Saturday, May 31, 2008

Bác sĩ và giá thuốc

Báo Tuổi Trẻ chạy 2 bài liền về vấn nạn giá thuốc, mà theo phóng viên, thủ phạm chính là … bác sĩ. Thật ra, nhà báo viết cũng không sai, nhưng tôi nghĩ số bác sĩ dính dáng vào mấy vụ này chắc không nhiều. Có nhưng chắc không nhiều. Tôi nghe một trình dược viên nói rằng “các bác sĩ ngoài Bắc ăn bạo hơn”. Chẳng biết thực hư ra sao.

Thật ra, chẳng riêng gì ở VN, ở ngoài này các công ti thuốc cũng hối lộ cho bác sĩ và các giáo sư để tranh thủ “support” của họ, nhưng họ làm tinh vi hơn và có văn hóa hơn. Rất tiếc là ở VN, các công ti thuốc làm trắng trợn quá; điều đó chứng tỏ rằng họ xem tư cách bác sĩ Việt quá thấp.

Tôi e rằng vấn đề có nguồn gốc sâu xa hơn: đó là vấn đề y đức. Tôi đã xem qua các qui định y đức ở nước ta, và cảm tưởng của tôi là các qui định này không giống với qui định của các hiệp hội y khoa quốc tế. Hôm nào tôi sẽ quay lại vấn đề này. Nhưng qui định về y đức không phải là luật, nên có thể bệnh viện nào hay phòng mạch nào cũng trao bảng y đức trên tường, nhưng có mấy ai đọc, có mấy ai còn nhớ lời thề Hippocrate nữa?

Vấn đề tựu trung về văn hóa và nhân cách con người. Chừng nào bác sĩ thấy biết ngượng khi nhận tiền từ công ti thuốc thì lúc đó vấn đề mới hết.

NVT

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=259727&ChannelID=3

Thứ Ba, 27/05/2008, 07:57 (GMT+7)

Giá thuốc tăng cao, vì sao nên nỗi?

TT - Mặc dù ngành dược đã đưa ra rất nhiều qui định, giải pháp để kiểm soát và bình ổn giá thuốc chữa bệnh nhưng trong thực tế giá nhiều loại thuốc cứ tiếp tục tăng. Các cơ quan chức năng "hết thuốc chữa" hay có "thuốc" mà không "điều trị” tới nơi tới chốn "căn bệnh" này?

Bài 1: Nhức nhối "hoa hồng"!

Thâm nhập thực tế "thế giới" thuốc, PV Tuổi Trẻ phát hiện có những bác sĩ, thậm chí trưởng khoa dược bệnh viện đã để đồng tiền xóa nhòa lời thề y đức, mặc cho các công ty dược "cầm tay" kê toa.

Sáng 21-4, trong vai một trình dược viên (TDV) chúng tôi đến gặp bác sĩ (BS) Nguyễn Tiên Điền ở phòng khám đa khoa Minh Đức (Q.6, TP.HCM). BS Điền là người được các TDV cho biết rất "mạnh tay" trong việc kê toa để nhận "hoa hồng".

"Hoa hồng" 50%

Gặp chúng tôi, BS Điền hỏi ở công ty nào. Chúng tôi giới thiệu tên công ty, đưa bảng báo giá nhưng BS Điền vẫn im lặng. Dè dặt, chúng tôi nói cuối tháng công ty sẽ gửi phần chiết khấu cho BS 15%. BS Điền cười khùng khục: "Nhiều vậy à?". "Các công ty khác chiết khấu cho BS bao nhiêu phần trăm?" - chúng tôi hỏi. BS Điền nói ngay: "50%"!

Nghe chúng tôi nói về xin ý kiến công ty, BS Điền lại cười: "Em "đi" mấy loại". Chúng tôi nói "đi" (tức đi chào hàng) một loại, BS Điền bảo: "Đi một loại lấy gì ăn? Phải đi nhiều loại mới có ăn chớ". BS Điền cứ liên tục cười và tiếp tục hỏi địa chỉ công ty, tên người phụ trách, làm địa bàn nào. Chúng tôi nói tên người phụ trách và người này đang "đi" hàng ở Trung tâm M., BS Điền vặn ngay: "Biết thế sao còn chào giá 15%?".

Xem bảng báo giá xong, BS Điền cho chúng tôi số điện thoại và khuyên chúng tôi nên đi gặp BS Ch.. Sau đó BS Điền dặn: "Nếu 45% thì chi phí vô hàng em chịu, 50% tụi nó chịu chi phí vô hàng. Ở đây chỉ có anh với thằng Ch.... biết điều đó thôi nhé. Tại vì thấy em mới "đi" anh nói cho em nghe. Những người khác em có thể nói 15% được, cái đó là tùy em. Nhưng ở đây nè, ngay tại chỗ này nè, em đừng có nói 15% người ta cười cho…".

Ngày 22-4, chúng tôi quay trở lại phòng khám đa khoa Minh Đức gặp BS Điền và BS Ch... Khi chúng tôi nói: "Sếp em sẽ lên làm việc trực tiếp với các anh", BS Điền nói ngay: "Đúng rồi. Sếp của em phải lên gặp anh mới được. Còn em, chưa được đâu". BS Ch.... cũng hỏi chúng tôi có nhập hàng (đưa thuốc vào phòng khám) được hay không, rồi hướng dẫn: "Bỏ thuốc vô có nhiều công đoạn, nếu em nhắm bỏ thuốc vô đây thì kháng sinh, thuốc bổ, kháng viêm giảm đau đều được. Trừ Etodolas, vì anh có một mặt hàng giống vậy. Anh đã "làm" (tức kê toa nhận "hoa hồng") cho người ta rồi...".

Bác sĩ kiêm trình dược viên

Một công ty nước ngoài bị tạm dừng cấp số đăng ký thuốc

Hà Nội - Ngày 26-5, cục trưởng Cục Quản lý dược Trương Quốc Cường đã có văn bản thông báo tạm dừng cấp số đăng ký lưu hành thuốc tại VN (thuốc do công ty sản xuất và đứng tên đăng ký) với Công ty Hawon Pharmaceutical Corporation (Hàn Quốc). Lý do: qua kiểm tra thực tế, công ty này đã kê khống giá CIF (giá thuốc nhập khẩu đến cảng VN) một số mặt hàng cao hơn 30-50% so với thực tế.

Theo Cục Quản lý dược, đây là lần đầu tiên có một công ty nước ngoài bị xử phạt do vi phạm các qui định về giá thuốc. Cục Quản lý dược cũng cho biết hiện Công ty Hawon chưa kê khai bổ sung giá 21 mặt hàng đã lưu hành trên thị trường VN do công ty đăng ký, mặc dù Cục Quản lý dược đã yêu cầu hạn chót kê khai giá bổ sung là 31-3-2008.

LAN ANH - L.TH.H.

Một số công ty cho biết hiện nay BS không chỉ kê toa ăn "hoa hồng" mà họ còn "giựt hàng" của TDV để hưởng trọn "hoa hồng" mà công ty phân phối chi ra. Theo một số TDV, đa số các công ty đưa ra mức "hoa hồng" từ 20-55% cho cả TDV và BS. Tùy theo BS là người thế nào mà TDV sẽ trích một nửa hoặc 2/3 "hoa hồng". Để không phải chia chác với TDV, có BS sau khi "ăn" quen, biết được địa chỉ công ty phân phối đã "mò” tới đề nghị "đi hàng" trực tiếp với cam kết một tháng sẽ kê toa bao nhiêu thuốc.

Một số TDV kể cách đây không lâu có TDV "đi" thuốc Rergatonic (hỗ trợ gan, bổ gan, giá bán khoảng 250.000đ/hộp 100 viên) đã bị một nữ BS "hớt tay trên" để hưởng trọn 55% "hoa hồng". Trước đây, qua TDV này, nữ BS nọ kê toa một tháng khoảng 150 hộp, nhưng khi chạy thẳng lên công ty bà ta nói chắc sẽ "đi" được 300-400 hộp/ tháng. Công ty đó đã cắt hàng của TDV và giao cho BS.

Theo các TDV, số công ty TNHH kinh doanh dược phẩm chi "hoa hồng" cho BS kê toa bán thuốc rất nhiều, đa số thuốc xuất xứ từ Ấn Độ, Hàn Quốc đều có chi "hoa hồng". "Hoa hồng" còn được chung cho trưởng khoa dược từ 3-5% (không thì thuốc không vô được bệnh viện), chi cho người cộng sổ (để biết BS nào kê bao nhiêu toa) từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/người/tháng. Với những bệnh viện không thể cộng sổ, TDV không thể tính toa cho BS, họ sẽ dùng chiêu "mua đứt" một BS kê toa. Những BS độc quyền này bao giờ cũng kê toa "như mưa như gió” vì được hưởng "hoa hồng" rất cao.

Giá chênh lệch hàng chục lần!

Tiếp cận với nhiều TDV đang "đi" hàng ở các cơ sở y tế trên địa bàn TP.HCM, theo chúng tôi ghi nhận, hiện có hàng trăm mặt hàng kháng sinh, kháng viêm giảm đau, thuốc bổ (bổ gan, hỗ trợ gan, vitamin) ngoại nhập (chủ yếu là thuốc do các công ty của Hàn Quốc, Ấn Độ sản xuất) đang được một số công ty TNHH dược phẩm chi "hoa hồng" rất đậm cho một số BS ở khối phòng khám ngoại trú. Theo các TDV và một số BS, các mặt hàng thuốc có chi "hoa hồng" thường được sử dụng nhiều ở những bệnh viện có đông bệnh nhân ở tuyến tỉnh lên khám chữa bệnh. Do bệnh nhân ở xa, BS luôn kê toa sử dụng thuốc từ 15-30 ngày, thậm chí 60 ngày.

Thâm nhập "thế giới" thuốc, chúng tôi phát hiện Công ty TNHH dược phẩm Phú Xuân (14 Tân Châu, P.8, Q.Tân Bình, TP.HCM) hiện đang chào bán gần 20 mặt hàng cho một số bệnh viện tại TP.HCM. Hầu hết các mặt hàng của Phú Xuân đều chi "hoa hồng" cho BS kê toa từ 30-45%. Trong đó, hai mặt hàng "bán chạy như tôm tươi" và đang chi "hoa hồng" mạnh là kháng sinh Mycef 200mg và kháng viêm Sionara 200mg. Thậm chí Sionara gần đây không đủ hàng để bán vào một số bệnh viện. Xác minh từ cơ quan chức năng, bước đầu chúng tôi phát hiện không ít mặt hàng do công ty này phân phối đã bị nâng giá gấp mấy lần, thậm chí gấp mấy chục lần.

Có thể nói giá thuốc đã bị Công ty TNHH dược phẩm Phú Xuân nâng giá một cách vô tội vạ. Cụ thể: thuốc V-Neoflox 400mg (Ấn Độ sản xuất) có giá nhập khẩu ghi trên tờ khai hàng hóa nhập khẩu của hải quan (giá CIF) năm 2007 là 2 USD (khoảng 33.000đ) một hộp 100 viên. Thế nhưng, trong danh mục giới thiệu thuốc của Công ty TNHH dược phẩm Phú Xuân gửi đến các bệnh viện, phòng khám được chào bán với giá 130.000đ/hộp 10 viên. Tức là bán ra với giá 1,3 triệu đồng/hộp 100 viên. Như vậy, giữa giá nhập và giá bán của thuốc V-Neoflox có mức chênh lệch gần 40 lần.

