu thì khốn khổ cho cái thân. Sao khốn khổ? Anh cứ giả bộ ngây thơ không hà! Gặp nhằm thằng cha khách say xỉn thì nó hành hạ thân xác mình chịu sao nổi. Nói xong, em chỉ một bên vai cho tôi xem một vết bầm tím. Tôi hỏi tại sao ra nông nỗi. Em buồn buồn kể lại rằng hôm nọ em bay đêm với khách, gặp nhằm thằng cha háo sắc, đụng đâu cắn đó, làm em phải cắn răng chịu đựng mới ra nông nỗi. Nhưng em có quyền từ chối? Trời, từ chối để về với tay trằng à? Anh nói sao mà hay quá. Em có sợ bệnh không? Sợ chứ anh, ai làm nghề này cũng mắc bệnh, không bệnh thận thì cũng SIDA. Biết vậy sao em vẫn làm? Em chỉ làm vài năm rồi thôi ...

Đến gần nửa đêm, cuộc tiệc sắp tàn. Em lại nhận xét tôi là một ông khách đặc biệt vì cứ hỏi hết chuyện này sang chuyện khác, mà không tham gia vào cuộc vui. Tôi thoái thác vị bận và còn nhiều việc cho ngày mai. Em cầm tờ giấy trăm ngàn nhét vào túi áo rồi tất tả ra về hay đi tiếp một khách khác. Nhìn theo bóng em khuất khỏi phòng, tôi thấy bùi ngùi ...

***

Qua hai lần đi thực tế (có lẽ các bạn đang cười khi đọc cái cụm từ “đi thực tế” này) tôi rút ra được vài mẫu số chung về thân phận các cô gái làm nghề bán bia ôm hay trong các tiệm hớt tóc gội đầu. Hoàn cảnh gia đình khốn khó, như cha mẹ đau bệnh hay em trai đang đi học, nhưng mỗi câu chuyện có một tình tiết độc nhất vô nhị, như sự phong phú đa dạng của xã hội. Phần lớn các cô đều có trình độ văn hóa thấp, chưa qua trung học. Các cô đều nói mới vào nghề, cao lắm là một năm, nhưng đại đa số đều 3 tháng đến 6 tháng. Phần lớn họ đều xuất thân từ miền quê các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là Vĩnh Long, Tiền Giang, và An Giang. Tất cả các thông tin này như là những yếu tố của cái vế trái của một phương trình mà kết quả của vế phải là để khách thấy thương hại mà bo nhiều tiền hơn.

Tuy nhiên, tôi tin rằng phần lớn hoàn cảnh của các cô làm nghề này là thật, chứ không dối. Là người lớn lên trong miền quê ở vùng Tây Nam bộ, tôi có thể nói tất cả những câu chuyện của các cô bán bia ôm kể đều có thể kiểm chứng một cách dễ dàng. Thú thật, tôi không cảm thấy ngạc nhiên khi nghe qua những câu chuyện khốn khổ, éo le của các cô. Do đó, tôi tin rằng hoàn cảnh kinh tế - xã hội đã xô đẩy những người con gái chân chất thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào cái vòng nghề nghiệp mà chính các cô cho là “nhục nhã” này. Tôi sẽ nói sau tại sao vùng Đồng bằng sông Cửu Long vốn mang tiếng thừa gạo mà người dân lại lâm vào cảnh khốn cùng như hiện nay.

Tất nhiên cũng không loại trừ khả năng một số cô gái không có công ăn việc làm hay lười biếng, không chịu làm việc một cách chân chính, những cô gái đua đòi chạy theo thời trang, và sẵn sàng bán mình để kiếm tiền nhanh chóng. Trong những trường hợp này, ma lực của đồng tiền quá mạnh đã biến các cô gái chân quê thành những cô gái chai lì trước cái nhục và giả dối một cách tự nhiên.

Ngày xưa đọc báo thấy người ta nói ở Nhật và Hàn Quốc có những nghề như thế và những nghề làm người tình một đêm, nhất dạ đế vương, nghề thương vay khóc mướn, v.v… tôi chỉ biết lắc đầu sao mà kì cục quá, rồi hi vọng rằng nó sẽ chẳng bao giờ đến Việt Nam. Ấy thế mà hôm nay những nghề đó, những con người hành nghề đó lại có mặt tại Việt Nam, ngay trên quê hương mình, tôi cảm thấy đau nhói từ trong tim. Chẳng biết ở Nhật hay Hàn Quốc ngày xưa có diễn viên bán mình hay không, nhưng ngày nay ở Việt Nam, như Luyến nói “Ngay cả người mẫu, ca sĩ còn bán mình, thì cỡ tụi em là cái thá gì hả anh. Họ bán giá cao, tụi em bán giá mềm, thuận mua vừa bán cả mà.” Nghe mà chua chát làm sao.

Viết đến đây tôi nhớ đến những bài phóng sự của Nhà văn Vũ Trọng Phụng viết về tệ nạn xã hội ở Việt Nam trong thập niên 1930s, tức 70 năm về trước. Trong cuốn “Làm đĩ”, ông viết: “Xã hội Việt Nam này, thật vậy, đã bắt đầu loạn dâm. Sự làm giàu đùng đùng của các thầy lang chữa bệnh hoa liễu, sự phát đạt của những tiệm khiêu vũ, tăng số của bọn giang hồ, nạn hoang thai, những vụ án mạng vì tình mà hàng ngày các báo đăng trên mục tin đặc biệt, sự chán đời đến tự tử của một số nam nữ thiếu niên, nạn hiếp dâm, vân vân, đã đủ chứng cho lời than đấy.” Câu văn này vẫn còn tính thời sự trong xã hội Việt Nam ở giữa thời “hiện đại hóa” như hiện nay.

