Wednesday, April 30, 2008

30/4 và vài suy nghĩ mọn

Hôm qua tôi được mời đi “nói chuyện” trong một hội nghị do Bộ Y tế Úc tổ chức ở Canberra, nên không nhớ ngày đó là ngày 30/4/08. Thời gian đi thật nhanh: mới đó mà đã 33 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh. Có một bạn ở Hà Nội (còn trẻ thôi, mới 36 tuổi, tức chỉ 3 tuổi vào năm 1975) viết thư cho tôi như sau:

Với em, 30/4 là ngày đánh dấu mốc kết thúc chiến tranh. Ký ức về chiến tranh của em là một màn đêm đen đặc bao trùm tất cả, như muốn dìm ta xuống một vực sâu ngột ngạt. Tất cả những gì em phải làm là ngoi lên để thở. Theo lời kể của mẹ em, khi em mới được 1 tháng tuổi, xảy ra vụ máy bay B52 của Hoa Kỳ ném bom rải thảm Hà Nội. Nhà em chỉ cách phố Khâm Thiên vài chục mét, đúng ra là cách căn nhà bị trúng bom, khiến cả gia đình đang quây quần bên mâm cơm đều bị chết, nay dựng tượng đài chứng tích chiến tranh, chừng 500m. Mẹ đưa em đi sơ tán. Trong đêm, máy bay quần thảo trên bầu trời, không ai dám thắp đèn vì sợ bị ném bom, nhưng em thì thật tai ngược vì khóc ngằn ngặt, không sao dỗ nổi, không ai dỗ được, chỉ khi thắp đèn lên mới nín. Mọi người vừa sợ, vừa thương khi thấy hai mắt em thao láo nhìn đèn, tươi tỉnh như chẳng có chuyện gì xảy ra.”

Tôi cũng nghĩ ngày đó đánh dấu thời điểm hết chiến tranh, đất nước thống nhất, ai cũng vui mừng và tràn trề hi vọng cho tương lai. Tôi cũng vậy. Nhưng những gì xảy ra sau đó làm cho nhiều, rất nhiều, người buồn, thậm chí căm hận. Và hận thù đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở một bộ phận cộng đồng người Việt hải ngoại. Đó là sự thật, dù báo chí trong nước không muốn nhắc đến.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói [đại khái] rằng khi chiến tranh chấm dứt, có 50% người vui nhưng cũng có 50% người buồn. Chính xác như thế. Những gì xảy ra sau năm 1975 ở trong Nam càng làm cho con số 50% thành 90% hay thậm chí cao hơn. Miền Nam chưa bao giờ “ăn độn” nhưng phải ăn độn một thời gian. Rồi nạn kì thị triền miên (đau lòng!) đến nỗi quá nhiều người (trong đó có tôi) bỏ nước ra đi. Lúc đó người ta gọi những người như tôi là “phản quốc” này nọ. Kinh thật! Nói như thế để thấy một thời đen tối.

Không ai bước vào một dòng sông 2 lần. Tình thế thay đổi, và lòng người cũng đổi thay. Tôi về thăm quê lần đầu năm 1993, lúc đó quê mình còn nghèo lắm và mới chỉ bắt đầu xây dựng lại sau một thời gian đen tối. Nhưng ngày nay thì quê tôi đã có nhiều người giàu (thậm chí rất giàu). Từ làng quê ra thị xã (nay là thành phố rồi) chỉ tốn có 25 phút, chứ đâu phải cả 3 giờ như hồi xửa hồi xưa! Tôi hơi lạc đề rồi ...

Hôm nay tôi chỉ muốn giới thiệu một số bài viết về ngày 30/4 đáng đọc.

Dương Văn Minh và Tôi (chuyện ngày 30/4/1975) (“tôi” đây là Nguyễn Hữu Thái chứ không phải tôi. Bài rất đáng đọc nếu ai quan tâm đến lịch sử).

Nội các Sài Gòn trong ngày đầu giải phóng miền Nam

Phục hồi xe Jeep đưa tổng thống Dương Văn Minh đi tuyên bố đầu hàng

30/4 và Câu chuyện người “ra đi”

Ngày 30/4 qua báo Mĩ

NVT

Dương Văn Minh và Tôi (chuyện ngày 30/4/1975)

Đây là bài viết của Nguyễn Hữu Thái. Anh là kiến trúc sư, từng có mặt và chứng kiến những giây phút lịch sử ngày 30/4/1975. Sau 1975 anh theo gia đình định cư ở Canada, nhưng nay thì anh đã về VN ở luôn. Tôi có vinh hạnh biết anh, một người tôi rất kính phục.
Bài này đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay số tháng 3/2008.
NVT

===

Bản thân tôi đã từng gặp gỡ tướng Dương Văn Minh vào nhiều thời điểm và tình huống lịch sử khác nhau trong những năm 50-70 của thế kỷ trước. Thời học sinh năm 1955, lần đầu tôi nhìn thấy ông như người hùng diệt Bình Xuyên. Năm 1963 làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, tôi có dịp tiếp cận nhiều lần với Trung tướng Dương Văn Minh, Chủ tịch “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Năm 1971 tôi ra tranh cử Quốc hội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) dưới chiêu bài hòa bình hòa giải dân tộc trong nhóm Dương Văn Minh. Vào ngày lịch sử 30/4/1975, chính tôi là người giới thiệu lời đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chế độ VNCH trên đài phát thanh Sài Gòn.

Người hùng lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm 1963

Lần đầu tiên nhìn thấy tướng Dương Văn Minh rất trẻ ở tuổi chưa tới 40 là vào năm 1955 khi tôi còn là một học sinh trường Taberd Sài Gòn. Vị Đại tá mới vinh thăng Thiếu tướng Dương Văn Minh oai phong dẫn đầu đoàn quân chiến thắng quân Bình Xuyên của Bảy Viễn từ Rừng Sát quay về, trong cuộc duyệt binh lớn trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi) vào những ngày đầu chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Bẳng đi một thời gian không nghe nhắc đến tên ông. Tên tuổi Dương Văn Minh bỗng lại nổi lên như cồn vào năm 1963 khi ông lãnh đạo “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Báo chí phương Tây thường gọi ông là “Big Minh” (Minh Lớn). Tuy vóc dáng dềnh dàng rất nhà binh, ông là một Phật tử có tâm, ăn nói điềm đạm, ôn tồn và chất phát kiểu một “bon papa” (người cha hiền lành dễ chịu).

Ông sinh năm 1916 tại Mỹ Tho, đang là sinh viên trường thuốc, thì bị gọi thi hành nghĩa vụ quân sự vào hàng sĩ quan trừ bị quân đội Pháp khi nổ ra Thế chiến II. Có lẽ ông không đồng chính kiến với người em đi theo Việt Minh chống Pháp vì quan niệm rằng Việt Nam có thể được trao trả độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Vào năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm sử dụng ông để diệt các nhóm chống đối vũ trang Bình Xuyên và giáo phái ly khai ở miền Tây Nam Bộ.

E ngại ảnh hưởng của ông quá lớn, Ngô Đình Diệm không dám giao ông chức vụ gì quan trọng, chỉ cử ông sang Mỹ học một khóa tham mưu cao cấp rồi phong quân hàm trung tướng, giữ một chức vụ hữu danh vô thực “Cố vấn quân sự của Tổng thống”, ngồi chơi xơi nước!

Tướng Dương Văn Minh ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, 1963

Tôi được tập thể sinh viên Sài Gòn đề cử làm chủ tịch đầu tiên ngay sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Chính Hội đồng Quân nhân Cách mạng lúc đó đã ký giấy giao tòa nhà số 4 đường Duy Tân (nay là Nhà Văn hóa Thanh niên đường Phạm Ngọc Thạch), nguyên là trụ sở Thanh niên Cộng hòa của Ngô Đình Nhu cho sinh viên làm nơi hoạt động và tôi là người đích thân đứng ra nhận lãnh.

Tuy vậy, trong nội bộ tướng lãnh lại sớm lục đục nhau. Chỉ ba tháng sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, vào đầu năm 1964, Trung tướng Nguyễn Khánh từ Quân đoàn II ở Tây Nguyên bay về hợp cùng nhóm Đại Việt thân Mỹ làm cuộc “Chỉnh lý” (đảo chính êm thắm) bắt giữ hầu hết những người chung quanh tướng Minh. Họ tố cáo nhóm ông thân Pháp và âm mưu đưa miền Nam Việt Nam vào con đường trung lập do Tổng thống De Gaulle chủ xướng, tuy họ vẫn phải giữ ông lại ngôi vị bù nhìn Chủ tịch Hội đồng Quân nhân (tương đương vai trò Quốc trường) do uy tín ông còn quá lớn trong nhân dân và quân đội

Tết năm đó, tôi đại diện sinh viên Sài Gòn dự buổi tiếp tân Tất niên tại dinh Gia Long của Quốc trưởng. Trung tướng Minh chỉ làm vì, quyền hành thực sự nằm trong tay tướng Nguyễn Khánh và nhóm tướng lãnh trẻ, người Mỹ gọi là “Junta”.

