Sunday, August 31, 2008

Vài hình ảnh nhân ngày "Mở cửa"

Mỗi năm cứ đến mùa đông, Viện nghiên cứu y khoa Garvan (nơi tôi trụ trì) có một ngày mà họ gọi là Open Day. Trong ngày này, Viện mở cửa cho bất cứ ai ngoài công chúng vào xem chúng tôi làm cái gì. (Cố nhiên, có nhiều chuyện chúng tôi làm không thể nào và không được phép cho công chúng xem). Thông thường, chúng tôi "khoe" những thiết bị khoa học, thành quả nghiên cứu, ứng dụng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, v.v... Công chúng, phần lớn là người có tuổi, rất quan tâm đến sức khỏe của họ, nên họ hỏi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nào là nguy cơ mắc bệnh, chữa trị bằng cách nào, phải làm gì để tránh mắc bệnh, tìm thông tin ở đâu, v.v. và v.v... Chúng tôi phải uốn lưỡi trả lời mà không làm cho họ nãn lòng. Khó đấy, nhưng phải làm.

Có nhiều người rất thông minh. Đây là những người mà chúng tôi gọi đùa là "high heel", có nghĩa là họ đi guốc cao gót, rất mô-đẹc, có học thức cao, có nhiều thông tin, hay nói chung là rất "well informed patients." Có thể nói họ đọc những gì mà bác sĩ đọc, họ biết những gì bác sĩ biết, họ có thể diễn giải những thông tin mà chưa chắc bác sĩ diễn giải được cho họ. Đối với những người high heel này, nói lơ mơ là họ "quật" lại thì có nước xấu hổ. Họ đến không phải để được giảng giải về bệnh; họ đến để yêu cầu làm xét nghiệm và xét nghiệm là do họ quyết định. Hôm 17/8/2008 (ngày Open Day) chúng tôi gặp vài người như thế. Rất ư là thú vị, và cũng học khá nhiều bài học về cách đối phó với họ.

Kèm theo đây là vài tấm hình tôi chụp hôm đó để cho các bạn xem cho biết:


Dr. Nguyên đang chuẩn bị thiết bị pQCT và vài máy tính cho ngày Open Day

Nói chuyện với một "client". Tôi còn nhớ khi nói nguy cơ gãy xương của bà là 8%; bà vặn tôi: thế là có 92% tôi không bị gãy xương, phải không? Trời! Đúng là một bà thông minh, và tất nhiên tôi có cách nói để bà ấy phải quan tâm.

Đọc kết quả scan và ước tính nguy cơ cho một bà khách cao tuổi. Bà không thuộc dạng "high heel" nhưng hỏi rất nhiều câu hỏi hay.

Thầy trò. Hôm đó, Ngọc Bích (nghiên cứu sinh trong nhóm tôi) cũng bận rộn đón khách và ... quảng cáo.

Đây là hình bạn của Bích. Phía sau của hình là cầu thang thiết kế theo hình double helix của DNA. Đây là một "feature" của tòa nhà Viện Garvan. Người đứng bên trái (có cái khăn màu tím) là một du học sinh từ Việt Nam mà tôi rất tiếc đã quên tên. Lúc mới gặp tôi rất ấn tượng với cô ấy vì cô nói tiếng Việt rất giỏi, nhưng hóa ra cô ấy là du học sinh từ Việt Nam, sang học bên Mĩ (Wisconsin), rồi theo một học bổng nào đó sang học năm cuối ở UNSW bên Sydney! Điều quan trọng là quê quán cô ấy ở Bến Tre. Oách chưa?

Hội nghị khoa học

Mấy hôm nay đi “phó hội” loãng xương ở Melbourne nên tôi không có thì giờ lên net để viết blog. Thật ra, ở khách sạn mang tiếng là 5 sao (với $$$ tiền phòng) mà họ thậm chí không có điểm internet để mình sử dụng! Họ có một điểm công cộng với 3 cái máy, thì 2 cái “not working”!

Thành ra, tôi nghĩ khách sạn Việt Nam vẫn tuyệt vời hơn khách sạn bên này. Ăn uống ở khách sạn Việt Nam cũng ngon [gấp 1000 lần] so với bên này. Tôi từng ở nhiều khách sạn không có sao nào ở Việt Nam và giá cũng “mềm” (tôi thích chữ này) mà internet thì thoải mái. Muốn ăn bánh tằm ở khách sạn VN à? Dễ ợt, chỉ cần đi không đầy 5 phút đã có. Muốn uống cà phê thứ thiệt (không phải cà phê bột)? Cũng dễ luôn, vì dưới khách sạn đó, bên kia đường đó, có bà cụ bán cà phê giá chỉ có 3.000 đồng! Mà ngon. Hèn gì mấy ông bà khách Tây thích đi du lịch Việt Nam!

Vả lại mỗi lần đi phó hội tôi cũng không có thì giờ để lên net mỗi khi đi phó hội. Trong giờ hội nghị thì dành thì giờ đi dự các sessions, làm chủ tọa, trao đổi chuyên môn, thì giờ làm “chính trị khoa học” bằng cách networking với đồng nghiệp, v.v… Sau giờ hội nghị thì chuẩn bị bài nói chuyện của mình, thì giờ đọc những bài báo mới nhất, thì giờ viết bài báo của chính mình, thì giờ editing mấy bài báo khoa học cho các bạn trong nước, đi nhậu (gala dinner) với bè bạn, v.v… Nói ra thì có lẽ các bạn sẽ cười, nhưng sự thật là sáng nào hay tối nào tôi cũng để mấy bài báo của tôi và của các đồng nghiệp Việt Nam bên gối để đọc, và nếu thấy có gì cần sửa thì ghi chú đó để đến máy tính mà sửa. Cũng có khi đọc một hồi rồi ngủ luôn (chắc là bài viết kém quá). Ai đời nay nằm ngủ mà cũng mang theo mấy cái “của nợ” này. Làm việc kiểu này thì chắc chết sớm quá. :-)

Thành ra, đối với một số người, phó hội là thời gian đi chơi, thư giản, hay với các cô thì đi … shopping, nhưng với tôi thì không có chuyện thư giản, và nhất định không có chuyện đi shopping trong khi phó hội được. Tôi nghĩ các hội nghị chuyên ngành là những diễn đàn tuyệt vời nhất để chúng ta có cơ hội tìm hiểu (thật ra là “dọ thám”) xem đồng nghiệp họ đang làm gì, là nơi để trao đổi các vấn đề kĩ thuật, là chỗ để bàn chuyện hợp tác, là cơ hội để networking hay nói theo các bạn trong nước là giao lưu (hay “cách mạng” một chút là tạo mối liên hệ). Tôi thường khuyến khích các nghiên cứu sinh đi phó hội, nhận dạng đồng nghiệp làm cùng lĩnh vực, tìm cách liên lạc với họ để sau này có gì xin làm postdoc cho họ. Rất tiếc là tôi thấy một số nghiên cứu sinh không biết tận dụng cơ hội này.