Tương tự, với thuốc bổ Yucarmin (Hàn Quốc), giá CIF là 3 USD (khoảng 50.000đ)/hộp 100 viên nhưng được công ty này chào bán vào các bệnh viện với giá 280.000đ/hộp, mức chênh lệch là 5,6 lần. Thuốc Mycef 200mg (Ấn Độ) giá CIF là 1,9 USD (khoảng 31.000đ)/hộp 10 viên nhưng giá bán vào các bệnh viện là 130.000đ/hộp, chênh lệch 4,19 lần. Thuốc Sionara 200mg (Ấn Độ) có giá CIF 4,5 USD (khoảng 73.000đ)/hộp/100 viên nhưng giá bán ra cho các BV là 65.000đ/hộp/10 viên, tức 650.000đ/hộp 100 viên, mức chênh lệch giữa giá mua và bán là 8,9 lần...

Nếu cộng giá CIF và các khoản chi phí khác như thuế VAT (thường là 5%), phí ủy thác cho đơn vị nhập khẩu thuốc (3%), tiếp thị, lương nhân viên, kho bãi... thì giá thuốc cũng không thể cao đến mức khủng khiếp như vậy. Việc nâng giá bán gấp nhiều lần giá kê khai cũng đã được thanh tra Bộ Y tế xác nhận tại một hội nghị tổng kết hoạt động cuối năm 2007 rằng: "Có cơ sở đã nâng giá bán lên gấp 300% giá kê khai".

LÊ THANH HÀ

Phản hồi bạn đọc TTO

Tại sao để lộng hành trên giá thuốc?

TTO - Không thể ngờ được rằng giá thuốc đang bị bắt tay ngầm để làm giá một cách kinh khủng đến như thế! Các dược sỹ, các nhà phân phối thuốc có thấu hiểu được nỗi khổ, những gánh nặng đè oặt lên người bệnh thế nào không?

>> Giá thuốc tăng cao, vì sao nên nỗi?

Trước khi nhận đồng tiền hoa hồng, tại sao họ không nghĩ được rằng để có một viên thuốc mà đáng lẽ chỉ có 5.000 đồng thì những người bệnh nghèo phải bán đi một cân lúa giữa lúc giáp hạt để trả đến 10.000 đồng hoặc hơn thế nữa? Các cơ quan chức năng nên sớm vào cuộc để tìm hiểu tình hình, nhất định phải xử lý nghiêm sự móc ngoặc này, giảm bớt gánh nặng cho người bệnh nghèo!

THÁI BÁ DŨNG

Không thể bình ổn giá thuốc, người bệnh tiếp tục phải chịu giá thuốc tận trời nếu như cơ quan quản lý dược tiếp tục quản lý như hiện nay. Muốn thuốc vào bệnh viện phải chi cho Ban Giám Đốc (5-10%), trưởng khoa Dược(5-10%). Khi thuốc vào khoa Dược rồi phải chi cho bác sĩ kê toa. Đây mới là cuộc chiến khốc liệt nhất của các trình dược viên, không thì thuốc sẽ nằm ỳ trong khoa dược đến khi hết hạn...

Khi mở thầu thì trong hội đồng ông trưởng khoa dược đi mặt hàng này, ông phó giám đốc (chủ tịch hội đồng thuốc) nhờ giúp mặt hàng kia. Bà trưởng phòng kế hoạch xin giúp đỡ thuốc nọ, cuối cùng ai cũng được, ai cũng vui . Và "bông hồng" cứ nở rộ bệnh viện. Thế là nhất y nhì dược hay nhất dược nhì y mãi là câu nói bất hủ, chỉ có người bệnh là nằm chót bảng thôi.

BẠN ĐỌC

Đọc bài "Giá thuốc tăng cao" sáng nay tôi thấy rợn cả người. Các dạng bác sĩ như trên không còn lương tâm nữa vì họ đã nhận tiền hoa hồng trên nỗi đau của những người mà họ có nhiệm vụ phải cứu chữa. Trước đây tôi cũng đọc tin người bệnh bị vét sạch túi vì xét nghiệm, rồi bây giờ thêm giá thuốc được câu kết để nâng giá lên hàng chục thậm chí hàng trăm lần, như vậy dân nghèo mắc bệnh làm sao chịu nổi.

Tôi đề nghị ngành thuế nên tổ chức thanh tra toàn diện các công ty kinh doanh dược phẩm để xem họ trốn thuế cách nào mà rút được tiền ra chi hoa hồng nhiều như vậy. Các quí ông bà bác sĩ, dược sĩ như trên có biết rằng hiện nay có rất nhiều người bệnh không dám đi chữa bệnh mà chỉ uống thuốc Nam cầm cự qua ngày không? Người dân chúng tôi đề nghị các cơ quan nhà nước, đề nghị Bộ Y tế giải thích và có biện pháp giải quyết việc này.

NGUYỄN HƯNG

Với tình hình bác sĩ và công ty dược "bắt tay" nhau như thế này người dân rất hoang mang. Vậy, ngoài việc tăng giá thuốc, có chăng bác sĩ vì chạy theo lợi nhuận mà cứ mặc kệ những thứ thuốc có công hiệu thật sự để kê toàn những thứ thuốc bác sĩ có tham gia nhận hoa hồng. Vì kê nhiều toa bao nhiêu thì tiền nhận được càng cao bấy nhiêu.

PHÙNG THỊ ÁI LY

Với thông tin liên tiếp trong những năm gần đây, giá thuốc luôn luôn đạt "chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước", Bộ y tế cũng ra quân rầm rộ đi kiểm tra nhưng kết quả chỉ có bệnh nhân nghèo là lãnh đủ !

Nay với những chứng cứ mà phóng sự nêu trên đã chỉ tận tay day tận mặt những thủ phạm là các BS và các cty dược đã và đang sống trên xương máu của bệnh nhân, thì với trách nhiệm của mình Bộ Y tế sẽ có những giải pháp ra sao? Hy vọng là các cơ quan chức năng sẽ không im lặng.

NGUYỄN HOÀNG AN

Friday, May 30, 2008

Lệ Thu: "Tôi không có tính bay bướm, lăng nhăng"

Thế hệ tôi là thế hệ “mê” tiếng hát Lệ Thu. Tôi vẫn là “fan” của chị ấy. Như tôi có lần nói, sống ngoài này trên 25 năm, chưa bao giờ đi xem hát, nhưng chỉ có 1 lần duy nhất tôi phải phá lệ, vì chị Lệ Thu sang hát.

Đọc bài sau đây mới biết chị này có một cuộc đời cũng khá gian truân. Hóa ra, phụ nữ cũng cần đàn ông. Vậy mà bấy lâu nay, nhìn qua đồng nghiệp nữ thông minh, năng nổ và cò phần … hung hãn, tôi cứ tưởng họ chẳng cần đàn ông. :-)

NVT

===


http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/05/785782/

Lệ Thu: "Tôi không có tính bay bướm, lăng nhăng"

"Gần 20 năm cô đơn, chỉ có âm nhạc và sách, không có một người đàn ông cho dù là… lai vãng. Tôi nghĩ chắc mình không còn nợ duyên ai nữa nên mình không còn phải trả nợ, và ai đó cũng không phải trả nợ mình. Vì có gặp nhau là có nợ duyên nhau". Ca sĩ Lệ Thu.

Ở tuổi "nghỉ hưu" lâu rồi mà cô vẫn say ánh đèn màu, chắc không phải do cuộc sống quá chật vật chứ?

- Tôi 64 tuổi rồi, chưa phải quá già để đi hát, nhưng cũng không còn trẻ nữa. Vài lần có ý định nghỉ thì chỗ này bạn bè mời, chỗ kia lại là show lớn, mình cũng nói “thử xem sao”. Vì người cùng thời với mình ở Việt Nam nhiều, hơn nữa cũng nghĩ "mang tiếng hát về cho đồng bào nghe”. Khi về đến Việt Nam, những hoài niệm, những xúc cảm cộng thêm giọng hát nữa, mình thấy các đêm diễn hay quá. Đến giờ mình vẫn thích hát được như vậy chắc là do cái nghiệp, chứ mình đâu có nhu cầu gì. Nhà cửa bên Mỹ đã trả nợ xong, không có nợ nần điều gì nữa. Nói cuộc sống của mình dư dả thì không phải nhưng cũng vừa đủ.

Thấy cô thường xuyên về Việt Nam nhưng chỉ “một hình, một bóng”?

- Tôi đã chia tay hai lần và đã quen một mình suốt gần 20 năm qua.

Nghĩa là, cô đã một mình ngay khi ở tuổi hồi xuân?

- Có nhiều người để ý đến mình, nhưng người mình ưng đâu có nhiều. Người mình thích họ đã yên nơi yên chỗ, người phòng không thì họ e ngại không dám đặt vấn đề với mình. Họ nghĩ đến với mình họ cần có tiền, họ sợ với cao, họ sợ mình từ chối để rồi họ ôm thất vọng. Những người đàn ông đó không chịu hiểu, tình cảm không dựa trên danh vọng hay tiền bạc. Thà họ cứ tiến tới thì mình mới biết chứ, nếu không yêu thì cũng là bạn mà. Có một số người đồng trang lứa, cũng muốn ngỏ ý lắm, nhưng lại nhút nhát không dám tiến đến, như vậy thật uổng. Đàn ông thì cần mạnh mẽ và dấn thân chứ.

Sao cô không là người chủ động… dấn thân?

- Tôi vẫn là phụ nữ Việt Nam, nên vẫn bị cái e ngại thẹn thùng. Khi tôi không tỏ ra là có tình cảm thì người ta cũng đi mất.

Sao cô không chọn lựa phương án có một người tình?

- May cho tôi quá là tôi vẫn còn thú vui đọc sách. Khi tôi buồn phiền hay thất bại mất mát điều gì…, tôi cứ nghĩ đến những cuốn sách đang chờ tôi, thế là mọi buồn phiền bay mất. Nhờ sách nên tôi không bị cô đơn hay hiu quạnh

Nói gì thì nói, một người đàn bà thiếu đi bờ môi, thiếu đi gọng tay xiết…

- Đúng rồi, cũng cần lắm một vòng tay ấm áp chứ. Bạn bè mình đi đâu cũng có đôi, mình lẻ loi một mình nhiều lúc tủi thân lắm.

Điều gì khiến cô chia tay với hai người chồng?

- Tại tính tôi tự ái cao quá. Lúc đó tôi còn trẻ, tự ái đã giết chết tôi mà tôi không hay. Người chồng thứ nhất khiến tôi rất khổ tâm, anh ấy… (ngập ngừng). Tôi không muốn nhắc lại, vì nếu kể ra thì chuyện xấu lắm. Thôi thì cứ nói là không còn duyên nợ với nhau nữa. Đến cuộc hôn nhân lần 2, tôi đã nói với người đàn ông ấy: “Danh vọng và địa vị em không cần, em đã có chúng rồi. Cuộc sống của em có ánh đèn màu và nhiều cạm bẫy, nhưng em đều không vướng mắc. Nên anh tránh cho em sự phản bội. Anh đừng đi cùng người đàn bà khác đến những phòng trà em hát, em sẽ xấu hổ lắm”. Hôn nhân của chúng tôi suôn sẻ trong 10 năm, thời gian đó tôi không biết anh ấy có “ăn vụng” tôi không, hoặc nếu có thì cũng khéo léo. Nhưng đến khi tôi biết anh ấy lừa dối mình, tôi đã rất đau khổ.

Mô tả ảnh.

"Tôi không có tính bay bướm, lăng nhăng"

Tôi qua Mỹ sinh sống nhưng vẫn nghe ở Việt Nam anh ấy có người đàn bà khác. Nhiều người nói với tôi “cứ nhắm mắt nhắm mũi lại đi” nhưng tôi không thể. Vì tôi ở một chỗ đứng như thế, cộng thêm tôi một lòng vì chồng, không phản bội anh ấy mà anh ấy lại phản bội. Hôn nhân đổ vỡ không phải lỗi của tôi. Người đàn bà sau tôi khi đến với anh ấy ban đầu rất e ngại tôi, nhưng sau đó thì yêu mến và chúng tôi không có tị hiềm nhau điều gì cả. Gần 20 năm cô đơn, chỉ có âm nhạc và sách, không có một người đàn ông cho dù là… lai vãng. Tôi nghĩ chắc mình không còn nợ duyên ai nữa nên mình không còn phải trả nợ, và ai đó cũng không phải trả nợ mình. Vì có gặp nhau là có nợ duyên nhau.

