Tuesday, February 26, 2008

Một phán quyết bất công

Bài bình luận này đã đăng trên Tuổi Trẻ (25/2/08), và một bản khác trên Người lao động trước đó. Nhưng cuộc đòi công lí vẫn tiếp tục …

NVT

Vụ kiện chất độc da cam (Agent Orange) đã đến hồi gần kết cục. Hôm qua (22/2/08) tòa án phúc thẩm New York bác đơn kháng cáo của phía nguyên đơn (Hội nạn nhân chất độc da cam) và giữ y phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein năm 2005. Tòa phúc thẩm lặp lại phán quyết của Weinstein rằng: (a) việc sử dụng chất độc da cam trong thời chiến tranh ở Việt Nam không vi phạm luật quốc tế vì chủ đích là nhằm diệt cỏ và khai quang; và (b) phía nguyên đơn không chứng minh được những vấn đề sức khỏe mà một số người Việt đang mắc phải là do chất độc da cam gây nên.


Cả hai phán xét đều có vấn đề.


Đến nay thì không ai tranh cãi một sự thật hiển nhiên: dioxin là một độc chất nguy hiểm nhất mà con người biết đến. Chất màu da cam hàm chứa dioxin. Năm 2003, một phân tích từ Chương trình nghiên cứu ung thư quốc tế (International Agency for Research on Cancer, một cơ quan thuộc Tổ chức y tế thế giới) xác định dioxin là một độc chất gây ung thư, và còn đi xa hơn cho rằng không có cái gọi là “nồng độ an toàn” dioxin trong con người. Nói cách khác, người bị phơi nhiễm dioxin dù ở nồng độ thấp hay cao vẫn có nguy cơ bị ung thư.


Câu hỏi thứ nhất: chiến dịch dùng độc chất trong chiến tranh có phải là phi pháp hay không? Qui ước Hague (còn gọi là Hague Convention) năm 1907 cấm dùng “độc chất và vũ khí tẩm độc chất” trong các cuộc xung đột quân sự.


Qui ước về Vũ khí hóa học (The Chemical Weapons Convention) định nghĩa vũ khí hóa học không chỉ bao gồm những độc chất nhưng còn kể cả đạn dược và thiết bị sử dụng để phân tán độc chất nữa. Độc chất được định nghĩa bao gồm “ ... bất cứ hóa chất nào có tác hại đến sự sống của con người, và gây ra tử vong, thương tật cho con người và thú vật.”


Báo cáo của Liên hiệp quốc viết năm 1969 định nghĩa các tác nhân chiến tranh hóa học) là “… những hóa chất – dù là khí, chất lỏng hay chất đặc – có thể sử dụng vì ảnh hưởng độc hại của chúng trên con người, thú vật và thực vật.”


Do đó, dựa vào các nghị định và công pháp quốc tế, việc sử dụng bất cứ chất lỏng, vật liệu, hay công cụ nào chứa độc chất dù chỉ đề đầu độc cây cỏ, tiêu hủy mùa màng và hủy hoại môi sinh có thể xem là vi phạm công pháp quốc tế. Chính vì thế mà năm 1975 Tổng thống Gerald Ford kí sắc lệnh sô 11850 tuyên bố rằng Mĩ sẽ dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh.


Câu hỏi thứ hai: bằng chứng về mối liên quan giữa chất độc da cam và bệnh tật? Năm 2005 thẩm phán Weinstein công nhận rằng phía nguyên đơn bị phơi nhiễm độc chất, mặt khác ông không tin rằng các nghiên cứu trong quá khứ đã chứng minh các độc chất này là nguyên nhân gây bệnh cho nguyên đơn (trang 18). Nhưng hôm qua tòa án phúc thẩm lại cho rằng phía nguyên đơn không chứng minh được mối liên hệ giữa chất độc da cam và tác hại đến sức khỏe!


Có thể nói đây là một phán quyết khó hiểu nhất, nếu không muốn nói là phi khoa học nhất. Năm 1984, các cựu chiến binh Mĩ được bồi thường vì nghiên cứu khoa học cho thấy họ mắc nhiều bệnh nan y có liên quan đến chất độc da cam. Nếu người phun độc chất bị nhiễm thì chắc chắn nạn nhân bị phun độc chất còn bị phơi nhiễm nhiều hơn và nặng hơn. Thật vậy, nghiên cứu của chúng tôi công bố trên tập san dịch tễ học quốc tế cho thấy những cựu chiến binh Việt Nam và người Việt bị phơi nhiễm độc chất có tỉ lệ sinh con dị tật bẩm sinh cao gấp 2 lần những người không phơi nhiễm độc chất.


Ảnh hưởng của độc chất không phân biệt nạn nhân là người Mĩ hay người Việt. Vậy thì hà cớ gì tòa án Mĩ đòi hỏi phía nguyên đơn phải có những bằng chứng mà cựu chiến binh Mĩ đã cung cấp ?!


Cần nhắc lại rằng năm 2005 thẩm phán Weinstein cho rằng chưa có đầy đủ bằng chứng về nhân quả để đi đến một kết luận trong tòa án Mĩ. Thực ra, nếu nói về cái gọi là chứng minh mối liên hệ nhân quả thì nó đi ra ngoài phạm vi của y khoa. Trong y khoa, người ta không có và sẽ không bao giờ có (ngoại trừ cố ý giết người) cái xa xỉ để thử nghiệm bằng cách cho nạn nhân uống dioxin để xem có bệnh hay không. Không ai biết một cách chính xác cơ chế gây tác hại của thuốc lá, nhưng vì người hút thuốc có nhiều bệnh so với người không hút thuốc lá, và sự thật đó cũng đủ để xã hội hạn chết hút thuốc lá. Tương tự, chưa ai biết chính xác những cơ chế sinh học gây tác hại của chất độc da cam và dioxin, nhưng sự thật là cựu chiến binh Mĩ và Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ sinh con với dị tật bẩm sinh cao, và sự thật đó cũng phù hợp với giả thuyết gây tác hại của độc chất da cam.


Cần nhắc lại vụ kiện “Erin Brockovich” ở California, mà trong đó nguyên đơn chỉ cần trưng bày bằng chứng cho thấy tỉ lệ bệnh tật trong nhóm bị nhiễm độc chất cao hơn nhóm không bị nhiễm (và đó không thể là mối liên hệ nhân quả) vẫn được xem là bằng chứng thuyết phục. Trong trường hợp này, có nghiên cứu cho thấy trong thời gian từ 1955-1964 (trước khi có chiến dịch phun độc chất) tỉ lệ dị tật thai nhi trong 3 làng là 2,1%, và giữa những năm 1965-1974 (sau khi chiến dịch da cam) thì tỉ lệ này trong 3 làng trên tăng đến 5% (Trích từ bài báo trong tập san Environmental Health Perspectives 2000; 108: số 10), và dùng lí luận của trường hợp Erin Brockovich, người ta cũng có thể xem đó là bằng chứng về tác hại của chất độc da cam. Do đó, việc đòi hỏi bằng chứng của tòa án Mĩ xem ra là một đòi hỏi quá máy móc!


Tuy nhiên, cho rằng trường hợp của các cựu chiến binh Mĩ không áp dụng thì quả là kiểu nói “lưỡng chuẩn” (double standard) bởi vì trong thực tế, chính phủ Mĩ chỉ bồi thường cho những cựu chiến binh nào mắc những bệnh mà có bằng chứng cho thấy là chúng có liên quan đến chất độc da cam. Xin nêu một ví dụ cụ thể: đầu năm nay 2003, một thông cáo báo chí từ Viện Y khoa Mĩ (Institute of Medicine; trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ) cho biết, sau khi duyệt xét qua 6 công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin (trong vòng 2 năm qua), các nhà khoa học tuyên bố họ đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng dioxin là nguyên nhân gây ra chứng ung thư bạch cầu mãn tính (tức là Chronic lymphocytic leukemia, hay CLL). Trước đây, người ta từng nghi ngờ CLL có liên hệ với dioxin, nhưng bằng chứng khoa học chưa được rõ ràng; nay thì mối liên hệ đó coi như đã được khẳng định. Điều quan trọng là các dữ kiện khoa học này không phải xuất phát từ nghiên cứu trên cựu quân nhân Mĩ, mà từ các nghiên cứu trên các công nhân làm việc trong các hãng xưởng hóa chất. Nếu dựa vào cách thẩm định bằng chứng của tòa án New York, người ta cũng có thể nói rằng chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa dioxin và CLL! Thế nhưng chính phủ Mĩ nghĩ khác: Với phát hiện mới này, chính phủ Mĩ tuyên bố là họ sẽ đồng ý bồi thường cho cựu quân nhân Mĩ, những người từng tham chiến ở Việt Nam, nếu họ mắc chứng bệnh CLL. Nếu chính phủ Mĩ chấp nhận những bằng chứng gián tiếp nhưng có cơ sở khoa học như thế thì hà cớ gì tòa án New York lại yêu cầu bằng chứng từ phía Việt Nam ?!


Công lí là bản chất của sự tồn tại của con người. Ngay cả những tên phạm tội ác chiến tranh kinh tởm nhất cũng là những người tin vào công lí khi họ đứng trước pháp đình biện minh cho việc làm của họ. Trước một phán xét bất công hôm qua, nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam vẫn đang chờ công lí từ phía những người tạo ra thảm nạn độc chất da cam trong cuộc chiến.


Diễn tiến sự việc và vụ kiện

· Trong thời gian 1961 – 1971, quân đội Mĩ phun xuống Việt Nam (chủ yếu là ở miền Trung và Nam) khoảng 77 triệu lít hóa chất khai quang, trong số này khoảng 64% là chất độc da cam. Đây là chiến dịch sử dụng hóa chất lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.

· Năm 1984 một nhóm cựu chiến binh Mĩ đệ kiện các công ti hóa chất Mĩ về những tác hại sức khỏe mà họ chịu phải khi tham gia vào chiến dịch phun độc chất. Vụ kiện, dưới sự chủ trì của Thẩm phán Jack Weinstein, tuy nhiên không được tiến hành, mà kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài tòa. Theo thỏa thuận này, các công ti hóa chất đồng ý lập ra một quĩ y tế xã hội khoảng 180 triệu Mĩ kim nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mĩ từng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Trong phiên tòa này, thẩm phán Weinstein cho rằng các công ti phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của họ. Ông nói thêm rằng các công ti không thể nói rằng họ chỉ làm theo đơn đặt hàng, vì họ có thể từ chối hợp đồng nếu họ muốn.

· Ngày 30/1/2004, Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam quyết định đệ đơn kiện các công ti hóa chất Mĩ. Các công ti này bị truy tố với 10 tội phạm, kể cả tội phạm chiến tranh, làm lợi bất chính, gây thương tích cho thường dân, v.v. Vụ kiện đã gây được chú ý của thế giới về nạn nhân dioxin ở Việt Nam, bởi vì trước đây nói đến dioxin người ta chỉ nghĩ đến cựu chiến binh Mĩ. Dư luận thế giới đồng loạt và nhiệt tình đứng về phía các nạn nhân. Hàng triệu chữ kí của công dân khắp năm châu là một biểu hiện sự ủng hộ của họ dành cho nạn nhân Việt Nam.

· Sau một thời gian xem xét bằng chứng từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10/3/2005, Thẩm phán Jack Weinstein thuộc tòa án địa hạt Brooklyn, New York, công bố phán quyết trong một tài liệu dài 233 trang. Trong bản phán quyết dài và phức tạp, ông Weinstein đề cập đến các trường hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lí thuyết của luật pháp Mĩ và luật pháp quốc tế, và kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lí dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế. Vụ kiện không được xét xử.”