Nói người lại nghĩ đến ta. Tôi thấy các hội nghị (ít ra là hội nghị y khoa) ở trong nước có vẻ màu mè và hơi phô trương quá. Màu mè là có nhiều biểu ngữ quá. Ngay cả đêm gala dinner mà họ cũng trưng bày một cái biển to tướng trên tường! Làm như thế để làm gì? Chỉ tốn tiền một cách không cần thiết thôi. Còn những ngày mở đầu thì có nhiều quan đọc diễn văn quá. Đáng lẽ chỉ cần 1 hay cao lắm là 2 người được rồi. Nhưng có lẽ đây là vấn đề văn hóa, nên chắc cũng khó so sánh hay thay đổi được.

Tuy nhiên, cái có thể thay đổi được theo tôi là văn hóa khoa học. Trong các hội nghị khoa học ở trong nước mà tôi có tham dự, tôi thấy chất lượng thảo luận không được cao mấy. Theo thông lệ, sau khi diễn giả nói xong thì đến phần thảo luận, và người đặt câu hỏi cũng như người trả lời phải ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, và nhất là không được lecture người ta. Nhưng ở Việt Nam tôi thấy người ta đứng lên thay vì hỏi thì lại lên lớp diễn giả! Lại có người đứng lên hỏi nhưng thật ra thì phê phán một cách hằn học. Lại có người nghĩ rằng phương pháp của mình là đúng, mình có “chân lí”, còn diễn giả thì nói bậy. Có người thì chăm chú vào mấy lỗi nhỏ chẳng ảnh hưởng đến kết luận. Vân vân.

Tôi nghĩ những thái độ như thế không phải là thái độ khoa học. Người có thái độ khoa học chỉ tập trung vào luận điểm chứ không phải cá nhân của diễn giả. Trong khoa học chỉ có phương pháp và dữ liệu là quan trọng, chứ cá nhân không phải là tâm điểm; thành ra, tranh luận khoa học là tranh luận về phương pháp, về luận điểm, về cách diễn giải và hiểu dữ liệu, dứt khoát không được tấn công cá nhân người nói chuyện. Tấn công cá nhân là phạm lỗi lầm ngụy biện.

Làm sao để tỏ thái độ khoa học? Tôi từng được thầy cũ (Gs Woodland ở Đại học Sydney, đã chết) dạy một câu chí lí. Ổng nói bằng tiếng Anh: you have to stay above. Tức là mình phải tỏ thái độ cao thượng, không có lèm nhèm với thái độ của giới hàng tôm hàng cá. Điều này có nghĩa là cho dù cho có bất đồng quan điểm với diễn giả, mình chỉ trình bày bằng chứng để phản bác diễn giả chứ không hạ bệ họ. Sau này tôi thường chỉ cho nghiên cứu sinh một cách khác để bày tỏ sự bất đồng ý kiến với diễn giả là mình cung cấp một cách diễn giải khác (nói theo tiếng Anh là “alternative interpretation”). Chẳng hạn như đứng trước một diễn giả tin rằng thuốc A tốt hơn thuốc B mà mình không đồng ý thì phải nói sao đây? Cách tôi chỉ là nói như thế này: (đầu tiên vào khen một cái), những dữ liệu anh vừa trình bày rất thú vị và làm cho tôi phải suy nghĩ. (Sau đó bày tỏ bất đồng ý kiến): nhưng suy đi nghĩ lại và theo những bằng chứng mà tôi có đây cộng với dữ liệu của anh mới trình bày, nếu nhìn vào chỉ tiêu lâm sàng này, thì tôi nghĩ rằng A không tốt hơn B, có lẽ anh thử xem xét theo cách làm này để biết thật sự A tốt hay không tốt hơn B. Một cách nói như thế vừa nhẹ nhàng lại vừa lịch sự mà diễn giải không giận mình. Tôi đã “thử nghiệm” nhiều lần trong hội nghị và lần nào cách nói đó cũng có hiệu quả cả. Có lần thậm chí diễn giả còn đến cám ơn tôi sau khi tôi đã bày tỏ quan điểm.

Ông bà mình ngày xưa có một câu chí lí: lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Hay quá! Càng tìm trong kho tàng ca dao tục ngữ tôi càng khâm phục ông bà mình ngày xưa vì kinh nghiệm sống của họ quá dồi dào. Những kinh nghiệm, những wisdom đó vẫn có thể đem ra ứng dụng trong thời đại khoa học ngày nay.

NVT

PS. Mấy mươi năm nay đi máy bay tôi có rất nhiều kinh nghiệm vui buồn, nhưng hai kinh nghiệm làm tôi nhớ đời là chuyến đi Minnesota và chuyến MelbourneSydney đêm qua. Mấy năm trước, trong chuyến đi phó hội ở Minneapolis, vì vấn đề thời tiết nên tôi phải bay từ Los Angeles sang Chicago để từ đó nối chuyến đi Minneapolis. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, khi đến Chicago thì người ta cho biết đêm nay sẽ không có chuyến đi Minneapolis vì cơn bão mạnh đang hoành hành miền trung tây nước Mĩ. Trời ơi, làm sao đây? Hỏi nhân viên United Airlines thì ai cũng mệt và trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Tôi chạy đi hết chỗ này đến chỗ khác để tìm chuyến đi, cuối cùng thấy có chuyến bay về Washington và từ đó đi Minneapolis, xem ra ok. Tôi đến Washington gần 1 giờ sáng, phi trường vắng tanh không một bóng ma, thế là tôi cùng các hành khách khác nằm ngủ bụi ngay tại phi trường “ma”. Mới ngủ đến 4 giờ sáng thì tiếng động ồn ào, ầm ầm … nhìn quanh thì thấy nhân viên quét dọn phi trường đến làm sớm. Phải thức giấc thôi. Lang thang một hồi cũng đến giờ bay đi Minneapolis. Ngủ bụi ở phi trường rất ư là vui, vì nó cho mình cơ hội làm người homeless một đêm cho biết với người ta.

Còn đêm qua tôi bay từ Melbourne về Sydney. Chuyến bay 1 giờ ok, nhưng chỉ còn 15 phút gì đó đến Sydney thì pilot cho biết là Sydney đang có thunderstorm, nên không đáp được. Vậy thì đi đâu đây trời? Pilot nói là máy bay không đủ xăng để bay vòng vòng, nên phải bay về Melbourne để … thêm xăng! Bà con trong máy bay hoang mang và nổi giận, nhưng tôi nghĩ đó là giải pháp duy nhất mà thôi. Rồi, bay ngược về Melbourne, đổ xăng. Chờ chỉ vài phút thì bay về Sydney. Mới bay đâu có 20 phút, đột nhiên máy bay rung rất mạnh, mạnh đến nỗi tôi tưởng mình sẽ bỏ mạng. Bà con nhốn nháo, la hét “My God” tùm lum. Riêng tôi thì rất bình tĩnh, và nghĩ nếu không may thì mình phải chuẩn bị cho chuyến “ra đi” thôi, cùng lắm là đi gặp Má tôi, chứ biết làm sao bây giờ. May phước là máy bay lấy lại quân bình và bay tiếp. Pilot không hề giải thích sự cố này. Thật là một phen hú hồn! À, tôi quên nói rằng đó là chuyến bay JetStar, hàng không giá rẻ!