Cô không bao giờ phản bội chồng mình?

- Không hề. Tính tôi ngộ ghê vậy. Chắc tại tôi dồn cho âm nhạc cũng như đam mê sách vở thành ra tôi không bị mang tiếng gì. Tôi không hề bay bướm lăng nhăng.

Người ta nói cô là người tình nhỏ của nhiều nghệ sĩ, nhiều nhà thơ. Họ đã làm những áng thơ, những bản nhạc cốt để vừa lòng cô.

- “No, no, no”. Ông Phạm Duy viết bài “Nước mắt mùa thu” vì có lần nghe tôi hát “Ngậm ngùi” (thơ Huy Cận) nên cảm tác và viết cho tôi thôi. Còn khoảng năm 1969-1970 gì đấy, ông Phạm Đình Chương có cộng tác với tôi “Đêm nhạc hồng” thì ông ấy quý nên có tặng nhạc. Tính tôi không vương vãi đâu. Còn tin đồn thì… Tôi thích câu “ngay cả khi mình trông thấy, chưa chắc đã đúng”.

Bài “Nước mắt mùa thu” có đúng với cuộc đời của cô không?

- Tôi đi hát hơn 40 năm rồi. Tôi thấy chỉ một bài hát thì chưa nói hết được, cũng chỉ nhẹ nhàng như “người ca sĩ khóc trong buồn tênh, giọng buồn tênh” thôi.

Hát nhiều nhạc Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn... cô thấy mình phiêu linh nhất với nhạc của ai?

- Tôi không phiêu linh với một nhạc sĩ, mà chỉ với bản nhạc mà tôi đã chọn và yêu thích. Trước năm 1975, những trung tâm ban nhạc, hay CD lẻ mời thu, tôi đã không kỹ càng chọn lựa bài, nhưng sau này tôi biết được xúc cảm của mình ở thể dạng nào thì chọn lựa kỹ hơn.

Các con của cô có theo nghiệp ca hát không?

- Tôi có chung với người chồng thứ nhất hai cô con gái, người chồng thứ 2 chung một con gái. Tôi không muốn các con mình đi theo con đường ca hát của mình, may quá cả ba đứa đều không dính líu gì đến nghệ thuật. Tôi nghĩ, khi các cháu nằm trong bào thai thì ông trời đã sắp đặt số phận cho các cháu rồi, nếu các con tôi muốn đến với con đường âm nhạc thì các con sẽ đến. Vinh quang nào cũng có giá, có mặt tốt và mặt xấu. Tôi luôn cảm ơn “Ơn trên” cho tôi thấy cuộc đời mình gặp may mắn nhiều hơn.

May mắn khi cô đã trải qua 2 lần kết hôn và nuôi 3 con nhỏ, sống cuộc sống... một mình?

- Vâng. Tôi là người biết cách thu xếp cuộc đời mình nên đến giờ tôi thấy gương mặt mình vẫn trẻ như mới hơn 40, con người tôi vẫn còn sức sống vì tôi chưa gặp cảnh u sầu để mà tàn tạ.

Hoa hậu và con người bạn

Hôm nay lan man trên web mới biết tin con gái của anh bạn tôi đang thi hoa hậu! Cháu tên là Dương Trương Thiên Lý. Càng vui hơn khi biết rằng người đẹp này được nhiều người săn đón. Vậy mà mới đây hồi năm ngoái khi về SG tôi có gặp cháu ở nhà hàng của ba nó, mà chẳng để ý nó là hoa hậu tương tai. Không biết anh bạn tôi nghĩ gì nhưng tôi thành thật chúc mừng anh chị D và chúc mừng cháu Thiên Lý.

NVT


===

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/05/785620/

Có tới… hai thí sinh Thiên Lý, “bệnh than” đang lan truyền tại Nha Trang…, là những mẩu chuyện hậu trường vui tại cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008.

Có người đóng thế Dương Trương Thiên Lý?


Hầu hết các thí sinh dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam đều có người thân hoặc chuyên gia trang điểm, làm tóc theo đến Nha Trang để chăm sóc, phụ giúp. Luôn kè sát cạnh thí sinh Dương Trương Thiên Lý trong những ngày ở Nha Trang là một cô gái rất giống Thiên Lý cả gương mặt lẫn vóc dáng.





Nhiều người trong đoàn hoa hậu đoán già đoán non rằng Thiên Lý luôn giữ được thần sắc tươi tỉnh dù phải căng mình chạy theo các hoạt động, là nhờ có… người đóng thế. Thực ra, đây là chị ruột Thiên Lý, có cái tên cũng ấn tượng không kém cô em gái của mình - Dương Trương Duyên Hải.

Theo đánh giá của các “chuyên gia ngồi lê đôi mách” trong hậu trường cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam thì Duyên Hải nếu đăng ký đi thi, cũng sẽ là một ứng cử viên nặng ký và là đối thủ cần phải đề phòng của bất cứ thí sinh nào, kể cả cô em gái!


“Bệnh than” lan truyền tại Nha Trang


Căn bệnh truyền nhiễm này đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu của cuộc thi và nhanh chóng lây lan khắp các thành phần liên quan. Bệnh than tại đây có nhiều biến chứng như than mệt, than nắng, than đồ ăn ngán, than buồn…


Thậm chí, căn bệnh kinh niên trên còn lan đến sân khấu phần thi hoa hậu tài năng. Thí sinh Doãn Thị Như Trang sau khi hát ca khúc Bài tango xa rồi đã than thở ngay trước mặt các vị giám khảo rằng: “Em hát chưa được tốt vì chưa kịp tập luyện kỹ, với lại do… ăn uống không được đều đặn”.


Bệnh than này có triệu chứng là hồn nhiên, thật thà nên chỉ cần một tràng cười ồ của những người chứng kiến, bệnh lập tức khỏi. Cũng xin mở ngoặc thêm rằng khẩu phần ăn một ngày tại Vinpearl dành cho các người đẹp và cả những người không đẹp, trị giá 55 USD, nên lại thấy người dính bệnh… than mắc dù rằng ăn… miễn phí.


Sự kỳ diệu của nghệ thuật hóa trang


Đã lọt vào đến vòng chung kết cuộc thi rồi thì không có thí sinh nào… xấu cả, nhưng sự tài tình của nghệ thuật hóa trang biến người đẹp ít thành đẹp nhiều, vẫn làm cho nhiều người giật mình.

Dưới bàn tay của các chuyên gia trang điểm Cindy Thái Tài, Thanh Phước, Mon…, các thí sinh trở nên khác hẳn, nhiều người chưa kịp nhớ mặt các thí sinh lắm lúc không nhận ra ai là ai.


“Sự thật” này được người đẹp Dương Thùy Linh tiết lộ trong chuyến đi thăm làng trẻ em SOS Nha Trang. Lúc trò chuyện với các em thiếu nhi, Thùy Linh căn dặn: “Các em nhớ nhé, chị là Thùy Linh. Các em hãy nhìn kỹ chị cùng các chị đây này, để tối 31/5 xem chung kết trên ti vi còn… nhận ra mặt các chị nhé!”.


Các thí sinh được đề nghị chỉ trang điểm nhẹ khi đi thăm làng SOS. Đây là khoảnh khắc hiếm hoi tại cuộc thi mà gương mặt các thí sinh không dày những phấn. Không biết tối chung kết, xem ti vi, các em có nhận ra được chị Thùy Linh không?


Người đẹp đùa rất sung!


Đều là những cô gái thế hệ 8X thanh xuân phơi phới, nên các người đẹp rất tươi trẻ, yêu đời, đùa giỡn suốt ngày. Ngay trong các buổi thi phụ, nếu có cơ hội các người đẹp cũng sẵn sàng bày trò.

Phương Linh đứng chụp ảnh, Thùy Linh ngồi dưới chân cầm miếng phản quang gọi là phụ giúp nhưng… phá là chính. Văn Hoa Thu Hằng đang diễn để chụp ảnh trong phần thi nghiêm túc là người đẹp qua ảnh, thì bỗng dưng thò ra cái đầu và cặp môi trề của Hoàng Yến…


Hoàng Yến và Khánh Ngọc sau buổi thi người đẹp du lịch biển còn “hợp đồng tác chiến” để cùng hò nhau đẩy… một thành viên ban tổ chức - người vẫn theo sát lo chuyện hậu trường hàng ngày cho các người đẹp - xuống hồ bơi, khi người này dám “khiêu chiến” trước.


Nhờ những lúc “tí tớn” này mà các người đẹp trông lúc nào cũng tươi tỉnh, dù phải tập luyện, thi thố suốt ngày.


Cánh phóng viên “mê” Thiên Lý như điếu đổ


Không phải đến Nha Trang, mà ngay từ cuộc họp báo cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam tại TP.HCM, vẻ đẹp nhuần nhị của Thiên Lý đã gây sự chú ý cho nhiều người.


Những ngày ở Nha Trang, hễ người đẹp này xuất hiện ở nơi nào là nơi đó có người xin được chụp ảnh chung, từ khách lưu trú tại khu resort, nhân viên phục vụ đến cánh phóng viên, người trong đoàn thí sinh…


Thiên Lý cũng thường xuyên bị cánh phóng viên “lôi” đi hết góc này đến khu nọ trong khu nghỉ mát để bấm máy… như điên. Nhiều máy tính cá nhân của các phóng viên chứa đầy những ảnh của Thiên Lý, có người thỉnh thoảng lại mở máy tính ra… ngắm nghía. Cá biệt, có phóng viên viết đến bốn entry liền trên blog về Thiên Lý, trong đó có một entry nghe đầy lãng mạn - Em là một giấc mơ.




Nếu Thiên Lý giành danh hiệu hoa hậu, hẳn cánh phóng viên là những người… đắc ý và… hả hê nhất!




Tuesday, May 27, 2008

Khía cạnh tâm lí của thơ Hàn Mạc Tử

Đây là một bài viết cũ trong thư mục do tôi sưu tầm. Bài của anh Nguyễn Đức Phùng, một chuyên gia tâm thần học ở Mĩ. Anh Phùng cùng quê bên nội tôi, tức là Bình Định. Chúng tôi chỉ quen nhau qua email mà chưa bao giờ gặp ngoài đời. Nhưng tôi vẫn hi vọng sẽ gập anh một lần để đàm đạo chuyện Hàn Mặc Tử mà anh cho là … điên. Không biết nói ra có làm anh Phùng giận chăng, nhưng tôi thấy các bác sĩ tâm thần nhìn ai cũng điên hay có vấn đề tâm thần cả. :-)

NVT

Khía cạnh tâm lí của thơ Hàn Mạc Tử

(qua cái nhìn của một chuyên gia tâm thần học)

Trong lời giới thiệu của cuốn ĐÔI NÉT VỀ HÀN MẶC TỬ của Quách Tấn, do nhà xuất bản Quê Mẹ ấn hành, một tay nào đó của nhà xuất bản viết:" Tên tác giả Quách Tấn, tên người được đề cập đến trong thiên hồi ký này và Hàn Mặc Tử, cả hai đều không cần đến bất cứ lời giới thiệu nào. Tự những cái tên ấy đã là những giá trị mà không ai có thể hoài nghi hay phủ nhận được". TRỜI! Viết như thế này thì còn ai dám có ý kiến gì khác với hai ông ấy nữa chứ! Chính ông Quách Tấn còn nói trong lời mở đầu là:" Rất có thể bị thời gian làm sai lạc ít nhiều" kia mà!