Cuộc đảo chính của tướng Khánh mới xảy ra, nên cuộc vui cũng không trọn. Các tướng lãnh, chính khách, đại diện các đoàn thể nhân dân, tôn giáo đều có mặt. Lần đầu tiên tôi gặp mặt hầu hết các tướng lãnh VNCH. Tôi chỉ góp chuyện xã giao với tướng Minh và các nhân vật đang lên vào lúc đó là các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm.

Tôi còn nhớ Nguyễn Văn Thiệu mới được vinh thăng thiếu tướng và đảm trách chức vụ tham mưu trưởng Quân lực VNCH, được tướng Minh nhắc nhở, nửa đùa nửa thật: « Hãy coi chừng! Việt Cộng hoạt động dữ lắm trong mấy ngày Tết! » Cuộc họp mặt cuối năm diễn ra khá hình thức và buồn tẻ. Tôi đứng chụp hình chung với một số tướng lãnh và Tổng giám mục Công giáo Nguyễn Văn Bình rồi rời dinh Gia Long, trong lòng không vui.

Do công tác, sinh viên chúng tôi lại có dịp hội kiến Quốc trưởng Dương Văn Minh. Nhân phút nhàn đàm về viễn tượng chiến tranh và hòa bình, tướng Minh tâm tình: “...Bộ các em không muốn nước Việt Nam mình trung lập như Thụy Sĩ hay sao?” Có lẽ do những ý hướng hòa bình, trung lập kiểu đó mà tướng Minh từ năm 1964 đã sớm bị nhóm tướng Nguyễn Khánh cùng người Mỹ chủ trương leo thang chiến tranh đẩy ra khỏi chính trường miền Nam và bị lưu đày nhiều năm ở nước ngoài.

Vào thời đó, tôi không biết đích xác sự việc bên trong ra sao, chỉ nghe tin đồn là Dương Văn Nhựt, người em ruột tướng Minh theo Việt Minh tập kết ra Bắc nay quay vào Nam bắt liên lạc và tác động tướng Minh ngả về chủ trương trung lập hóa miền Nam để chấm dứt chiến tranh.

Con đường hòa giải dân tộc Phật giáo

Sau vụ chính biến Phật giáo Miền Trung đấu tranh chống “Nội các chiến tranh” Nguyễn Cao Kỳ năm 1966, tôi bị bắt. Ra tù đầu năm 1968, tôi bị đưa thẳng vào quân trường đi lính. Nhờ được công tác tại Sài Gòn, tôi quan hệ với nhiều anh em tiến bộ tán thành lập trường hòa bình, hòa giải dân tộc trong số dân biểu đối lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và nhóm trí thức tiến bộ tập hợp chung quanh tướng Minh vừa từ Bangkok quay về cuối năm 1968. Chúng tôi chủ yếu hoạt động trong tờ báo Tin Sáng do dân biểu đối lập Ngô Công Đức chủ biên.

Năm 1971, VNCH tổ chức bầu cử Quốc hội và tiếp theo là bầu cử Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình đứng giữa, chuẩn bị cho “Thành phần thứ ba”. Hội nghị Paris về vấn đề Việt Nam tuy chưa ngả ngũ nhưng người ta đang bàn luận đến việc lập chính phủ ba thành phần, trong đó có thành phần đứng giữa làm trung gian hòa giải trong chính phủ liên hiệp tương lai. Thật khó khăn nếu tự ra ứng cử đơn thương độc mã một mình. Tên tuổi của tôi tuy cũng có một thời được nhiều người biết đến, nhưng nay chắc không ai còn nhớ đến trong cái Sài Gòn rộng lớn và bận rộn làm ăn này. Dẫu có tự do bỏ phiếu thì tranh cử kiểu không tiền bạc, không thế lực nào hậu thuẩn như tôi chỉ là chuyện vô ích.

Phải tìm hậu thuẩn nơi khối đông đảo quần chúng đô thị, lúc này không ai khác hơn là lực lượng Phật giáo, nhất là ở miền Trung. Tôi bàn bạc với người Mặt trận Giải phóng sẽ về Đà Nẵng quê tôi để tranh cử. Bấy giờ tôi có thuận lợi là vừa được sự ủng hộ của nhóm tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống với chiêu bài hòa bình lẫn sự hỗ trợ của Thượng tọa Thích Trí Quang. Nhà lãnh đạo Phật giáo uy tín nhất miền Nam lúc đó đang bị Thiệu-Kỳ cô lập ở Sài Gòn đã đích thân gửi thư yêu cầu vị sư đại diện tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng là Thích Minh Chiếu sắp tên tôi vào danh sách những người được Phật giáo ủng hộ công khai. Nhưng việc đó không thành, do lủng củng bên trong nội bộ lãnh đạo giáo hội. Phe chống Cộng như các Thương tọa Thiện Minh, Huyền Quang không chấp nhận tôi, nghi ngờ là người của Giải phóng, nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui ra khỏi cuộc tranh cử Tổng thống và chuẩn bị lực lượng cho một vận hội mới vào một thời điểm thích hợp hơn.

Tôi ngày càng gắn bó hơn với nhóm trí thức trẻ hoạt động chung quanh tướng Minh, đặc biệt với các dân biểu đối lập và tiến bộ như Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quí Chung, Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Binh… Tôi trở thành một trong các cây bút chủ lực báo Điện Tín do nhóm Dương Văn Minh chủ trương, sau khi tờ Tin Sáng quyết liệt chống Nguyễn Văn Thiệu bị đóng cửa và nhiều dân biểu chủ trương hòa hợp hòa giải bị loại ra khỏi Quốc hội.

Thay người khác mà vác cờ trắng

Tôi lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam vào cuối năm 1972 do bị tố cáo là thuộc Thành phần thứ ba thân Cộng. Khi ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh. Chính quyền Sài Gòn ráo riết đàn áp đối lập và những ai kêu gọi hòa bình hòa giải dân tộc. Tôi phải trốn tránh, rút lui vào hoạt động bí mật.

Về tình hình trong tháng tư năm 1975 liên quan đến việc tướng Minh ra nhận chính quyền VNCH, sau này tôi đọc được trong tập hồi ức của Thượng tọa Trí Quang ghi rằng: “...Ấy thế mọi việc diễn ra có lúc đến chóng mặt. Cho đến mùa xuân 2519 (1975) thì một ngày mà có người ba lần đến vận động tôi đừng chống việc ông Dương Văn Minh đứng ra, “vì chính quyền của ông ấy sẽ có bảy phần mười là người tiến bộ ”. Tôi không nói lại gì cả, chỉ quan tâm lời thầy Trí Thủ nói, rằng chim cá còn mua mà phóng sinh, lẽ nào đồng bào mà không hy sinh cấp cứu. Rồi ông Dương Văn Minh gặp tôi, đưa ra hai mảnh giấy báo cáo mật cho thấy ngân hàng trống rỗng và quân sự nguy ngập, và nói ông không vụ lợi vì lợi không còn gì, không cầu danh vì danh đến quốc trưởng là cùng, ông chỉ không nỡ ngồi nhìn chết chóc. Tôi nói, nếu lòng ông như thế là ông làm như lời thầy Trí Thủ nói, và có nghĩa ông thay người khác mà vác cờ trắng !“

Tôi đang trốn tránh trong nhà dân biểu Lý Quí Chung do Thượng tọa Trí Quang gửi gắm và biết anh là một trong những người thân cận nhất của tướng Dương Văn Minh vào thời điểm đó. Tôi chú ý thấy tướng Minh thường ghé nhà anh bàn bạc. Sau này, anh nói rằng sự thật thì từ giữa tháng 4/1975, nhóm Dương Văn Minh đã quyết tâm ra nắm chính quyền với mục tiêu tìm mọi cách chấm dứt cuộc chiến, nếu cần phải cầm cờ trắng đầu hàng. Anh cho rằng: “quyết định làm người cầm cờ đầu hàng cũng là một sứ mạng lịch sử”! Cụ thể là đã có đến ba phần tư những người trí thức hoạt động chính trị chung quanh tướng Minh đã quan hệ với Mặt trận Giải phóng hoặc là cán bộ Cách mạng rồi. Đó là những người như thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, bộ trưởng Nguyễn Văn Diệp, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Lý Chánh Trung,... Tướng Dương Văn Minh dẫu sao cũng đại diện cho một phần nhân dân miền Nam và là vị tướng lãnh có uy tín cuối cùng không bỏ chạy khỏi miền Nam Việt Nam vào lúc đó.

Bản thân Lý Quí Chung không trực tiếp quan hệ với cách mạng, nhưng anh có những bạn bè gần gũi như các nhà báo Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt, sau này là Tổng biên tập báo Công An TP.HCM), Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn), Trương Lộc… mà anh biết là người của Mặt trận Giải phóng.