Tuesday, August 26, 2008

Thế vận hội và những giả tạo

Báo chí Tây phương làm rùm beng về chuyện Ban tổ chức thế vận hội Bắc Kinh 2008 đưa ca sĩ ra hát nhép và làm mấy show giả trong buổi lễ khai mạc. Tưởng chỉ có Á châu mới làm chuyện giả tạo này, nhưng lầm to, vì bọn Tây họ cũng làm giả thôi. Bài báo dưới đây trên tờ Sydney Morning Herald nói trong buổi khai mạc Thế vận hội Sydney 2000, họ cũng cho dàn nhạc ra chơi nhưng tất cả thì đã thu âm trước và chỉ phát thanh ra thôi, chứ ban nhạc chỉ chơi cho có! Hahaha. Vậy mà mấy anh chàng nhà báo Tây phương làm đạo đức giả lên giọng dạy đời thiên hạ! Chỉ tiếc là có người mình tin họ như là tin vào chân lí.

Viết đến đây tôi nhớ đến lời của Phật (hay ai đó) dạy rằng thấy cái gì quá hoàn hảo hay quá tệ đều đáng chất vấn. Trên đời này chẳng có cái gì hoàn hảo cả. Khoa học chẳng bao giờ tìm hết mọi sự thật của tự nhiên, chỉ gần với sự thật thôi. Ông George Box nói một câu chí lí rằng: tất cả các mô hình -- dù là mô hình toán học hay sinh học -- đều sai hết, nhưng trong đó có một vài mô hình tốt. (Sai ở đây hiểu theo nghĩa không phản ảnh đầy đủ hiện tượng tự nhiên, chứ chẳng có dính dáng gì đến “God” ở đây cả). Nhiệm vụ của chúng ta là đi tìm mấy cái “mô hình tốt” đó.

NVT


===

Revealed: Sydney Olympics faked it too

Richard Jinman, Arts Editor
August 26, 2008 - 10:19AM

http://www.smh.com.au/news/music/sydney-olympics-faked-opening-too/2008/08/26/1219516425771.html

MADONNA has done it, so have Milli Vanilli and the "flawless" Chinese singer Lin Miaoke. But miming isn't a technique associated with the world's great orchestras.

As a result, the Sydney Symphony's confirmation that it mimed its entire performance at the opening ceremony of the 2000 Sydney Olympics comes as something of a shock. Even worse, it admits the backing tape was recorded, in part, by its southern rival, the Melbourne Symphony Orchestra.

"It [the performance] was all pre-recorded and the MSO did record a minority of the music that was performed," the Sydney Symphony's managing director, Libby Christie, said yesterday. "It's correct that we were basically miming to a pre-recording."

Ms Christie said the reason the orchestra did not play live was that Olympics organisers "wanted to leave nothing to chance". She said short deadlines and a "mountainous workload" required the use of two orchestras to make the backing tape.

A report in a Melbourne newspaper claimed the MSO, conducted by Paul Grabowsky, played "much of the [opening ceremony] program" including the celebrated seven-minute Tin Symphony.

Not true, said Ms Christie. The majority of the repertoire was recorded by the Sydney Symphony at Studio 301 in Alexandria.

The managing director of the MSO, Trevor Green, backed her up yesterday.

"It was purely a workload issue," he said. "It's nothing to do with priorities or which orchestra is better. It was decided to split [the work] between the two orchestras ...

"It's quite a normal practice and if the Olympics had been in Melbourne, the Sydney Symphony would have been involved - I'm sure of that."

Neither Mr Green nor Ms Christie could recall which parts had been played by which orchestra. "I haven't a clue and I'm not that interested," Mr Green said.

"We should really be celebrating the fact that a country the size of Australia has six international orchestras."

It is extremely unusual for the Sydney Symphony to mime, Ms Christie said. The opening of the Rugby Union World Cup in 2003 was the only other example she could recall.

Mr Green said the MSO had used a backing tape at the opening ceremony of the 2006 Commonwealth Games.

"The miming side of it is perfectly normal," he said. "There are millions of people watching and if something goes wrong you'd be snookered."

Arjun Ramachandran reports: For those who may have had suspicions about the music played during the Pope's visit to Sydney for World Youth Day, a spokesman for the event said: "The nature of liturgical celebrations does not permit pre-records; it is an authentic expression of the prayer and song of those people at the time in that place."He said orchestras, including the SBS Youth Orchestra and the WYD08 Orchestra, rehearsed for at least six months and performed live at the event.

Monday, August 25, 2008

Tuổi thọ của vua chúa Việt Nam

Mấy tháng nay thấy bạn bè lần lượt ra đi về cõi vĩnh hằng làm tôi suy nghĩ về tuổi thọ. Lí do đơn giản là mấy người bạn này ra đi trong tuổi 60s, tức còn khá trẻ so với tuổi thọ trung bình ngày nay. Cũng có thể dân làm khoa học thường chết sớm, vì đầu tư nhiều thì giờ cho suy nghĩ quá nên bị căng thẳng và dẫn đến cái chết. Nhưng chúng ta chưa có bằng chứng để kết luận vấn đề này.

Bấy lâu này tôi tự hỏi vua chúa Việt Nam ta thời xưa sống bao lâu. Tìm số liệu này cũng không khó, nhưng đòi hỏi thời gian. May mắn thay, trong chuyến công tác ở VN vừa qua tôi vớ được một số sách tương đối “cổ” ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, và qua các sách này tôi có thể thu thập khá đầy đủ số liệu về tuổi thọ, thời gian trị vì của các vua chúa (thật ra thì phần lớn là vua) qua các triều đại. Tôi bèn làm ngay một bảng thống kê để phân tích cho biết.

Thời gian trị vì

Tính từ thời Âu Lạc đến thời nhà Nguyễn, nước ta trải qua 20 triều đại như sau:

Thục & Âu Lạc, Triệu, Sau Công Nguyên (Giao chỉ, Tây Hán, Đông Hán, Hai Bà Trưng, Đông Ngô, Bà Triệu), Lý và Vạn Xuân, Tùy Đường, Ngô, Hậu Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần, Lê Sơ, Mạc, Hậu Lê, Tây Sơn, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, và triều Nguyễn.

Tính trung bình, thời gian trị vì của các vua chỉ có 17 năm. Khoảng 47% các vua có thời gian “tại chức” dưới 10 năm, ~25% có thời gian trị vì từ 11 đền 20 năm, và chỉ có 13% vua ngồi ở ngai vàng trên 30 năm. Các vua chúa có thời gian trị vì lâu năm là Triệu Vương (70 năm), Lý Nhân Tông (55 năm), Trịnh Tùng (53 năm), Lê Hiển Tông (46 năm). Ngay cả Tự Đức mà ngồi ngai vàng đến 35 năm. Có 2 vua chỉ ngồi ngai vàng dưới 1 năm là Dục Đức và Hiệp Hòa (cả hai thuộc triều Nguyễn).