Hàn mặc Tử nói mình điên: "Bây giờ tôi dại tôi điên, chắp tay tôi lạy khắp miền không gian.... Anh điên anh nói như người dại, van lạy không gian xóa những ngày", và lấy tên một tập thơ là Máu Cuồng và Hồn Điên, thì người ta bảo ông điên cũng phải lắm! Chính ông ta nhận mình điên như bị can nhận mình có tội thì luật sư còn biết biện hộ làm sao nữa! Có chăng là nhờ một bác sĩ tâm thần khám rồi tuyên bố rằng ông ta đã mất trí rồi, không còn đủ tư cách pháp lý để nhận tội hay chạy tội nữa. Ở đây chẳng có ai có tội tình gì để mà bào chữa, có chăng là ý kiến của hai phe: Một phe có cảm tình với Hàn Mặc Tử, tự nhận là hiểu được thơ của Hàn và ca tụng hết mình, đứng đầu là nhà thơ cổ điển Quách Tấn. Phe kia bảo là không hiểu nổi ( các tập thơ sau tập Gái Quê, như Hương Thơm, Mật Đắng, Máu Cuồng và Hồn Điên), nên có ý bảo rằng đấy là thơ của người điên! Hoài Thanh, Hoài Chân, trong cuốn THI NHÂN VIỆT NAM (TNVN) có ngụ ý như vậy khi ông viết:" Một tác phẩm như thế không thể nói là hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết ta đứng trước một con người sượng sần vì bịnh hoạn, điên cuồng vì quá đau khổ trong tình yêu..." Ông còn chia thơ của Hàn Mặc Tử ra làm nhiều nhóm, trong đó có nhóm thơ ĐIÊN, gồm ba tập Hương Thơm. Mật Đắng. Máu Cuồng và Hồn Điên.

Tôi chưa nói ông đúng hay sai, nhưng tôi đã thán phục ông ta ở chỗ ông biết người biết ta khi ông nói: "Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của của tâm linh con người, khi xem tập Máu Cuồng và Hồn Điên, có lẽ sẽ lượm được nhiều tài liệu hơn là nhà phê bình văn nghệ ..."

Rất tiếc là trong giới văn học nghệ thuật của chúng ta đã không có nhiều những người như vậy, những người có óc nhận xét và phán đoán. Phần lớn họ là những người viết để thỏa mãn cái TÔI tự đại và khoe khoang (narcissistic ego), muốn cho người khác biết tới mình như là một kẻ có tài, nhất là những nhà văn nghiệp dư của chúng ta. Cho nên trong những tác phẩm của ho,ï ta luôn luôn thấy thấp thoáng bóng tác giả, khi ẩn khi hiện, như có ý nói rằng:" Đấy, ông thấy không, tôi đây cũng có hạng lắm chứ đâu phải tầm thường. Tôi thuộc loại đặc biệt đấy, người ta chưa biết tôi đấy thôi!".

Nhà văn có thể viết về mình như là thân phận của con người ( one of them), nhưng buồn thay chúng ta đều có ý nói:"Không, tôi không phải tầm thường vậy đâu! Tôi là một người đặc biệt ( I am not one of them, I am special!)". Xin lỗi! Tôi chỉ phân tích tâm lý. Nếu những nhận xét ấy có vẻ giống như mình quá thì ta có thể dùng một cơ chế tự vệ khác (defense mechanism) là Rationalization, lý luận biện hộ rằng: "Không! tôi đâu có cần được ai thán phục. Ngày xưa tôi viết là để giải tỏa nỗi buồn của người thanh niên trong cuộc chiến không lối thoát. Bây giờ tôi viết lại là để giải bày tâm sự của riêng mình và của người đồng hương, hay viết để bảo tồn văn hóa dân tộc.v.v..." Nghĩa là tìm một lý do chính đáng nào đó chấp nhận được cho mình và cho người là được rồi!

Ngay chính Hàn Mặc Tư,û ông cũng đã không dấu diếm gì điều đó khi ông nói với Quách Tấn:" Ừ, không làm được anh hùng trong lịch sử thì cố gắng làm anh hùng trong văn chương"( tr 32, ĐNVHMT). Ông ta là người rất háo thắng, như khi thấy Quách Tấn viết bài ca ngợi bài thơ VÔ ĐỀ, đọc được nhiều cách của vua Tự Đức, ông liền viết thơ bảo rằng:"Ai làm chẳng được mà khen!", rồi gởi luôn một lần hai bài thơ như vậy. Hàn Mặc Tử thường viết:"Những người có tài nghĩa là đi ra ngoài cái sáo cũ và lề lối xưa, thường hay đi trước sự tiến bộ. Tác phẩm của họ chỉ làm cho những thế hệ kế tiếp sau xem mà thôi. Chứ ở thời kỳ này, người hiểu thơ cho chín chắn vẫn là một thiểu số" (tr 410, Việt Nam thi nhân tiền chiến, quyển hạ, của Nguyễn tấn Long và Nguyễn hữu Trọng). Văn xuôi của Hàn Mặc Tử thì rất màu mè sặc sỡ, quá sức tưởng tượng, để tình cảm và cảm xúc tràn ngập, thiếu lý trí và phán đoán, lúc nào cũng đẩy tình cảm và cảm xúc đến bên bờ vực thẳm để cho khủng hoảng xảy ra, vì ông muốn như vậy, muốn là người đầu tiên, thiên tài, một anh hùng của văn học thì phải khác thường chứ! Những ước mơ ấy đã phản ảnh trong một bài thơ ông gởi cho một cô gái ở quê ông: "Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ, đời anh lưu lạc tự bao giờ, đi đi đi mãi nơi vô định, tìm cái phi thường cái ước mơ!..."

Trước khi chết, Hàn dặn người bạn đồng bịnh tương liên là Nguyễn văn Xê báo tin cho hai người, một trong hai người đó là nhà phê bình văn học và viết truyện ký Trần thanh Mại. Để làm gì, nếu không phải là để có người viết về mình ? Quả thật sau đó ông Trần thanh Mại đã viết cuốn Hàn Mặc Tử và đã đưa Hàn Mặc Tử vào huyền thoại văn học Việt Nam. Hàn cũng nói về mình, nhưng nói về cái thân phận đau khổ của mình, mà cái đó là cái chung của đồng loại, cho nên ông mãi mãi là người của chúng ta.

Ông Xuân Diệu thì quả quyết rằng Hàn Mặc Tử không điên, chỉ có lập dị, làm thơ như người điên. Ông ta cau có, gián tiếp mắng nhiếc Hàn như sau:" Hãy so sánh thái độ can đãm kia (thái độ của những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn hết là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống." (tr 203 TNVN).

Đấy! các nhà văn nhà thơ của chúng ta làm rộn cả lên như vậy! Sẵn sàng chụp mũ, chưởi bới, đốp chát khi không hài lòng, ngay cả với một con người đang quằn quại đau thương vô bờ bến với bệnh cùi, vào thời ấy có lẽ cũng kinh khủng như bịnh ẾCH bây giờ (AIDS hay SIDA), tương đương với một sự chờ chết (impending death or dying). Chúng ta sẽ thông cảm với Hàn Mặc Tử hơn, nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu một: CHUỖI DÀI ĐAU KHỔ VÀ THƯƠNG KHÓ (Mourning proccess or bereavement ) xảy ra hằng ngày trước mặt chúng ta nhưng ít ai chịu để ý và phân tích.

CHUỖI DÀI ĐAU KHỔ và THƯƠNG KHÓ

Nhà tâm thần học Elisabeth Kubler Ross đã quan sát và ghi nhận những phản ứng tâm thần của những người có người thân yêu ruột thịt bị chết, của người đang chết từ từ vì một bịnh nan y, ngặt nghèo không chữa được, hay những người bị một sự mất mát to lớn nào đó. Những phản ứng tâm thần ấy có 5 giai đoạn: Shock and denial ( bị cú shock, sững sờ, không thể chấp nhận được), Anger (giận dữ), Depression (Đau khổ, suy sụp tinh thần), Bargaining (mặc cả), và cuối cùng là Acceptance (chấp nhận).

Ví dụ có người tới báo cho bà mẹ biết rằng con của bà bị xe cán chết ngoài đường. Phản ứng đầu tiên là bị SHOCK and DENIAL, sững sờ, hồn phi phách tán, tá hỏa tam tinh, bà không tin như thế được! Người mẹ có thể nghĩ là người ta đã nhầm một đứa bé nào đó chứ không phải con của bà, hoặc nếu là con bà thì có lẽ nó chỉ bị xỉu thôi! nghĩa là bà đã không thể chấp nhận sự chết của con của bà được (denial).

Tôi đã chứng kiến cảnh một người đã sững sờ, nhợt nhạt, không nói được một lời nào (shock) khi được báo cho biết là thử nghiệm máu của ông ta dương tính với bịnh ẾCH. Một thời gian dài sau đó ông ta còn tin là thử nghiệm sai! Có người còn tin là không có bịnh ẾCH đâu! mà là một sự bịa đặt của giới y khoa và của chính quyền để hù làm cho dân chúng sợ, đừng làm tình bừa bãi, chích choát xì ke ma túy.v.v..( Lý luận, rationalization, để đưa đến sự không chấp nhận: denial ). Hàn mặc Tử đã phản ứng y chang như vậy. Vào những ngày cuối của cuộc đời, ông có tâm sự với người bạn mới gặp là Nguyễn văn Xê khi vào bịnh viện cùi Quy Hòa rằng:" Tôi nghĩ không bao giờ mình bị bịnh này anh Xê ạ!" (tr 179, ĐNVHMT). Trong một thời gian dài ông đã không chấp nhận được chuyện mình mắc bịnh cùi (denial), thay vào đó ông nghĩ là mình chỉ bị bịnh phong ngứa thôi, nên đã đi khắp các tiệm thuốc Bắc và thuốc Nam ở Bình Định và Chợ Lớn để chữa.

Còn người mẹ, khi đã thấy rõ là con của mình đã chết, bà sẽ phản ứng giận dữ, chưởi bới, có thể đổ lỗi cho người này người kia.v.v.. Ở Việt Nam tôi còn nhớ mỗi lần có tai nạn xe đò tông chết người, việc đầu tiên người tài xế phải làm là chạy thoát thân trước đã. Nếu chậm trễ, có thể bị thân nhân đánh chết không chừng! Tôi có người bịnh khi biết mình bị bịnh ẾCH liền xách súng đến bắn người đã tặng bịnh ẾCH cho mình. Đấy là những phản ứng của giai đoạn giận dữ, ANGRY.

Hàn Mặc Tử đã giận dữ qua Mật Đắng, Máu Cuồng và Hồn Điên. Thơ văn nóng như lửa, nhanh như chớp, dữ dội, kinh dị, rùng rợn và quay cuồng như giông tố: "Hồn là ai, là ai tôi chẳng biết! Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi. Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười, hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng. Tôi chết giả và no nê vô vạn, cười như điên và sặc sụa cả mùi trăng. Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng, hồn đã cấu đã cào nhai ngấu nghiến! Thịt da tôi sượng sần và tê điếng. Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên, tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm, cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực. Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức, rồi bay lên cho tới một hành tinh, cùng ngả nghiêng lăng lộn giữa muôn hình, để gào thét một hơi cho rởn óc, cả thiên đường trần gian và điạ ngục!.. " (Hồn là ai).