Tuy vậy, sự việc cụ thể diển biến không mấy bình thường như Lý Quí Chung suy nghĩ và viết ra trong hồi ký của mình. Đã thật sự xuất hiện không ít âm mưu kéo dài tình trạng nhập nhằng với sức ép đàng sau của cả bạn lẫn thù của phe cách mạng. Không ít người trong nhóm Dương Văn Minh đã tìm nhiều cách, vận động nhiều hướng, nhiều phía để tìm kiếm sự ủng hộ nước ngoài. Cho đến giờ chót, họ vẫn ấp ủ hy vọng chính quyền Dương Văn Minh tồn tại lâu dài và được công nhận như một chính phủ hoặc một thành phần quan trọng trong “Chính phủ Liên hiệp” mà họ tự nghĩ ra !

Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng…

Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng
tại đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày
30/4/1975


Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở Đại học Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với Nguyễn Trực người thân cận với Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị sư lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn trên nhóm Dương Văn Minh này. Lâu nay tôi vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với ông, tuy ông biết rõ tôi đến từ phía nào rồi. Tôi báo ngay: “Tình hình cấp bách quá rồi, xin Thầy làm sao tác động gấp nhóm ông Minh chủ động tìm cách chấm dứt ngay cuộc chiến để tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn. Các đường giây liên lạc với bên kia nay đã đứt hết rồi, không còn thì giờ đưa giải pháp này nọ nữa đâu…”

Thượng tọa Trí Quang hiểu ngay và choàng áo sang phòng bên gọi điện thoại. Tôi nghe vị Thượng tọa nói chuyện qua lại một hồi, rồi quay về cho biết:

-Thái cứ yên tâm, Thầy không gặp được ông Minh (Tổng thống mới nhậm chức), nhưng đã nói chuyện với ông Mẫu (Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng nội các mới), có lẽ họ cũng nhanh chóng hành động theo hướng đó…

Tôi quay về Đại học Vạn Hạnh và khoảng hơn 9 giờ (giờ Sài Gòn thời đó, trễ hơn nay một giờ), thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn: “Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Sinh viên chúng tôi bèn chia làm 2 mũi lên đường hướng về các đài phát thanh và truyền hình nhắm chiếm đài, phát đi tiếng nói Cách mạng. Số đông anh em có trang bị vũ khí nhẹ do sinh viên cao học Hà Thúc Huy dẫn đầu lên xe ca đến đại học Nông lâm súc, áp sát chuẩn bị xâm nhập vào các đài. Tôi cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (tiến sĩ sử học tiến bộ ở Pháp về, giảng dạy báo chí ở các đại học) vào dinh Độc Lập nhắm thuyết phục những người quen biết trong chính quyền tướng Minh bàn giao chính quyền VNCH cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng một cách êm thắm nhất.

Khoảng 10 giờ, chúng tôi lên chiếc xe Renault 8 màu xanh của Hồng. Nhà báo có giấy phép đặc biệt vào ra Phủ Tổng thống nên chắc không có gì trở ngại. Nhưng khi xe chạy vào cửa hông đường Nguyễn Du, thấy vắng tanh nên tiến thẳng luôn vào thềm dinh. Tôi vội vàng đi tìm Lý Quí Chung, lúc đó là Tổng trưởng Thông tin duy nhất được chỉ định chính thức trong Nội các mới. Chung đồng ý ra đài phát thanh ngay với chúng tôi trên một công xa, nhưng không một tài xế nào chịu lái đi vì sợ bị bắn.

Chúng tôi đang loay hoay thì bỗng mọi người cùng hướng nhìn về đại lộ Thống Nhất (Lê Duẩn ngày nay). Một cảnh tượng hùng tráng diễn ra: một đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng dinh. Bổng chốc cổng dinh bị húc đổ, đoàn tăng cày lên thảm cỏ, tiến thẳng đến thềm dinh. Tôi và anh Huỳnh Văn Tòng giúp người bộ đội xe tăng cầm cờ Giải phóng cắm lên nóc Dinh.

Phải ra ngay đài phát thanh, tôi tháp tùng xe của Chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các nhà báo Tây Đức Von Boric Gallasch và Hà Huy Đĩnh đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh.

Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh
về vấn đề đầu hàng

Anh em sinh viên đã cùng bộ đội chiếm giữ đài rồi nhưng không vận hành được cũng như không biết phát đi nội dung gì. Chúng tôi tìm được anh Trần Văn Bảng kỹ thuật viên phát thanh vận hành lại đài, còn nhà báo Đức thì cho mượn chiếc cát xết thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi văn Tùng, do chính ông Tùng soạn thảo.

Tướng Minh nhìn thấy tôi trong đám người này có vẻ cũng yên lòng. Trông ông mệt mõi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to lớn nhưng mặt ông hơi hốc hác. Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để thực sự cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch. Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. Có lẽ ông chưa bao giờ thành công trong hoạt động chính trị. Ông chỉ là nhân vật cần thiết của tình thế nhưng không nắm được quyền lâu dài. Vào năm 1963, không ai ngoài ông trong số tướng lãnh đủ uy tín đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lần này, có lẽ chính quyền VNCH cũng không còn con bài nào khác để chấm dứt cuộc chiến một cách êm thắm. Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích trong cuộc thư hùng cuối cùng giữa những người anh em ruột thịt.

Tôi nhìn sang Giáo sư Vũ Văn Mẫu, ông có vẻ bình thản trong bộ complê màu xanh nhạt luôn chỉnh tề của một nhà giáo đại học. Khi còn học ở khoa Luật, tôi rất thích lối giảng các bài pháp chế sử, mạch lạc, hùng biện và cả hóm hỉnh của ông. Tuy xuất thân trong gia đình quan lại miền Bắc và di cư vào Nam năm 1954, khi nổ ra vụ tranh đấu Phật giáo năm 1963, đang giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao VNCH ông can đảm từ nhiệm và cạo trọc đầu phản kháng Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nay ra lãnh chức vụ Thủ tướng tôi nghĩ ông không có ước mong gì khác hơn là đem lại hòa bình, hòa hợp hòa giải thật sự cho dân tộc.

Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi nhìn thấy giữa tướng Minh và chính ủy Tùng có lời qua tiếng lại. Hình như tướng Minh không muốn nêu chữ “Tổng thống” mà dùng tiếng “Đại tướng” quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng dẫu sao thì tướng Minh cũng đã làm Tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, nay phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng thử đi thử lại mấy lần mới xong. Lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì ông được nói trực tiếp.

Loay hoay đến gần hai giờ chiều (giờ Sài Gòn lúc đó, trễ hơn hiện nay một giờ) chúng tôi mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn. Nguyên văn tiếng nói mở đầu của tôi:

“Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái… Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”

Đại tướng Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng theo bản văn do Chính ủy Bùi Văn Tùng soạn thảo:

“Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam

Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu trực tiếp:

“Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.

Tiếp đó là lời Chính ủy Bùi Văn Tùng:

“Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”

Và tôi tiếp tục dẫn chương trình: “…Quân Giải phóng đã tiến vào dinh Độc Lập và đã làm chủ hoàn toàn các điểm chốt quân sự cũng như dân sự của vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định…”

(Các lời tuyên bố trên đài phát thanh đều còn giữ lại được trong một băng ghi âm do Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã thu trong chiều 30/4/75)

Sau đó, bộ đội đưa đoàn tướng Minh về lại Dinh Độc Lập. Tôi đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh cho đến 4 giờ chiều thì giao lại cho anh Hà Thúc Huy, do tôi phải lên trường Petrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong) nơi đóng quân của ban chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn gặp ông Mai Chí Thọ. Sinh viên chỉ giao lại đài phát thanh cho ban phát thanh Giải phóng vào tối hôm đó.


Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2/5/1975

Tôi đã góp phần tránh một cuộc đổ máu vô ích cuối cùng cho Sài Gòn

Những người thân cận tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập nhớ lại mấy sự kiện này. Vào sáng sớm có một đơn vị thiết giáp đến vây quanh dinh, viên chỉ huy đề nghị tướng Minh tử thủ. Ông từ chối và thuyết phục họ rút đi. Ông cũng làm như vậy với nhóm biệt kích Lôi Hổ đằng đằng sát khí. Cuối cùng, một số sĩ quan cao cấp hải quân đến mời tướng Minh xuống tàu chạy đi, ông cũng từ chối. Lát sau viên tướng Pháp đội lốt ký giả Vanuxem hối hả vào xin gặp tướng Minh và nói với họ: “Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 chiến thuật, chỉ vài ngày nữa thôi thì Trung Quốc sẽ áp đặt giải pháp trung lập hóa Miền Nam”. Tướng Minh than: “Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao !”

Việc Tổng thống VNCH Dương Văn Minh đầu hàng ở cái “nút” ấy, một người trong cương vị ông Minh có thể có nhiều quyết định. Nếu quyết định khác đi, sẽ là máu đổ, sẽ là nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn. Sài Gòn sẽ tan tành... Lúc đó có nhiều người nói ông Dương Văn Minh yêu nước thương dân nhưng cũng có người hoài nghi cho rằng ông Minh đã ngầm theo Cách mạng ? Sau những Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn cùng nhiều nhà tình báo vĩ đại khác, suy nghĩ trên không phải không có cơ sở.