Phân tích theo triều đại thì thấy triều nhà Lý có thời gian trị vì trung bình cao nhất (23.6 năm), kế đến là Chúa Trịnh (21.9 năm), Chúa Nguyễn (19.8 năm), Triệu (19.2 năm), Lý Vạn Xuân (19 năm). Triều đại có thời gian trung bình trị vì ngắn nhất là Hậu Trần (3 năm), nhà Hồ (3.5 năm), và Ngô Quyền (5 năm).

Tuổi thọ

Số liệu tuổi thọ chỉ có cho 90 vua chúa. Tính trung bình, tuổi thọ của 90 vua chúa này là 44.2 năm. Khoảng 39% (n = 35) có tuổi thọ thấp hơn 40 tuổi, và chỉ có 12% (n = 10) thọ trên 60 tuổi. Vua có tuổi thọ cao nhất là Trịnh Tùng (74 năm), Lê Hiển Tông (70 năm), chúa Nguyễn Phúc Tần (68 năm), Lý Nhân Tông (63 năm). Vua có tuổi thọ thấp nhất là Nguyễn Kiến Phúc (15 tuổi), Lê Gia Tông (15), Lê Túc Tông (17) và Lê Nhân Tông (19).

Phân tích theo triều đại cho thấy triều Chúa Trịnh có tuổi thọ trung bình khá cao (59 tuổi), kế đến là Chúa Nguyễn (55 tuổi). Triều đại có vua thọ thấp nhất là Tây Sơn (30 tuổi), Lê Sơ (30 tuổi), Tiền Lê (37). Còn các triệu đại lâu đời và danh tiếng như Lý (46 tuổi), Trần (45 tuổi), và Nguyễn (47 tuổi) chỉ trên dưới trung bình.

Câu hỏi quan trọng là có “secular trend” về tuổi thọ của các vua chú Việt Nam không? Câu trả lời là – ngạc nhiên thay – không. Biểu đồ dưới đây cho thấy điều này:


Biểu đồ tuổi thọ của vua chúa Việt Nam qua các thế kỉ. "Period" bằng 1 có nghĩa là thế kỉ 10, 2 là thế kỉ 11, 3 là thế kỉ 12, v.v..

Sau đây là bảng thống kê cho thấy trung bình và độ lệch chuẩn của tuổi thọ của các vua chúa qua từng thế kỉ:

Thế kỉ

Tuổi thọ trung bình và độ lệch chuẩn

<1000

44.1 (16.1)

1000 – 1099

57.3 (24.1)

1100 – 1199

45.0 (17.2)

1200 – 1299

51.3 (10.0)

1300 – 1399

39.6 (19.6)

1400 – 1499

37.6 (17.1)

1500 – 1599

34.5 (18.4)

1600 – 1699

53.6 (23.4)

1700 – 1799

42.2 (13.5)

1800 – 1899

44.9 (18.7)

Có mối tương quan nào giữa thời gian trị vì và tuổi thọ của nhà vua không? Câu trả lời có lẽ không ngạc nhiên mấy là có. Hệ số tương quan giữa tuổi thọ và thời gian trị vì là 0.52. Nói cách khác, những vua có thời gian “tại chức” càng lâu cũng là những vua có tuổi thọ càng cao (xem biểu đồ dưới đây).

Biểu đồ về mối liên hệ giữa thời gian trị vì và tuổi thọ của vua chúa Việt Nam

So với văn thi sĩ

Tuổi thọ của vua so với các văn thi sĩ Việt Nam thì ra sao? Tôi thu thập số liệu của 188 tác gia Việt Nam từ cuốn Từ điển Văn học Việt Nam của Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường. Các tác gia này tính từ thời cổ đến thế kỉ 19, tức là cùng khoản thời gian của số liệu tuổi thọ nhà vua, để dễ so sánh.

Tính trung bình, tuổi thọ trung bình của 188 tác gia này là 62 tuổi. Khoảng 25% tác gia có tuổi thọ dưới 50 tuổi, và 25% tác gia thọ trên 72 tuổi. Người có tuổi thọ ngắn nhất là Ngô Thì Ức, sinh năm 1709 và mất năm 1736, tức chỉ thọ 27 tuổi. Người có tuổi thọ cao nhất là Huỳnh Quỳ, sinh năm 1828 và mất năm 1926, tức thọ 98 tuổi.

Như vậy, văn sĩ có tuổi thọ cao hơn vua chúa.

So với thế giới

So với tuổi thọ trung bình của dân số thời đó thì ra sao? Trang wikipedia có một thống kê về tuổi thọ trung bình trên thế giới từ thời tiền sử đến nay như sau:

Thế kỉ

Tuổi thọ trung bình

Neanderthal (350 đến 500 ngàn năm trước)

20

Upper Paleolithic (10 đến 40 ngàn năm trước)

33

Neolithic (8500 năm trước CN)

20

Bronze Age (3000 năm trước CN)

18

Classical Greece Thế kỉ 4 và 5)

20-30

Classical Rome (Thế kỉ 5 ?)

20-30

Pre-Columbian North America

25-35

Medieval Britain (Thế kỉ 5-6)

20-30

Early 20th century

30-40

Current world average

66.12 (2008 est.)

Như vậy, nói chung, tuổi thọ các vua chúa ta ngày xưa có vẻ trên trung bình so với tuổi thọ dân số thế giới. Nhưng có lẽ so sánh như thế thiếu tính khách quan, bởi vì vua chúa ở một giai cấp khác, họ được cung phụng, ăn trên, ngồi trước thiên hạ nên tuổi thọ của họ cao hơn trung bình là có thể hiểu được. Cần phải so sánh tuổi thọ vua chúa VN và vua chúa các nước khác thì có lẽ công bằng hơn.

Tôi thấy trên một tập san khoa học vào năm 1999, tuổi thọ trung bình của các vua chúa Anh tính từ 1000 đến 1600 là 48 tuổi. Một anh bạn bên Nhật cho biết rằng tuổi thọ trung bình của vua Trung Quốc tính từ thời Tần Thủy Hoàng là dưới 40 tuổi. Ở Trung Quốc, Hán Vũ Đế, Càn Long, v.v… là những ông vua sống lâu. Càn Long sống đến 90 tuổi, vì sách nói rằng ông ấy "xa hậu cung gần võ tướng" và "nữ sắc có mức độ". Trong thời gian này, tuổi thọ trung bình của các vua chúa Việt Nam là 44.6 tuổi. Như vậy tuổi thọ của vua chúa ta không thấp chút nào so với thế giới.

Trong tương lai khi có thì giờ tôi sẽ phân tích thêm. Có thể tôi sẽ gửi cho Tia Sáng để đăng cho bà con đọc mua vui cũng được một vài trống canh.