· Phía nguyên đơn quyết định theo đuổi vụ kiện qua một phiên tòa phúc thẩm. Ngày 18/6/2007, tòa án New York bắt đầu xét xử đơn của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đệ đơn kiện 32 công ti hóa học từng sản xuất và cung cấp hóa chất, kể cả chất độc màu da cam sử dụng trong cuộc chiến kéo dài suốt 10 năm (từ 1961-1971). Phiên tòa thu hút sự chú ý của thế giới và ngay cả quốc hội Mĩ, vì một phần phiên tòa diễn ra ngay trước khi chuyến thăm Mĩ của chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Ngoài dư luận ủng hộ phía nguyên đơn (tức Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam), giới cựu chiến binh Hàn Quốc, New Zealand, và Úc cũng theo dõi xem phán quyết của tòa án vì họ cũng có dự định kiện các công ti hóa chất Mĩ do những phơi nhiễm mà họ chịu phải trong thời chiến.

· Ngày 22/12/08 phiên tòa phúc thẩm ở New York bác bỏ kháng đơn của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và giữ nguyên phán quyết của chánh án Weinstein. Luật sư phía nguyên đơn nhận xét rằng nếu đây là phán quyết sau cùng thì một chương lịch sử đau buồn trong chiến tranh Mĩ – Việt liên quan đến chất độc da cam đã chấm dứt. Người viết bài này không nghĩ như thế. Bất kể phán quyết của tòa án ra sao, vấn đề vẫn tồn tại khi thế giới này vẫn tồn tại vì nó là một vết nhơ trong chiến tranh mà thế giới không thể nào quên được.

Thursday, February 21, 2008

“Sẽ” và “có thể”

Bài đã đăng trên Vietnamnet

Một tiêu đề khó có thể bỏ qua: “Thuốc là sẽ giết chết 1 tỷ người trong thế kỷ 21”. Tuy nhiên, đọc kĩ bản tin và đối chiếu lại với tài liệu gốc của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tôi e rằng có một vài chi tiết nhỏ không chính xác nhưng có ý nghĩa lớn trong khoa học.

Trong báo cáo của WHO, các tác giả viết rằng “In the 20th century, the tobacco epidemic killed 100 million people worldwide. During the 21st century, it could kill one billion” (tạm dịch: trong thế kỉ 20, nạn dịch thuốc lá giết chết 100 triệu người trên thế giới. Trong thế kỉ 21, nạn dịch này có thể giết chết một tỉ người.)

Xin chú ý rằng các tác giả sử dụng động từ “có thể” (could), chứ không phải “sẽ” (will). Thật ra, ngay cả bản tin trên Sciencedaily mà bài báo được dịch sang tiếng Việt, người viết cũng dùng “Tobacco could kill one billion by 2100” (đến năm 2100 thuốc lá có thể giết chết một tỉ người).

Có lẽ bạn đọc sẽ nói nhầm lẫn trên nhỏ quá, và viết ra thì chẳng khác gì “vạch lá tìm sâu”. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa “có thể” và “sẽ” có ý nghĩa quan trọng trong suy luận khoa học. Khoa học không cho phép chúng ta phát biểu ra ngoài phạm vi của dữ liệu, và viết “sẽ” tôi e rằng bài báo đã vượt ra ngoài phạm vi của báo cáo.

Trong y học, rất khó mà xác định nguyên nhân của tử vong vì bệnh tật (không phải do tai nạn hay bắn súng), bởi vì tử vong là hệ quả của một quá trình tích lũy rối loạn sinh học trong cơ thể. Nếu một bệnh nhân chết vì bệnh tim mạch, và hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, chúng ta vẫn chưa đủ bằng chứng để nói rằng bệnh nhân chết vì hút thuốc lá. Lí do đơn giản là bệnh tim mạch có nhiều yếu tố nguy cơ, mà hút thuốc lá có thể chỉ là một trong những yếu tố nguy cơ. Nhiều người mắc bệnh tim mạch có tiền sử hút thuốc lá, nhưng không phải 100% người hút thuốc lá đều mắc bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, đứng trên phương diện dịch tễ học, với một số giả định, người ta có thể ước tính bao nhiêu trường hợp bệnh hay bao nhiêu trường hợp tử vong là có liên hệ với hút thuốc lá. Xin nhấn mạnh rằng “có liên hệ” không có nghĩa là “nguyên nhân”. Chính vì những giả định, vì mối liên hệ bất định, và vì những khó khăn trong việc suy luận khoa học, cho nên các nhà khoa học chỉ dám nói “thuốc lá có thể …” chứ không ai dám nói “thuốc lá sẽ …”.

Bài báo còn cho biết “Tổng giám đốc WHO, giáo sư Chan …”, tuy nhiên chi tiết này không đúng với thực tế. Bà Margaret Chan chưa bao giờ là giáo sư. Bà Margaret Chan (sinh năm 1947), người gốc Hồng Kông, học y khoa và tiến sĩ khoa học ở Đại học Western Ontario (Canada); sau khi về Hồng Kông bà làm trong Nha Y tế Hồng Kông (trong đó 9 năm là giám đốc Nha), và đến năm 2006 thì được bổ nhiệm làm tổng giám đốc WHO. Bà là công chức chứ không phải là nhà khoa bảng.

Nhân đây cũng xin nói luôn là biểu đồ có nguồn www.quitsmokinglv.com (một website quảng cáo cách ngưng hút thuốc bằng … thôi miên) trong bài báo hoàn toàn chẳng có liên quan gì đến báo cáo của WHO. Tôi ngạc nhiên là Vietnamnet lại gián tiếp quảng bá cho một website phi chính thống về y khoa như thế! Báo cáo của WHO có rất nhiều dữ liệu hay và thích hợp, nhưng rất tiếc lại không có trong bản tin! Hi vọng một dịp tới, tôi sẽ bàn về vấn đề tác hại của thuốc lá ở nước ta.

Monday, February 18, 2008

Chuột và... các nhà khoa học (Phần 2)

Năm mới đọc một bài viết về chuột của "TS BS Hồ Thị Hồng Nhung" tôi thấy cũng thú vị. Chỉ tiếc là bài viết có quá nhiều vấn đề. Nói đúng ra là có quá nhiều sai sót cơ bản, có khi rất khó nói trên net. Tôi có một bài ngắn góp ý, và bỏ quả những sai sót nhỏ khác.

Nhưng hôm nay thấy có một người khác bắt lỗi còn "ác liệt" hơn nữa:
http://tuanvietnam.net/vn/docgianhatsan/2910/index.aspx

NVT

Chuột và... các nhà khoa học (Phần 2)
18/02/2008 07:34 (GMT + 7)
Theo bài báo "Chuột dưới mắt các nhà khoa học", đăng trên báo điện tử VietNamNet ngày 8/2/2008 thì có tới... 12.250 loài chuột! Nhưng không sách báo sinh vật nào lại đưa ra con số lớn như vậy.

>> Chuột và... các nhà khoa học (Phần 1)

Đoạn đầu bài báo viết: “Chuột là một thành viên của nhóm động vật thành công cao trong loài gặm nhấm (rodents), được xếp vào nhóm riêng (rodentia).”

Câu trên không chuẩn về mặt thuật ngữ và sai về phân loại học, vì có thể hiểu: trong loài gặm nhấm có “nhóm động vật thành công cao”, tức là tồn tại nhóm riêng trong một loài!


Thực ra, Rodentia phải gọi chính xác là bộ Gặm nhấm, và trong bộ này có các loài như chuột nhắt, chuột cống… chứ không phải ngược lại. Bất cứ thành viên (loài) nào thuộc bộ này (Rodentia) cũng được gọi là rodent.

Trong ngành sinh vật học, người ta phân loại sinh vật từ theo thứ tự từ cao xuống thấp (từ khái quát đến chi tiết) là: giới (kingdom), ngành (phylum), lớp (class), bộ (order), họ (family), giống hoặc chi (genus), loài (species). Loài là đơn vị phân loại cơ sở (tuy dưới nó có thể có phân loài, chủng,…) ở chỗ các thành viên cùng loài có thể sinh sản khi giao phối với nhau.

Đoạn sau bài báo lại viết: “Chuột (rodentia) chia thành khoảng 35 họ (families), mỗi họ có khoảng 350 loài (genera). Trong những loài này có cả chuột nhắt (mice) và chuột cống (rat). Tổ tiên của chuột nhà là thành viên của họ Meridae (Meridae family). Họ Meridae chia thành 100 loài, là họ động vật có vú đông đảo nhất trái đất.”

Thứ nhất, trong tiếng Anh, genera là số nhiều của genus, nghĩa là giống hoặc chi, là cấp phân loại ở sát trên loài, chứ không phải là loài.

Thứ hai, bộ Gặm nhấm (Rodentia) không đồng nhất với chuột, vì trong bộ này còn có các loài và họ động vật khác, như sóc, sóc bay, nhím, hải ly…

Thứ ba, chuột nhà thuộc họ Muridae chứ không phải Meridae (không có họ nào có tên gọi là Meridae).

Ảnh: channelvn.net


Thứ tư
, không hiểu dựa theo tài liệu nào mà tác giả cho rằng “chuột chia thành khoảng 35 họ, mỗi họ có khoảng 350 loài. Như vậy tính trung bình, bộ Gặm nhấm (Rodentia)được tác giả cho là nhóm chuột, gồm 35 (họ) x 350 (loài) = 12.250 loài! Nếu chỉ lấy mỗi họ 100 loài như họ Muridae, thì ta cũng có 35 (họ) x 100 (loài) = 3.500 loài.

Tuy sự phân loại không hoàn toàn thống nhất, nhưng không sách báo sinh vật nào đưa ra con số lớn như vậy. Các sách thường chỉ ghi bộ Gặm nhấm có khoảng 1.600 đến hơn 2.000 loài. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Anh cho là có 2.277 loài, theo Wilson và Reeder (2005).

Theo Bách khoa toàn thư Britannica 2004 thì có hơn 2.050 loài gặm nhấm, được chia thành 27 họ với 454 giống đang tồn tại và 485 giống đã tuyệt chủng. Còn theo Bách khoa toàn thư Encarta 2005 thì có khoảng 2.000 loài gặm nhấm, với khoảng hơn 400 giống.

Sau cùng, họ Chuột (Muridae) có khoảng 100-140 giống và 480-650 loài, chứ không phải chỉ có 100 loài như tác giả viết.

Một câu khác trong bài: “Họ hàng gần của chuột nhà và chuột thí nghiệm là chuột đất vàng (hamsters), chuột nhảy (girbils), chuột lang (Guinea pigs), sóc (chinchillas), chồn, chuột túi và nhiều loại gặm nhấm khác.”

Theo câu này thì chồn cũng thuộc loại động vật gặm nhấm và có họ hàng gần với chuột. Thực ra, chồn thuộc họ Mustelidae và được xếp vào bộ Ăn thịt (Carnivora) chứ không phải thuộc bộ Gặm nhấm (Rodentia) và do vậy không thể có họ hàng gần với chuột.

  • Bạn đọc: Nguyễn Việt Long



Bộ Y tế chậm quá!

Thật ra nói chậm là hơi "nhẹ", chứ cho đến nay (đã 4 ngày sau khi bài này đăng) họ cũng chưa "động thủ". Tuy nhiên đọc báo hôm nay thấy Phó thủ tướng đã ra chỉ thị các bộ ngành phải "do something". Thôi thì chậm còn hơn không. Bộ Y tế mà làm ăn kiểu này thì đáng quan tâm quá.
NVT


http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/02/768789/
Bộ Y tế phản ứng chậm với rét đậm

Giới truyền thông liên tục nói đến "rét đậm", nhưng hình như các giới chức y tế nước ta vẫn chưa có kế hoạch hay biện pháp phòng chống nào thiết thực. Đã đến lúc các nhà chức trách, nhất là y tế cộng đồng, cần vào cuộc để phòng ngừa những tác hại đến sức khỏe của người dân.