Cũng có thể nói rằng một xã hội trong quá trình hiện đại hóa như hiện nay sẽ phải chịu qua những cái đau xã hội như vừa tả, hay những giá trị đạo đức cổ truyền bị lu mờ. Nhưng dù sao đi nữa, những tệ nạn xã hội (vâng, phải nói là “tệ nạn”) như ngủ ôm, tắm ôm, cà phê ôm, bán vé số ôm, là vợ chồng hờ một ngày, thương vay khóc mướn, đẻ mướn, chửi mướn, v.v… là biểu hiện của một sự xuống cấp về đạo đức, hay một khoảng trống về đạo đức xã hội, một cái đau xã hội. Không biết bao giờ thì cái nỗi đau xã hội này sẽ chấm dứt.

Hữu Loan bây giờ

Ngày xưa (và ngày nay nữa) tôi rất mê ca khúc "Áo anh sức chỉ đường tà" do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ "Đồi tím hoa sim" của thi sĩ Hữu Loan. Hay lắm. Bài nhạc mang âm điệu bi hùng, nhưng tình cảm, nghe hoài không chán. Bài thơ này được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc (trong đó có bài mang hơi hám "sến" như bài của Dũng Chinh), nhưng tôi vẫn thấy bài của Phạm Duy hay hơn nhiều.

Đến hôm nay đọc bài này mới biết Hữu Loan vẫn còn sống và từng có một cuộc đời đầy sóng gió ... Xin giới thiệu cùng các bạn một bài viết mà tôi cho là hay.

NVT

========

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=109475&ChannelID=7

Tác giả 'Màu tím hoa sim' ngày ấy, bây giờ...

TP - Cả ba lớp cửa từ đường làng vào vườn, vườn vào sân, sân vào nhà của nhà thơ Hữu Loan đều khép hờ. Ai ra vào tuỳ ý. Nhưng xem ra cũng ít người qua lại, trừ đám trẻ, như bà cụ hàng xóm nói, chúng kéo đến vào mùa nhãn, cho đến khi bói không ra một quả, rồi thôi,...

Nhà thơ Hữu Loan - Ảnh từ Internet
Bà cụ hàng xóm mau mắn: Các bác có lòng đến thăm cụ Tú thì cứ vào, chứ gọi cửa cũng không có người ra đón đâu. Cụ Tú con đàn cháu đống, ra ở riêng cả rồi, về già chỉ còn lại hai cái bóng mướp. Cụ Tú có nhà đấy, chắc lại đang ngồi ngắm rượu.

Nhà thơ đang ngồi ngắm rượu thật, trên manh chiếu trải ngoài hiên, tựa lưng vào tường, hai đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống, mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay.

Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chuối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch. Nhà văn xứ Thanh Kiều Vượng nói với tôi, mỗi năm vài lần đến thăm Hữu Loan, lần nào cũng gặp ông ngồi nhìn chén rượu thế kia, chỉ nhìn mà ít uống.

Ông đang sáng tác hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Tôi không biết. Kiều Vượng cũng chịu. Chỉ có nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, cùng quê Nga Sơn, từng nhiều lần hầu rượu ông Loan, thì dám chắc thi sĩ đang nghĩ về thơ đấy, nghĩ lạ lắm, chả giống ai.

Đời thơ của ông bắt đầu từ Đèo Cả, khép lại là Hoa lúa, vỏn vẹn mươi bài, nhưng ông nghĩ về thơ, người thơ, cõi thơ thì cả đời, nếu chép ra thì cả bộ trường thiên.

Thi bá cho rằng thơ thuộc về âm, nghĩa là thuộc về đêm, thuộc về trăng, con nước, thuộc về đàn bà. Người nào có sao Thái âm đóng cung mệnh, người đó mới làm được thơ, mới trở thành nhà thơ.

Thơ thuộc hành thuỷ, mềm đấy mà cứng đấy, thấy trước mặt mà không nắm được trong tay, ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bởi vậy trong thơ thường có trăng, có sông, lại khăng khít với nhau, tạo những suối nước.

Ngày trăng viên mãn, thì nước ngập tràn. Ngày trăng hao mòn thì con nước ngẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn, là cô đơn, là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ.

Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để vịn mà đi. Thơ trường tồn là vậy. Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn, bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để ông cảm về thơ, nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến như vậy ?

Nhà thơ ngồi đó, trước mặt tôi, như ngồi để chờ một phép lạ giúp ông được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác.

Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng ông sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá, nhưng trời lại chưa cho nên xem cái dáng ông ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái, mãn nguyện, buông xuôi sự đời của trưởng lão, mà vẫn như để tự giam mình cho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn...

Trong các nhà thơ thuộc thế hệ đầu cách mạng, có lẽ Hữu Loan là người nhiều bước thăng trầm hơn cả. Ông người quê nghèo Nga Sơn, Thanh Hoá, từ nhỏ, nói như Nam Cao, ít khi được thoả cơm nhưng ham học, lại sáng dạ nên hai mươi tuổi đã đậu tú tài.

Đến tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ một cụ Tú Loan, hai cụ Tú Loan là vậy. Cậu Tú học trường Tây, nhưng không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép, mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Mặt trận Bình dân rồi tham gia Việt Minh.

Những ngày cách mạng Tháng Tám ông 29 tuổi, được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn.

Trong cuộc mít tinh phát động Tuần lễ vàng, hàng ngàn người xứ Thanh vây quanh anh cán bộ Việt Minh trẻ, đẹp trai, diễn thuyết dõng dạc đầy cảm hứng và mới mẻ về cách mạng, về chính quyền nhân dân, về nghĩa vụ người dân với nước Việt mới độc lập có sức cuốn hút kỳ lạ, khiến cho nhiều người sẵn sàng góp công, góp của ủng hộ kháng chiến.

Anh cán bộ Việt Minh tài hoa ấy chính là Hữu Loan, thành viên Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách bốn ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Cũng buổi sáng diễn thuyết này có cô học trò 16 tuổi vô cùng ngưỡng mộ tài hoa cậu Tú Loan ngày nào đã cởi vòng xuyến vàng góp cho kháng chiến.