NVT

Vài hình ảnh hội nghị loãng xương quốc tế TPHCM

Sau đây là vài hình ảnh do các bạn chụp trong Hội nghị loãng xương quốc tế tại TPHCM vào ngày 25-26/7/2008. Cả trăm hình, tôi chỉ chọn vài hình liên quan đến tôi mà tôi nghĩ là "coi được". Có thể xem bài này để biết:

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2008/08/nhn-li-hi-ngh-v-rt-kinh-nghim.html


Những hình trong ngày khai mạc hội nghị


Thông dịch cho Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu

Thông dịch cho Dan Navid

Giảng. Tôi đang nói chuyện


Nói chuyện cho Bridge Health Care

Những hình Gala Dinner

Thông dịch cho chú Tư Trung, chủ tịch ban tổ chức


Đoán coi ổng nói gì để dịch



Gala dinner

Một màn biểu diễn đàn cổ truyền của một nghệ sĩ

Múa nón

Múa nón


Đàn hát


Cùng Gs Phạm Song trao đổi "chuyện lớn" thế sự


Bạn bè. Hình này chụp chung với Gs Rachman bên Nam Dương. Ông này rất vui tính và rất thích tôi. Hình chụp trước hội nghị một ngày. Ông này lần đầu tiên sang Việt Nam nên muốn đi sớm để du lịch luôn



Thầy trò. Hình này chụp chung với Gs Eisman. Từ trái sang phải: Ngọc Bích (nghiên cứu sinh PhD), tôi, Gs Eisman, và Nguyên


Đồng nghiệp. Gs Thy Khuê, Chú Tư Trung, Gs Eisman, tôi, anh NVQuang, Gs Navarra, Lê Anh Thư.

Đồng nghiệp. Gs Eisman và vài bạn bè trong nước


Nhậu. Sau workshop là nhậu với Bs Nguyễn Ngọc Rạng (người bên trái, Bệnh viện An Giang)

Những hình ảnh trong đêm thứ hai (giải trí với show múa rối nước tại Cung văn hóa Lao động, TPHCM)



Thế hệ. Gs Eisman, Nguyễn Thị Thanh Hương, Yvonne Selecki, và nghiên cứu sinh của Hương

Gs Eisman và Chatlert Ponchaiyakul


Xem múa rối nước với các bạn. Từ trái sang phải: Hồng Hoa, Anh Thư, Nimit (Thái Lan), tôi, Lee Kiong (Mã Lai), Len Koh (Singapore), Gua (Thái Lan), Sandra Navarra (Phi Luật Tân), và Gs Eisman.

Chụp hình lưu niệm với vợ chồng Gs Sandra Navarra


Một màn múa rối nước

Khi nào rảnh sẽ tìm hình gửi tiếp.


Sunday, August 24, 2008

Sinh viên có nên xưng "tôi" với thầy/cô?

Báo Vietnamnet lâu lâu đặt những vấn đề nan giải. Sinh viên nên gọi thầy cô như thế nào và xưng danh như thế nào. Xin kể các bạn cho biết: ở các đại học Úc tôi thấy sinh viên thường gọi thầy cô bằng tên (không phải họ), chẳng hạn như “Hi Tuan”. Nhưng cũng có trường hợp sinh viên mới vào họ gọi bằng danh xưng như “Dr. Nguyen” hay “Professor Nguyen”. Khi tôi còn ở Mĩ, sinh viên thường gọi tôi bằng danh xưng nhiều hơn là bằng tên, nhưng tôi bảo họ cứ gọi tôi là “Tuan”.


Tôi bảo sinh viên nước ngoài gọi tên, nhưng tôi không thể bảo sinh viên Việt Nam gọi tôi bằng tên, bởi vì tôi chịu ảnh hưởng nặng văn hóa truyền thống Việt Nam. Xưng hô mang tính văn hóa; mà, ngôn ngữ là một yếu tố của văn hóa. Văn hóa mình khác với Tây phương. Ở nước ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, nên người thầy đóng một vai trò đặc biệt trong xã hội. (Tất nhiên là ngoại trừ mấy ông thầy “cà chớn” thì tôi không nói ở đây). Thành ra, người thầy hay cô phải có một danh xưng cho đúng với chức năng và vai trò xã hội của mình. Thú thật, nếu một sinh viên Việt Nam mà gọi tôi bằng tên (như “Ê Tuấn” như kiểu Mĩ hay Úc) tôi chắc chắn không hài lòng. Tôi nghĩ danh xưng “Thầy” và “Cô” là hợp lí nhất, hay nhất. Tôi vẫn gọi các nhà sư Phật giáo là “Thầy”.


Còn sinh viên nên xưng gì với thầy cô? Tôi thấy “tôi” và “em” đều chấp nhận được cả. Nếu có sinh viên gọi “Thầy Tuấn” mà xưng “tôi” hay “em” tôi thấy chẳng có gì đáng trách. Thật ra, nhiều sinh viên trẻ chỉ đáng tuổi con cháu tôi, nhưng vì lên đại học thì mình cũng cho chúng nó làm “người lớn” một chút để xưng “tôi”. Còn đứa nào xưng “em” thì cũng được. Tôi lúc nào cũng gọi sinh viên bằng “anh” hay “chị” cho chắc ăn. Gọi họ bằng “em” hay “cháu” thì nghe ngọt ngào hơn, nhưng có lẽ do thói quen nên tôi vẫn thấy khó gọi như thế.


NVT

====

http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/08/800294/

Sinh viên có nên xưng "tôi" với thầy/cô?

“Xưng hô trong trường đại học” là chủ đề của buổi tọa đàm do trường Đại học Hoa Sen tổ chức ngày 21/8, với trọng tâm là khuyến khích sinh viên xưng “tôi” với thầy cô – một điều thuộc loại “xưa nay hiếm” trong môi trường học đường tại Việt Nam.

LBT- Ở ta, đại từ nhân xưng trung tính, khách quan ngôi thứ nhất này thường ẩn chứa trong nó mối quan hệ huyết thống và nó được áp dụng lẫn lộn sang lĩnh vực giao tiếp xã hội, nơi đòi hỏi tính khách quan, minh bạch nhất. Có lẽ chính vì thế nên việc công đã lẫn lộn với việc tư, nguyên tắc làm việc khách quan lẫn lộn với tình cảm nhập nhằng, tư duy cảm tính đã thay thế cho tư duy lý tính, yếu tố tập thể đã thay thế cho vai trò cá nhân, tuân phục thay thế cho sáng tạo...

Trong lĩnh vực giáo dục, vai trò của người thầy đáng lẽ là chỉ dẫn, hướng dẫn cho sinh viên thì lời nói của giảng viên lại bị ngầm hiểu là chân lý cuối cùng, chỉ có đúng chứ không được nghi ngờ, tranh luận. Rất nhiều người đã nhận thấy điều này nhưng khi nêu vấn đề sinh viên có nên xưng "tôi" trong giao tiếp học đường hay không thì đa số vẫn còn ấp úng, e ngại...

Trò không dám xưng "tôi", thầy chưa quen nghe...

SV Nguyễn Tuấn Cường, ĐH Hoa Sen, kể lại rằng có một lần Cường tới gặp một giảng viên và “tự tin” xưng "tôi". Kết quả là em nhận được ánh mắt không hài lòng của vị giảng viên này. Kể từ đó, Cường cảm thấy có điều gì đó không ổn khi xưng “tôi” với thầy cô.