Rét lạnh không chỉ ở Việt Nam

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Băng phủ kín đường ở đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn (Ảnh: VNN)
Hiện tượng nóng toàn cầu (global warming) đã được giới khoa học nói đến nhiều lần, nhưng vẫn chưa được các chính khách quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, sự thay đổi thời tiết năm nay đã chứng minh cho thấy các cảnh báo về hệ quả của hiện tượng nóng toàn cầu là thật. Từ Âu châu sang Mĩ châu đến Úc châu và Á châu, tất cả các vùng đều có nhiều thay đổi về khí hậu. Ở Úc, chưa có mùa hè năm nào trong lịch sử mưa dữ dội như mấy tuần nay (mùa hè ở Úc nổi tiếng khô khan).

Hiện nay, một số tỉnh phía Bắc đang trong thời kì “rét đậm” chưa từng có trong lịch sử, và đã gây nhiều tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và kinh tế. Đã có một số người và gia súc gia cầm chết vì rét. Có trẻ em chết trên đường đến bệnh viện! Theo một bản tin mới nhất, đã có đến hàng ngàn trâu, bò bị chết vì sự thay đổi đột ngột của khí hậu. Đó là chưa kể đến hàng chục ngàn hécta lúa cũng bị thất thoát.

Ở Ấn Độ, theo tin tức báo chí quốc tế, hiện nay một làn sóng lạnh đang tràn qua vùng Mumbai và một số nơi khác gây ra nhiều cái chết cho người già và trẻ em. Ở Bangladesh, nhiệt độ xuống thấp còn 3 đến 6 độ Celsius, và gây ra tử vong cho 185 người. Tháng 6 năm ngoái ở Nam Mĩ (Argentina và Peru) hơn 80 người chết vì làn sóng lạnh tràn qua hai nước này. Trong số này 52 trẻ em chết vì các bệnh hô hấp.

Lạnh bất thường, tử vong tăng

TIN LIÊN QUAN
Có lẽ hơi thừa nếu nói rằng môi trường có tác động rất lớn đến sức khỏe con người. Hai chữ “môi trường” ở đây bao gồm không gian sống và thời tiết. Ở bất cứ nơi nào, khi thời tiết thay đổi đột ngột, cơ thể chúng ta (hay các sinh vật nói chung) không có đủ thời gian để thích ứng với điều kiện mới, và hàng loạt rối loạn sinh học xảy ra, có khi dẫn đến tử vong.

Trong môi trường khí hậu lạnh, cơ thể chúng ta mất năng lượng, và do đó nhiệt độ trong người xuống thấp. Sự “hạ nhiệt” có khi đến độ nguy hiểm dẫn đến rối loạn hô hấp, và thậm chí tử vong. Đối với những người đang bị bệnh khớp, khí hậu lạnh làm tăng cường độ bệnh và sự đau đớn.

Ngoài ra, đối phó với cái lạnh, nhiều người sử dụng những biện pháp “dân dã” nhưng có thể nguy hiểm đến sức khỏe. Chẳng hạn như đốt cây, gỗ, than, dầu, v.v… để sưởi ấm trong nhà tuy có thể làm ấm nhất thời, nhưng việc làm này thải khí CO (carbon monoxide). Khí CO là một loại ga không mùi vị, không màu, và do đó không biểu lộ dấu hiệu trong không khí. Trong môi trường nhà đóng kín, người bị ảnh hưởng CO có những triệu chứng như nhức đầu, ồn ào lỗ tai, nôn ói, chóng mặt, thiếu khả năng tập trung, khó thở, hay xỉu, và ở giai đoạn nghiêm trọng là ngất.

Hệ quả là tỉ lệ tử vong thường gia tăng vào những tháng mùa đông, hay lúc thời tiết lạnh bất thường như hiện nay ở nước ta. Đã từ lâu y văn ghi nhận một mối liên hệ hình chữ U giữa nhiệt độ môi trường và tử vong. Theo mối liên hệ này, nguy cơ tử vong tăng cao khi nhiệt độ giảm xuống khoảng -10 đến +5 độ C hay trên +40 độ C (xem biểu đồ bên dưới).

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Mối liên hệ giữa tử vong và nhiệt độ. Trục hoành chỉ nhiệt độ; trục tung chỉ tử vong.

Phân tích nguy cơ tử vong theo mùa cũng ghi nhận rằng ở những nước có khí hậu ôn đới (như Âu châu) tử vong thường được ghi nhận cao nhất vào mùa đông (xem biểu đồ bên dưới đây). Ở New Zealand, nguy cơ chết vì bệnh tim mạch tăng 35% trong mùa đông (so với mùa hè) khi nhiệt độ xuống thấp khoảng 0 đến 5 độ C.

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Nguy cơ tử vong dao động theo mùa. Trục hoành là tháng; trục tung là tỉ số số tử vong mỗi tuần so trên số tử vong trung bình mỗi tuần của năm. Số tử vong tăng cao nhất vào khoảng tháng 12, 1, và 2 (tức mùa đông). Nguồn: I. Gemmell, et al. Int J Epidemiol 2000; 29(2): 274 – 279

Khó chấp nhận khi để người dân chết lạnh

Có thể nói tình hình rét đậm ở nước ta nghiêm trọng, bởi vì nó ảnh hưởng đến kinh tế và người dân. Chúng ta không muốn một tình huống như ở Ấn Độ, Bangladesh, hay Nam Mĩ xảy ra ở Việt Nam. Một trường hợp tử vong cũng đủ để các giới chức quan tâm. Đến tình trạng hàng trăm trẻ em và người già nhập viện, và hàng ngàn gia cầm chết vì lạnh, vấn đề phải xem là một thực trạng y tế cộng đồng.

Chúng ta trong quá khứ đã có những phản ứng nhanh (có khi hoảng hốt) để khống chế những “vấn nạn cấp tính” như… cúm gia cầm, nhưng lại rất chậm trước vấn nạn rét lạnh. Thật vậy, cho đến nay, hình như các giới chức y tế vẫn chưa có khuyến cáo đến người dân đang sống trong vùng chịu ảnh hưởng rét. Trang web của Bộ Y tế (http://www.moh.gov.vn/homebyt/vn/portal/index.jsp) và các trung tâm y tế dự phòng không cung cấp thông tin gì có ích cho người dân đang sống trong tình trạng rét đậm!

Nếu làm thống kê đầy đủ, tôi e rằng con số mất mát mùa màng và gia cầm hiện nay có thể lên đến hàng trăm triệu USD, nhưng mất mát về con người là điều quan trọng nhất và nghiêm trọng nhất. Một nước Việt Nam như phát triển hiện nay mà để cho người dân chết lạnh thì thật khó chấp nhận được.

Cần phải ghi nhận rằng tình hình rét đậm này là một vấn đề y tế cộng đồng, có ảnh hưởng đến nhiều người. Đã đến lúc các giới chức y tế nên vào cấp bách có những biện pháp giáo dục và phòng chống bệnh cho người dân đang ở những vùng bị ảnh hưởng rét.



Giữ gìn sức khỏe và an toàn cá nhân trong mùa lạnh

Cẩn thận khi sưởi ấm bằng cách đốt gỗ, dầu, than… trong nhà. Nhà nên có chỗ thông khí để khí CO thoát ra ngoài.

- Giữ ấm người bằng quần áo len và đeo găng tay. Không nên mặc những quần áo dơ bẩn hay vải trơn vì những quần áo này không tốt cho việc giữ nhiệt.

- Khi lao động ngoài trời và nếu bị bỏng lạnh, nên tìm cách đến chỗ có nhiệt độ ấm hơn. Trước khi cấp cứu, không nên chà vào chỗ bị bỏng, mà nên làm ấm chỗ bị bỏng. Tháo gỡ các quần áo chật và vật trang sức kim loại.

- Trong nhà, chú ý đến tình trạng mất nhiệt trong người, với triệu chứng môi và ngón tay tái xanh, người run lẩy bẩy thái quá, tiếng nói lập bập, v.v… Người có bệnh đái tháo đường, suy thận, viêm khớp thường có nguy cơ mất nhiệt cao hơn người khác.

Đến lúc áp dụng Qui ước Ingelfinger

Bài này đã đăng trên Vietnamnet để làm đề tài cho seminar vào tháng 3 về "Truyền thông và khoa học" tại STR.

http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/02/768656/

Đã đến lúc nên áp dụng Qui ước Ingelfinger?
04:34' 15/02/2008 (GMT+7)

Các thông tin khoa học quan trọng trước khi công bố trên hệ thống truyền thông đại chúng cần phải được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Mọi công trình nghiên cứu khoa học nên được đánh giá và phản biện thông qua các tập san khoa học quốc tế, chứ không phải qua một hội đồng nghiệm thu như cách làm ở nước ta hiện nay…

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Ảnh minh hoạ (www.massgeneral.org)
Trong thời gian gần đây, báo chí nước ta, kể cả báo mạng, đều có chuyên mục “khoa học” hay “sức khỏe” nhằm cung cấp những thông tin khoa học trên thế giới và trong nước đến quần chúng. Thế nhưng, kết quả của những “nghiên cứu khoa học” đó có đáng tin cậy không thì thường là bạn đọc đại chúng chỉ còn trông cậy vào... uy tín và sự... "thẩm định" của tờ báo!

Một khó khăn ở đây là phần lớn nhà báo không phải là nhà khoa học, nên khả năng thẩm định thông tin khoa học của họ cũng có nhiều hạn chế. Sự hạn chế này nhiều khi dẫn đến những hiểu lầm, hay diễn giải sai kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu khoa học.

Trong khi đó, ở nước ngoài thì khác! Người ta có hẳn một quy ước có tên là là “Qui ước Ingelfinger“ rất phổ biến trong truyền thông khoa học.

Theo Quy ước này, các nhà khoa học chỉ có quyền tiếp xúc giới truyền thông đại chúng về các nghiên cứu khoa học sau khi những thông tin này đã được công bố trên một tập san khoa học. Cách làm việc này cũng là một trong những tiêu chuẩn về đạo đức khoa học.

Tin nhanh khoa học, tác hại khó lường…

“tập san khoa học quốc tế” ở đây dùng để chỉ các tập san có tên trong danh bạ của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information - ISI). Không một tập san khoa học nào của Việt Nam có trong danh bạ của ISI.
Việc công bố kết quả nghiên cứu một cách hấp tấp trên hệ thống truyền thông đại chúng có khi dẫn đến hệ quả nghiêm trọng, vì nó tạo nên một sự hi vọng hão huyền hay gây tác hại cho nền kinh tế nước nhà.

Vào thập niên 1980, báo chí Mỹ rầm rộ đưa tin rằng một nhóm bác sĩ bên Mỹ đã thành công điều trị bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ) bằng cách bơm bethanechol chloride vào não. Vì bệnh Alzheimer là bệnh nan y (ông Ronald Reagan từng mắc bệnh này trong thời gian làm tổng thống Mỹ), không có thuật điều trị dứt, cho nên báo chí Mỹ lúc đó ca ngợi đây là “một sự đột phá trong việc điều trị bệnh Alzheimer”, và “các bác sĩ hi vọng rằng bệnh Alzheimer sẽ được chinh phục nay mai”! Nhưng sự thật là họ chỉ điều trị 4 bệnh nhân, và kết quả được đánh giá một cách chủ quan theo cảm nhận của bác sĩ.