Kháng chiến bùng nổ, Hữu Loan làm công tác tuyên truyền, phụ trách tờ báo Chiến sĩ ở Mặt trận miền Trung.

Hữu Loan có chuyến đi công tác nhớ đời, giống tráng sĩ, cưỡi con ngựa đực bất kham từ Huế rong ruổi dọc miệt rừng miền Trung, đến với các đội quân mới từ thành phố, làng quê đồng bằng kéo lên bưng biền, tựa thế hiểm của núi non hùng vĩ dựng trận địa, bước vào cuộc chiến đấu lần thứ nhất đầy khí phách: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Thay vì viết những phóng sự, chủ bút Hữu Loan lấy thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính vạm vỡ, gân guốc, đầy nhiệt huyết buổi đầu cách mạng

Đèo Cả !

Đèo Cả !
Núi cao ngất !
Mây trời Ai Lao
Sầu đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương !
Bên quán Hồng quân
Người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc
ngồi than
thương
ai
lên
đường
...
Râu ngược
chào nhau
bên sườn núi
Giặc từ vũng Rô bắn tới
Giặc từ trong tràn ra
Nhưng Đèo Cả
vẫn
giữ
vững
Chân đèo nam
máu giặc
bao lần
nắng khô
Sau mỗi lần thắng
Những người lính Đèo Cả
Về bên suối
đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về
đâu ? !

Sau này nhìn lại lịch sử văn học cách mạng, Đèo Cả cùng với Nhớ máu của Trần Mai Ninh được xếp lên vị trí mở đầu thời đại thơ ca mới.

Nhưng bấy giờ với Hữu Loan, Đèo Cả chỉ như lời tâm sự ông dồn nén, về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc, viết để gửi cho một người đọc, cô Đỗ Thị Ninh, người học trò cũ đã hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến.

Họ nên vợ nên chồng vào hai năm sau đó, đầu năm 1948, bấy giờ Hữu Loan là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực.

Trong chiến tranh thật khó có hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới, Hữu Loan đang ở chiến trường, nhận tin vợ mất. Tráng sĩ Hữu Loan khóc vợ bằng Màu tím hoa sim làm xúc động bạn đọc nhiều thế hệ.

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng
như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi
may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
cưới nhau xong
là đi
Từ chiến khu xa....
nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng
chiều quê !
...
Chiều hành quân
qua những đồi hoa sim
những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài
trong chiều
không hết
Màu tím hoa sim
Tím
chiều hoang
biền biệt
Nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa
“áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm
mẹ già chưa khâu”

Từ đây, sau Màu tím hoa sim nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa, phong trần, cưỡi ngựa, đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm, sâu nặng tình nghĩa con người.

Hoa lúa, Yên Mô, Những làng đi qua... những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê, tình người kháng chiến...

Hữu Loan đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Và đó cũng là toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Sang hòa bình, sóng gió của những đổi thay đã đẩy ông rẽ sang hướng khác.

Nhà thơ Hữu Loan và các bạn văn nhiều thế hệ (tác giả ngồi ngoài cùng, bên phải)

Bước thăng trầm của ông bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Hội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thiền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe để ông trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.

Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hóa quê ông nghèo lắm. Ông lại tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về thôn Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng ông cắp be rượu lên núi đá đầu thôn.

Bạn ông, người cùng thời, nhà thơ Trần Dần có câu thơ làm ông sởn gai ốc: Cuối phố có ngọn đèn thắt cổ / Hãy chỉ cho tôi chỗ nào tôi đổ bớt tôi đi. Trần Dần đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra, nhưng với ông, ở Nga Sơn này, ông chỉ còn biết đổ lên đá mà càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt.

Vốn có sức như trai lực điền, lại ở bước cùng, không thể ngồi ngâm thơ nhìn các con hết gạo, ông tưới rượu lên mặt đá mà thề sẽ bám đá để sống.

Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm. Ông nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng.

Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa muối cho đàn con. Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không ai hỏi mua. Một năm, hai năm, ba năm...

Hữu Loan trở thành người thợ đá da đen như sừng, chân tay sần sẹo, tua tủa tóc rễ tre, đi đứng nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá ông nuôi cả mười đứa con khôn lớn.

Đến giờ cả mười đứa con đã có chín nên vợ nên chồng, sinh cho ông đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đình.

Hữu Loan thôi bám núi đá đã mười năm nay. Ông lui về nhà, trải chiếu trên thềm, ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng xóm, của gia đình mình, của phận mình.

Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa nhà ông. Bắt đầu là toà soạn báo Văn nghệ, cơ quan ông công tác gần bốn mươi năm trước đưa đến tận nhà cho ông sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng.

Rồi chờ thêm vài năm nữa ông được xuất bản tập thơ đầu tiên trong đời, tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ ông viết từ thời kháng chiến.

Lại đợi, ông được trời ban phúc, con trai út, chú bé ra đời trên lèn đá tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Cậu út kiến trúc sư đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên, Nghệ An.

Nghe tin con thành đạt ông cứ ngẩn ngơ tiếc nuối, giá còn sức như ngày nào, ông sẽ chở một xe cút kít đá ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình ông về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài viên đá lát đường.

Không biết có còn vận may nào đến nữa không, Hữu Loan vẫn chờ. Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.

Tôi ghé sát tai ông:

- Thưa bác, bác có làm thơ nữa không?

Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:

- Có. Nhưng toàn thơ đểu - Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.

- Bác thử đọc vài câu thơ đểu cho con nghe với nào ?

Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói :

- Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.

Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.