Cũng có kinh nghiệm xương máu về việc xưng “tôi”, SV Hoàng M. T. (ĐH Nông Lâm) kể: "Một lần lên thuyết trình, tôi cầm micro và xưng "tôi" với các bạn cùng lớp và cả với giảng viên phụ trách môn học. Sau khi buổi học kết thúc, có một bạn đến nói nhỏ với mình: "Bạn tự cao vừa phải thôi, thầy giáo năm nay đã gần 60 tuổi rồi!". Từ đó trở đi, T. không dám “tự tin” như thế!

SV Mai Quỳnh Tiên - ĐH Mở, cũng một lần dở khóc dở cười khi bị giảng viên cho rằng "không tôn trọng thầy" khi xưng "tôi" với thầy. Tiên rút ra bài học: "Chỉ nên xưng "tôi" khi thuyết trình. Không nên xưng "tôi" khi một mình trao đổi với giảng viên".

Cũng chính vì giảng viên chưa quen để chấp nhận việc sinh viên xưng "tôi" mà bạn Nguyễn Giao Long, SV ĐH Hoa Sen, băn khoăn: "Liệu rằng sinh viên xưng "tôi" với giảng viên thì có bị đánh giá xấu không? Quan hệ và điểm số có bị ảnh hưởng không? Dù gì đi nữa, với sinh viên chúng em, điểm số là rất quan trọng".

Khi được hỏi: "Có dám xưng "tôi" với thầy cô giáo không?", bạn M.Trực (ĐH Nông Lâm) nói: "Ngu gì!". Trực lý giải: "Xưng em, gọi cô/thầy là phù hợp nhất, vừa nhẹ nhàng tình cảm vừa cảm thấy gần gũi. Trong lớp em, ngay cả giờ thuyết trình hay trao đổi bài với các bạn thì tụi em phần lớn là xưng "mình". Em cũng chẳng cảm thấy “tự tin” khi xưng "tôi" với các bạn trong lớp. Nhưng trong lớp cũng có một vài bạn, vì văn hoá vùng miền mà xưng "tôi".

Thực tế cho thấy có nhiều SV và giảng viên chưa “quen”, nếu không muốn nói là không thích, với việc trò xưng “tôi” trong giao tiếp nhưng khi được hỏi, một số giảng viên vẫn bình tĩnh cho rằng đó là cách để nâng vị thế của SV lên, giúp SV tự tin hơn trong học tập.

Khuyến khích sinh viên xưng "tôi"

Với quan điểm đó, trường ĐH Hoa Sen từ lâu đã khuyến khích SV xưng "tôi" với giảng viên. Thậm chí suốt 15 năm qua, Hoa Sen không sử dụng bục giảng trong lớp học như là một cách để thu hẹp khoảng cách giữa người dạy và người học.

TS Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen, phát biểu: "Cách xưng hô trong trường đại học hiện nay vẫn thể hiện một quyền lực hay nhiều quyền lực đan chéo lẫn nhau rất ghê gớm. Tôi mong rằng cách xưng hô trong trường đại học vẫn có tôn ti, trên dưới nhưng không đè bẹp sức bật của sinh viên". Theo bà, SV nên xưng "tôi" với thầy cô để khẳng định được vị thế của mình.

Tại trường ĐH Phan Chu Trinh - Quảng Nam, việc xưng "tôi" với giảng viên được nhà trường "dạy" cho sinh viên ngay từ khi nhập học. Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên sáng lập trường cho biết: "Chúng tôi không đồng tình với việc sinh viên xưng với thầy cô là "em, con, cháu...". Một khi sinh viên xưng "tôi" thì điều đó chứng tỏ chúng ta đã trao quyền tự chủ cho sinh viên, khuyến khích sinh viên phát huy cao nhất khả năng sáng tạo trong học tập”.

Theo nhà văn Nguyên Ngọc, nếu tạo được cách xưng hô này thì mối quan hệ giữa thầy và trò sẽ tự nhiên hơn, thoáng hơn. Từ đó, nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục sẽ thay đổi". Ông cho rằng cải tiến phương pháp giáo dục bắt đầu bằng việc thay đổi cách xưng hô.

Xưng "tôi": Nên hay không nên?

SV Nguyễn Thị Hồng Hà, Khoa Ngôn ngữ Văn hóa của ĐH Hoa Sen, cho rằng cách tốt nhất là xưng "tôi" trong khi thuyết trình, phát biểu ý kiến trước lớp học. Còn ngoài giờ học, khi gặp riêng thầy cô thì xưng "em" cho tình cảm, thân thiện. Hà nói: "Khoảng cách thầy trò sẽ được rút ngắn khi xưng "em" với giảng viên".

Tương tự, bạn Nguyễn Thị Tường Vy, cũng là SV ĐH Hoa Sen, phát biểu: "Theo em, gọi "cô" xưng "con, em" khi gặp trực tiếp, trao đổi, hỏi bài với thầy cô thì sẽ gần gũi hơn, thân cận hơn. Nếu trong buổi thuyết trình mà xưng "tôi" là không có vấn đề gì đáng nói. Tuy nhiên, nhiều khi giọng nói của mình không được uyển chuyển, nhẹ nhàng mà xưng "tôi" thì rất phản cảm".

Tuy nhiên, cũng có những sinh viên ĐH Hoa Sen không đồng tình với những ý kiến trên. Bạn Nguyễn Giao Long nói: "Sinh viên ĐH thì nên xưng "tôi" để cảm thấy tự tin hơn và được rèn luyện để mai mốt không bỡ ngỡ khi vào làm việc tại công ty. Xưng "tôi" là để thể hiện ý kiến, quan điểm của mình". Cùng chung ý kiến, bạn Nguyễn Tuấn Cường cho rằng: "Khi phát biểu ý kiến, bảo vệ ý kiến của mình thì xưng "tôi" cảm thấy tự tin hơn, dũng cảm hơn".

Nhà văn Nguyên Ngọc phát biểu: "Theo tôi, vấn đề này khó là ở thầy cô. Mấy chục năm nay, thầy cô chúng ta đã quen với cách xưng "em, con, cháu" của sinh viên. Thậm chí, nhiều sinh viên cũng gọi "cô" xưng "con" với cả những nhân viên trong phòng kế toán, phòng đào tạo - những người không hề dạy mình".

Bà Bùi Trân Thúy, giảng viên ĐH Hoa Sen, thừa nhận mình không câu nệ việc xưng hô của sinh viên. Nhưng bà đã từng bị sốc khi nhận được e-mail của một sinh viên với lời chào: "Hi, cô Thuý". Và vị giảng viên này còn sốc hơn khi gởi đi 2 e-mail trao đổi đề tài với sinh viên này và đều nhận được câu trả lời rất gọn và rất “Tây” là: "OK".