Giai đoạn DEPRESSION, buồn bực, khóc than và đau khổ. Điều này ta thấy khắp nơi trong thơ ông. ông đã xa lánh mọi người, cắt đức mọi liên lạc với thế giới bên ngoài (withdrawl ) kể cả người bạn thân là Quách Tấn:" Những ngày đau khổ nhuộm buồn thiu, những áng mây lam cuốn dập dìu, những mảnh nhạc vàng rơi lả tả, những niềm run rẩy của đêm yêu. hay: Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh, hơn hết u buồn của nước mây, của những tình duyên thương lở dở, của lời rên siết gió heo may". Sự đau khổ thấy khắp nơi trong thơ ông và dường như là do tình yêu mà ra là vì ông ta có chấp nhận là mình bị cùi đâu! cho nên mọi đau khổ đều đổ cả vào tình yêu, cũng như ông đã đổ cả vào bịnh phong ngứa vậy! Đổ cả vào tình yêu, gián tiếp là đổ cả vào Mộng Cầm. Đấy là sự giận cá chém thớt ( displacement ) trong lúc giận dữ. Trăm dâu đổ đầu tằm là vậy. Các người đàn bà khác như Thương Thương, Hoàng Cúc, Mai Đình, Ngọc Sương, đều không có sự đóng góp chính đáng vào sự đau khổ của thơ ông.

Giai đoạn BARGAINING, mặc cả với Chúa, Phật và thần linh, quay về với tôn giáo, đi chùa lễ phật, cúng dường Tam bảo, hứa nguyện làm điều lành, hy vọng được Phật cảm động mà cho hết bịnh ( má tôi thường làm cái này lắm ). Còn Hàn Mặc Tử thì đi nhà thờ, chấp nhận Chúa làm Chúa cứu thế, làm thơ tôn vinh đức mẹ Maria và đức Chúa Trời với hy vọng bịnh được lành như lời ông tâm sự với Quách Tấn:" Tôi có lời nguyện khi vào Quy Hòa, nếu Chúa ban phước cho tôi lành mạnh, tôi sẽ đốt tập thơ Điên" (tr.114, ĐNVHMT)..... "Tôi van lơn thầm nguyện Chúa Giê-su, ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối, xin tha thứ những câu thơ tội lỗi, của bàn tay thi sĩ kẽ lên trăng, trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng. Ta chắp hai tay lạy quỳ hoan hảo, ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian, để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân, nở một lượt giàu sang hơn Thượng đế. Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh! Run như run thần tử thấy long nhan, run như run hơi thở chạm tơ vàng...nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến". Mà tại sao ông phải đốt tập thơ Điên ? Tại vì đó là những giận dữ oán hờn nghi ngút. Mà ông oán hận ai nếu không phải đó là ông TRỜI ? Oán hận ông Trời thì mong gì ông Trời rũ lòng thương! cho nên ông phải nguyện đốt bỏ tập thơ ấy đi. Đấy là sự mặc cả.

Trong thâm tâm của ông, ông biết là ông không thể lấy Mộng Cầm được với tình trạng bịnh tật như thế này. Ai đã yêu với một tình yêu cao thượng và chân chính, với một chút lãng mạn, sẽ đoán được Hàn Mặc Tử sẽ làm gì ? Chính ông sẽ rút về một vị trí nào đó để giữ cái đẹp của tình yêu, cho nên ông sẽ chẳng bao giờ oán hận Mộng Cầm đâu, như lời ông nói: "Dẫu đau đớn vì điều phụ rẫy, nhưng mà ta không lấy làm điều, trăm năm vẫn một lòng yêu, và còn yêu mãi rât nhiều em ơi!"

Giai đoạn ACCEPTANCE, chấp nhận: Khủng hoảng, đau thương, mất mát, rồi cũng nguôi ngoai dần. Người mẹ có con chết kia, người bị bịnh ếch nọ, cuối cùng đã nhận thấy rằng cái chết là không thể tránh được (inevitable), phần lớn họ dần dần bình phục, lấy lại được sự sự bình tĩnh trong tâm hồn và tiếp tục sống nốt cuộc đời còn lại. Hàn mặc Tử cũng vậy, sau bao lần hy vọng và tuyệt vọng, đau khổ kêu la đến cùng cực, đã cầu nguyện trắng cả không gian, cuối cùng ông đã chấp nhận là mình đã bị bịnh cùi để vào trại cùi Quy Hòa một cách bình thản cho tới khi chết. Ông tâm sự với anh nguyễn văn Xê:" Tới Quy Hòa này là nơi có bãi bể, rừng dừa xanh, núi non hùng vĩ, cù lao xanh huyền ảo, đặc biệt là tình người, nên tôi đã hưởng cái bình an của nội tâm, cái thanh cao của nguồn vui tưởng chừng như đã chết trong tôi.." (tr.179, ĐNVHMT ). Sau khi ông chết, người ta tìm thấy trong túi áo một bài viết của ông bằng tiếng Pháp: La pureté de l` âme ( sự trong sạch của tâm hồn ) (tr.181 ĐNVHMT ).

Tôi muốn nói thêm một vài điều về chuỗi dài đau khổ và thương khó này:

Các giai đoạn không nhất thiết phải xảy ra theo đúng thứ tự từ một đến năm, mà có thể xảy ra lộn xộn.

Không phải ai cũng phải trải qua đủ năm giai đoạn. Có người thì kẹt lại tại một giai đoạn này hay giai đoạn kia quá lâu, hay trở nên bất thường và trở thành bệnh lý ( complicated bereavement ), ảnh hưởng đến sức khẻo cần phải chửa trị. Ví dụ có người bị kẹt tại giai đoạn DENIAL quá lâu như Hàn Mặc Tử chẳng hạn. Ông không chấp nhận mình bị bịnh cùi mà là bịnh phong ngứa, rồi đi tìm thầy thuốc Nam và thuốc Bắc mà chữa trị, để đến nỗi bị trúng độc hư gan hư thận mà chết! Có bà mẹ cứ ôm xác chết của con mình, không cho mang đi chôn, vì bà không thể chấp nhận được rằng con bà đã chết! Có người bị kẹt ở giai đoạn DEPRESSION, đau khổ, suy sụp tinh thần quá nặng đến mất ăn mất ngủ, suy ngược tâm thần, tuyệt vọng và tự tử..v.v...

Triệu chứng của các giai đoạn có thể xảy ra trong cùng một lúc như trường hợp của Hàn Mặc Tử. Cho nên thơ của ông náo nhiệt vô cùng, đau thương vô bờ bến, lời thật uất hận, tức tưởi, gắt gao mãnh liệt như dính máu, giận hờn nghi ngút, kinh dị lạ lùng, rực rỡ huy hoàng, thiêng liêng huyền bí khi ông cầu nguyện, và tới chết cũng còn lãng mạn và muốn được yêu vì chưa được một lần yêu đương trọn vẹn!: "Một mai kia ở bên khe nước ngọc, với sao sương anh nằm chết như trăng, không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm"

Qua thơ văn của Hàn Mặc Tử và những cuốn sách nói về ông, tôi không thấy có triệu chứng điên loạn nào cả ( Xin xem bài viết: Những triệu chứng tâm thần nặng trong thi ca Việt Nam ) . Có hai bài thơ trong đó ông nhắc đến một cảnh hãûi hùng, thấy người gánh máu đi trên tuyết và như có người ngồi bên cạnh mình trong một đêm trăng chỉ có một mình ông trên bãi bể về khuya:" Ai đi lẳng lặng trên làn nước, với lại ai ngồi khít cạnh tôi, mà sao ngậm kín thơ đầy miệng, không nói không rằng nín cả hơi!". Tôi nghi đây là ảo giác thị giác (visual hallucination) do bị trúng độc của thuốc Nam hay thuốc Bắc chăng ? khi ông còn ở xóm Tấn, cạnh bãi bể Qui Nhơn.

Ban đầu, chuỗi dài đau khổ và thương khó là một chuỗi phản ứng tâm thần quan sát được ở những người có người thân yêu ruột thịt như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bị chết, hay đang chết từ từ (dying), nhưng những hiện tượng này cũng thấy ở cả những người đang chịu đựng một sự mất mác lớn lao, như mất việc làm, mất địa vị xã hội, ly dị, mất tự do như bị tù tội, bị bịnh tật nan y ngặt nghèo không chữa được.v.v. . . Lâu lâu trên báo chí, truyền hình, ta thấy có người xách súng vô chỗ làm bắn giết lung tung khi bị đuổi sở mất việc làm là một thí dụ của sự giận dữ đấy!

Triệu chứng nặng nhẹ khác nhau là do sự khác biệt về trình độ văn hóa, tình trạng gia đình, cá tính từng người .v.v...Những trường hợp sau này, không liên quan đến sự chết chóc thường được gọi là: Rối loạn điều chỉnh, như rối loạn điều chỉnh với buồn bực, lo âu, với cả buồn bực và lo âu, hay với tức giận bạo hành.v.v...( Adjustment disorder with depressed mood and affect, with anxious mood and affect, or with behavior.v.v...)

Chế lan Viên nói: "Tôi có thể cam đoan với các người rằng, tất cả những cái gì tầm thường hiện thời rồi sẽ tan biến hết, và sau này trong tương lai còn lại một cái gì của thế hệ chúng ta đang sống, đó là thơ Hàn Mạc Tử!". Ông này thật ngớ ngẩn, nói một câu rất thừa là tất cả những gì tầm thường hiện thời rồi sẽ tan biến hết, nhưng đã đúng là Hàn Mạc Tử sẽ còn mãi mãi với dân tộc ông bên cạnh những anh hùng lịch sử của dân tộc Việt như lòng Hàn mong muốn. Nhưng hiểu được thơ ông không phải là dễ nếu ta không hiểu được những động cơ tâm lý ( Psychodynamic motives ) là muốn được trở thành anh hùng trong văn chương, và những phản ứng tâm thần qua các giai đoạn mà ông đã trải qua.

Bs Nguyễn đức Phùng

Daytona Beach

Florida,1995

Văn hóa và phát triển trong thế kỉ 21

Bài này tôi viết cũng khá lâu (gần 10 năm). Hôm nay xem lại thư mục của mình mới thấy nó, và gửi lên đây để các bạn cùng đọc. Tôi chưa gửi bài này cho ai cả. Có lẽ tôi sẽ gửi cho Tuần Việt Nam của Vietnamnet.

NVT

===

Văn hóa và phát triển trong thế kỉ 21

Người ta thường nói thế kỉ 20 là thế kỉ của ý thức hệ, bởi vì trong suốt 100 năm liền, người ta tranh chấp nhau giữa các chủ nghĩa (xã hội, tư bản, độc quyền, phát-xít, v.v…). Trong cuộc tranh chấp dai dẳng đó, lằn ranh chia cách các quốc gia là ý thức hệ. Người ta phân biệt các quốc gia qua chủ nghĩa, và cao điểm của sự phân biệt đó là cuộc Chiến tranh lạnh. Đến cuối thế kỉ 20, cuộc tranh chấp ý thức hệ chấm dứt, và kéo theo đó là sự cáo chung của cuộc chiến tranh lạnh giữa khối xã hội chủ nghĩa và khối tư bản chủ nghĩa.

Thế kỉ 21 là thế kỉ của văn hóa. Trong tương lai các quốc gia trên thế giới sẽ qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa và tôn giáo, nhưng không dựa trên ý thức hệ trong thời gian qua. Trong thế kỉ 21, người ta sẽ hỏi “Anh là ai" thay vì thay vì “Anh thuộc phe nào” như trong thời Chiến tranh lạnh. Câu hỏi đó thể hiện một sự chuyển biến về tư duy từ phe phái sang diện mạo.

Nhưng diện mạo là gì? Câu trả lời trước tiên là căn cước tính, là dựa vào văn hóa, vì văn hóa gắn liền với con người trong thế giới hiện đại. Theo Giáo sư Samuel P. Huntington, sau thời kì Chiến tranh lạnh, các quốc gia trên thế giới sẽ tập trung thành 8 nhóm theo tôn giáo và văn hóa: Tây phương (chủ yếu là các nước theo đạo Kitô giáo); Châu Mĩ Latin; Phi châu; Chính thống giáo (tức các nước Đông Âu như Nga, Ukraine ...); Ấn Độ giáo; Hồi giáo; Khổng giáo (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam); và một khối gồm các quốc gia khác như Nhật. Nói một cách khác, văn hóa sẽ che phủ cả hai chủ nghĩa dân tộc và ý thức hệ, nguyên là hai yếu tố quyết định mối liên hệ chính trị quốc tế trong thời Chiến tranh lạnh.