Hà Đình Cẩn

Câu chuyện trong tiệm gội đầu

Ở Sài Gòn trong một hai năm nay nở rộ lên những tiệm hớt tóc và gội đầu mà nhìn từ ngoài không giống các tiệm hớt tóc thường chút nào. Dọc theo đường Bùi Thị Xuân, đường Sương Nguyệt Ánh và các quận ngoại thành như Bình Tân (tách ra từ huyện Bình Chánh cũ) mọc lên nhan nhãn những dịch vụ với cái tên khá nhạy cảm như “Hớt tóc gội đầu nam”. Thoạt đầu mới nhìn thấy tôi thắc mắc chẳng hiểu tại sao chỉ hớt tóc mà còn gội đầu, mà lại chỉ dành cho nam giới! Hỏi mấy thằng bạn thì thằng nào cũng nói để đó từ từ tụi tao dẫn mày đi thực tế cho biết, giải thích mệt lắm.

Và cái ngày đi thực tế đã đến. Hôm đó là một ngày làm việc trong tuần. Mới đi họp xong, về khách sạn vào buổi trưa, đang đọc một cuốn sách hấp dẫn, thì có điện thoại từ một tay bạn học cũ nay là một “đại gia” trong ngành kinh doanh đồ điện tử ở Việt Nam. Nó hỏi: Đang làm gì đó, rảnh hông, tao và thằng B định dẫn mầy đi gội đầu đây, đây là cách cho mầy đi lấy thông tin rồi tha hồ viết phóng sự, chịu hông? Đi thì đi, xa hông? Không, cách chỗ mầy ở chỉ một con đường thôi, chờ 5 phút nghen. Cúp máy.

Đúng năm phút sau hai thằng bạn tôi trong bộ cánh business có mặt tại khách sạn, chúng nó bỏ xe tại đó, và đi bộ cùng tôi qua đường Bùi Thị Xuân và Sương Nguyệt Ánh rất đẹp, với hai hàng cây sao cao vút. Hai bên đường khá yên tĩnh là khách sạn, nhà hàng, tiệm bán đồ điện tử và máy tính (hình như khu này là thủ đô của máy vi tính), và khá nhiều tiệm gội đầu hớt tóc cho nam giới. Chưa kịp chụp một tấm hình làm kỉ niệm thì đã đến “điểm hẹn”. Đó là một tiệm ba tầng lầu, nhìn từ ngoài rất sang trọng, đèn điện (dù ban ngày) và cửa kính sáng choang, cùng với màu sắc rất “upmarket”, chứng tỏ đây là nơi lui tới của những người lắm tiền nhiều của. Tiệm rất tiêu biểu ở thành phố này: chiều rộng khoảng 6 thước và chiều dài thì hun hút, khó đoán được bao nhiêu thước. Phía dưới lầu là một dãy ghế hớt tóc chắc cũng khoảng 10 cái, một số đã có khách đang hoặc hớt tóc, hoặc lim dim nằm gội đầu.

Điều đầu tiên làm tôi chú ý là đội ngũ phục vụ toàn các cô gái tuổi chỉ đôi mươi, xinh như mộng, mặc đồng phục áo trắng, và váy màu xanh da trời. Đồng phục gì mà bó sát thân hình các cô như là những cave chính hiệu! Thế nhưng tiếp chúng tôi là một cô tiếp viên mặc áo dài nghiêm chỉnh, cũng đẹp như tiên, cô hỏi chúng tôi có yêu cầu gì. Vì tôi chẳng biết oong đơ gì ráo nên để cho thằng bạn thương nhân nói chuyện. Đại khái là hớt tóc, gội đầu, massage mặt (trời ạ, có cả xoa bóp mặt đấy!), và nghỉ giải lao. Cô hỏi tiếp là chúng tôi có cần nhân viên nào cụ thể, hay là để cho cô ấy chọn cho. Hai thằng bạn tôi nêu đích danh hai cô mà chúng nó muốn phục vụ, rồi quay sang chỉ tôi nói: Anh này chưa biết em nào, vậy em nhớ tìm cho ảnh một em chăm sóc tận tình dùm anh nghen. Cô tiếp viên nhoẻn miệng tươi cười chỉ cho chúng tôi mỗi người an tọa vào một ghế, rồi lập tức có ngay một em khác đến hỏi tôi muốn uống gì. Cho anh li trà đá, cám ơn.

Một phút sau đã có một em đến phục vụ cho tôi. Em tự giới thiệu bằng cách chỉ vào cái ID trên ngực với cái tên Thu Thủy, và nói rằng em là người sẽ phục vụ cho tôi hôm nay. Tôi nhìn thoáng qua Thu Thủy và đoán em chắc chỉ 18-19 tuổi, người cao chắc cũng 1,65 m và không quá 45 kg, tóc ngắn gọn gàng có nhuộm màu nâu, em có đôi mắt như lúc nào cũng cười, và tay phải đeo một vòng vàng khá nhiều. Nghe em nói tiếng miền Trung, tôi tò mò hỏi em chắc là người miền “ngoài” vào đây. Thu Thủy nói em là người Phan Thiết. Tôi bắt chuyện: Ngoài đó lúc này ra sao? Cũng thường, nhưng nghèo lắm. Ủa, sao lạ vậy, anh tưởng có nhiều đầu tư và du lịch nên khá lắm chứ. Em cười nói: Em cũng không biết nữa. Em làm nghề này lâu chưa? Hơn 2 năm. Tôi đùa: Vậy là anh yên tâm trao đầu cho em há. Em hỏi lại: Chắc anh là Việt kiều? Tôi cố dấu cái căn cước của mình, nên nói: Anh là dân Kiên Giang mới lên đây công tác nên tiện việc theo bạn ghé qua đây hớt tóc, gội đầu ... Câu chuyện bị đứt ngang đó, khi em yêu cầu tôi ngồi yên để em hớt tóc.