Ngô Đình Nhu và tướng Võ Nguyên Giáp

Thật ra thì những thông tin trong bài sau đây (trên báo Tổ Quốc) không mới, vì tôi đã đọc đâu đó ở ngoài này. Ông cụ thân sinh của cụ Hồ (Nguyễn Sinh Sắc) qua đời ở Cao Lãnh. Dưới thời Ngô Đình Diệm, mộ ông cụ được chăm sóc tốt, có lẽ là một nghĩa cử của ông Diệm đối với đối thủ chính trị của mình là ông cụ Hồ.

Theo cuốn “Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm” thì khoảng tháng 6/1946, khi Diệm đến ở nhà Linh mục Độ, chính xứ Tuy Hoà, được cán bộ Việt Minh "khéo léo mời" lên miền Thượng. Một người làm chạy thoát ra Phát Diệm, rồi xin ông Lê Hữu Từ giúp đỡ. Ông Từ bèn cùng Linh mục Phạm Quang Hàm và Dân biểu Ngô Tử Ha vào Bắc bộ phủ xin cụ Hồ tha ông Diệm. Thật ra, lúc đó chính cụ Hồ cũng không biết việc này, nhưng hứa sẽ can thiệp. Khoảng một tháng sau, ông Diệm được thả về Hà Nội, và tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi Ngô Đình Nhu tới lãnh về. Câu chuyện là thế.


NVT

===

http://www.toquoc.gov.vn/tin-tuc/7456.ts?ccat=17


Những điều chưa biết về Ngô Đình Nhu


Văn Chinh


(Toquoc)- Ngô Đình Nhu từng được bổ nhiệm làm Giám đốc Kho Lưu trữ công văn và Thư viện Quốc gia- quyết định do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký.

24/08/2008

Nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử Hoa Nhật Khanh có những thành tựu mang tính “hậu trường” của các sự kiện, nhân vật lịch sử. Mới đây ông sưu tầm được các quyết định cho phép ra 40 tờ báo và một văn bản vô cùng quý hiếm do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký như là một bằng chứng của chính sách đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là quyết định bổ nhiệm ông Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Kho Lưu trữ công văn và Thư viện Quốc gia.


Câu chuyện của chúng tôi chuyển từ trao đổi tư liệu sang thi nhau ca ngợi Bác Hồ, về sự tài tình của Bác trong khi nền cộng hòa non trẻ của chúng ta mới khai sinh đã bị thù trong giặc ngoài chống đối quyết liệt 1945-1946; về chính sách đại đoàn kết toàn dân của Bác. Tôi đưa tư liệu của mình ra để nhờ ông kiểm chứng cho mối nghi vấn:


- Thưa anh, tôi được biết ông Ngô Đình Diệm đã bị cách mạng địa phương bắt, đưa ra Hà Nội và bị giam ở 44- Lê Thái Tổ, tức tòa soạn báo Hà Nội mới bây giờ. Thế rồi, như tôi nghe nói thì ông ta trốn thoát, khiến tôi nghi vấn. Làm sao có thể trốn thoát nổi, tôi ngờ rằng có thể ta ngầm thả?

Nhật Hoa Khanh nói ngay:


- Thả chính thức, cái này cụ Lê Giản- Giám đốc Sở Liêm phóng (đặt trong Bộ Nội vụ, chứ không tách riêng như về sau) hồi bấy giờ, đã có nói rõ. Theo Lê Giản, Bác hỏi: Bác có nghe ông Diệm đã bị bắt, cho Bác đến thăm. Ông ta dẫu gì cũng là người Việt Nam, thân phụ ông ấy là Ngô Đình Khả, làm đến thượng thư triều đình Huế nhưng đã từ quan vì thấy rõ nó nát rữa. Thân phụ Bác cũng từ quan, các cụ có biết nhau. Sau khi đưa Bác đến 44 Lê Thái Tổ, ông Giản ở ngoài. Chỉ nghe Bác dặn lúc chào tạm biệt: Ngô Đình Diệm làm đến quan đầu triều, chỉ vì đòi thống nhất Nam kỳ vào Bắc và Trung kỳ, nhằm thu hẹp quyền của 3 thống sứ Pháp vào 1 thống sứ tại Huế; đòi không được nên đã từ quan. Người như thế không thể đánh đồng với đám quan lại cũ thối nát. Vả lại, là quan lại cũ, nhưng đã từ quan, nên coi là dân thường. Mà dân thường thì mọi tầng lớp, mọi giới đều nằm trong Việt Minh, không phải là đối tượng của cách mạng nữa.


Tôi ồ lên phấn khích. Tôi dân viết lách nên rất nhanh chóng đã mường tượng ra cuộc gặp giữa Bác và Ngô Đình Diệm hẳn là rất thú vị, phảng phất mầu sắc của các nhân vật lịch sử trong truyện ngày xưa. Tôi không được biết Bác đã nói với ông Diệm những gì, nhưng hẳn là cuộc gặp đã để lại nhiều ấn tượng tốt, nhất là đã giữ lại mạng sống cho ông ta.


Theo hồi ký của tướng Cao Văn Viên, thì vào những lúc cam go nhất của gia đình mình, của chế độ mình, ông đã tìm cách gặp gỡ Hà Nội. Nhưng không thành. Mặc cảm tự ti, sợ mất quyền đã khiến ông bỏ lỡ ngày tổng tuyển cử 1956 theo Hiệp định Geneve, vì ông tin nhận định của Tổng thống Mỹ Eisenhowr sẽ trở thành hiện thực: “Nếu bầu cử bây giờ, (1956) Cộng sản sẽ chiếm 80% số phiếu, ông và cộng sự chỉ có thể chia sẻ số phiếu còn lại với các đảng phái khác”. Và ông đã chết trong ảo tưởng chỉ nhận tiền Mỹ chứ không chịu nhận quân Mỹ rồi mặc sức làm một nhà độc tài của riêng một miền Nam nước Việt. Nhưng thôi, đó lại là câu chuyện khác.


Nền độc tài họ Ngô có nhà tư vấn thiết kế kiêm cố vấn Ngô Đình Nhu, là em áp út của ông Diệm. Ông Nhu sinh năm 1911 tại Huế, tốt nghiệp Trường pháp điển Paris vào những năm 1930. Sau đó về nước làm Giám đốc Văn khố Phủ Toàn quyền Đông Dương rồi Giám đốc Thư viện Bảo Đại. Sau Cách mạng Tháng Tám, Ngô Đình Nhu được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc tại Hà Nội. Đó là tờ Sắc lệnh số 21, ký ngày 8-9-1945 của Chính phủ Lâm thời Nước Việt.


Ông Hoa Nhật Khanh nói:


- Tôi có trong tay bản chụp tờ sắc lệnh ấy, do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký thay Chủ tịch Chính phủ.


Tôi đã được xem bản chụp của ông Khanh, đã toan mượn nó để in vào bài viết này, nhưng đó coi như tư liệu gốc của nhà nghiên cứu, mượn sao được, nên thôi.