Vì thế, có thể tiên đoán rằng trong thế kỉ 21, những khác biệt, tương tác và xung đột giữa các nền văn hóa sẽ là những màn diễn chính trên sân khấu chính trị thế giới. Ngày nay, các nhà chính trị học, kinh tế học, và giới quân sự đang tập trung năng lực vào nghiên cứu văn hóa, và dùng nó như là một yếu tố để giải thích các hành vi xã hội cũng như kinh tế. Nói một cách ngắn gọn, văn hóa có giá trị chính trị, kinh tế, và xã hội, và hậu quả của văn hóa có thể tốt mà cũng có thể xấu.

Nhưng nếu văn hóa có giá trị đáng kể như thế, thì câu hỏi cần được đặt ra là “văn hóa là gì?” Nói một cách chung chung (theo cách diễn giải của Trần Ngọc Thêm), văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nói một cách cụ thể hơn, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise.

Khai triển từ định nghĩa đó, văn hoá có thể hiểu theo chiều hướng và không gian. Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ). Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn). Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật). Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh). Dù theo chiều hướng hay không gian nào, cái mẫu số chung của văn hóa là con người. Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên các giá trị văn hóa. Một trong số những giá trị văn hóa được con người sáng tạo ra ấy chính là bản thân con người – con người có văn hóa. Con người sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính con người cũng là sản phẩm của văn hóa.

Quan hệ văn hóa với con người và xã hội là một phần của quan hệ bộ ba con người - văn hóa - tự nhiên. Trong quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên, tự nhiên là cái có trước, tự nhiên qui định văn hóa. Văn hóa thường được định nghĩa như một “tự nhiên thứ hai”. Không có tự nhiên sẽ chẳng có văn hóa, bởi vì: (a) Thứ nhất, tự nhiên tạo nên con người; con người, đến lượt mình, lao động không ngừng để tạo nên văn hóa; như vậy, văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và sản phẩm gián tiếp của tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người; và (b) thứ hai, trong quá trình sáng tạo văn hóa, con người vẫn phải sử dụng các tài nguyên phong phú của tự nhiên và năng lực tự nhiên tiềm tàng của chính mình. Các giá trị văn hóa không thể tồn tại được nếu không có tự nhiên làm môi trường và chất liệu cho nó: mọi sản phẩm vật chất đều chế tạo từ các vật liệu tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ tự nhiên, và mọi sản phẩm tinh thần đều không thể tồn tại ngoài bộ não là cái vật chất tự nhiên sinh ra chúng.

Để làm rõ khái niệm “văn hóa”, cần phải phân biệt nó với một khái niệm có liên quan mật thiết là “văn minh” (civilization). Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng “văn minh” như một từ đồng nghĩa với “văn hóa”. Thực ra, văn hoá và văn minh tuy là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau, song không đồng nhất. Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi đó thì văn minh hướng tới sự hợp lí, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi”. Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến các tiện nghi vật chất. Như vậy, văn hóa và văn minh khác nhau trước hết là ở tính giá trị: trong khi văn hóa là một khái niệm bao trùm, chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh thiên về các giá trị vật chất – kĩ thuật mà thôi.

Một thuộc tính quan trọng bậc nhất của văn hóa là nó có thể chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con người nói riêng và nhân loại nói chung. Văn hóa tổ chức và điều chỉnh xã hội, giúp con người giao tiếp và thông tin, văn hóa giáo dục và đưa con người gia nhập vào cộng đồng xã hội. Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và không gian. Văn hóa là chất men gắn kết con người lại với nhau.

Văn hóa toàn cầu ?

Vài năm gần đây, nhiều người lí giải rằng một nền văn hóa toàn cầu đang được hình thành. Đối với họ, văn hóa đại đồng là tập hợp những ý tưởng về kinh tế, xã hội, và chính trị, cùng những giá trị đạo đức mà nhiều người trên thế giới công nhận. Có thể gọi văn hóa này là “Văn hóa Davos”, dùng tên gọi của một diễn đàn kinh tế thế giới được tổ chức hàng năm tại Thành phố Davos, Thụy Sĩ (còn gọi là World Economic Forum). Trong diễn đàn này, thành phần tham dự là những quan chức chính phủ, nhà kinh tế, thương gia, chính trị gia, nhà khoa bảng làm việc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, và luật pháp. Họ là những người làm việc với chữ nghĩa và con số, nói thạo tiếng Anh, có nhiều liên hệ quốc tế. Họ cũng là những người có cùng quan điểm về chủ nghĩa cá nhân, kinh tế thị trường, và dân chủ chính trị, những điều mà người ta thường hay thấy hay biết như là những giá trị căn bản của văn hóa Tây phương. Họ là những người có khả năng chi phối hầu như mọi cơ quan quốc tế, có ảnh hưởng đến nhiều chính phủ trên thế giới, và kiểm soát tiềm năng quân sự trên các quốc gia nhỏ bé khác.

Văn hóa Davos, do đó, đóng một vai trò cực kì quan trọng trên thế giới. Tuy nhiên, trên bình diện thế giới, chỉ có một số rất nhỏ dân số chia sẻ văn hóa này. Thành ra, chắc còn lâu lắm Văn hóa Davos mới có khả năng trở thành một văn hóa toàn cầu, vì ngay cả những lãnh tụ chia sẻ loại văn hóa này cũng không nhất thiết nắm vững quyền lực trong xã hội của họ. Nhưng dù sao đi nữa, Văn hóa Davos là một sinh hoạt rất đáng kể, vì nó có ảnh hưởng đến quá trình toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế ngày nay.

Quan niệm thứ hai về văn hóa toàn cầu là văn hóa tiêu thụ, một đặc điểm khác của văn hóa Tây phương. Trong lịch sử, mốt văn hóa từng được truyền đi từ nền văn minh này sang một nền văn minh khác. Những sáng kiến của một nền văn minh thường được các nền văn minh khác mô phỏng theo. Tuy nhiên, những mốt này thường là kỹ thuật hay công nghệ, tức là những sáng kiến không có hậu quả văn hóa lớn, chúng đến rồi đi mà không có khả năng làm thay đổi văn hóa của nền văn minh tiếp thu chúng.

Một quan niệm văn hóa toàn cầu khác, phức tạp hơn chút, đặt trọng tâm vào vai trò của hệ thống truyền thông. Trong lĩnh vực này, sự thống trị của Mĩ trong kỹ nghệ phim ảnh, truyền hình, và truyền thanh quả là rất lớn. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng nào cho thấy sự ra đời của một hệ thống thông tin toàn cầu có thể làm thay đổi thái độ và niềm tin. Nhưng với thời gian, hệ thống truyền thông toàn cầu có thể dẫn đến một sự hội tụ những giá trị đạo đức và niềm tin trong các dân tộc khác nhau, dù thời gian cho quá trình này có thể sẽ rất lâu.

Năm trăm năm về trước, thế giới có nhiều nền văn hóa, nhưng là văn hóa truyền thống, không phải văn hóa hiện đại. Sau đó, quá trình hiện đại hóa kinh tế và xã hội ở Tây phương đã mở ra một khoảng cách giữa các xã hội Tây phương hiện đại và xã hội phi Tây phương, phi hiện đại. Ngày nay, hiện đại hóa đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. Tất cả các nền văn hóa đang trở thành hiện đại, và theo ý thức này, sự khác biệt giữa Tây phương và các nước trên thế giới đang dần dần biến mất. Tuy nhiên, hiện đại hóa không hẳn là Tây phương hóa. Một vài bằng chứng ở Nhật và Trung Quốc cho thấy quá trình hiện đại hóa cũng là quá trình củng cố các nền văn hóa hiện tại và do đó duy trì sự cá biệt của chúng. Chỉ 500 năm trước đây, nhiều nền văn hóa cùng tồn tại với nhau, do đó, trong thế kỉ sắp đến chúng ta có lí do để cho rằng các nền văn hóa sẽ cùng chung sống. Về lâu về dài, các nền văn hóa khác nhau sẽ đồng qui về một nền văn hóa toàn cầu, nhưng viễn ảnh này sẽ xảy ra trong một tương lai rất xa. Trong tương lai gần, hiện đại hóa sẽ làm hồi sinh các xã hội phi Tây phương.

Nền văn hóa của một xã hội có thể thay đổi qua quá trình hiện đại hóa, hay qua một sự kiện đột xuất (như Thế chiến thứ II đã làm thay đổi hai xã hội quân sự thành hai xã hội hòa bình), hay qua tác dụng của lãnh đạo chính trị. Nhìn chung, tuy nhiên, các bản sắc văn hóa sẽ duy trì rất lâu. Một nghiên cứu về mức độ hài lòng trong dân chúng ở các nước Tây Âu cho thấy điều này khá rõ ràng. Mặc dù có nhiều thay đổi về tình hình kinh tế trong vòng 15 năm qua, người Đan Mạch vẫn sung sướng, người Ý thì không. Một khi xã hội trở thành giàu hơn (về kinh tế), chúng cũng di chuyển từ truyền thống sang hiện đại và hậu hiện đại. Hiện đại hóa nhưng không hội tụ.

Khi các xã hội phi Tây phương bắt đầu hiện đại hóa, xã hội thường cố gắng noi theo các giá trị văn hóa của Tây phương. Một trăm năm về trước, một số người ở Nhật và Trung Quốc lí giải rằng quốc gia họ sẽ phải từ bỏ ngôn ngữ mình để dùng tiếng Anh hay tiếng Đức trong quá trình hiện đại hóa. Song, khi hiện đại hóa diễn ra, quần chúng có khuynh hướng quay về văn hóa của họ, như ngày nay chúng ta thấy họ đề cập đến những giá trị Á châu, và sự phục hưng tôn giáo ở nhiều nơi trên thế giới. Thế giới đang hiện đại hóa, nhưng không phải Tây phương hóa.

Văn hóa và phát triển

Nhiều thập niên qua, các nhà kinh tế học đã phải bận rộn với câu hỏi “Tại sao một số nước phát triển kinh tế nhanh và trở nên thịnh vượng, trong khi các nước khác dẫm chân tại chỗ trong vũng lầy của nghèo nàn và lạc hậu?” Công bằng mà nói, họ chưa tìm thấy câu trả lời thuyết phục dựa trên những lí thuyết kinh tế. Câu hỏi này đánh động rất nhiều người, trong đó có người viết bài này, với trường hợp của Hàn Quốc và Ghana. Vào thập niên 60, hai quốc gia này có cùng chỉ tiêu kinh tế (như mức thu nhập trên đầu dân bằng nhau, xuất khẩu tương đương nhau, mức độ viện trợ giống nhau, nền công nghệ sản xuất cũng tương đồng nhau, v.v...). Ba mươi năm sau, Hàn Quốc trở thành một nước có nền kĩ nghệ tiên tiến, với nhiều đại công ty xuất khẩu xe hơi và sản phẩm điện tử, thu nhập bình quân đầu người cao, trong khi Ghana dẫm chân tại chỗ. Tại sao có sự khác nhau? Chắn chắn là có nhiều nguyên nhân và yếu tố dẫn đến sự khác biệt này, nhưng văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định. Người Hàn Quốc cần kiệm, đầu tư cho tương lai, siêng năng làm việc, tinh thần kỹ luật cao, và đặt nặng vào giáo dục. Người Ghana không có những giá trị văn hóa giống người Hàn Quốc.