Đến khi thuật điều trị đó được áp dụng cho vài bệnh nhân khác, kết quả hoàn toàn vô dụng, và bản tin trở thành câu chuyện hài hước trong giới y khoa.

Mới đây, công trình nghiên cứu về một loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường được công bố, chỉ 3 tháng sau doanh thu của công ty từ thuốc này giảm 40% so với trước đó, và trị giá của công ty trên thị trường chứng khoán giảm 13%. Chúng ta còn nhớ năm ngoái khi thông tin về bưởi và ung thư được báo chí đưa tin, giá bưởi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm đáng kể, dẫn đến những mất mát lớn về kinh tế cho các hộ kinh doanh bưởi.

Ở nước ta trong thời gian gần đây, có quá nhiều thông tin khoa học được báo chí đưa tin nhưng chưa bao giờ được công bố trên các tập san quốc tế, và chưa bao giờ qua bình duyệt bởi giới chuyên môn.

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn
Tin khoa học được phổ biến đến đại chúng ngày càng nhiều trên các phương tiện truyền thông (Ảnh: http://www.jmir.org)
Vài tuần qua, giới khoa học trong và ngoài nước xôn xao về bản tin cho biết các nhà khoa học Việt Nam đã thành công trong việc ứng dụng kĩ thuật tế bào gốc để điều trị một bệnh nhân bị hỏng mắt (hội chứng Stevens – Johnson). Nhưng theo dõi tin tức thì thấy một số chuyên gia trong hội đồng nghiệm thu đề án nghiên cứu tỏ ra dè dặt trước kết quả này vì họ cho rằng có thể các nhà nghiên cứu do hiểu lầm về thành quả của mình và hiểu lầm này có thể xuất phát từ vấn nạn thiếu thông tin khoa học.

Thật ra, vì nghiên cứu này chưa bao giờ được công bố trên một tập san khoa học quốc tế, nên rất khó mà đánh giá thành tựu của công trình nghiên cứu này.

Tôi thấy ý kiến của GS. Nguyễn Văn Thuận là hoàn toàn hợp lí khi ông nói “Mọi công trình nghiên cứu phải được đánh giá thông qua các tạp chí khoa học thế giới. Như vậy, không cần phải có hội đồng nghiệm thu làm mất thời gian mà lại tranh thủ được sự góp ý của các nhà khoa học trên thế giới trong nghiên cứu của mình".

Để tiếp theo ý này của GS. Thuận, tôi xin trích lại câu nói nổi tiếng của giáo sư Frank Davidoff, cựu tổng biên tập tập san Annals of Internal Medicine (một tập san y học hàng đầu trên thế giới) rằng “khoa học chỉ tồn tại sau khi kết quả của nghiên cứu khoa học được công bố trên các tập san quốc tế".

Cũng cần nói thêm rằng vì năng suất khoa học nước ta (tính theo số lượng bài báo khoa học trên các tập san quốc tế) còn quá khiêm tốn. Tôi đã làm phân tích và thấy số lượng bài báo khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/10 của Singapore và 1/5 của Thái Lan. Do đó, vấn đề công bố quốc tế cần phải được xem là một chuẩn mực trong hoạt động khoa học ở nước ta. Thực hiện chuẩn mực này sẽ đảm bảo chất lượng thông tin khoa học tốt hơn trong tương lai.

Nên chăng ở nước ta cũng đã đến lúc cần thực hiện “Qui ước Ingelfinger" trong công bố thông tin khoa học ? Vậy "Qui ước Ingelfinger" là gì?

Truyền thông Việt Nam nên áp dụng “Qui ước Ingelfinger“

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn

Bác sĩ Franz J. Ingelfinger (trái). (Ảnh: http://usuarios.cultura.com.br)

Năm 1969, bác sĩ Franz J. Ingelfinger (1910-1980) được bổ nhiệm làm tổng biên tập tập san New England Journal of Medicine (NEJM), một tập san có lịch sử trên 100 năm và cho đến nay vẫn là tập san số 1 trong ngành y.

Khi mới nhậm chức, ông phát hiện một số công trình nghiên cứu khoa học đang được xem xét cho in hay sắp in trên tập san NEJM đã được hệ thống truyền thông đại chúng... công bố trước!

Không hài lòng trước tình trạng “cầm đèn chạy trước ô tô” này, ông đề ra một qui ước mà sau này được biết đến là Qui ước Ingelfinger. Theo Qui ước Ingelfinger, NEJM sẽ không công bố bất cứ bài báo nào nếu kết quả bài báo đó đã được các cơ sở truyền thông đại chúng đưa tin.

Thoạt đầu, Qui ước này bị giới báo chí phản đối dữ dội, và ngay cả giới y khoa cũng không đồng tình. Nhưng ngày nay tất cả các tập san khoa học đều chấp nhận đây là một biện pháp để đảm bảo chất lượng thông tin y khoa đến công chúng.

Để hiểu tầm quan trọng và ý nghĩa của Qui ước Ingelfinger, có lẽ cần phải điểm qua vài nét chính trong qui trình nghiên cứu khoa học. Xin nói thêm rằng tôi chỉ nói đến nghiên cứu khoa học thực nghiệm, như y sinh học, vốn có truyền thống tương tác với truyền thông, chứ không nói đến các ngành “khoa học cơ bản” như toán học.

Sau khi một công trình nghiên cứu được hoàn tất, nhà nghiên cứu thường trình bày kết quả trong một (hay vài) hội nghị chuyên ngành cấp quốc tế hay quốc gia dưới hình thức một bài báo ngắn. Mục đích chính của việc trình bày kết quả trong hội nghị là xin ý kiến phản biện của các đồng nghiệp. Sau khi đã có những ý kiến phản biện, nhà khoa học soạn một báo cáo đầy đủ hơn và đệ trình cho một tập san chuyên ngành để được bình duyệt (hay phản biện) nghiêm chỉnh hơn. Qua bình duyệt, bài báo có thể được chấp nhận hay từ chối cho công bố.

Mô tả ảnh. Nguồn: www.vsolutions.vn

Ảnh minh hoạ (Ảnh: medmeeting.googlepages.com)

Theo Qui ước Ingelfinger, chỉ khi nào bài báo được công bố trên một website hay báo giấy của tập san thì nhà nghiên cứu mới có quyền được tiếp xúc với giới truyền thông đại chúng để nói về thành quả nghiên cứu của mình. Trong thời gian bài báo còn được bình duyệt, hay ngay cả sau khi đã được chấp nhận cho công bố nhưng chưa đưa lên website, nhà nghiên cứu vẫn không có quyền tiếp xúc với truyền thông.

Do đó, một khi bản tin được chuyển tải đến công chúng, thì các chi tiết về ý tưởng, phương pháp, kết quả, và diễn giải của công trình nghiên cứu được phê bình và duyệt qua bởi những chuyên gia trong ngành, và đảm bảo chất lượng của thông tin. Nếu không qua khâu “nội bộ” này thì công chúng không thể biết công trình nghiên cứu đó có giá trị khoa học ra sao, phương pháp đúng hay sai, cách suy luận có quá đà hay không...

Nhưng trong thực tế vẫn có một số nhà khoa học vì lý do nào đó vi phạm quy ước này. Năm ngoái, một chuyên gia về bệnh tim mạch, giáo sư Martin Leon, tiết lộ với báo chí về kết quả của một công trình nghiên cứu mà ông bình duyệt cho tập san NEJM, nhưng công trình chưa được công bố. Hệ quả là ông bị tập san “kỉ luật”, không cho công bố bài báo trên tập san trong vòng 5 năm, và cũng tước luôn vai trò chuyên gia bình duyệt cho tập san.

… Có thể xem các bài báo trên các tập san khoa học như là những viên gạch để xây dựng kho tàng tri thức con người. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, thiết tưởng đã đến lúc giới truyền thông Việt Nam nên áp dụng Qui ước Ingelfinger để đảm bảo chất lượng thông tin khoa học cho công chúng. Giới truyền thông chỉ nên công bố những thành quả khoa học nào đã qua bình duyệt bởi chuyên gia, hay đã được công bố trên một tập san khoa học quốc tế.

Tập san khoa học quốc tế phải có tên trong danh bạ của ISI

Thật ra, cụm từ “tập san khoa học quốc tế” là cách gọi của các nhà khoa học nước ta, và cách gọi này có thể gây ra vài hiểu lầm, thậm chí tranh luận. Chẳng hạn như có người lý giải rằng các tập san khoa học của Thái Lan, Lào, hay Myanmar cũng có thể xem là “quốc tế”!

Tuy nhiên, cụm từ “tập san khoa học quốc tế” ở đây dùng để chỉ các tập san có tên trong danh bạ của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information - ISI). Để có tên trong danh bạ của ISI, tập san phải đáp ứng một số yêu cầu và tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng bài báo khoa học, thành viên ban biên tập, cơ chế bình duyệt (peer-review), tính quốc tế của ban biên tập và tác giả bài báo khoa học… Mỗi năm, ISI thẩm định khoảng 2.000 tập san trên thế giới, và chỉ 10-12% được công nhận cho vào danh bạ. Tuy nhiên, mỗi năm, một số tập san bị loại ra khỏi danh bạ ISI vì tiêu chuẩn bị xuống cấp hay do gian lận trong việc báo cáo.

Hiện nay có khoảng 7.600 tập san khoa học trên thế giới nằm trong danh bạ ISI; phần lớn xuất phát từ Mỹ và Âu châu. Các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Singapore… đều có một số tập san được ISI công nhận. Không một tập san khoa học nào của Việt Nam có trong danh bạ của ISI.

Tuesday, February 12, 2008

Vị thế khoa học của Việt Nam

Bài này viết như là khai bút đầu xuân.
NVT

http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/2839/index.aspx

Cách đây khoảng 10 năm (giữa năm 1998), tập san khoa học số 1 trên thế giới, Science, có một loạt bài điểm qua tình hình khoa học ở các nước Á châu và đặc biệt là Đông Nam Á. Trong loạt bài này, Science không có đến một chữ nào nói về khoa học ở Việt Nam. Thậm chí, hai chữ “Việt Nam” cũng không được nhắc đến, làm như Việt Nam không có mặt trong bản đồ khoa học Á châu! Có lẽ do chút tự ái dân tộc, lúc đó tôi có viết một lá thư ngắn (Letter to the Editor) để nhắc nhở Science rằng nước Việt Nam vẫn tồn tại, vẫn có người làm nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, và Việt Nam cũng có cống hiến cho khoa học thế giới. Ban biên tập công bố lá thư đó, nhưng trước khi công bố họ có viết cho tôi một lá thư lịch sự xin lỗi rằng sở dĩ họ không nhắc đến khoa học nước ta vì họ không tìm thấy bao nhiêu bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế.

Trong vòng 10 năm qua, kinh tế nước ta phát triển thuộc vào hàng nhất nhì trong vùng, và một bộ phận lớn dân số đã thoát cảnh nghèo đói. Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta được quốc tế ghi nhận và ca ngợi. Các chuyên gia kinh tế xem công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta như là một tấm gương sáng, một bài học cho các nước đang phát triển noi theo.

Nhưng trong 10 năm qua, khoa học Việt Nam có phát triển tương đồng với tốc độ phát triển kinh tế hay không? Tôi e rằng câu trả lời là: “không”. Một cách đánh giá khách quan tình hình khoa học là qua số lượng bài báo khoa học công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Năm 1998, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 239 bài báo khoa học; đến năm 2000 con số này tăng lên hàng 300; khoảng 3 năm sau con số tăng lên hàng 500, và hiện nay là khoảng 600 bài.