Ở nước ngoài tôi đã quá quen với kiểu hớt tóc trong vòng 10-20 phút, nên chưa quen với cách hớt tóc ở tiệm này. Phải nói Thu Thủy có tay nghề hớt tóc rất khá, em chỉ nhìn qua mà có thể phân tích tóc tôi thuộc loại gì, và phê bình người hớt trước đã làm sai chỗ này, không cân đối chỗ kia, v.v… làm tôi cảm thấy như mình đã giao thân cho đúng người. Em dùng cả hai máy cắt tóc điện và tong-đơ cũ để hớt. Trong khi em hớt thì lại có một em khác đến tự giới thiệu làm … cắt móng tay! Hai em làm việc rất nhẹ nhàng, nói chuyện như thủ thỉ, làm tôi rất dễ bị … ngủ. Thỉnh thoảng em hỏi tôi có đau không, có khó chịu gì không để em điều chỉnh tong-đơ. Đến khi xong, tôi xem đồng hồ mới biết cái công đoạn hớt tóc không đã mất gần 40 phút.

Công đoạn kế tiếp là gội đầu. Thu Thủy hỏi tôi muốn dùng xà bông shampoo loại nào (mùi bạc hà, hay mùi hoa bưởi, hoa lan …), rồi áp dụng một loại dầu gội đầu rất dễ chịu trên tóc. Tôi có cảm giác bàn tay em nắn nót từng vùng đầu, quan tâm đến từng cọng tóc, gội đi gội lại, thỉnh thoảng lại cho thêm loại dầu gì đó mà lúc này tôi không thấy được. Trong tiếng nhạc nhẹ du dương, tôi cảm thấy mình bềnh bồng trong cái thế giới kì quặc mà độc đáo này. Chỉ gội đầu khô vậy mà cũng tốn ngót nghét 20 phút!

Công đoạn thứ ba là gội đầu ướt, tức là xả nước. Thu Thủy mời tôi vào một phòng khác phía trong. Phòng này nhỏ hơn, đèn tối hơn. Trong phòng có khoảng 5 cái giường mà khách chỉ nằm ngửa và cái đầu thì quặp ngửa xuống một cái bồn nước. Bồn nước có vòi nước di động dùng cả hai loại nước nóng và lạnh. Khách chỉ việc nằm đó để nhân viên gội đầu, làm sạch tất cả xà bông. Cái công đoạn này cũng tốn khoảng 20 phút. Xong công đoạn này cô phục vụ bỏ tôi nằm đó đọc báo, rồi bỏ đi trước khi dặn dò cô đồng nghiệp một cách đùa cợt: Nè các chị nhớ chăm sóc ông xã của em một chút nghen, em phải đi chuẩn bị phòng đây.

Công đoạn sau cùng là xoa bóp mặt, và tôi được chuyển đi một phòng khác. Lần này là một phòng trên lầu 1 của tiệm. Phòng này được thiết kế sáng sủa hơn, trang trọng hơn, nhưng cũng kín đáo hơn, được trang bị máy lạnh và trang trí khá mĩ thuật. Mỗi phòng chỉ có một khách và một nhân viên. Cái công đoạn massage mặt này quả là công phu, vì nhân viên dùng tay một cách nhuần nhuyễn và dầu gì đó để làm cho da mặt nóng lên, rồi dùng một loại dầu khác để làm cho da mềm lại và bắt đầu xoa bóp mặt, hút mụn (nếu có). Cách chăm sóc da mặt kiểu này quả là độc đáo mà tôi chưa từng biết trước đây.

Vì là nơi kín đáo nên khách và nhân viên có thể trò chuyện với nhau. Thu Thủy tỏ ra bạo dạng hơn với tôi bằng những động tác có thể xem là gợi cảm. Em choàng qua người tôi để cố tình cọ quẹt ngực vào người tôi, rồi làm như vô tình và tỏ lời xin lỗi. Qua Thu Thủy tôi mới biết các tiệm gội đầu loại này còn là những nơi thư giản một hai giờ của các đại gia, doanh nhân, và công tư chức thành phố. Trong hai giờ nghỉ trưa, họ đến đây để được gội đầu và nằm ngủ trong phòng có máy lạnh, và có người thủ thỉ tâm sự. Thành ra, tiệm rất đông khách trong lúc từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều. Tôi hỏi Thu Thủy: nằm ngủ như vầy có gì đâu mà gọi là thư giản? Anh nói nghe lạ nhỉ, ngủ có người tâm sự nằm chung mà anh nói là “có gì đâu”, có người nghiền vào đây đó. Như cái anh bạn của anh đó, ảnh hay vào đây ngủ trưa với chị Hà hoài đó; chị Hà chiều ảnh lắm. Chiều là chiều như thế nào? Là ví dụ như anh bo cho em năm chục ngàn thì anh nằm ngủ với em nhưng không được sờ mó, còn một trăm ngàn thì thoải mái ...

Tôi tiếp tục câu chuyện còn dở dang lúc dưới tầng trệt, bằng cách hỏi Thu Thủy về hiện tại và tương lai. Em làm ở đây bao lâu rồi? Khoảng 6 tháng. Anh nghe nói thu nhập khá lắm phải không? Cũng tùy anh ơi, mỗi ngày có một hay hai khách thì em sống được, nhưng có ngày chẳng có khách nào, nhưng nói chung em dư khoảng 2 triệu mỗi tháng. Thế lương bổng ra sao? Đâu có lương gì anh, chỉ nhờ vào bo của khách thôi. Có bao nhiêu tiếp viên ở tiệm này? Khoảng 20 người. Chắc người từ vùng ngoài như em? Không phải đâu, phần đông các chị là dân miền Tây, em là người Trung duy nhất ở đây. Dịch vụ gội đầu này có từ bao giờ? Em cũng không biết, nhưng chỉ mới đây thôi, chủ yếu là phục vụ cho công chức, du khách, và Việt kiều. Em thích làm nghề này? Không, chỉ vì hoàn cảnh em mới làm, chứ nhục lắm anh ơi, ai cũng nghĩ em là đĩ điếm. Tôi cảm thấy đau nhói khi nghe câu trả lời quá thẳng thắn và chua xót, nên tôi cố nhìn mặt em xem có gì thay đổi không, nhưng tuyệt nhiên không thấy em biểu hiện một xúc động nào. Tôi hỏi: Sao vậy? Vì phần lớn những người làm nghề này thường bay đêm, chứ hớt tóc gội đầu chỉ là cái bình phông mà thôi. “Bay đêm” có nghĩa là gì? Tôi giả vờ hỏi. Anh khéo giả bộ quá, đàn ông các anh biết cả rồi, cần gì em phải trả lời chứ? Anh không biết thật mà. Thì bay đêm có nghĩa là làm vợ chồng một đêm đó. À ra thế, vậy em có hay bay đêm không? Em cười và ngượng nghịu nói: Thỉnh thoảng cũng có, nhưng phải được sự đồng ý của bà chủ mới được, chứ ở đây thì không. Em không sợ bị bệnh à? Sợ chứ, nhưng số phận cả anh ơi. Tại sao em không làm nghề khác? Nghề gì hả anh, em có nghề hớt tóc rồi, à anh là ai mà cứ hỏi em hoài vậy? Tôi đùa: Ủa, chứ em không nhớ anh là chồng hai giờ của em sao? Thu Thủy mỉm cười nói: Anh khéo nói quá há, thôi ngủ đi!