Tướng Dương Văn Minh nguyên là một sinh viên miền Nam ra học trường thuốc ở Hà Nội cùng thời với kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, một trong các lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Khác chính kiến với người em trai tham gia phong trào Việt Minh, ông đã trở thành sĩ quan trong quân đội Pháp và nghĩ rằng Việt Nam có thể độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Phải chăng do sai lầm đó mà nay tại Dinh Độc Lập ông đã quyết tâm quên mình chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện để cứu người thôi đổ máu theo tinh thần của một Phật tử.

Trong buổi lễ, Chủ tịch Ủy ban Quân quản tướng Trần Văn Trà đã phát biểu: “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này không có ai là kẻ thắng ai là kẻ bại. Toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng, chỉ có đế quốc Mỹ xâm lược là kẻ chiến bại. Nhân dân Việt Nam là dân tộc duy nhất trong lịch sử nhân loại đã đánh bại quân Mông Cổ. Vào năm 1954, chúng ta đã đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, và nay chúng ta đã đánh bại Hoa Kỳ, nước tự hào cho mình là hùng mạnh nhất thế giới. Đây là niềm hãnh diện chung của tất cả nhân dân Việt Nam chúng ta”.

Tướng Dương Văn Minh đã trả lời thật chân tình: “Ngày hôm nay, đại diện cho các anh em có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước ... Tôi nghĩ rằng với hành động của mình, tôi đã góp phần tránh một cuộc đổ máu vô ích cuối cùng cho Sài Gòn. Đó là phần đóng góp cụ thể của tôi trong cuộc chiến đấu này. Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Theo băng ghi âm buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tối ngày 2/5/1975 tại Dinh Độc Lập)

Ba mươi ba năm đã trôi qua sau sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, tôi ghi lại những gì chính bản thân mình đã tai nghe mắt thấy về nhân vật Dương Văn Minh, mong cung cấp một số tư liệu sống về diễn biến các hoạt động của một vị tướng VNCH nổi tiếng và gây nhiều tranh luận nhất liên quan đến ngày 30/4/1975





Ngày 30/4 qua báo Mĩ

Bài viết về những thân phận người Việt chạy sang Mĩ sau ngày 30/4/1975 và những việc làm cho quê hương sau này.
NVT

===

Lives remembered, lives rebuilt, attitudes changing -- 33 years after
South
Vietnam fell

For many in Little Saigon, memories of what they went through still shape their reality. Others -- many born here -- look to Vietnam for opportunities and for ways to improve lives.
Audio Slideshow

By My-Thuan Tran, Los Angeles Times Staff Writer
April 30, 2008

Thirty-three years after the Vietnam War ended, the fallen country of South Vietnam lives on -- in the streets of Orange County's Little Saigon and in the minds of thousands of refugees who fled communist forces and rebuilt their lives here.

The memories of hardship are still so bitter for some that they continue to mount street protests, fly the South Vietnamese flag from businesses and lampposts, and rail against communism on radio talk shows.

Now there are signs of shifting attitudes in the historically anticommunist community, the largest Vietnamese enclave in the U.S.

Vietnamese Americans are beginning to see opportunity in their home country, and increasingly, people are moving back, expanding their business ties or starting humanitarian organizations to improve the lives of those in Vietnam -- actions barely imaginable a decade ago.

Though the change is subtle and those who associate with Vietnam often keep a low profile, the movement is remarkable in a community where a statue of a South Vietnamese soldier stands near the civic center and noisy street protests against perceived communist sympathizers are still routine.

"There is tension in the community," said Linda Trinh Vo, a UC Irvine professor of Asian American studies. "It shows the complexities of Vietnamese Americans in terms of their feelings against the current Vietnamese government. At the same time, we have to understand the personal experiences of these people and what they have suffered."

Doing business

Bill Pham fled Vietnam on a plane with his family when he was 4. Now 37, he has no memories of his homeland.

He returned to Vietnam for the first time in 2006 and saw hungry children without shoes and mothers peddling bowls of pho. "I kept thinking that could have been my life," he said.

Pham decided to expand his Orange County-based clean-energy business to Hanoi, the capital of Vietnam and a name that still smolders among refugees. His manufacturing company there employs 80.

Vietnamese Americans who conduct business in their homeland are viewed with suspicion, seen as traitors who help prop up the Communist regime. Vietnam's human rights record and crackdowns on political and religious freedom remain sore points.

Yet there are signs of change, even in the supermarkets and mom-and-pop stores in Little Saigon, where silks and fabrics, fish sauce, souvenirs, peanut snacks and pop music imported from Vietnam are displayed with growing prominence.

This month, Pham hosted a group of Vietnamese delegates trying to lure high-technology businesses in Orange County and San Jose to Vietnam. The meetings were discreet, by invitation only. Pham and the delegates did not want to risk protests.

"Forget the politics," Pham said. "What do you do to solve problems for people in Vietnam?" Pham sees increased business ties with Vietnam as a path to a better economy for the nation. Human rights, education and political freedoms will follow, he predicts.

As ties between the United States and Vietnam deepen, Vietnamese government officials are reaching out to overseas Vietnamese -- Viet Kieu -- with promises of investment incentives, multi-entry visas and less red tape.

The United States and Vietnam did $12.5 billion in business last year, up nearly 30% from 2006, according to U.S. government officials. Vietnamese Americans also sent an estimated $4 million plus in remittances to relatives in Vietnam last year.

Not forgetting the past

Timothy Thieng Chi Ngo was among the hundreds who protested when Vietnamese President Nguyen Minh Triet visited Dana Point in June.

He takes offense at Vietnamese government officials trying to reel expatriates back and doesn't believe a better economy will bring about democracy.

"I wish the people who rush to do business in Vietnam would have more responsibility," Ngo said. "I feel like they have forgotten the past too soon."

Ngo hasn't forgotten. He was a 25-year-old officer in the South Vietnamese Army when he fled Vietnam on a small landing craft and vowed never to return as long as Communists were in power.

Ngo eventually came to Orange County and heard news of friends and relatives in the army being thrown into "reeducation" camps as political prisoners. Others died fleeing Vietnam. He organized protests to support and free political prisoners in Vietnam.

"For my friends who spent 10, 15 years in prison," he said, "their youth, that part of their life was gone forever."

In 1998, Ngo broke his vow and went to Vietnam for charity work and to see the situation there for himself. His anger grew anew.

He holds out hope the Communist government will one day collapse. Little Saigon, he said, is the "last piece of land we have to help the Vietnamese who are struggling."

Slow healing

Linda Trinh Vo says the wounds of war have healed slowly in the Vietnamese American community.

"Especially for the first generation, they're still tied to what happens politically and economically in the homeland," she said. "That will always be a part of who they are, part of their history."

The strong emotions have fueled a grass-roots movement, a desire to show the Communist government that Vietnamese Americans have thrived in their new homes. Vietnamese American activists have lobbied cities across the country to ban the Communist flag from official functions. At the urging of the Vietnamese community, Garden Grove officially declared itself a "no-communist zone" in 2004.

Vietnamese Americans have transformed Southern California in other ways. Refugees-turned-entrepreneurs created Little Saigon, which now bustles with retail shops, Vietnamese lawyers and doctors, and restaurants serving classic Vietnamese dishes.

Orange County is home to 10 Vietnamese American politicians, including Assemblyman Van Tran, the highest-ranking Vietnamese American elected official.

Helping the people

Quynh Kieu started Project Vietnam a dozen years ago, sending doctors to Vietnam's rural areas. In the 1980s, the Fountain Valley doctor treated Vietnamese refugee children who were malnourished and believed the situation in Vietnam was probably worse.

In the past, groups such as Project Vietnam were viewed with mistrust -- criticized as doing work the Vietnamese government was ignoring.

But in recent years, more organizations have been created to build schools, libraries and hospitals in Vietnam.

Today, Kieu is helping Vietnam's health department develop programs for neonatal care.

"You hope that there will be a growing number of people who will start to see the suffering of people in Vietnam and start being more open," she said, "and that they will be able to sort out where the government ends and where helping the people start."

Leaving a legacy

Some in the first generation who fled Vietnam struggle to pass on their legacy to those who never lived through war. For Tammy Tran, who was born in California, April 30 -- the anniversary of the day Saigon fell -- is a time when she learns more about her family's past.

Tran is 27, the age her mother was when she escaped by boat in 1975.

"I try to imagine what it was like for them," Tran said. "Every year Black April is a commemoration of the past, of how we lost this country, of how our parents came here, of how Vietnam continues to be under communism."

Tran has felt strong ties to Vietnam since her first visit, when she said she witnessed a young girl being assaulted in the street.

"I didn't lose what those in the older generation lost," Tran said, "but I am against the Communist government because of things they haven't done for our people."

Tran believes Vietnam will change with more education. She has also helped start an anti-human trafficking organization that helps Vietnamese women in Taiwan.