Những con số tăng trưởng về công trình nghiên cứu khoa học trên có thể làm cho chúng ta lạc quan. Nhưng những con số đó có thể đánh lừa chúng ta, nếu chúng ta không đặt chúng vào bối cảnh phát triển trong vùng, chẳng hạn như so sánh với Singapore và Thái Lan. Con số bài báo khoa học từ Việt Nam không bằng 1 phần 10 bài báo khoa học từ Singapore, và tỉ số này không thay đổi trong vòng 10 năm qua (Bảng 1).

Khi so sánh với Thái Lan, chúng ta mới thấy khoa học của ta có xu hướng đi lùi. Năm 1996 số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam bằng khoảng 28% số bài báo từ Thái Lan; 10 năm sau, tỉ lệ này giảm xuống còn 20%! Nói cách khác, tuy số bài báo khoa học từ nước ta có phần gia tăng trong 10 năm qua, nhưng tỉ lệ tăng trưởng còn quá thấp, và hệ quả là nước ta càng ngày càng trượt dài so với các nước đang phát triển trong vùng.

Thật ra, theo phân tích của chúng tôi, chỉ có 20% (hay 1 phần 5) các công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam là do nội lực, tức hoàn toàn thực hiện bởi các nhà khoa học trong nước mà không có sự giúp đỡ của đồng nghiệp nước ngoài. Phần 80% còn lại là do hợp tác với với các nhà khoa học nước ngoài. Ở Thái Lan, tỉ lệ công trình nội lực khoảng 30%, và ở Singapore tỉ lệ này dao động từ 30 đến 45% trong vòng 10 năm qua.

Bảng 1. Số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam, Thái Lan, và Singapore công bố trên các tập san khoa học quốc tế trong thời gian 1996 - 2006

Năm

Số bài báo khoa học

Tỉ số bài báo khoa học

Việt Nam

Thái Lan

Singapore

VN /

Thái Lan

VN /

Singapore

1996

202

723

1948

0,28

0,10

1997

222

797

2275

0,28

0,10

1998

239

971

2629

0,25

0,09

1999

248

1085

3210

0,23

0,08

2000

320

1214

3565

0,26

0,09

2001

355

1376

4040

0,26

0,09

2002

355

1625

4440

0,22

0,08

2003

496

2104

5117

0,24

0,10

2004

429

2090

5370

0,21

0,08

2005

590

2609

6426

0,23

0,09

2006

603

3007

6613

0,20

0,09

Nguồn: số liệu của tác giả, được thu thập từ các cơ sở dữ liệu như ISI, SCI, SCI-Expanded, SSCI, và AHCI.

Điều đáng quan tâm hơn là tỉ lệ công trình nghiên cứu khoa học nội lực ở nước ta không tăng mà còn có xu hướng giảm. Điều này có nghĩa là hiện nay các nhà khoa học nước ta chỉ công bố được khoảng 120 bài báo khoa học mỗi năm!

Cần nhắc lại rằng nước ta có khoảng 14.000 tiến sĩ và 20.000 thạc sĩ. Theo một thống kê có lẽ chưa đầy đủ, nước ta có khoảng 6.000 người mang chức danh giáo sư và phó giáo sư. Đây là những người có khả năng nghiên cứu khoa học và công bố báo cáo khoa học. Nhưng qua con số bài báo khoa học vừa trình bày, chúng ta có thể nói rằng trung bình mỗi giáo sư và phó giáo sư nước ta công bố 0,58 bài báo trong vòng 10 năm qua! Nói cách khác, cứ hai giáo sư mới có 1 công bố quốc tế -- trong vòng 10 năm. Cũng cần nói thêm rằng ở các nước trong vùng như Thái Lan và Singapore, các đại học đặt ra tiêu chuẩn hay khuyến khích mỗi giáo sư cần công bố ít nhất 1 bài báo khoa học trong vòng 2 năm.

So sánh như thế chúng ta mới thấy chẳng những sản lượng khoa học nước ta quá thấp (thấp nhất trong vùng Đông Nam Á), mà còn có xu hướng giảm, và quan trọng hơn, năng suất khoa học của các giáo sư và nhà khoa học ở nước ta còn quá thấp.

Tại sao năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp ? Đã có nhiều người tìm câu trả lời cho câu hỏi đó, và tôi không có ý định lặp lại ở đây, nhưng có lẽ câu hỏi thực tế hơn và cá nhân hơn là : chúng ta phải làm gì ? Nói như Nhà văn Dostoievski là chúng ta tự quyết định vận mệnh của chúng ta ; chẳng có ai tử tế giúp chúng ta mà không có kèm theo điều kiện. Không nên chỉ tay đổ thừa cho nguyên nhân khách quan và chủ quan (tuy cũng có cơ sở), nhưng mỗi cá nhân làm khoa học -- có thể là nghiên cứu sinh, hay các nhà khoa học -- nên tự hỏi mình phải làm gì để nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Tôi [chủ quan] nghĩ rằng câu trả lời là nên đặt tiêu chuẩn công bố quốc tế thành một mục tiêu cá nhân để phấn đấu.

Ở nước ta không thiếu những chất liệu và những nghiên cứu khoa học có ý nghĩa và có tiềm năng đóng góp vào kho tàng tri thức khoa học quốc tế. Nhưng có lẽ vì "văn hóa" công bố quốc tế chưa được nhận thức một cách đúng mức, hay chưa được phát triển thành một chuẩn mực hoạt động khoa học, nên cho đến nay, hệ quả là chúng ta thua kém các nước trong vùng. Vậy nên chăng cần mỗi chúng ta phải tự tạo cho mình một văn hóa khoa học. Đó là văn hóa đặt câu hỏi và phát hiện vấn đề ; nói có sách, mách có chứng ; tôn trọng sự thật khách quan ; làm việc và thực hành dựa vào bằng chứng khách quan ; hệ thống hóa những gì mình biết ; và trách nhiệm xã hội (xem bài "Văn hóa khoa học").

Người Việt chúng ta thường tự hào là một dân tộc thông minh, trí lực không thua kém ai, thậm chí còn trội hơn vài nhóm khác. Điều đó có thể không sai. Nhưng nếu số lượng bài báo khoa học là một đo lường [có thể không hoàn hảo] về tri thức của một quốc gia, thì các con số mang tính phản biện vừa trình bày trên làm cho chúng ta phải và nên khiêm tốn hơn. Tôi vẫn nghĩ thay vì nói chúng ta thông minh và tài giỏi, tại sao không nhìn nhận rằng chúng ta còn dốt và thua kém người khác. Tại sao chúng ta không nhìn nhận rằng nước ta vẫn còn rất nghèo, nền khoa học của chúng ta còn rất thô sơ, và trình độ học vấn của cả nước, tính trung bình, cũng không cao hơn ai.

Nếu nhìn nhận như thế thì chúng ta -- các bạn và tôi -- biết mình cần phải làm gì : học, học nữa, và học mãi. Học. Đó là con đường duy nhất để chúng ta nâng cao vị thế khoa học của nước nhà, để vài năm nữa khi một tập san nào đó làm tổng kết về tình hình khoa học ở Á châu, hai chữ Việt Nam sẽ xuất hiện trên bản đồ khoa học thế giới.

Nhặt sạn - chuột và khoa học

Nhân đọc một bài báo trên Vietnamnet viết về chuột tôi mới phát hiện vài sai sót trong bài báo. Tôi viết bài nhặt sạn sau đây để các bạn đọc cho vui trong những ngày đầu năm. Bài này do Vietnamnet đăng.
NVT

====

http://tuanvietnam.net/vn/docgianhatsan/baibaocosan/2853/index.aspx
Chuột và... các nhà khoa học

Năm Mậu Tí là cơ hội để chúng ta tìm hiểu con vật rất có ích cho con người - loài chuột. Bài “Chuột - dưới mắt nhà khoa học” cho thấy chuột đóng một vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, tôi muốn bàn lại một số chi tiết trong bài viết.

1. Bài viết cho biết: “Vào những năm 1700, đã có chuột nuôi, buôn bán làm vật cảnh ở Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu. Vào thời Nữ hoàng Anh Victorya, đã có giải thưởng cho chuột cảnh “fancy”. Năm 1895, Walter Maxey khởi xướng, người Anh sáng lập ra “Câu lạc bộ Chuột quốc gia”. Đến thế kỷ XX thì đã có rất nhiều con chuột cảnh có màu lông khác nhau do lai tạo đột biến.

Vào thời kỳ này, Học thuyết di truyền của Gregor Mendel người Hà Lan đã tác động mạnh lên giới khoa học, chuột nuôi đã được chọn là động vật thí nghiệm nghiên cứu di truyền. Năm 1902, chuột là động vật có vú đầu tiên dùng để chứng minh Định luật Mendel.”

Ở đây có vài chi tiết nhỏ về lịch sử cần xem lại. Theo trang web answers.com (nơi có nhiều thông tin về chuột trùng hợp với bài viết của tác giả) thì tên của hoàng hậu Anh là Victoria (Queen Victoria), chứ không phải “Vyctoria”.

Báo chí tiếng Anh, khi nói đến “Victoria era” (thời đại Victoria), người ta thường ngầm hiểu đó là thời gian từ 1837 đến 1901, thời Hoàng hậu Victoria trị vì nước Anh.

2. Gregor Johann Mendel (20/7/1822 – 6/1/1884) là người gốc Áo (Austria), chứ không phải gốc Hà Lan. Tuy xuất thân là một giáo sĩ dòng Augustine, nhưng ông cũng là một nhà khoa học có hạng, được xem là “cha đẻ” của ngành di truyền học hiện đại.

Công trình nghiên cứu nổi tiếng (nhưng cũng gây ít nhiều tai tiếng về dữ liệu) là ông cho lai hai giống đậu, và đậu được lai giống tuân theo một qui luật xác suất mà ngày nay chúng ta thường biết đến như là Định luật Mendel trong di truyền học [1].

Năm 1865, ông công bố kết quả nghiên cứu và một số suy nghĩ của ông trong hai hội nghị khoa học, và năm 1866 ông chính thức công bố dưới hình thức một bài báo khoa học. Nhưng thời đó chẳng ai chú ý đến lí thuyết di truyền của ông.

Trong vòng 35 năm sau đó, bài báo của ông chỉ được trích dẫn có 3 lần! Thậm chí, nhiều người phê bình lí thuyết của ông là “không tưởng”! Nhưng nay thì chúng ta biết rằng bài báo đó mở đầu cho một học thuyết di truyền học và dẫn đến công nghệ sinh học như ngày nay.

Cần nói thêm rằng một số kết quả thí nghiệm của Mendel vẫn còn là bí ẩn, vì các nhà khoa học sau này không lặp lại được kết quả của ông. Ronald Fisher, một nhà di truyền học và thống kê học, phân tích số liệu của Mendel cũng nhận xét rằng xác suất mà số liệu thu thập đúng như kết quả của Mendel rất thấp.

Có người cáo buộc rằng Mendel đã sửa số liệu cho phù hợp với lí thuyết của ông (tức là gian lận khoa học), nhưng đó chỉ là ý kiến của một số nhỏ nhà khoa học; phần lớn đều chấp nhận lí thuyết của Mendel đúng.

3. Tác giả cho biết “Một báo cáo năm 1915 của Haldane đã dẫn đến đặt vấn đề về bản đồ di truyền của chuột. Việc này tiến triển rất chậm cho đến mãi 50 năm sau. Những năm đầu thập niên 1980, nhiễm sắc thể chuột được đưa ra với bản đồ của 7 nhiễm sắc thể 45 loci.” Có lẽ tác giả muốn nói đến John Burdon Sanderson Haldane (5/11/1892 – 1/12/1964), thường hay viết là JBS Haldane.