Các nhà học giả khác cũng đi đến một kết luận tương tự. Vào thập niên 1980s, Larry Harrison, một nhà nghiên cứu kinh tế xã hội thuộc Đại học Harvard và từng làm việc nhiều năm ở Châu Mĩ Latin, viết một cuốn sách Underdevelopment is a State of Mind, mà trong đó ông lí giải rằng chính cái văn hóa của Châu Mĩ Latin là hàng rào cản trở cho các nước vùng này phát triển. Cuốn sách gây ra một làn sóng phản đối dữ dội từ các nhà kinh tế Mĩ. Nhưng ngày nay, nhiều người thấy quan điểm này của Harrison rất có lí. Văn hóa đã trở thành một yếu tố quyết định trong phát triển.

Chúng ta có thể nhìn qua tình hình kinh tế của các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội cũ để thấy sự quan trọng của văn hóa trong phát triển. Chẳng hạn như Ba Lan và Ukraine là hai nước có một nền kinh tế khá phát triển trong khối Đông Âu trong thời xã hội chủ nghĩa, nhưng nay, sau quá trình cải cách kinh tế, Ukraine tụt hậu sau Ba Lan. Tất nhiên có nhiều lí do cho hiện tượng này, nhưng văn hóa là một trong những lí do đó. Ukraine là một xã hội chia rẻ, tuy chủ yếu là Chính thống giáo, trong khi Ba Lan là một xã tội Tây phương.

Văn hóa cũng tác động đến hình thức tổ chức kinh tế. Mức độ tin tưởng giữa cá nhân với nhau biến đổi theo từng quốc gia. Nhà xã hội học Francis Fukuyama lí giải rằng các xã hội mà trong đó mức độ tín nhiệm giữa cá nhân khá cao (như Nhật Bản, Đức, và Mĩ), thường có khả năng tổ chức và khuếch trương các đại công ty hơn các xã hội mà trong đó sự tín nhiệm chỉ giới hạn trong gia đình hay bạn bè thân thuộc như trường hợp ở Pháp, Ý, và Trung Quốc. Nếu lí giải này đúng thì ý nghĩa của nó là các quốc gia châu Á sẽ không có tiềm năng phát triển để trở thành những diễn viên kinh tế quan trọng trên trường quốc tế.

Quan điểm của Fukuyama đã được minh họa qua một số nghiên cứu gần đây về mức độ tham nhũng giữa các quốc gia trên thế giới. Nhìn qua các con số thống kê về tham nhũng trong các nghiên cứu này, người ta thấy mức độ tham những thường tập trung thành từng nhóm văn hóa. Các nước Bắc Âu và các nước nói tiếng Anh ít tham nhũng nhất; các nước tham nhũng nhất tập trung ở Á châu và Phi châu. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ, như ở Singapore, nơi được xếp hạng vào các nước trong sạch nhất thế giới. Nhưng các quốc gia láng giềng như Nam Dương, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân, v.v... là những nước có mức độ tham nhũng cao. Tại sao lại có hiện tượng này? Câu trả lời dĩ nhiên là nhờ vào lãnh đạo chính trị. Lý Quang Diệu, người đã cai trị Singapore hàng mấy mươi năm, có quyết tâm sáng tạo một xã hội trong sạch, và phải công nhận là, dù còn thiếu sót hay bị chỉ trích, ông đã thành công ở Singapore. Do đó, Lý Quang Diệu đã cung cấp một tấm gương về tầm quan trọng của văn hóa trong hoạt động kinh tế. Thượng nghị sĩ Mĩ, Daniel Patrick Moynihan, nói một câu chí lí: “Quan điểm chủ yếu của giới bảo thủ là văn hóa, chứ không phải chính trị, định đoạt sự thành công của một xã hội. Đối với giới tự do, họ chủ trương rằng chính trị có thể thay đổi một văn hóa.” Và, điều này đã xảy ra ở Singapore.

Văn hóa cũng đóng vai trò trong việc mở mang dân chủ. Chế độ dân chủ hiện đại mà chúng ta kinh nghiệm ngày nay là một sản phẩm của văn minh Tây phương, và trên 80% các nền dân chủ trên thế giới ngày nay là thuộc về phương Tây, hay chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây phương. Song, chế độ dân chủ cũng có thể phát triển ở các xã hội có văn hóa phi Tây phương. Nhật Bản và Ấn Độ là hai ví dụ đáng chú ý. Thành ra, có thể sẽ rất sai lầm nếu cho rằng một nền văn hóa cá biệt làm cho thể chế dân chủ không phát triển được. Nhưng có thể sẽ không quá ngoa nếu cho rằng một số nền văn hóa không mấy “hiếu khách” với chế độ dân chủ. Các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản ngày xưa minh họa cho ý kiến này khá chính xác.

Văn hóa và Chính trị toàn cầu

Trong một cuốn sách mang tựa đề The Clash of Civilizations gây tranh luận sôi nổi trên thế giới, Samuel P. Huntington tiên đoán rằng thế giới, sau thời chiến tranh lạnh, sẽ lâm vào nhiều cuộc chiến tranh lạnh khác. Những cuộc chiến tranh lạnh mới này không phải là những tranh chấp ý thức hệ, mà là những xung đột liên quan đến văn hóa. Suy cho cùng, những khác biệt quan trọng nhất giữa các dân tộc trên thế giới là văn hóa của họ, chứ không phải ý thức hệ, chính trị, hay kinh tế. Trên thế giới ngày nay, người ta đang tìm câu trả lời cho một câu hỏi căn bản: Chúng ta là ai? Và họ trả lời câu hỏi đó bằng một cách cực kì truyền thống mà nhân loại đã trả lời qua tham khảo những cái gì có ý nghĩa nhất đối với họ. Con người tự nhận diện mình bằng cách tham chiếu tổ tiên, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử, giá trị đạo đức, phong tục, và tổ chức. Họ đồng cảm với nhau qua các nhóm văn hóa: bộ tộc, sắc tộc, cộng đồng tôn giáo, dân tộc, và ở một mức độ rộng lớn hơn, văn minh. Chính trị toàn cầu trong thế kỉ 21 đang được sắp đặt trên đường ranh văn hóa và văn minh. Sự phát triển này có vài ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, các quốc gia không còn tập trung thành ba nhóm chính trị như trong thời chiến tranh lạnh, nhưng thành 7 nhóm dựa theo văn minh: Tây phương, Chính thống giáo, Trung Quốc, Nhật Bản, Hồi giáo, Ấn Độ giáo (Hindu), Châu Mĩ Latin, và Phi châu. Thực ra cách phân chia này cũng nhất quán với lí giải của Henry Kissinger khi ông cho rằng hệ thống quốc tế trong thế kỉ 21 sẽ bao gồm ít nhất là 6 cường quốc — Mĩ, Âu châu, Trung Quốc , Nhật Bản, Nga, và có thể cả Ấn Độ. Tuy nhiên, Kissinger quên mất rằng các quốc gia Hồi giáo kiểm soát nguồn dầu hỏa và đông dân cũng là một thế lực chính trị quan trọng trên thế giới. Cạnh tranh giữa các cường quốc này đang được thay thế bằng những xung đột văn minh. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, chính trị toàn cầu vừa là đa cực (multipolar) mà cũng là đa văn minh.

Thứ hai, nhiều thay đổi đang xảy ra trên thế giới có khuynh hướng tùy thuộc vào văn minh. Văn minh phương Tây đã trở thành một lực lượng văn minh mang tính áp đảo qua nhiều thế kỉ, và có lẽ nó còn duy trì vị thế này trong thế kỉ sắp tới. Tuy nhiên, một số lực lượng khác đang phát triển và có khả năng thay đổi cán cân quyền lực này. Các lực lượng này bao gồm vấn đế suy giảm dân số ở các nước Tây phương, sự phát triển kinh tế ở các nước Đông Á, và sự bùng nổ dân số ở các nước Hồi giáo.

Thứ ba, trong thế giới mới này, quan hệ giữa các nhà nước từ các nền văn minh khác nhau sẽ lạnh nhạt và thường đối nghịch nhau. Trong khi các liên minh giữa các nền văn minh có thể hình thành một cách tự phát, quan hệ giữa các nền văn minh sẽ được diễn tiến theo mô hình cạnh tranh để tồn tại, chiến tranh lạnh, và hòa bình lạnh. (Cụm từ Chiến tranh lạnh xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha, la guerra fria, từ thế kỉ 13, dùng để diễn tả mối quan hệ của họ với người Hồi giáo.) Cái trục quan trọng nhất trên chính trị thế giới sẽ là mối quan hệ giữa Tây phương và thế giới phi Tây phương, khi mà Tây phương cố tìm cách lợi dụng quyền lực của mình và áp đặt các giá trị văn hóa lên các xã hội khác.

Trong thế giới mới này, nếu có va chạm thì va chạm nguy hiểm nhất sẽ xảy ra giữa giữa các cường quốc có những nền văn minh khác nhau. Cái cội nguồn của một va chạm như thế có thể xảy ra giữa Tây phương và Hồi giáo, hay ở một mức độ thấp hơn, giữa Tây phương và Trung Quốc. Mối quan hệ giữa Tây phương và hai thế lực thách thức này – Hồi giáo và Trung Quốc – sẽ còn khó khăn và đối nghịch.

Thứ tư, xung đột giữa các sắc tộc đang lan tràn trên thế giới, và đang trở thành một mối đe doạ cho hòa bình thế giới. Những cuộc đụng độ đẩm máu giữa các nước trong vùng Balkans, Caucasus, Trung Á, Ấn Độ – Paskistan, và ngay cả ở Trung Đông, cho thấy những xung đột mang tính chất địa phương nhưng hoàn toàn có nguy cơ khuếch đại thành những cuộc chiến trang lớn dính dáng nhiều quốc gia từ nhiều nền văn minh khác nhau.

Điều đáng chú ý là những lằn ranh xung đột này không phải phân phối một cách ngẫu nhiên. Nó thường hay dính dáng các nước Hồi giáo và không Hồi giáo. Một nguyên nhân quan trọng là vấn đề sinh sản gia tăng nhanh chóng ở các quốc gia Hồi giáo, tạo ra một “thế giới trẻ phình” (giữa độ tuổi 15 và 25). Trong tương lai gần, mối quan hệ giữa Tây phương và Hồi giáo sẽ xa lạ và gay gắt, hay thậm chí bạo động. Về lâu về dài, tuy nhiên, sự bùng nổ dân số trong các nước Hồi giáo sẽ còn gây ra nhiều vấn đề nan giải và nguy hiểm hơn cho thế giới.

Thứ năm, trong khi khác biệt giữa các nền văn hóa và văn minh chia cách con người, thì những tương đồng về văn hóa và văn minh sẽ làm cho con người gần nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến các quốc gia trên thế giới tụ tập với nhau thành từng nhóm kinh tế. Cái mẫu số cho sự thành công hay thất bại của các nhóm này là văn hóa. Không những trong “mặt trận” kinh tế, mà ngay cả trong mặt trận ý thức hệ chính trị cũng có một khuynh hướng tương tự. Các quốc gia kết hợp với nhau qua ý thức hệ, nhưng lại xa cách nhau qua lằn ranh văn hóa, như trong trường hợp của Nam Tư và Liên Xô ngày xưa. Ngược lại, các quốc gia khác nhau về ý thức hệ, nhưng lại đến với nhau qua những tương đồng về văn hóa, như trường hợp của Đông Đức và Tây Đức, hay Nam Hàn và Bắc Hàn, và một số nước có văn hóa Khổng giáo. Càng ngày người ta càng nói với nhau bằng ngôn ngữ văn hóa. Nga đang tập hợp một số nước theo đạo Chính thống giáo Orthodox) thành một nhóm chúng. Các nước ở Đông Á cũng đang tích cực tụ tập với nhau thành một thị trường chung, nhưng ngoại trừ Nhật Bản, một nướ có văn hóa khác với Đông Nam Á châu.