"Lives in Vietnam need to be as good as our lives here," she said.

my-thuan.tran@latimes.com

http://www.latimes.com/news/nationworld/world/la-me-saigon30apr30,0,5700832.story

30/4 và Câu chuyện người “ra đi”

Bài này viết về "người ra đi" nhân ngày 30/4. Báo chí quốc tế gọi là "Boat People" hay "Thuyền nhân". Cô phóng viên cảm thấy "đau nhói" ...
NVT

http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/04/780777/

Câu chuyện người “ra đi”

Hàng triệu người Việt ra đi, mỗi số phận có một cảnh ngộ, một trải nghiệm, thậm chí một câu chuyện bi thương. Nhưng tình yêu nơi chôn rau cắt rốn không bao giờ tàn phai trong góc sâu thẳm của tâm hồn mỗi con người… Chỉ có người ra đi và người ở lại tự nắm tay nhau mới thành sức mạnh của một dân tộc… Và khi đó 30-4, ngày kỷ niệm chiến tranh kết thúc mới được gọi là toàn vẹn.

Tôi nhớ lần ấy, có cuộc biểu diễn văn hóa đa dân tộc của các nhân viên đại diện cho từng quốc gia tại nơi công tác, một tổ chức quốc tế tại Washington DC. Mỗi nước có một tiết mục của dân tộc mình. Người Hàn Quốc biểu diễn đánh trống. Dân Latin nhảy vũ điệu sampa sôi động. Điệu múa Mohiniatoom của các cô gái Ấn Độ thể hiện sắc đẹp Kerala của miền Nam nước Ấn. Các chàng trai và cô gái Bulgaria nhảy điệu Horo tưng bừng. Cô bé Cam phu chia cầm ghi ta hát bài ca đồng quê với những hàng cây thốt nốt trên đồng lúa xanh làm người xem rơi nước mắt.

Kết thúc cuộc biểu diễn là bài hát "Tôi yêu Trung Hoa", kể về một cô gái trở về từ nước ngoài và khó khăn để hội nhập, cuối cùng cô đã yêu nước Trung Hoa hơn bao giờ hết. Bài hát kết thúc trong tiếng vỗ tay vang dội của người xem.

Đợi mãi không thấy đoàn Việt Nam của chúng ta đâu, dù có khoảng vài chục người Việt cả bắc - trung - nam ngồi đó, im lặng nhìn nhau. Nếu họ muốn thì hẳn cũng đóng góp được, ít nhất là bài "Trống cơm" hay không kém bài hát của các dân tộc khác. Nhưng hình như họ đang phải “dè chừng” người đồng bào của chính mình.

Lòng tôi chợt xót xa. Cuộc chiến tranh đã gây bao mất mát và chia rẽ, cho dù đã hơn 30 năm qua. Có lẽ vì thế tiếng hát người Việt nghẹn lại, không cất lên nổi cho dù ở giữa nước người.

Người Trung Hoa, Camphuchia, hay Hàn Quốc đến nước Mỹ hẳn cũng có những lý do và nỗi niềm riêng. Chỉ có khi đến đây, họ lại làm người của chính đất nước họ đã sinh ra chứ không phải cố làm người của một nước khác. Nhưng nhiều người Việt ta trên xứ người đang lúng túng vì không biết đi đâu về đâu.

Chuyện của những người tôi đã gặp

Một lần ở khách sạn bên Washington DC, chợt nghe tiếng Quảng Bình nằng nặng phía ngoài hành lang. Tôi gặp một chị chắc cũng khoảng ngoài năm mươi. Chị làm tạp vụ và chồng là thợ điện. Hỏi làm sao đến nước Mỹ thì được biết do hai vợ chồng đánh cá ngoài khơi vì thấy “thuyền bạn đi mình cũng bắt chước”.

Sang đến đây, không một chữ tiếng Anh, không nghề nghiệp. Cũng may, sau 25 năm, anh chị đã có nhà cửa, hai con trai vào đại học đàng hoàng. Chị nói, sang đây mừng nhất là không bao giờ bị đói. Không như ở Quảng Bình, lúc nào cũng sợ không có đủ gạo cho con ăn. Bây giờ chỉ mong đủ tiền để mua vé và mua quà về quê. Anh chị thuộc loại gia đình nghèo bên Mỹ, vì thế con cái đi học được trợ cấp của chính phủ, vay tiền cho con học, mua nhà, xe hơi có giá ưu đãi.

Ra đi lúc đã lớn tuổi nên sự gắn bó với quê hương càng sâu nặng. Ước mong trở về “cố hương” đã kéo dài hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ anh chị thực hiện được. Và cũng còn có nỗi niềm, không hiểu bây giờ trở về có "việc gì" không? Anh chị sợ nhất lũ con không còn khái niệm quê Việt, không còn ràng rợ với miền nắng gió và cát trắng Quảng Bình.

Một người bạn khác ra đi đúng vào ngày sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích vì những lý do riêng. Anh chị cưới nhau trong một đêm Sài Gòn bị mất điện. Có lẽ anh chị là người cuối cùng lên máy bay ra đi trước khi sân bay bị đóng cửa hoàn toàn. Đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng. Có trình độ, tay nghề cao nên bây giờ anh là một chuyên gia nổi tiếng về công nghệ thông tin, phụ trách hàng trăm người tại xứ sở Hoa Kỳ.

Mỗi lần đi công tác vùng Châu Á, thế nào anh cũng tìm cách rẽ qua Sài Gòn, về lại góc phố, chỉ để ngắm ngôi nhà cũ của anh hay chụp tấm ảnh lưu niệm thời thơ ấu. Nhưng anh buồn bã kể với tôi, mỗi lần như vậy anh lại bắt gặp ánh mắt xua đuổi, khó chịu hoặc nghi ngại của những người chủ mới.

Một người bạn khác, tôi rất hay gặp anh trên chuyến tầu điện ngầm, cả lúc đi lẫn lúc về. Hình như chúng tôi có thời gian biểu làm việc giống nhau, cùng building với hàng chục ngàn nhân viên. Tôi biết chắc anh là người gốc Việt, từ mầu tóc, mầu da đến cách ăn mặc. Dáng đi cúi đầu, nghĩ ngợi, cho thấy anh là người đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời.

Có lần anh và tôi ngồi cạnh nhau trong tầu điện. Nhìn anh cầm cuốn sách "Hà nội, 36 phố phường" bằng tiếng Việt của Thạch Lam, tôi liền làm quen: "Xin lỗi, anh là người Việt Nam?". Nhưng anh thản nhiên “văng” luôn một tràng tiếng Anh:"Sorry, I don’t understand - Xin lỗi tôi không hiểu".

Sống ở một phương trời xa lạ, gặp người đồng hương lẽ ra phải thú vị biết bao. Nhưng không hiểu rào cản nào đã làm anh không muốn tiếp xúc với tôi.

Lâu sau, một lần gặp anh trong thang máy, tôi chủ động: "Hello" thì bất ngờ, anh lại cười rất tươi và nói luôn tiếng Việt : "Chào anh" rất thân mật. Anh bảo cái giọng bắc của tôi đã làm anh phải dè chừng. Cuộc sống ở đây nó thế. Ai biết người nấy. Rất sợ làm quen ngoài đường. Nhất là người Việt với nhau. Anh có thể bên này, tôi ở phía bên kia, ai mà biết được. Anh hỏi tôi rồi làm hại tôi thì sao? Hàng tá những câu anh tự hỏi và tự trả lời như thế, rồi tự cười mình khi kể lại với tôi về nỗi sợ “mơ hồ” luôn ám ảnh

Anh đến nước Mỹ như một “thuyền nhân”. Sau bao ngày lênh đênh trên biển, đói khát, được người ta cứu và ở trại tỵ nạn Indonesia một năm như trong tù. Mới 12 tuổi anh đã phải chứng kiến người ta vứt xác mẹ xuống biển và sau đó vài ngày là xác cha. Cha anh trăng trối, khi nào có tiền nhớ về thăm quê. Có lẽ người ra đi, lúc gần đất xa trời mới thấy quê nhà quan trọng và dấu yêu như thế nào. Anh không khóc nổi nữa mà chỉ mong sống để vào được đất liền.

Đến bây giờ, anh vẫn không hiểu tại sao anh có thể sống được. Anh đã khá thành đạt và nỗi đau đó cũng đã nguôi ngoai. Bản thân anh chưa từng muốn xin làm công dân Mỹ. Anh muốn trở về quê để đắp hai ngôi mộ giả cho song thân và giữ lấy mảnh đất quê hương chôn rau cắt rốn. Nhưng mỗi lần đọc báo thấy ai đó gọi những người như anh là "dân vượt biên" thì anh cảm thấy mình chỉ còn nước Mỹ là nơi trú ngụ cuối cùng. Ước muốn về quê cũng mất dần với năm tháng.