Theo tài liệu tôi có thì năm 1915 là năm ông gia nhập quân đội (thời Thế chiến thứ nhất), ông chưa làm nghiên cứu di truyền học lúc đó. Đến năm 1919 thì ông xuất ngũ, và theo học tại Đại học Oxford từ 1919 đến 1922.

Đóng góp quan trọng nhất của JBS Haldane không liên quan đến bản đồ di truyền, mà là ứng dụng thống kê học trong di truyền, qua một loạt 10 công trình về tiến hóa của gen được công bố liên tục từ 1924 đến 1934. Do những đóng góp này, JBS Haldane được xem là một trong 3 trụ cột của di truyền quần thể học (population genetics), chỉ đứng sau Ronald Fisher và Sewall Wright [2].

Tất cả các nhà khoa học danh tiếng trong di truyền học như Ronald Fisher, Karl Pearson, Francis Galton, JBS Haldane, v.v… đều có những “mặt trái” mà khoa học ngày nay khó chấp nhận.

Trong trường hợp của JBS Haldane, vốn xuất thân trong một gia đình bảo thủ và “đạo cao đức trọng”, ông từng xuất bản (năm 1924) một cuốn sách biện minh và kêu gọi sử dụng hóa học và sinh học trong như là những phương tiện chiến tranh! Là một nhà khoa học từng có thời làm lính, nhưng ông cho rằng chiến tranh hóa học và sinh học là … nhân đạo!

4. Ngoài ra, bài viết cũng có một số thông tin thú vị về lịch sử chuột cần được xem lại. Chẳng hạn như chuột từng được nuôi trong nhà như là gia cầm. Liên quan đến ý này, tác giả viết “Người ta không biết chắc chắn con người bắt đầu nuôi chuột thành vật cưng từ khi nào …”.

Cụm từ “vật cưng” (từ điển Anh – Việt hay dịch) ở đây đúng, nhưng tôi e rằng cách dịch như thế của từ điển chưa hẳn đầy đủ và chính xác. Trong tiếng Anh, chữ pet thường chỉ một con vật nuôi trong nhà để làm cảnh và giải trí. Ở các nước phương Tây, chó và mèo là hai con vật được nuôi dưỡng cho mục tiêu như thế. Do đó, chính xác hơn, chuột từng được nuôi làm vật làm cảnh và giải trí.

Về ý nghĩa của chữ mus cũng có thể bàn thêm. Bài viết cho biết “Con chuột nhắt trong nhà chúng ta có tên loài theo tiếng Latin là ‘Mus usculus’; ‘Mus’ có nghĩa là ‘Mouse-chuột’, và ‘Musculus’ có nghiã là ‘con nhuột nhỏ’ ta gọi là ‘chuột nhắt’.” Xuất phát chữ mus đúng như tác giả mô tả, nhưng nghĩa thì có lẽ hơi khác. Chữ mouse trong tiếng Anh bắt nguồn từ gốc Latin là mus, rồi tiếng Hi Lạp là mys và cuối cùng là du nhập vào tiếng Phạn cổ là mush đều có nghĩa là “ăn cắp” [3].

Chuột là con vật hi sinh nhiều nhất cho con người. Có thể nói rằng hầu hết tất cả các thuốc và thuật điều trị mà con người đang sử dụng đều có sự hi sinh của chuột trước khi áp dụng trên người. Nhưng ngày nay có quá nhiều nghiên cứu vô bổ và chất lượng không cao, nên sự hi sinh của chuột nhiều khi không đem lại lợi ích gì cho y học.

Ngày nay, qua khoa học chúng ta biết rằng chuột là con vật có tri giác và cũng biết đau, cho nên vấn đề y đức về thí nghiệm trên chuột đã được đặt ra và tranh luận nhiều lần. Ở các viện nghiên cứu phương Tây, người ta có có ủy ban y đức để duyệt xét các nghiên cứu liên quan đến chuột, và qui trình nghiên cứu cũng phải tuân thủ theo các thủ tục nghiêm ngặt về đạo đức với chuột.

Nhân năm Mậu Tí, chúng ta cần biết về con vật độc đáo và có ý nghĩa trong văn hóa Việt Nam. Cám ơn tác giả bài viết về chuột dưới cái nhìn của một nhà khoa học.

Theo tôi, chúng ta - con người - phải cám ơn chuột, vì con vật này đã hi sinh quá nhiều cho nghiên cứu khoa học nhằm đem lại hạnh phúc và sức khỏe cho con người. Có thể nói không ngoa rằng một phần lớn của lịch sử y học hiện đại được xây dựng trên con chuột, và không có chuột, chưa chắc chúng ta có tuổi thọ dài như ngày nay.

Chú thích:

[1] Về lịch sử của chuột và thí nghiệm trên chuột có thể đọc cuốn Mouse Genetics của LM Silver, Oxford University Press, New York, 1995.

[2] Về JBS Haldane, có thể tham khảo sơ qua về sự nghiệp của ông tại trong web wikipedia.

[3] Tiểu sử của Mendel có thể xem qua trang web wikipedia, hay đầy đủ hơn trong cuốn Gregor Mendel: Father of Genetics (Great Minds of Science) của Roger Klare và Gregor Mendel, nhà xuất bản Enslow Publishers, 1997.



Bà Huyện Thanh Quan, người đi dọc những Đèo Ngang

Mến chúc các bạn gần xa một năm Mậu Tí nhiều may mắn và thành đạt!

Nhân dịp này, xin mời các bạn đọc một vài hàng về Bà Huyện Thanh Quan. Chắc có lẽ trong chúng ta, những người có chút ít tâm hồn nghệ sĩ trong người, không ai mà không biết đến Bà Huyện Thanh Quan. Hồi còn nhỏ, tức là thời còn ngồi ghế trung học, tôi mê bài “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà …” của bà. Đọc nhiều sách về thơ, nhưng tôi thấy bài sau đây của Đỗ Lai Thúy viết thật hay, nên đem về dán vào blog này để làm lưu niệm, và giới thiệu cùng các bạn.

NVT

====

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/02/768110/

Bà Huyện Thanh Quan là người không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy được cả vẻ đẹp của suy tàn. Điều này thường trực trong thi phẩm đến mức thành ám ảnh. Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phân tâm học gọi là bản năng chết (thanatos).

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

Bà Huyện Thanh Quan

Cảnh Đèo Ngang
1. Năm 1802, sau khi thống nhất cả nước, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị đầu não của đất nước về chính trị và văn hóa. Thậm chí, chữ long trong tên gọi Thăng Long vốn là rồng, biểu tượng vương quyền và lý do chọn đô của Lý Thái Tổ, cũng bị đổi thành chữ long là thịnh.

Sự hạ thấp này hẳn làm đau lòng dân chúng Bắc Hà, nhất là các sĩ phu, những người từng ăn lộc nhà Lê như Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, thầy học của Nguyễn Lý, thân sinh Bà Huyện Thanh Quan. Nỗi đau ấy, về sau, hẳn còn gia tăng khi cố đô Thanh Long bị đổi thành tỉnh Hà Nội vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831): Kinh thành ngày ấy tỉnh bây giờ!

Năm 1813, trên đường đi sứ Trung Hoa, qua Thăng Long, chứng kiến những đổi thay nơi mình đã từng sống suốt tuổi hoa niên, Nguyễn Du cảm khái:

Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một ố cung
(Nhà lớn nghìn năm thành đường cái
Một mảnh tân thành mất cung xưa)

Nhìn Thăng Long bây giờ, thi nhân nhớ về một Thăng Long ngày xưa. Một nỗi nhớ với từng chi tiết cụ thể, đối lập nhau như nhà/đường, thành/cung, mới/xưa. Và nỗi nhớ càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì càng chứng tỏ nỗi đau mất biểu tượng ấy lớn bấy nhiêu. Đó là nguồn gốc và cũng là nội dung của một tâm thức chung về sau được gọi là tâm sự hoài Lê mà một lớp người đã từng sống với hoàng triều đeo đẳng.

2. Bà Huyện Thanh Quan (1) là người Thăng Long chính gốc, dù bản thân chưa từng sống với nhà Lê, nhưng hít thở cái tâm thức chung ấy của thời đại, hẳn cũng không tránh khỏi cái tâm sự hoài Lê. Một lần, Qua chùa Trấn Bắc (2), thi nhân thấy:

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau
Một tòa sen rớt hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi như rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu. (3)

Trấn Bắc là một hành cung cũ đời Hậu Lê, xưa chúa Trịnh thường đem văn võ bá quan, hoặc cung nữ, tới thưởng ngoạn cảnh Hồ Tây và bày những trò vui nhộn. Vậy mà nay đã trở nên tiêu điều, vắng vẻ, cỏ dãi dầu. Từ đó, thi nhân chạnh nghĩ về nhà Lê Trịnh, như một niềm cố quốc. Chữ chạnh ở đây chỉ là nhân mà nghĩ, do điều gì đó gợi ra mà nghĩ chứ không phải lúc nào cũng đau đáu như những cựu thần nhà Lê. Hơn nữa, thi nhân cũng không nghĩ về chính cái nước cũ ấy, mà chỉ nghĩ đến nó như một niềm, một tâm sự.

Đọc thơ Thanh Quan, nhiều người thắc mắc, sao thi nhân đang sống trên đất nước mình mà lại luôn luôn nói về cố quốc ("Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau"), luôn nhớ nước ("Nhớ nước đau lòng con quốc quốc")? Có vẻ như có một mâu thuẫn logic nào đó. Thực ra, về mặt xã hội, Bắc Hà (Đàng Ngoài) luôn được coi như một "nước" so với Nam Hà (Đàng Trong) (Xem Hoàng Lê nhất thống chí). Hơn nữa, về mặt tâm lý, cùng một thực tại mà không cùng một khoảnh thời gian thì thực tại đó chưa hẳn đã như nhau. Bởi thế, Nguyễn Bính mới "ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên".

Và, cũng bởi thế, Bà Huyện Thanh Quan nhìn hiện tại mà nhớ đến quá khứ. Thậm chí, nỗi nhớ làm con người như rơi vào ảo giác. Thi nhân thấy quá khứ: một toà sen thơm hơi hương vua còn rớt và năm thức mây lưu lại nếp áo chầu. Sự hoài niệm đã xáo trộn thời gian, biến quá khứ thành hiện tại. Đây là một nét đậm, một nhịp mạnh trong thơ Thanh Quan. Nó không chỉ tạo ra một cảm hứng thế sự, mà còn tạo ra cái nhìn thế giới và cái nhìn nghệ thuật trong thơ bà.