Gần hai giờ đồng hồ, tính từ lúc hớt tóc đến phần cuối của công đoạn này, tôi mới biết thêm một cái nghề lạ lùng nổi lên ở Sài Gòn, mà tôi chưa biết đặt tên là gì cho ngắn gọn. Ngủ ôm? Gội đầu ôm? Bất cứ thuật ngữ gì đi nữa thì nó vẫn là một nghề lạ. Rất lạ. Mà đau xót. Nhưng đó là thực trạng của cuộc sống. Có lẽ chỉ có Việt Nam mới có. Và nó phát triển ngấm ngầm, gây nhức nhối cho xã hội. Viết những giòng chữ này mà tôi vẫn thấy ... đau.

Thursday, January 24, 2008

Một chuyện cổ tích của thế kỷ 21

Xin giới thiệu bài viết rất hay của Nguyễn Quang Thiều. Một câu chuyện cảm động, y như là chuyện cổ tích. Trần Thị Khâm, một cô gái mồ côi mẹ từ lúc còn nhỏ (nay đã ở tuổi 40), sang Đài Loan lao động với mục đích tìm người cha ruột đã mất liên lạc từ thập niên 1960s.

Trời xui đất khiến thế nào mà chị tìm được việc làm (chỉ giúp việc nhà) cho một gia đình ông Tsai Han-chao. Sau khi vợ ông qua đời, chị Khâm đi tìm việc khác ở Đài Loan. Đến khi có việc mới, chị mới nhớ rằng mình đã để quên vật lưu niệm ở nhà ông Tsai. Vì ở xa, nên chị phải nhờ cảnh sát tìm hộ. Khi cảnh sát đến nhà ông Tsai để tìm vật lưu niệm và mở túi ra, ông Tsai mới ngỡ ngàng nhận ra đây là vật lưu niệm ông đã tặng cho người yêu ông hay vợ cũ của ông (tức mẹ chị Khâm) lúc hai người chia tay ở Hồng Kông vào năm 1967.

Chị Khâm chính là con ruột của ông Tsai!


Một câu chuyện mới đọc qua thì cứ như là tuồng cải lương Ông cò quận 9 vậy. Lưu lạc bao nhiêu năm rồi tìm lại cha mình trong một hoàn cảnh éo le, độc đáo. Nhưng câu chuyện của chị Khâm còn hơn thế nữa, không phải là tuồng cải lương, mà là hiện thực 100%. Nếu không có vụ bỏ quên cái túi thì chưa chắc chị Khâm đã tìm ra cha mình. Xác suất rất khó mà giải thích được hiện tượng này.


NVT


===

http://www.tuanvietnam.net//vn/nhanvattrongngay/2688/index.aspx

Một chuyện cổ tích của thế kỷ 21

24/01/2008 17:14 (GMT + 7)

Câu chuyện chị Khâm tìm thấy cha đủ tất cả các yếu tố là một câu chuyện cổ tích của thế kỷ 21 – một thế kỷ mà chúng ta đã và đang không tin gì cả vào những điều kỳ diệu.

Cả thế giới đều biết câu chuyện này. Nó không phải là chuyện một nguyên thủ bị ám sát, không phải chuyện Bin Laden vừa bị phát hiện đã chết, không phải chuyện đời sống sex của các minh tinh Hollywood bị lộ. Đó là câu chuyện về người phụ nữ Việt đi làm thuê ở Đài Loan có tên Trần Thị Khâm tìm thấy người cha của mình.

Câu chuyện được kể gói gọn trong một bài báo chỉ mấy trăm chữ nhưng đã làm cho biết bao người xúc động.

Tôi chứng kiến một nữ nhà báo dày dạn cuộc đời khóc khi đọc xong. Câu chuyện này phải chứa trong nó một tinh thần sâu sắc thì mới có sức lan tỏa như vậy.

Tôi – nhà văn – và trí tưởng tượng

Đó không phải là câu chuyện hoang đường. Đó là một chuyện thật. Và cao hơn cả sự thật của câu chuyện, nó trở thành một chuyện cổ tích của thế kỷ chúng ta đang sống.

Mười lăm năm trước, tôi viết truyện ngắn Lạc Loài in trên Báo Quân Đội Nhân Dân. Chuyện kể về một bà cụ đi lang thang làm thuê và tìm một đứa em thất lạc trong nạn đói năm 1945.

Ngày ấy, bà dắt em đi ăn xin. Đến một cái chợ, bà để em ngồi ở gốc đa đầu chợ và đi xin ăn cho em. Bà đã ăn trộm một củ khoai sống và bị đánh. Khi quay lại tìm em thì em bà không còn ở đó nữa. Bà vô cùng đau khổ và ân hận. Từ ngày đó bà đi tìm em. Cuối cùng bà đến giúp việc cho một gia đình mà ông chủ gia đình đó chính là đứa em ruột của bà. Nhưng cả hai không ai nhận ra nhau.