Anh lo lũ trẻ của anh đang lớn lên thành Mỹ con. Chúng nó sinh ra ở Mỹ, lớn lên và đi học ở đây. Có thể, chúng không có khái niệm gì về một miền đất ở tận xứ Đông dương xa lạ. Với chúng chỉ có bánh mỳ kẹp thịt McDonald với coca hay phim Hollywood.

Thế hệ anh vẫn còn gắn bó nặng lòng với nước Việt lắm, nhưng thế hệ con cháu sẽ có thể không biết nước Việt Nam ở đâu. Anh như đang đứng giữa hai thế giới, một thế giới anh đang sống với thực tại và phần còn lại là những hoài niệm. Nhiều lúc anh day dứt lắm không biết mình đi về đâu. Anh bảo anh xa lạ nơi đang sống và cũng làm người khách qua đường của nơi mình đã sinh ra.

“Việt Nam yêu dấu xanh xanh lũy tre…”

Hàng triệu người Việt ra đi, mỗi số phận có một cảnh ngộ, một trải nghiệm, thậm chí một câu chuyên bi thương. Nhưng tình yêu nơi chôn rau cắt rốn không bao giờ tàn phai trong góc sâu thẳm của tâm hồn mỗi con người. Dân tộc Việt ta vốn có lòng vị tha, vị tha với người ruột thịt, với bạn và khi cần, vị tha với cả kẻ thù.

Nhưng để biến tình yêu quê hương hay lòng vị tha ấy thành một sức mạnh của một dân tộc thì cần có một nước Việt thực sự hòa hợp, “rũ bỏ quá khứ, cùng nhìn về tương lai”. Không dân tộc nào, người Mỹ hay người Nga có thể giúp chúng ta đoàn kết với nhau. Chỉ có người ra đi và người ở lại tự nắm tay nhau mới làm được điều đó.

Tôi chợt nhớ tiếng hát da diết của cô gái Trung hoa bỏ tổ quốc của cô ra đi, quay về với khó khăn trong cuộc sống và cuối cùng cô tìm thấy tình yêu chính nơi cô đã sinh ra. Tiếng hát ấy, lời hát ấy mới chính là nơi trú ngụ cuối cùng trong tâm hồn mỗi con người. Nơi đó chính là tổ quốc, cho dù con người ta sống và làm việc ở một phương trời nào.

Từ sâu thẳm trong lòng, tôi ước mong ngày nào đó được nghe bài hát “Việt Nam quê hương tôi” với những ca từ mượt mà: “ Việt Nam yêu dấu xanh xanh lũy tre…” vang lên đâu đó giữa Paris, California hay Luân Đôn do chính những người Việt xa xứ cất lên, cho dù họ đi xa, họ ở xứ người vì bất kỳ lý do gì. Bốn, hay năm triệu tâm hồn Việt ở nước ngoài cùng với 80 triệu người trong nước có thể giúp bài hát đó được bay cao, bay xa như cánh chim không biết mỏi.

Và khi đó 30-4, ngày kỷ niệm chiến tranh kết thúc mới được gọi là toàn vẹn.

Nội các Sài Gòn trong ngày đầu giải phóng miền Nam

Nội các Sài Gòn trong ngày đầu giải phóng miền Nam

Thứ ba, 29/04/2008, 21:23 (GMT+7)

Là một trong những sĩ quan QĐNDVN được giao trách nhiệm tiếp quản, bảo vệ Dinh Độc Lập trong những ngày đầu Sài Gòn được giải phóng, Thượng tá Hoàng Cao Đại, nay là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận 4 (TP Hồ Chí Minh) vẫn còn nhớ như in về những ngày tháng mà đơn vị anh được Quân đoàn 4 giao trọng trách này.

Lúc đó cả nội các Chính phủ và tướng Dương Văn Minh đã lên xe của Quân giải phóng sang Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sân dinh tràn nắng trải rộng, nhân dân xung quanh vui mừng chào đón, bộ đội đứng chào, bà con reo hò vui mừng, nhất là xung quanh dinh trưa 30-4. Sài Gòn nhìn từ trong dinh trưa hôm đó đã khá yên tĩnh, không còn cảnh súng đạn, đổ máu, mà chỉ thấy những nụ cười tươi của các cô gái đến bắt tay vui vẻ, chào đón các anh bộ đội vừa vào giải phóng xong thành phố.

Trung tá Nguyễn Ngọc Doanh, Chính ủy Trung đoàn 141 (về sau là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4) gọi anh Hoàng Cao Đại đến giao nhiệm vụ khá quan trọng đầu tiên của ngày 30-4-1975: “Được Quân đoàn ủy nhiệm, tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí làm sĩ quan liên lạc giữa lãnh đạo Quân đoàn với nội các của chế độ Sài Gòn cũ. Đồng chí có trách nhiệm nghe và truyền đạt những ý kiến của các thành viên nội các Sài Gòn với lãnh đạo Quân đoàn”! 21 giờ 30 ngày 30-4 đó, bàn giao xong nhiệm vụ tại đại đội, kiểm tra các cổng an toàn, anh bắt đầu trở thành sĩ quan liên lạc chính thức của Quân đoàn 4 với các thành viên của nội các Sài Gòn đã đầu hàng.

Ngày đầu tiên của thành phố Sài Gòn đã giải phóng, trong khuôn viên Dinh Độc Lập, ngoài Đại tướng Dương Văn Minh còn có “Thủ tướng” ngụy quyền Vũ Văn Mẫu, “Phó Thủ tướng” Nguyễn Văn Hảo, quyền Tư lệnh quân lực Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, và cả nhân vật tình báo đặc biệt của ngành tình báo quân đội ta, lúc đó đang là cố vấn đặc biệt cho tổng thống ngụy quyền Sài Gòn là Thiếu tướng QĐNDVN Vũ Ngọc Nhạ - mà các anh Đại đội 7 vào tiếp quản dinh vẫn chưa thể biết, theo nguyên tắc của ngành tình báo. Họ cùng với tất cả gia đình và đội quân phục vụ trong Dinh Độc Lập với khoảng 35 người.

Cùng với đơn vị kiểm tra hết tất cả các phòng ốc trong dinh, các điểm gác, điểm chốt an toàn, tối đó chúng tôi ngủ ngay trong dinh - Thượng tá Đại kể - Căn phòng tôi nằm ngủ đêm 30-4 đó là phòng “Long sàn” của Nguyễn Văn Thiệu đang bỏ trống; vì tướng Minh “lớn” khi nhậm chức tổng thống ngày 28-4-1975, mới cách đó 2 ngày, nên ông ta ở lại trong căn phòng bên cạnh. Vì đang lo công việc, lại phải bảo đảm an toàn cho cả nội các Sài Gòn và gia đình họ đang trú trong dinh, nên đêm đầu tiên của ngày giải phóng Sài Gòn, anh em cả đại đội không ai có thể yên tâm mà ngủ ngon.

Sáng 1-5-1975, các đồng chí lãnh đạo của Quân đoàn 4 sang kiểm tra tình hình, mọi thứ đều an toàn. Những gia đình của nội các Sài Gòn trước đó thì tỏ ra sợ sệt, nên không ai ra khỏi phòng và khuôn viên sân dinh. Sân dinh rộng, nên ngày đầu tiên giải phóng vắng lặng, nhất là những chiều 1-5, 2-5... Chúng tôi nghe được cả tiếng lá vàng rơi trên các cây cổ thụ trong khu dinh rộng lớn có rất nhiều cây cối.

Sáng ngày 2-5-1975, các vị “nguyên thủ” Minh “lớn”, Mẫu, Hảo... đều tự tay viết thư gửi cho Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh em đơn vị nhận thư và chuyển ngay cho bộ phận liên lạc. Tướng Minh “lớn” thì viết và đưa thẳng cho sĩ quan liên lạc bộ đội ta Hoàng Cao Đại, ngay từ sáng sớm ngày 2-5. Sinh hoạt của dinh những ngày đó diễn ra bình thường. Các gia đình của nội các Sài Gòn được ta tiếp tế thức ăn, quần áo, các vật dụng khác đầy đủ, nên rất yên tâm và luôn cảm ơn bộ đội giải phóng.

Tướng Minh là người nhạy cảm, nên ông hỏi bộ đội ta khá nhiều chuyện. Một lần tướng Minh hỏi: “Tại sao các ông có thể đánh chúng tôi nhanh như vậy?”!, Thượng tá Hoàng Cao Đại trả lời: “Ông là tướng, là nhà nghiên cứu quân sự, chắc cũng biết trong lịch sử của nước ta thiên tài Nguyễn Huệ đã có cách tiến quân thần tốc, chỉ 5 ngày đêm đã từ Huế ra Bắc đánh tan quân xâm lược nhà Thanh. Chúng tôi chỉ học được từ cha ông thôi!”.

Vũ Văn Mẫu khi nói với bộ đội ta đã hỏi: “Các anh thấy Sài Gòn có đẹp không?”. Ngồi đối diện, anh Hoàng Cao Đại trả lời ngay: “Sài Gòn đang có nước đục, nhưng rồi tạm lắng, sẽ trong lại ngay”. Những câu hỏi của các thành viên nội các ngụy quyền Sài Gòn được anh em trả lời nhanh chóng, đủ cho họ yên tâm ở trong dinh trước khi cùng gia đình trở về nhà an toàn.