Bà Huyện Thanh Quan sống trong một thời đại (lớn) đầy biến động. Nhà Lê/Mạc, chúa Trịnh/Nguyễn, Tây Sơn/Nguyễn Ánh liên tiếp xuất hiện và liên tiếp sụp đổ. Nguyễn Du, một chứng nhân của thời đại ấy, đã phải thốt lên: "Cổ kim bất kiến thiên niên quốc" (Xưa nay chưa từng thấy triều đại nào tồn tại nghìn năm cả). Bà Huyện Thanh Quan cũng sống trong một không gian nhiều đổi thay. Đó là Thăng Long. Theo quy luật động học văn hóa, trung tâm bao giờ cũng thay đổi nhanh hơn và nhiều hơn ngoại biên. Hơn nữa, ở Việt Nam, mỗi triều đại mới lên ngôi thường phá hủy những công trình của triều đại trước để làm lại từ đầu. Trong một không - thời gian biến dịch như vậy, từ một cảnh quan cụ thể là chùa Trấn Bắc, Bà Huyện Thanh quan dễ khái quát lên thành một quy luật xã hội:

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Quy luật này không chỉ chi phối một cảnh quan nào đó của Thăng Long, mà Toàn bộ Thăng Long và qua đó toàn bộ non sông đất nước. Đây là sự thăng hoa của thơ Thanh Quan và càng ở những bài thơ sau thì sự thăng hoa này càng lớn. Vì thế, trong Thăng Long thành hoài cổ, tâm sự hoài Lê trong Bà Huyện Thanh Quan đã trừu tượng hóa thêm một bậc nữa:

Tạo hóa gây chi cuộc Lý Trường?
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Thi nhân trách con tạo (gây chi) biến cuộc đời thành sàn diễn của những đổi thay. Thoạt tiên vẫn những đối lập xưa/nay ấy: Xưa là lối xe ngựa đi về nhộn nhịp thì nay chỉ có cỏ thu phủ dày; xưa là lâu đài đường bệ mà nay chỉ còn trơ lại nền cũ dưới ánh chiều tà. Rồi xuất hiện thêm một đối lập khác nữa tự nhiên/nhân tạo. Ngày tháng (tuế nguyệt) trôi đi kéo theo những đổi thay (tang thương), nhưng đó là những đổi thay của thế giới nhân tạo, thế giới người, còn tự nhiên (đá, nước) thì vẫn bất biến (trơ gan, cau mặt). Soi vào tấm gương vĩnh hằng của tự nhiên, đời sống nhân tạo từ xưa đến nay (kim cổ) càng trở nên giả tạm và thoáng chốc. Con người đối diện với cảnh tượng này (cảnh đấy, người đây) được thức nhận, tỉnh táo hơn so với con người ảo giác ở chùa Trấn Bắc. Nhưng, vì thế, cũng đau khổ hơn.Và cô đơn hơn.

Đến đây, có thể nói, cái chữ tâm sự hoài Lê ở Bà Huyện Thanh Quan, nếu có thì cũng đã dần dần trở nên rỗng nghĩa, mất nội dung cụ thể. Thăng Long thời Lê chỉ còn là một biểu tượng của một quá khứ vàng son đã một đi không trở lại. Thậm chí chỉ còn là biểu tượng của một dĩ vãng chung chung một hoài niệm, một nỗi nhớ về nỗi nhớ. Nỗi nhớ cấp hai này tạo thành nội dung sống của Bà Huyện Thanh Quan.

3. Được gọi vào Huế làm Cung Trung Giáo Tập, Bà Huyện Thanh Quan giã từ Thăng Long. Những tưởng rằng sự thay đổi không gian sẽ làm thay đổi thời gian. Van lạy không gian xóa những ngày (Hàn Mạc Tử). Nhưng hóa ra phong cảnh không lay chuyển được tâm cảnh, mà, ngược lại, còn bị tâm cảnh nhuộm màu. Điều này có thể thấy rõ khi thi nhân Qua Đèo Ngang:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác ven sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Cảnh Đèo Ngang thật khác xa với cảnh Thăng Long. Nhiều thiên nhiên hơn, ít nhân tạo hơn. Nhìn gần, thi nhân thấy thiên nhiên cũng chen chúc. Một mặt, cái hữu sinh (cỏ cây) lấn át cái vô sinh (đá), mặt khác, trong giới, hữu sinh, cái thô lậu hơn (lá) lại lấn át cái tinh tế hơn (hoa). Còn nhìn xa: vạn vật thu nhỏ như trong hòn non bộ. Con người thì nhỏ nhoi, cực nhọc (Lom khom dưới núi tiều vài chú), nơi "vui như chợ", "đông như chợ" thì cũng lại thưa thớt (Lác đác ven sông chợ mấy nhà). Thật khác xa với cảnh chen chúc của thiên nhiên. Thực ra, cảnh Đèo Ngang rất hùng vĩ, nhưng trong con mắt tâm trạng của nhà thơ đã trở thành cảnh mọn, thậm chí tiêu điều. Chẳng khác gì sự tiêu điều của Thăng Long. Nội tâm đã chi phối ngoại cảnh.

Đứng trên đỉnh Đèo Ngang, nghe tiếng cuốc kêu, Bà Huyện Thanh Quan nhớ đến nước; nghe chim da da (đa đa, bát cát quả cà, bắt cô trói cột...) kêu, thi nhân thấy thương nhà. Niềm hoài cổ luôn chờ chực sẵn, còn sự đồng âm kia (cuốc là chim và quốc là nước, da da là chim và gia là nhà) chỉ là một cái cớ. Đến đây, thiên nhiên vốn chen chúc tạo thành một hợp thể ở chân đèo, rã ra thành những yếu tố riêng rẽ: trời, non, nước. Và con người cũng trở thành một yếu tố đơn lẻ, ngậm một mảnh tình riêng mà chỉ biết chia sẻ với chính mình (ta với ta).

Bà Huyện Thanh Quan, như vậy, đã vượt qua được một Đèo Ngang địa lý mà không qua nổi một Đèo Ngang tâm lý. Tâm tình hoài cổ vẫn là hành trang của bà trên đường vào Huế. Thậm chí, hành trang ấy càng đi xa càng trở thành một gánh nặng. Nỗi nhớ Thăng Long, nhớ về nỗi nhớ Thăng Long đè nặng tâm hồn người lữ thứ, trở thành nỗi nhớ nhà mỗi khi chiều về trên con đường thiên lý:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

Chiều hôm nhớ nhà là một tâm trạng cố hữu, thường hằng của động vật, của con người. Mỗi khi ngày hết, mọi sinh linh đều tìm về nhà, tổ ấm, chốn nương thân để được che chở nghỉ ngơi. Bằng những động tác dứt khoát, sảng khoái (gác mái, gõ sừng), ngư ông và mục tử ra về. Và tuy là bến xa (viễn phố) và thôn lẻ (cô thôn), nhưng họ còn có nơi để mà về. Còn con người lữ thứ kia, giống như con chim bạt gió, mặc dù đang dồn bước nhưng không có nhà để mà về. Chỉ có sự nhớ nhà, sự nhớ về sự nhớ nhà. Bởi thế, đường đi không bao giờ kết thúc. Bởi thế lữ khách trở thành một trường lữ, một người đi.

4. Nếu lâu đài ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương được xây dựng bởi những động từ chỉ hành động, tính từ chỉ phẩm chất, và trạng từ chỉ cách thức và mức độ thì tháp (ngà) thơ Bà Huyện Thanh Quan lại chỉ được kiến tạo bằng những danh từ mà phần lớn lại là danh từ Hán Việt: tạo hóa, hý trường, tinh sương, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường, cố quốc, phế hưng, hoàng hôn, ngư ông, mục tử, viễn phố, cô thôn, chương đài, lữ thứ, khoáng dã, bình sa... Nhiều câu thơ của Thanh Quan dường như chỉ là sự ghép lại của những danh từ:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Danh từ chỉ sự vật ở cấp độ khái niệm. (Ví dụ, nói đến từ bàn, ta hình dung đó là một mặt phẳng, có chân, được dùng để làm gì đó. Còn nếu biết cái bàn đó như thế nào thì phải thêm vào những định ngữ như cái bàn vuông, màu xanh, bằng gỗ, để viết...). Làm thơ bằng những danh từ, nghĩa là Bà Huyện nhìn sự vật ở những bản chất của nó, bỏ qua tất cả những gì là cụ thể, sông động. Một người như thế là giữ một khoảng cách với cuộc sống, xa lánh cuộc đời, lẩn trốn hiện tại. Khoảng cách đó ở nhà thơ còn được nhân lên một lần nữa, bởi các danh từ của Thanh Quan toàn là danh từ Hán Việt.

Cùng chỉ một loài thực vật, nhưng cỏ (thuần Việt) và thảo (Hán Việt) gieo vào tâm trí bạn đọc những cảm xúc và tưởng tượng khác nhau. Cỏ bao giờ cũng gợi nhắc đến một thứ cỏ cụ thể nào đó. Nó đánh thức trong ta những kỷ niệm. Còn thảo thì chỉ là một âm vang xa xôi, trang trọng và nhoè nghĩa. Như vậy, sự khác nhau giữa từ thuần Việt và từ Hán Việt không đơn thuần ở sắc thái ngữ nghĩa, ở độ âm vang của con chữ, mà còn ở một cách nhìn.

Bà Huyện Thanh Quan thường nhìn cảnh vật vào mùa thu: Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, bằng tấm-lòng-con-mắt-thu: Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu. Thậm chí, ngay cả khi thi phẩm không có chữ thu nào, thì bạn đọc vẫn cảm nhận được cảnh ấy, vật ấy đang thu: cỏ dãi dầu, toà sen rớt, thức mây phong, ngàn mai gió cuốn, dặm liễu sương sa, còi mục thét trăng, chài ngư tung gió... Một hồn thu ngấm trong từng con chữ phả vào hồn người đọc: Hơi thu lạnh lẽo khí thu loà (Đỗ Phủ).

Cảnh thu ấy còn được thi nhân nhìn vào buổi chiều, trong bóng chiều tà. Trong 5 bài thơ chắc chắn là của Bà Huyện Thanh Quan thì có đến 4 bài có những từ khác nhau chỉ bóng chiều tà:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
(Qua Đèo Ngang)

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
(Thăng Long thành hoài cổ)

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
(Chiều hôm nhớ nhà)

Vàng tỏa non tây bóng ác tà
(Nhớ nhà)

Với tần số xuất hiện cao như vậy, lại ở vào một vị trí đặc biệt (hầu hết đều ở cuối câu mở đầu thi phẩm), có thể nói, bóng chiều tà chính là từ-chìa khóa để mở vào những tòa lâu đài thơ Thanh Quan. Bóng chiều tà chính là lăng kính để thi nhân nhìn cuộc đời. Dưới bóng chiều tà, cảnh vật mùa thu vốn đã tiêu điều đổ nát càng thêm đổ nát tiêu điều. Nhưng cũng trong ánh chiều tà ấy, sự vật lại bừng sáng lên lần cuối cùng cái huy hoàng của tàn tạ, để rồi vĩnh viễn lịm tắt.

Bà Huyện Thanh Quan không chỉ giữ một khoảng cách với cuộc đời, mà còn giữ khoảng cách với cả chính mình. Khi trên đỉnh Đèo Ngang, thi nhân nói với ta với ta là đã có sự phân thân. Ta tự chia ta thành một cái ta khác để chia sẻ mảnh tình riêng cho bớt cô đơn. Nhưng dẫu sao chữ ta này cũng vẫn là nhân xưng ngôi thứ nhất. Tuy nhiên, điều này chỉ diễn ra một lần, khi cảm xúc của thi nhân lên đến đỉnh điểm. Còn ở tất cả những trường hợp khác, Bà Huyện Thanh Quan đều tự gọi mình ở ngôi thứ ba số ít. Một cách tự xa lạ hóa mình. Đó là người ("Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường"); "Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ"), kẻ ("Mấy kẻ tình chung có thấu là...", đặc biệt là khách ("Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu"; "Dặm liễu sương sa khách bước dồn"; "Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà").