Khi bà mất, vợ ông chủ nhà sợ phải làm tang và những liên lụy khác liền thuê một người xích lô đêm khuya chở xác bà vào bệnh viện để bỏ bà ở đó. Sau khi bà mất, ông chủ nhà một hôm đọc báo thấy tin tìm người thân. Ông nhận ra đó là chị ruột mình bởi những thông tin chi tiết…

Khi truyện ngắn này in ra, có người đã phê phán là câu chuyện không có tính thuyết phục vì không bao giờ có chuyện ngẫu nhiên như vậy. Nhưng đến bây giờ, câu chuyện chị Khâm tìm thấy cha chính là người chủ mà chị đến làm thuê nói lên một điều: Mọi trí tưởng tượng của chúng ta không bao giờ vượt qua được hiện thực của đời sống.

Phép thiêng hay sức mạnh của khát vọng chân thực

Chị Khâm đã tìm tìm người cha của mình với một tình yêu vô cùng mạnh mẽ. Sức mạnh này không phải do những ký ức và tình cảm mà hai cha con chị tạo ra. Vì chị không biết cha mình là ai. Trong toàn bộ ký ức tuổi thơ, chị không hề có bất cứ một chút gì về người cha của mình. Vì đến năm 21 tuổi, trước khi chị đi lấy chồng, người đàn bà nuôi chị mới nói cho chị sự thật về người cha.

Cha con chị Khâm đã được đoàn tụ sau bao năm xa cách
Nguồn: globo.com


Nếu chị không yêu thương người cha thì chị cũng không có lỗi. Nếu chị không ao ước đi tìm cha thì chị cũng không có lỗi. Nhưng chị đã đi tìm. Chuyến đi tìm cha của chị tựa hồ như tìm kim đáy bể. Phải có một điều gì đó vừa bí ẩn vừa huyền diệu dẫn chị đi. Phải chăng tình yêu và sức mạnh bí ẩn của nguồn cội đã trú ngụ trong thẳm sâu lòng chị và thức dậy chỉ đường cho chị.

Với một chiếc nhẫn, một tấm ảnh của một người đàn ông từ hơn 40 năm trước và với thế gian mênh mông này thì nếu ai biết chị đi tìm cha mà tin chị tìm thấy sẽ bị coi là kẻ hoang tưởng. Nhưng chị đã ra đi và âm thầm tìm kiếm. Hình như số phận đã sắp xếp con đường cho khát vọng chân thực và có cả đau đớn của người phụ nữa này.

Nếu người vợ của cha chị không mất mà chị cứ ở lại gia đình cha mình cho đến hết hạn kỳ lao động như trong hợp đồng và trở về Việt Nam thì chị có thể sẽ không tìm thấy cha mình. Nếu cha chị hay gia đình của ông đối xử nhẫn tâm với chị như một số gia đình ở Đài Loan đối xử với con dâu hay người giúp việc của họ thì có thể chị cũng không tìm thấy cha mình.

Tại sao chị lại có thể bỏ quên những vật bất ly thân là chiếc nhẫn và tấm ảnh như thế ? Bởi mục đích chính của chuyến đi đến Đài Loan của chị là tìm cha mình. Nếu chị không bỏ quên thì chị có thể chẳng bao giờ tìm thấy cha mình. Bởi chị đâu có điều kiện như những người Đài Loan khác để hết năm này năm khác lang thang nơi đất khách quê người mà dò hỏi.

Tôi hoàn toàn tin có một bàn tay bí ẩn đã làm những chuyện này. Đừng nghĩ tôi mê tín. Tại sao phép thiêng lại không có? Nó chỉ không có trong những con người không tin có phép thiêng. Phim ảnh và sách của thế giới cho đến thời đại điện tử này vẫn nói về những phép thiêng trong khi hầu hết những người xem phim và đọc sách không phải những kẻ đần độn hay u mê.

Mỗi người và giấc mơ mang màu sắc hiện thực

Tôi đang nói những điều mà sẽ có không ít người nhếch mép : Hoang tưởng. Dân tộc Việt Nam trải qua quá nhiều biến động bởi chiến tranh. Có biết bao gia đình ly tán. Có bao nhiêu người lính gặp những cô gái trên đường ra trận và họ đã hiến dâng cho nhau. Có bao nhiêu đứa trẻ đã sinh ra như chị Khâm. Có bao nhiêu người trong số họ đã tìm được cha mình. Chúng ta từng chứng kiến nhiều chuyện vô tình tương tự. Ví dụ trường hợp của nhà thơ Hoàng Cát. Ông đã tìm được một đứa con trai cũng do sự tình cờ như là chuyện bịa.

Tôi nghĩ nếu đây là cốt truyện một bộ phim hay một cuốn tiểu thuyết, chắc chắn quá nhiều người trong chúng ta sẽ cho là bịa đặt. Tôi đã từng nói: sáng tạo không phải là tạo ra một thế giới mới mà chỉ là cách phục hồi ký ức của chúng ta về một đời sống đã có. Đời sống này đi qua chúng ta từ lâu rồi, từ vô lượng kiếp, và đến một ngày, với khát vọng mạnh mẽ và sự chân thành không vương một hạt bụi vụ lợi của chúng ta, đời sống ấy từ từ hiện ra. Đó không phải là ảo giác. Đó là hiện thực.

Nhưng trong khi đó, chúng ta lại không tin hiện thực ấy bằng hiện thực của một ngôi nhà chúng ta đang ở, của một chiếc xe chúng ta đang đi, của một người đàn bà bằng xương bằng thịt sống bên cạnh chúng ta...Những chuyện mà nhiều cuốn sách cách đây vài ba thế kỷ hay nhiều hơn nữa được coi như sự rồ dại đã trở thành hiện thực.