Phạm Bá Nhiễu

Nguồn:

http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2008/4/150757/


Phục hồi xe Jeep đưa tổng thống Dương Văn Minh đi tuyên bố đầu hàng

Kỷ niệm 33 năm Ngày giải phóng miền Nam:

Phục dựng xe Jeep đưa Dương Văn Minh đi tuyên bố đầu hàng

TP - Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vừa phục dựng thành công để đem trưng bày chiếc xe Jeep đã đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh Sài Gòn để đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Chiếc xe jeep và những thời khắc lịch sử

Xe Jeep được phục dựng trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN Ảnh: Phạm Yên

Ngày 29/3/1975, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tham gia tiến công và giải phóng Đà Nẵng. Sau khi đánh chiếm được sân bay Đà Nẵng, quân ta thu được rất nhiều xe của quân đội Ngụy để lại.

Sư đoàn 304 đã trang bị cho đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó Trung đoàn 66 một chiếc xe Jeep để đại úy Thệ cùng đơn vị tiếp tục tiến vào giải phóng thị xã Hàm Tân.

Giải phóng xong Hàm Tân, Trung đoàn 66 tiếp tục hành quân tham gia đánh chiếm các căn cứ của địch trên đường tiến quân vào Sài Gòn.

6 giờ sáng ngày 30/4/1975, Trung đoàn 66 cùng với xe tăng của Lữ đoàn xe tăng 203 (Quân đoàn 2) tiến sát cầu Sài Gòn. Phát hiện được lực lượng của ta, địch dùng 8 chiếc xe bọc thép M113 và 4 chiếc xe tăng M41 cùng bộ binh chống trả quyết liệt trên cầu Sài Gòn.

Lực lượng xe tăng của Lữ đoàn 203 tập trung binh lực đánh mạnh xe tăng địch.

Khi đó, đại úy Phạm Xuân Thệ xuống xe bò qua dải phân cách để quan sát địch bên kia cầu rồi về báo cáo với Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn thấy lực lượng địch như vậy sợ binh đoàn thọc sâu vào Sài Gòn không kịp giờ, nên đã ra lệnh cho đại úy Phạm Xuân Thệ dùng chiếc xe Jeep cùng lực lượng của Trung đoàn 66 nhanh chóng vượt qua cầu Sài Gòn để tiến vào nội đô.

Trên xe Jeep lúc này ngoài đại úy Phạm Xuân Thệ còn có 5 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 66: Trung úy Phùng Bá Đam (trợ lý cán bộ trung đoàn), Trung úy Nguyễn Khắc Nhu (Trợ lý tác chiến trung đoàn), lái xe Đào Ngọc Vân, hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất.

Lúc này, đi đầu đội hình thọc sâu là lực lượng xe tăng của Lữ đoàn 203, tiếp sau là Trung đoàn 66. Từ cầu Thị Nghè vào Dinh Độc Lập, do không biết đường nên đại úy Phạm Xuân Thệ đã hạ lệnh dừng xe để hỏi đường.

Trong đám đông nhân dân, có một người đàn ông trung niên dáng chắc nịch, mặc áo sơ mi cộc tay, cầm cờ Giải phóng bước đến bên xe Jeep nói: “Tui biết đường”.

Trợ lý Nguyễn Khắc Nhu liền đề nghị Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ mời người dân này lên xe để chỉ đường.

Một lát sau, nhìn thấy toà nhà cao tầng, trên nóc có treo cờ ba sọc, người dẫn đường liền chỉ và nói to: “Đó chính là Dinh Độc Lập”.

Khi xe Jeep của Trung đoàn 66 đến gần Dinh Độc Lập thì xe tăng 390 của Lữ đoàn 203 đã húc đổ cổng chính của Dinh và lao vào trong. Chiếc xe Jeep cũng nhanh chóng vượt qua cổng rồi vòng theo đường viền bên phải tiến vào sảnh Dinh.

Khi đó, các cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn xe tăng 203 và Trung đoàn 66 đã vào trong Dinh Độc Lập để bắt toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh. Được yêu cầu phải rời Dinh Độc Lập để ra Đài Phát thanh Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng, lúc bước xuống bậc thang của Dinh, Dương Văn Minh quay sang nói với Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ: “Mời các ông lên xe”.

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ nói: “Chúng tôi đã có xe”. Thế là Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu phải tiến lại chiếc xe Jeep. Khi lên xe, ngoài lái xe Đào Ngọc Vân cầm lái, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ và Tổng thống Dương Văn Minh cùng ngồi hàng ghế phía trên; còn ngồi hàng ghế phía dưới là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, trung úy Phùng Bá Đam, trung úy Nguyễn Khắc Nhu; hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất ngồi hai bên thành xe.

Sau khi đọc xong lời tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lại được đưa trở lại xe Jeep để về Dinh Độc Lập.

Quá trình phục dựng chiếc xe Jeep

Lái xe Đào Ngọc Vân cho biết, sau giải phóng miền Nam, anh còn lái chiếc xe Jeep này khi đơn vị làm nhiệm vụ tiêu diệt Phunrô ở Lâm Đồng đến tháng 6/1976. Sau đó anh Đào Ngọc Vân xuất ngũ, còn chiếc xe Jeep bị hỏng phải đem đi sửa chữa và rồi không biết “lưu lạc” ở đâu.

Tuy nhiên, có một tư liệu rất quý là vào tháng 8/1975, anh Đào Ngọc Vân có chụp ảnh kỷ niệm với anh Phùng Bá Đam bên cạnh chiếc xe Jeep tại Sài Gòn.

Căn cứ vào tấm ảnh này, có thể xác định đây là loại xe Jeep “lùn”, kiểu M151A2. Khi phóng to biển số xe trong tấm ảnh thì xác định được trên biển xe có một ngôi sao trắng và một dãy số 1577…

Riêng chữ số cuối cùng nhìn quá mờ, không rõ đó là số 0 hay số 8. Để xác định chính xác chữ số bị mờ này, Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN nhờ Viện Kỹ thuật hình sự (Bộ Công an) giám định và xác định được đó là số 0.

Như vậy, chiếc xe Jeep từng đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời tuyên bố đầu hàng có biển số 15770.

Trong một lần tiếp xúc với ông Nguyễn Hữu Hạnh (nguyên chuẩn tướng của chính quyền Sài Gòn cũ) vào cuối năm 2007, Thiếu tướng Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN được ông Hạnh cho biết, chiếc xe Jeep có biển số nói trên là biển số của Sư đoàn dù.

Căn cứ thêm vào các tài liệu về xe Jeep của Mỹ, thì trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, xe Jeep kiểu M151A2 do Mỹ sản xuất vào những năm của thập kỷ 60 của thế kỷ trước và đưa vào sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1970.

Từ những thông tin trên, Thiếu tướng Lê Mã Lương đã trực tiếp khảo sát và làm việc với lãnh đạo kho J1250 (Tổng cục Kỹ thuật) là nơi hiện vẫn lưu giữ một số xe Jeep chiến lợi phẩm mà ta thu được từ năm 1975.

Đáng mừng là trong số xe đó, có chiếc xe Jeep kiểu M151A2, cùng thời với xe Jeep biển số 15770. Chiếc xe Jeep trên nhanh chóng được làm thủ tục bàn giao để trở thành hiện vật bảo tàng.

Sau khi tiếp nhận chiếc xe Jeep trên, ngày 30/1/2008, Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN nghiên cứu thấy tình trạng xe có một số phụ tùng thay thế không đúng nguyên bản gốc nên đã hợp đồng với Xưởng sửa chữa Hòa Jeep tại Hà Nội để tìm phụ tùng thay thế theo nguyên gốc.

Và gần đây sau khi nhận xe, Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN đã mời một số nhân chứng đến để xin ý kiến. Các nhân chứng liên quan đến chiếc xe Jeep của 33 năm trước đều đánh giá xe được sưu tầm, phục dựng đúng chủng loại, hình dáng, màu sắc của chiếc xe Jeep mang biển số 15770 mà Trung đoàn 66 đã sử dụng năm 1975.

Bên chiếc xe Jeep được sưu tầm, Trung tướng Phạm Xuân Thệ đã xúc động kể với cán bộ Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN vị trí của 8 người (6 người của Trung đoàn 66 cùng Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu) đã ngồi trên chiếc xe đó khi đi từ Dinh Độc Lập đến Đài Phát thanh Sài Gòn trong ngày 30/4/1975 lịch sử.

Việc phục dựng chiếc xe Jeep mang biển số 15770 đã đạt kết quả như ý. Nó góp phần làm phong phú thêm những hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN trước một sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc.

Nguồn:

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=120807&ChannelID=13

Tuesday, April 29, 2008

Chủng vi khuẩn tả hiện nay ở nước ta có phải mới xuất hiện?