Tự nhận mình là khách, Bà Huyện Thanh Quan không chỉ gián cách mình với mình, mà, quan trọng hơn, gián cách mình với cuộc đời. Bà khẳng định mình chỉ là một người khách đến với cuộc đời này. Đến rồi đi không có gắn bó gì hết. Nhất là ở đây và bây giờ. Điều này còn được thể hiện rõ một lần nữa qua nhan đề các bài thơ của thi nhân. Hai nhan đề có từ qua (Qua Đèo Ngang, Qua chùa Trấn Bắc), hai có từ nhớ (Chiều hôm nhớ nhà, Nhớ nhà), một có từ hoài (cổ), cũng là nhớ (Thăng Long thành hoài cổ). Như vậy, khoảng cách giữa thi nhân và cuộc đời được thiết lập ở cả ba cạnh khía: qua : không gian; hoài cổ: thời gian và nhớ nhà: tâm lý. Nghĩa là, người lữ khách ấy chỉ có đi qua cuộc đời, không ghé lại đây để rồi chỉ có nhớ, hoài, nhớ hoài, hoài nhớ.

5.

Mùa thu là mùa tàn của một năm
Chiều tà là giờ tàn của một ngày.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan là thơ mùa thu và chiều tà. Thời gian tàn tạ ấy lại gắn với không gian đổ nát: một tòa thành cổ, một ngôi chùa hoang vắng, lối xưa nền cũ của những lâu đài cung điện, một cảnh đèo heo hút, hoang vu, một bến sông xa, một bãi cát rộng, một con đường... Cảnh vật trong không - thời gian ấy đều hướng tới một sự suy tàn, tiêu vong. Mặc dù buồn về những cảnh tượng như vậy, nhưng thi nhân vẫn thấy được vẻ đẹp của sự tiêu vong. Thậm chí, càng tàn tạ càng bừng lên một vẻ đẹp khó hiểu. Tâm trạng này cũng giống như cái nhìn của Tản Đà sau này: "Lá sen tàn tạ trong đầm/Lặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa" (Cảm thu tiễn thu). Tâm lý như vậy hẳn ẩn sâu bên trong một xung năng vô thức nào đó.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan còn là sự lặp đi lặp lại dài dài những vấn đề tư tưởng nghệ thuật ở cả phương diện vĩ mô lẫn phương diện vi mô. Trước hết là sự trùng lặp về chủ đề: cả 5 bài thơ đều là sự hoài niệm quá khứ. Cảnh tượng, phong cảnh đều là mùa thu và chiều tà. Tâm cảnh đều là sự nhớ nước, thương nhà. Nhân vật trữ tình bao giờ cũng là người đi. Sau đó là sự lặp lại của từ ngữ như thu, bóng xế tà, kim cổ (gương cũ soi kim cổ chuông hồi kim cổ), cỏ (cỏ dãi dầu; cỏ cây chen đá)...

Đặc biệt là sự lặp lại với tần số cao những từ chỉ tâm trạng của tác giả: niềm cố quốc, nhớ nước, thương nhà, nỗi hàn ôn, kẻ tình chung, mảnh tình riêng... Như vậy, Bà Huyện Thanh Quan là người không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy được cả vẻ đẹp của suy tàn. Điều này thường trực trong thi phẩm đến mức thành ám ảnh. Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phân tâm học gọi là bản năng chết (thanatos).

Đến đây, người ta bỗng thấy ý nghĩa sâu xa, nhiều tầng lớp trong nỗi buồn, sự hoài niệm quá khứ, sự cách vời cuộc sống hiện tại của Bà Huyện Thanh Quan. Căn cốt của nỗi buồn đó là sự cuốn hút của thi nhân về phía thanatos, sự nghỉ ngơi vĩnh cửu, sự yên tĩnh đời đời. Còn nỗi buồn về thế sự đổi thay, mọi thứ đều giả tạo, mong manh, thoáng chốc chỉ là "bản chất hàng hai", nói theo ngôn từ của triết gia Trần Đức Thảo. Như vậy, cái "tâm sự hoài Lê" kia chỉ là tấm áo khoác, là duyên cớ, hay "bản chất hàng ba", cái trên cùng, bề mặt.

6. Như vậy, với sự hướng về bản năng chết, Thanh Quan càng là một đối tượng của Hồ Xuân Hương. Sự đối trọng trên mọi cấp độ. Thơ Xuân Hương, như đã nói, được kiến tạo bằng những động từ chỉ hành động, thậm chí hành động cơ bản nhất của con người như đạp, móc, xuyên..., bằng tính từ chỉ phẩm chất, trạng từ chỉ cách thức và mức độ cùng cực. Hồ Xuân Hương, bởi thế, là người áp sát với đời sống, người không khoảng cách với cuộc đời, người nhìn cuộc đời trong sự chuyển động, sự vận động không ngừng của nó, trong màu sắc, hình khối, kích thước, âm thanh của nó. Đó là một thi nhân yêu sự sống, tôn sùng sự sống. Hồ Xuân Hương là người có một bản năng sống (éros) mạnh mẽ.

Hồ Xuân Hương, bởi thế, không chịu nằm yên trong khuôn khổ thơ Đường, một thể loại thơ trang nghiêm, hài hòa đến tuyệt đối. Thi nhân đưa vào thơ mình vô vàn những chi tiết tỉ mỉ, cụ thể, thậm chí sống sít của đời sống, những từ láy đôi láy ba hết sức thừa thãi, những từ vận hiểm hóc, thách đố, đặc biệt những cặp câu thực và luận, mặc dù đối vần rất chỉnh, nhưng ít nhiều đã ngả sang đối xứng để ám chỉ những chuyện tính giao nam nữ như:

Trai du gốc hạc khom khom cột
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
(Đánh đu)

Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đêm ngang thich thích mau
(Dệt cửi)

Toàn bộ thơ Hồ Xuân Hương nhìn chung, vừa tuân theo những nguyên tắc, luật lệ của thơ Đường vừa chống lại nó. Bà đã phá vở tính đơn giản, kiệm từ, trang trọng cách vời của nó. Tuy nhiên, đó chỉ là sự phá vỡ cái hài hòa cục bộ, tức nội bộ bài thơ, để sau đó lại thiết lập nên một hài hòa mới, rộng hơn, giữa bản thân bài thơ và vũ trụ quanh bài thơ đó. Vì thế, Hồ Xuân Hương đã sáng tạo ra một thứ thơ Đường luật mới.

Đó là tinh thần éros.

7. Bà Huyện Thanh Quan, ngược lại, vẫn trung thành với thể thơ luật Đường chính thống. Thơ Thanh Quan được làm bằng những danh từ, lại là danh từ Hán Việt, nên tạo ra được một sự sang trọng, cách vời, thấm chí uy nghi đường bệ. Thơ bà hoàn toàn không có các nối từ, "từ nước", mà toàn những từ "đặc". Phép tính lược được vận dụng đến mức tối đa. Không gian và thời gian thống nhất với nhau. Con người và vũ trụ thống nhất với nhau. Mỗi bài thơ là một thế giới thống nhất, biệt lập, tự trị. Năm bài thơ cũng tạo thành một thế giới thống nhất biệt lập và tự trị. Một Ngũ Hành Sơn trên cánh đồng thơ Việt.

Thơ Đường Bà Huyện Thanh Quan, điều quan trọng là vẫn giữ được hồn Đường. Đây là điều ít nhà thơ đạt được, kể cả những thi nhân Trung Hoa sau Đường. Bởi vậy, nếu nói về việc làm thơ nôm Đường chuẩn nhất, Đường nhất ở Việt Nam thì thứ nhất phải kể đến Bà Huyện Thanh Quan. Sự Việt hóa thơ Đường ở thi nhân, nếu có, chính là việc nhà thơ kín đáo để lộ nữ tính của mình vào bài thơ. Thi nhân nói nhiều đến mai, liễu vốn là những từ chỉ phụ nữ trong thi liệu Đông phương.

Nguyễn Du đã từng khen chị em Thuý Kiều là mai cốt cách tuyết tinh thần, rồi Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh. Đặc biệt hơn, Bà Huyện Thanh Quan khi dùng chữ kẻ chốn Chương Đài thì đã nói về liễu Chương Đài, về người phụ nữ. Ngoài ra, thơ Thanh Quan cũng nói nhiều đến cỏ, thứ thực vật rất gần với thân phận phụ nữ. Chính nữ tính này của thi nhân đã làm mềm hóa, thân mật hóa thể thơ Đường luật vốn trang nghiêm, đôi lúc đến lạnh lùng.

Nét riêng nữa của thơ Đường Thanh Quan là xuất hiện thực hiện người lữ thứ. Người-đi-đường-chứng-kiến kể lại những "điều trông thấy" của mình, cảm xúc của mình, nỗi buồn nhớ của mình bằng một giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, thỉnh thoảng lại xen tiếng thở dài, nhưng cũng không hiếm khi có sự nồng ấm của thân xác (như khi gọi niềm tâm sự của mình là nỗi hàn ôn!). Thơ Đường, do ảnh hưởng của Thiền học, vốn là một thứ mỹ học tĩnh. Nhưng với sự xuất hiện con người lữ thứ, thơ Đường Thanh Quan đã bắt đầu có sự chuyển dịch, tuy còn rụt rè về phía động. Đó là ảnh xạ của ý thức cá nhân đã bắt đầu thức tỉnh trong lớp người tài tử đương thời.

Tuy số lượng bài để lại không nhiều, nhưng, có thể nói, thơ Thanh Quan là những dấu son của thơ Việt Nam trung đại. Nghĩ đến Bà Huyện Thanh Quan tôi cứ nghĩ tới bức chân dung Người đàn bà xa lạ của họa sĩ Nga Kramskoi; ngồi bất động trên xe ngựa và sau lưng là kinh thành Peterburg mù sương. Cũng đẹp một vẻ đẹp sang trọng, đài các và cách vời như thế. Còn nghĩ đến thơ bà, tôi mường tượng đến một chiều thu, khi mặt trời đã tắt, nhưng còn hắt lên nền trời những dải sáng vàng rực, thuần khiết, và người thợ trời nào đã cắt dải sáng đó thành những bài thơ Bà Huyện Thanh Quan.

Tháng 9/2007

  • Đỗ Lai Thúy

____________________

Chú thích:

1. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuật, cạnh Hồ Tây Hà Nội bây giờ. Không rõ năm sinh và năm mất. Nhưng căn cứ vào năm sinh và năm mất của chồng bà là Lưu Nguyên Ôn 1804 - 1847 thì có thể đoán chắc một điều là bà sống vào thời Thăng Long nhà Nguyễn, thậm chí khi Thăng Long đã đổi thành tỉnh Hà Nội.

2. Thơ Bà Huyện Thanh Quan còn lại không nhiều. Theo nhiều học giả thì gồm những bài sau.

1. Thăng long thành hoài cổ
2. Qua chùa Trấn Bắc
3. Qua Đèo Ngang
4. Chiều hôm nhớ nhà
5. Nhớ nhà
6. Tức cảnh chiều thu
7. Cảnh đền Trấn Võ
8. Cảnh Hương sơn

Theo chúng tôi thì 4 bài đầu là hoàn toàn chính xác của Bà Huyện Thanh Quan bởi có sự thống nhất từ tư tưởng đến phong cách nghệ thuật, bài thứ 5, Nhớ nhà, như là một dị bản của Chiều hôm nhớ nhà, hai bài 6, 7, xét từ phong cách thì không giống phong cách Bà Huyện Thanh Quan mà giống phong cách Hồ Xuân Hương nên chúng tôi cho là của Bà Chúa Thơ Nôm (xem thêm chuyên luận Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực của chúng tôi), cuối cùng bài 8 cũng không giống với tư tưởng và phong cách Bà Huyện Thanh Quan.

3. Câu này nhiều bản chép là Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu, nhưng chúng ta thấy nó mang không khí của Hồ Xuân Hương, còn Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu thì không chỉ hợp với phong khí của bài thơ mà còn hợp với phong cách của Bà Huyện Thanh Quan.