Xung đột khó tránh khỏi

Có thể nói một số sự kiện trên thế giới xảy ra gần đây cho thấy thuyết xung đột văn minh và văn hóa là một viễn ảnh có thật. Những sự kiện này gồm có: những cuộc chiến xảy ra giữa các nhóm quốc gia khác nhau về văn minh; sự tái thiết lập các quốc gia Âu châu theo lằn ranh văn minh; sự hình thành những thị trường kinh tế chung từng vùng như EU (European Union), APEC, và NAFTA; phong trào tôn giáo và chính trị ở Ấn Độ, Do Thái, Thổ Nhĩ Kì, và một số nước khác; vấn đề di dân từ các quốc gia nghèo hơn vào các quốc gia Tây phương; hiện tượng Trung Quốc đang trờ thành một thế lực chính trị và quân sự quan trọng trên thế giới; sự hình thành một số quốc gia “nòng cốt” như Nam Phi và Nigeria ở Phi Châu, Ba Tây ở Latin America; và nhất là vấn đề phát triển vũ khí hạt nhân.

Sự tái thiết lập nền chính trị quốc tế theo lằn ranh văn minh đã trở thành hiển nhiên ở Trung Âu và Đông Âu. Qua nhiều thế kỉ, đường ranh ngăn chia các quốc gia ở Âu châu là bức màn sắt. Ngày nay, bức màn đó đã hạ xuống, và lằn ranh văn minh kéo dài hàng trăm cây số về hướng đông, chia cách các dân tộc theo Ki-tô giáo La Mã một bên, các dân tộc theo đạo Hồi một bên, và đạo Chính thống một bên khác. Áo, Thụy Điển, và Phần Lan là những quốc gia có nền văn hóa Tây phương phải trở nên trung lập và tách ra khỏi khối Tây phương trong thời chiến tranh lạnh. Ngày nay, các quốc gia này quay trở lại với EU và Tây phương. Ba Lan và Tiệp Khắc đang trở thành hai thành viên của NATO và chuyển dần về hướng EU. Ở vùng Baltics, các quốc gia ngày xưa thuộc khối Liên Xô nay cũng tự mình sắp hàng chung với nhau theo truyền thống văn hóa Tây phương.

Ở vùng Balkans trong thời gian chiến tranh lạnh, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kì là những thành viên trong NATO, Bulgaria và Romania từng nằm trong khối Warsaw, Nam Tư trung lập, và Albania từng bị cô lập nhưng có thời là bạn với Trung Quốc. Ngày nay, Bulgaria, Serbia, và Hy Lạp đang tụ họp với nhau thành một nhóm quốc gia mà họ gọi là "Orthodox entente." SloveniaCroatia đang hội nhập vào Tây Âu. Thổ Nhĩ Kì đang khôi phục lại mối quan hệ với Albanian và Hồi giáo Bosnia. Cuộc xung đột giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kì trong thời chiến tranh lạnh bị dìm xuống, thì ngày nay lại nổi lên và đang trở thành một mối đe dọa cho hòa bình trong vùng. Khi đề cập đến tình hình nay, Tổng thống Hy Lạp nói: “Ngày nay, chúng ta không phải đương đầu với mối đe dọa từ phương Bắc […] Những nước đó có cùng văn hóa và niềm tin tín ngưỡng như chúng ta. Ngày nay, chúng ta đối mặt với mối đe doạ xảo quyệt từ phương Tây [...] từ Ki-tô giáo La Mã và Phản thệ (Protestants).” Liên minh Âu châu, mặt khác, từ chối Thổ Nhĩ Kì. Thổ Nhĩ Kì là một nước đang bị dằng xé vì cuộc xung đột nội bộ giữa các tướng lãnh quân sự theo Tây phương và phong trào Hồi giáo đang lớn mạnh dần, và cuộc xung đột này được biểu hiện bằng hành động chính trị. Thành phần Thổ Nhĩ Kì theo Hồi giáo muốn Thổ Nhĩ Kì phải tách khỏi NATO.

Vài năm trước đây, Mĩ và Iraq đụng độ nhau, tất cả các nước Ả Rập (ngoại trừ Kuwait), phản đối sự can thiệp quân sự của Mĩ và Anh. Tuy nhiên, Gia Nã Đại, Úc, và Tân Tây Lan (những nướ có cùng văn hóa với Mĩ) ủng hộ Mĩ và tham chiến. Cũng vài năm trước đây, chiến tranh giữa người Albanians (Kosovo) và người Serbs bùng nổ. Ấn Độ và Pakistan cũng đang “gầm gừ” nhau, tranh dành ảnh hưởng trong vùng. Thành ra, xung đột văn minh là một điều khó có thể tránh khỏi trong tương lai chính trị thế giới.

Monday, May 26, 2008

TopVietBlog.com

Sáng nay vào net để tải một ca khúc xưa tôi thấy có một bạn cho biết trang log của tôi đã được cập nhật trong trang web www.TopBlogViet.com. Trang blog của tôi nằm ở đây.

Theo như tôn chỉ của TopBlogViet thì họ có “mục tiêu sưu tầm, tổng hợp và tìm kiếm những blog hay, đẹp, nội dung phong phú, góp phần giúp cho những người yêu thích blog có thể tìm được những thông tin thật hay và bổ ích mà không tốn nhiều thời gian”. Mục tiêu có ý nghĩa và hay. Xin giới thiệu các bạn.

Trước đây tôi làm một trang web cá nhân nhưng do trục trặc kĩ thuật nên công trình mấy tháng trời tiêu tan trong không gian cyber! Thấy google có cái dịch vụ blog này nên tôi mon men học cách làm blog và thấy cũng ok. Có nhiều bài khá dài mà tôi không đăng ở đây được, nhưng phải đăng ở trang ykhoanet hay các báo mạng khác. Hi vọng các bạn ghé qua trang blog tôi và tìm đó vài thông tin có ích.

NVT

Tội làm hư dân

Hôm nay đọc Thời báo Kinh tế Sài Gòn có bài này của Vương Trí Nhàn rất hay. Xin nói thêm rằng Huyền Trang là một cao tăng người Trung Quốc. Câu cuối của anh Nhàn làm chúng ta chắc phải suy nghĩ. Ừ, đúng là “Người ta phán xét một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Cụ thể là có thể và nên xét xem nó tạo nên những công dân như thế nào, nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi”.

NVT

====

Tội làm hư dân

Thứ Năm, 15/5/2008, 11:54 (GMT+7)

VƯƠNG TRÍ NHÀN

Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy dân làm bậy. Tội làm hư dân.

Đại Đường Tây vực ký của nhà sư Huyền Trang vừa được dịch ra tiếng Việt (NXB Phương Đông, 2007). Trong thiên bút ký này, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ (có thời gộp chung là Tây vực). Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể: “Người Tốt Lợi phong tục kiêu ngoa, chuyên môn lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau cũng tính toán hơn thua chẳng cần người tốt kẻ xấu, cứ nhiều tiền là được quý trọng... Cư dân một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi”.

Tôi ghi lại đoạn này bởi lẽ nó góp phần gạt đi trong đầu một phân vân khi nhận thức. Từ nhỏ bọn tôi đã được học rằng chỉ có các cá nhân xấu, chứ nhân dân lao động nơi đâu cũng tốt.

Hóa ra không phải vậy! Tùy hoàn cảnh mà con người biến đổi. Và là biến đổi trên diện rộng. Tục ngữ ta xưa cũng có câu “bạc như dân, bất nhân như lính”. Đọc lại lịch sử thấy nhận xét chua chát đó không hoàn toàn sai.

Thế còn bây giờ? Một lần, chập choạng tối, tôi đang đi trên đoạn đường gần ngã tư Hàng Chiếu - Đồng Xuân, Hà Nội thì gặp mưa, đành tính chuyện lánh tạm vào một mái hiên. Bất ngờ nghe người ở trong nhà nói hắt ra:

- Biến đi cho người ta còn bán hàng.

Trời ơi! Con người đô thị bây giờ càn rỡ và bất nhân ngoài sức tưởng tượng!

Ở các tỉnh xa, các vùng kinh tế, thì sự hư hỏng lại mang sắc thái khác. Có lần trên một tờ báo, đọc thấy tin ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp nhiều người lấn chiếm đất công, rừng công, bất tuân pháp luật. Lần khác xem ti vi, lại thấy dân một xã của Quảng Trạch, Quảng Bình đua nhau chặt rừng phòng hộ ven biển bán cho tư thương, huyện xã đã tìm đủ cách ngăn chặn nhưng không nổi. Đủ chuyện đã xảy ra, dân ăn cướp, dân ăn cắp, dân ăn vạ, dân xà xẻo của công và tiếp tay cho kẻ xấu, dân làm hại lẫn nhau... thiên hình vạn trạng không xếp loại được.

Không phải chỉ trong sách vở nhà trường mới có lối khái quát vậy, mà sự thực là suốt thời chiến tranh, nhân dân lao động đã là những con người thuần hậu, chịu thương chịu khó, hướng về điều thiện và muốn sống theo pháp luật. Chắc chắn sự thay đổi diễn ra hôm nay “không thuộc về bản chất”. Vấn đề còn lại là cắt nghĩa tại sao lại xảy ra cái chuyện chẳng ai muốn đó?

Trở lại việc dân ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp nói trên. Đọc kỹ các bài viết liên quan thì thấy trước khi dân hư có chuyện ông phó chủ tịch huyện phá rừng. Người dân chung quanh thấy ông cán bộ to hành xử như trên (chặt tràm đào ao làm thành lãnh địa riêng), bảo nhau ùa vào làm bậy.

Đây cũng là diễn biến thấy ở nhiều nơi khác. Trong phần lớn trường hợp, tình trạng dân hư liên quan tới hiện tượng nhức nhối là chuyện cán bộ kiếm chác vô nguyên tắc, tư lợi vô cảm, gộp chung là thoái hóa biến chất. Đáng lẽ phải gương mẫu tuân thủ pháp luật thì họ lại tự đặt mình cao hơn luật, phá luật để trục lợi.

Trước mặt người dân lúc ấy, lý tưởng như bị xúc phạm. Người ta không thể thờ ơ và dễ bảo mãi. Về mặt triết học có thể bảo con người bắt đầu rơi vào hư vô. Chúa đã chết rồi! Ai muốn làm gì thì làm! Bởi cảm thấy trên đời này không còn cái gì là thiêng liêng, họ rơi vào liều lĩnh phá phách một cách hung hãn. Những cái xấu sẵn có mà bấy lâu họ kìm nén, được lúc vùng lên quẫy lộn. Tự cho phép mình hư! Nhìn nhau để yên tâm mà hư! Khuyến khích nhau hư thêm, càng đông người hư càng thích! Sự bùng nổ lúc này là theo lối dây chuyền, không gì có thể giữ con người lại nữa.

Ta chưa có thói quen đánh giá bộ máy quan chức nên tưởng là khó. Sự thực khá đơn giản. Muốn biết giới quan chức một địa phương ra sao, cứ xem dân ở đấy thì biết. Dân ngoan làm ăn tử tế tức là bộ máy làm việc tạm gọi là chấp nhận được, người ta còn tin. Còn dân hư, nhất định là những người quản lý họ có vấn đề, không tham nhũng thì cũng kém cỏi trong quản lý. Chỉ cần chịu tìm sẽ thấy ai có lỗi.

Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy dân làm bậy. Tội làm hư dân.

Quý I năm nay, NXB Tri thức đã cho in một cuốn sách thuộc loại kinh điển. Đó là cuốn Chính thể đại diện của John Stuard Mill (nguyên bản được viết từ năm 1861). Ở trang 82, tôi đọc được một câu đại ý như sau “Người ta phán xét một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Cụ thể là có thể và nên xét xem nó tạo nên những công dân như thế nào, nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi”. Đúng là có liên quan tới vấn đề chúng ta đang bàn.

Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoadulich/vanhoa/5713/