Báo Sức khỏe và Đời sống (23/4/08) tường thuật buổi làm việc giữa Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Theo bản tin, “GS. Yoshi Takeda, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm Tokyo Nhật Bản cho rằng vi khuẩn tả đang gây bệnh ở Việt Nam rất giống với chủng gây bệnh ở Ấn Độ.” Nhưng rất tiếc, báo không cho biết chủng nào mà giáo sư Takeda nói đến!

Tuy nhiên, báo Sài Gòn Tiếp thị (tuy là báo dành cho người tiêu dùng) cho biết thêm chi tiết kĩ thuật như sau: “PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, viện trưởng viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, kết quả giám sát bệnh tả các năm qua của viện thấy rằng chủng phẩy khuẩn tả phân lập được trong các vụ dịch trước đây ở các tỉnh phía Bắc trong các năm 2002, 2003, 2004 là type huyết thanh innaba va type El Tor. Còn từ đầu vụ dịch năm 2007 đến nay các kết quả xét nghiệm cho thấy cấu trúc phân tử của vi khuẩn tả thuộc type huyết thanh ogawa.”

Dựa vào kết quả này, giáo sư Takeda suy luận rằng chủng vi khuẩn hiện nay là do nhập (hay lan truyền) từ Ấn Độ!

Để hiểu vấn đề và xem suy luận này có cơ sở cỡ nào, chúng ta cần phải xem qua vài sự thật căn bản của vi khuẩn tả như sau:

  • Dựa vào độc tính vi khuẩn V. Cholerae có thể chia thành 2 nhóm chính theo huyết thanh (serogroups): đó là O1O139.

  • Nhóm O1 có hai típ sinh học (biotype): El Torcổ điển (classical). El Tor là tên của một trạm y tế ở Ai Cập nơi mà típ vi khuẩn này được phát hiện trong đại dịch năm 1907. Hiện nay, El Tor là thủ phạm chính của các trận dịch tả trên thế giới.

  • Mỗi típ sinh học El Tor hay cổ điển có thể chia thành 3 nhóm nhỏ theo huyết thanh: Ogawa, Inaba, và Hikojima. Mỗi nhóm còn có thể chia thành nhóm nhỏ hơn dựa vào kháng nguyên (antigen) A, B, hay C (xem biểu đồ)


Theo Viện Vệ sinh Dịch tễ thì các vụ dịch tả 2002-2004 là V. cholerae O1 El Tor Inaba, còn từ năm 2007 đến nay thủ phạm là V. cholerae O1 El Tor Ogawa. Nói cách khác, một sự thay đổi chủng khuẩn từ Inaba sang Ogawa. Nhưng có thật sự thay đổi này là do xam nhập từ Ấn Độ?

Chúng tôi có lí do để cho rằng giả thuyết đó khó có cơ sở khoa học. Chúng ta có thể điểm qua vài dữ liệu trong y văn để thấy giả thuyết trên khó đứng vững:

Thứ nhất, vụ dịch tả năm 1989 ở Ấn Độ chủ yếu do chủng V. cholerae O1 El Tor Inaba gây ra (sẽ gọi tắt là Inaba). Đến năm 2004, vụ dịch tả xảy ra ở miền bắc Ấn Độ vẫn do chủng Inaba gây ra. Năm 2005, một vụ dịch tả khác xảy ra ở bang Orissa (Ấn Độ) và lần này thì do chủng V. cholerae O1 El Tor Ogawa gây ra [1].

Thứ hai, năm 1961 một vụ đại dịch tả xảy ra ở Nam Dương (Indonesia), và vi khuẩn V. Cholerae O1 biotype El Tor “xâm nhập” miền Nam Việt Nam vào năm 1964 với tổng số 20.009 người mắc bệnh và 821 tử vong. Nói chung, phần lớn vụ dịch tả xảy ra ở miền Trung nước ta và V. cholerae O1 El Tor là thủ phạm chính, và vi khuẩn này ít xuất hiện ở miền Bắc. Nhưng mãi đến năm 1976 vi khuẩn V. cholerae O1 El Tor xuất hiện ở Hải Phòng và Quảng Ninh [2].

Thứ ba, theo phân tích của các nhà nghiên cứu Đan Mạch, từ 1979 đến 1981 các ca bệnh tả ở nước ta chủ yếu là do chủng khuẩn Ogawa; từ 1982 đến 1990 tất cả các ca bệnh tả đều nhiễm chủng khuẩn Inaba; nhưng trong những năm sau 1990 thì tất cả các ca đều do chủng khuẩn Ogawa. Cần nói thêm rằng ở Thái Lan, khoảng 52% các ca bệnh tả đều do nhiễm chủng khuẩn Ogawa [3].

Thứ tư, chủng khuẩn Ogawa có thể tiến hóa từ chủng Inaba. Thật vậy, hai chủng khuẩn này có khả năng chuyển đổi qua lại, do ảnh hưởng của hệ thống miễn dịch [4]. Khả năng này đã được quan sát trong các nghiên cứu cơ bản. Trong vụ dịch ở bang Orissa (Ấn Độ) sự chuyển hóa từ chủng khuẩn Ogawa sang Inaba cũng đã từng được ghi nhận [1].

Như vậy, xét qua 4 sự thật trên, chúng ta dễ dàng thấy rằng: (a) chủng khuẩn V. cholerae O1 El Tor Ogawa không phải mới xuất hiện ở nước ta, mà rất có thể đã có mặt từ những năm trong thập niên 1980s hay thậm chí 1960s; và (b) chủng khuẩn V. cholerae O1 El Tor Inaba có thể tiến hóa thành V. cholerae O1 El Tor Ogawa. Chỉ khi nào chúng ta loại bỏ hai khả năng này thì mới có thể nói chủng khuẩn Ogawa được “du nhập” từ ngoài, nhưng ngay cả trong trường hợp đó chúng ta vẫn không thể nói chủn khuẩn này du nhập từ Ấn Độ hay Thái Lan (vì Thái Lan cũng vừa mới trải qua một vụ dịch với chủng khuẩn Ogawa). Riêng chúng tôi thì nghiêng về giả thuyết tiến hóa hơn là giả thuyết chủng khuẩn Ogawa xâm nhập từ ngoài.

Chú thích và tài liệu tham khảo:

[1] Pal BB, et al. Emergence of Vibrio cholerae O1 biotype El Tor serotype inaba causing outbreaks of cholera in Orissa, India. Jpn J Infect Dis 2006;59:266-9.

[2] Dalsgaard A, et al. Cholera in Vietnam: Changes in Genotypes and Emergence of Class I Integrons Containing Aminoglycoside Resistance Gene Cassettes in Vibrio cholerae O1 Strains Isolated from 1979 to 1996. J Clin Microbiol. 1999; 37: 734-41.

[3] Hodge CW, et al. Epidemiologic Study of Vibrio cholerae Ol and O139 in Thailand: At the Advancing Edge of the Eighth Pandemic. Am J Epidemiol 1996; 143:263-268.

[4] Stroeher UH, et al. Serotype conversion in Vibrio cholerae O1. Proc Natl Acad Sci USA 1992;89:2566-70.

[5] Vẫn theo bài tường thuật, “các chuyên gia y tế thế giới cũng khẳng định, gọi “dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm (TCCNH) trong đó có nguyên nhân từ phẩy khuẩn tả” là cách gọi thích hợp nhất đối với dịch bệnh đang lưu hành tại Việt Nam hiện nay.” Chúng tôi không có gì phải bình luận thêm về chuyện định danh vì thiết tưởng đã quá rõ ràng. Trên trang web của WHO họ vẫn gọi là cholera (bệnh tả), báo chí thế giới vẫn gọi là bệnh tả. Các giới chức y tế nước ta có thể sáng chế ra một bệnh danh với một cái tên dài [như chơi chữ] “dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm trong đó có nguyên nhân từ phẩy khuẩn tả” nhưng y học chẳng và chưa bao giờ có một bệnh nào với cái tên nào như thế.

Xin nói thêm rằng ngay cả đại diện WHO (ông Jean-Marc Olivé) trước mặt Bộ Y tế thì ông nói rằng WHO chấp nhận cách gọi bệnh danh của ta, nhưng trên mặt báo chí quốc tế ông vẫn gọi đó là cholera. Chứng minh? Thì đây trên Bloomberg.com ông nói (nguyên văn): “Cholera may become endemic if this continues”.

Trên trang web của WHO, dù với tiêu đề “Severe Acute Watery Diarrhoea with V. cholerae positive cases in Viet Nam”, nhưng ngay phía dưới họ vẫn đề “WHO Cholera fact sheet”! Ngay cả người láng giềng không mấy sạch sẽ với bệnh dịch nhưng cũng có cảnh báo bằng một tiêu đề “China says on guard after Vietnam cholera outbreak”. Chúng ta không nên quá ngây thơ với những “khẳng định” của “các chuyên gia y tế thế giới” về những mĩ từ của họ. Mà, ai là “chuyên gia y tế thế giới”? Có phải đó là những chuyên gia từ … Sri Lanka hay Nhật ?!