Câu chuyện chị Khâm tìm thấy cha nếu là một truyện ngắn của một nhà văn thì chắc chắn rất nhiều nhà văn sẽ bĩu môi: Vớ vẩn, chỉ lừa bọn trẻ con. Nhưng đó là chuyện có thực. Cũng như khi tôi nói về phép thiêng sẽ có vô vàn người bĩu môi. Nhưng đời sống sẽ hé lộ cho chúng ta những điều kỳ diệu khi chúng ta khát vọng về điều kỳ diệu đó và hành động không vụ lợi cho khát vọng ấy.

Và câu chuyện chị Khâm tìm thấy cha đủ tất cả các yếu tố là một câu chuyện cổ tích của thế kỷ 21 – một thế kỷ mà chúng ta đã và đang không tin gì cả vào những điều kỳ diệu.

  • Nguyễn Quang Thiều


http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/nguoivietbonphuong/2008/01/765696/

Một phụ nữ Việt Nam sang Đài Loan tìm cha đã tình cờ làm người giúp việc trong nhà cha mình trong 7 tháng mà không hề biết. Sau đó, giống như có sự sắp đặt của số phận, hai cha con cuối cùng đã gặp nhau sau 40 năm xa cách.

Đoàn tụ trong nước mắt


Chị Trần Thị Kham, 40 tuổi, sang Đài Loan từ năm 2004 để tìm kiếm cha đẻ của mình, người đã gặp gỡ và yêu mẹ mình 41 năm trước đây tại Hồng Kông.


Khi mới sang Đài Loan, chị Kham được một người đàn ông lớn tuổi thuê làm người giúp việc nhà tại quận Taipei để chăm sóc bà vợ bị liệt. Bảy tháng sau đó, khi vợ ông chủ qua đời, Kham được chuyển sang làm thuê cho một gia đình khác ở ngoài khơi đảo Kinmen.


Nhưng khi đã đến Kinmen, Kham mới biết là mình mất một chiếc túi, trong đó có chiếc nhẫn vàng và bức ảnh của cha. Chị đã nhờ sự giúp đỡ của cảnh sát ở Kinmen để tìm lại chiếc túi đó.


Chị báo với cảnh sát rằng chiếc nhẫn vàng có khắc tên “Tsai Han-chao” và bức ảnh người đàn ông Đài Loan. Đó là những manh mối hết sức quan trọng để chị có thể tìm được cha mình.


Nghi rằng chị có thể đã bỏ quên chiếc túi ở nhà chủ cũ, cảnh sát đã liên hệ với chủ nhà – tên là Tsai Han-chao – và đã tìm thấy chiếc túi. Khi mở chiếc túi ra xem, ông Tsai bàng hoàng nhận ra hai vật kỷ niệm mà chính tay mình đã tặng cho người bạn gái ngày xưa.


Ngay sau đó, ông tức tốc bay sang đảo Kinmen để gặp con gái mình trong những giọt nước mắt vừa mừng vừa tủi.


21 tuổi mới biết sự thật


Theo điều tra của cảnh sát, sau một thời gian quen ông Tsai tại Hồng Kông, mẹ chị Kham phải trở về Việt Nam để chăm sóc người mẹ đang bệnh nặng. Kết quả của mối tình với ông Tsai chính là đứa con gái mang tên Kham, được sinh ra tại Việt Nam năm 1968. Nhưng một điều bất hạnh đã xảy ra là chỉ 2 tháng sau khi Kham chào đời thì người mẹ đã mất.


Sau đó, chị Kham được giao cho người dì – chị của mẹ – nuôi dưỡng, trong khi ở Đài Loan, ông Tsai vẫn không hề biết mình đã có một đứa con gái.


Mãi cho đến năm 21 tuổi, chị Kham mới biết mình có cha là người Đài Loan. Đúng vào ngày cưới của chị, “mẹ” chị - nhưng thực ra là dì, đã tiết lộ cho chị biết điều đó và trao cho chị bức ảnh và chiếc nhẫn vàng có khắc tên cha. Đó là những kỷ vật mà mẹ chị Kham đã giao lại trước phút lâm chung.


Tháng 6 năm 2004, sau khi các con đã lớn khôn, chị Kham quyết định sang Đài Loan để tìm cha.


“Giống như 1 vở kịch”


Trả lời phỏng vấn báo chí, ông Tsai Han-chao, 77 tuổi, xúc động nói: “Cuộc đời có những diễn biến đầy bất ngờ giống như trong một vở kịch trên truyền hình. Làm sao tôi có thể ngờ được đó chính là con gái tôi? Khi gặp lại con, tôi đã không sao cầm được nước mắt”.


Tường trình với cảnh sát, ông Tsai cho biết ông mất liên lạc với người bạn gái do chiến cuộc ở Việt Nam thời bấy giờ. Khi 2 người quen nhau năm 1967, ông là một thương gia 36 tuổi, còn mẹ chị Kham làm nhân viên cho một cửa hàng bách hóa ở Hồng Kông.


Sau một thời gian bặt tin, ông Tsai đã từ Hồng Kông trở về Đài Loan mà trong lòng vẫn hy vọng một ngày nào đó gặp lại người yêu.


Cảnh sát Đài Loan phát biểu: “Thật là hết sức cảm động và cũng không thể ngờ được khi chứng kiến cảnh cha con cuối cùng đã đoàn tụ sau ngần ấy năm xa cách”. Họ cũng cho biết kết quả xét nghiệm ADN đã chứng minh ông Tsai Han-chao chính là cha đẻ của chị Kham. Theo báo chí Đài Loan, ngoài chị Kham, ông Tsai hiện có 6 người con.


Sau khi tìm được cha, chị Kham vừa trở về Việt Nam vì hợp đồng lao động của chị đã hết hạn. Hiện nay chị đang thực hiện các thủ tục xin nhập cư vào Đài Loan để chăm sóc cha hiện đang sống một mình và trong tình trạng sức khoẻ kém..


M.T (Theo AFP, BBC, Earth Times)