Ngô Đình Nhu là người thông minh, trác việt. Từ nền tảng Hán học trong một gia đình khoa bảng, ông ta lại có Tây học chính quy; chỉ tiếc ông ta cũng bản vị hẹp hòi chẳng khác gì ông anh Diệm, chống Cộng cực đoan gây nên nỗi đau chia cắt đất nước lâu dài còn chính anh em ông lại bị chết thảm do đấu đá tranh giành quyền bính của các đồng sự. Ông ta đã phản bội lại lòng tin và vị tha của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của cách mạng nên đã bỏ trốn sang Lào rồi về ẩn cư ở Đà Lạt. Là kẻ “trùm mền làm cách mạng” trong khi cả nước mọi tầng lớp nhân sỹ thành phần làm kháng chiến chống Pháp như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải, ông Nhu lại chống Pháp hơn chống Mỹ, còn ông anh Diệm thì ngược lại, như nhận xét của Cao Văn Viên. Thế rồi, năm 1950 Nhu lập ra đảng Cần lao Công giáo, đến năm 1954, khi ông anh làm Thủ tướng của Quốc trưởng Bảo Đại, thì đổi thành đảng Cần lao nhân vị, phát triển rất nhanh trong quân đội. Người ta bảo tên đảng thì mang ý nghĩa vì người cần lao nhưng ông trùm đảng này cứ vừa hút thuốc phiện vừa bầy mưu tính kế giúp ông anh giữ vững cái uy quyền của đại gia đình họ Ngô. Mọi diễn văn đáp từ của Ngô Đình Diệm đều phảng phất mùi khói thuốc phiện. (?)

Saturday, August 23, 2008

Viết tiếp về di truyền trong thể thao

Hôm nay thấy trên tờ Sydney Morning Herald có bài về gien và thể thao! Họ còn trích dẫn nghiên cứu của bà K. North, một đồng nghiệp của tôi và từng cộng tác trong nghiên cứu gien ACTN3. Bài báo cho biết trong số tất cả các vận động viên tranh tài trong cuộc thi chạy 100 m đều có nguồn gốc từ Tây Phi. Thì y chang như tôi đã tiên đoán mà! :-) Chúng ta không hi vọng gì đoạt giải điền kinh này.

Cuốn sách của Jon Entine mà bài báo đề cập đến (Taboo - Why Black Athletes Dominate Sports And Why We're Afraid To Talk About It) thật ra là một cuốn gây ra nhiều tranh cãi. Ông này có vẻ kì thị, nhưng những dữ liệu ông ấy trình bày trong sách thì không có gì sai. Chỉ có cách diễn giải thôi: cùng một dữ liệu, nhưng diễn giải thì có khi không khách quan.

Thế thì vấn đề là gì? Việt Nam có nên xét nghiệm gien để chọn vận động viên để đào tạo cho các kì tranh tài Thế vận hội? Tôi nghĩ là nên. Nhưng xét nghiệm gien nào thì còn là câu hỏi lớn. Câu hỏi này cũng chính là cơ hội cho các nhà di truyền học nước ta.

NVT


http://www.smh.com.au/news/athletics/out-of-africa-the-speed-gene-genie/2008/08/22/1219262524663.html

Out of Africa: the speed gene genie

Andrew Stevenson August 23, 2008

GOLD medallists raise their fists in jubilation and sleep well at night knowing they're the best in the world. Drawn from about 200 countries, they compete against one another under the utopian banner, "One world, one dream".

But did they really beat the world or do the specific genetic characteristics of different population groups mean that the Olympics - open to ever-wider participation in the shrinking global village - are actually a race narrowed down to rivals from their own distinct ethnic group?

In Beijing, for the first time at an Olympic Games, every competitor in the men's and women's 100 metre sprint finals traced their ancestry to West Africa. Even more remarkably, 15 of the 16 runners are descendants of the slave trade, living in the Caribbean or the US. Jeanette Kwakye is the exception, born in England of Ghanaian parents.

The fastest runner in Australia this year, Adam Miller, of Penrith, on his best time would have trailed Usain Bolt - who backed up to win the 200 metres with a remarkable pair of world record times - by nearly a dozen metres.

White men cannot run. But they can jump and lift huge weights and swim, if not like fish, then faster than anyone else on the planet. Welcome to the race race, where winners are not just grinners, they're athletes who were smiled on by the genetic gods, argues Jon Entine, author of Taboo - Why Black Athletes Dominate Sports And Why We're Afraid To Talk About It." To a large degree it's not who works the hardest [who wins] but who had the genetic gods look down on them with favour and the Bolts of the world fit that category," he said.

The malignant hand of the slave trade might have already played a role, intervening in natural selection with the strongest and fittest West Africans loaded on slave boats bound for the Americas, contributing to a dominance of Caribbean sprinters several centuries later. A Jamaican urologist, William Aiken, has proposed another, speculative, suggestion about why a nation of 2.8 million has achieved so much.

"Since Jamaica was one of the last stops to be made by the slave ships, it ensured that only the most resilient and fittest of slaves were alive to disembark," he wrote in an article connecting sprinting prowess with high rates of prostate cancer, both of which he suggested could be linked to testosterone levels.

The truth is geneticists have identified only a handful of genes that affect human physical performance. Kathryn North, of the Institute for Neuromuscular Research at the Children's Hospital at Westmead and the University of Sydney, has shown there is a common genetic variant in the fast-twitch muscle gene alpha-actinin-3 that renders it inactive in about 20 per cent of European populations and at least 1 billion people worldwide.

But the active form of this single "sprint gene" is found in all Olympic sprinters of European background and almost all Africans. That is one gene and many more wait to be revealed.
But the little already known indicates the power of genes - if you don't have alpha-actinin-3, you are unlikely to win the 100 metres. But the inactive form could set up a career in distance running. North's team created mice with the inactive form which could run 33 per cent further than mice with the sprint gene before becoming exhausted.

North is anxious not to rule out cultural influences such as diet and coaching, and psychological traits such as the so-called "mongrel" gene that fuels the will to win. But she agrees some distinct populations have a huge competitive advantage in certain events.

"I don't think we can ignore that we all look and perform differently in different situations," she said. "It's not that one ethnic group has an overall advantage; it's just there are strengths and weaknesses in different populations throughout the Earth that are influenced by the environment in which they have lived and in which certain traits have evolved."

Entine said there were athletic hot spots around the world based on distinct body types. East Africans dominate distance running to almost the same extent as those originally from West Africa are dominating sprinting.

"The word 'race' doesn't really apply. Look at East Africa versus West Africa. They're all Africans but the body types of Kenyans and Ethiopians are very different to West Africans'," he said. "And you can see it in swimming. You can make all kinds of cases that blacks are culturally disadvantaged in swimming but the reality is the black body type is not suited to being great swimmers."

Intriguingly, debate about genetic influences on athletic performance has been hampered by cultural and political taboos, despite frank and open discussion of how illness and disease may be influenced by genetic variations. Perhaps the memory of the attempted racial hijacking of the Olympics in 1936 still lingers.

But identifying which variations in which particular genes contribute to success in any particular athletic endeavour is extremely challenging, with the answer still several years away.
"At the moment we know only of a couple of genes, probably less than 10, that have been shown to have some influence on the different types of human physical performance," North said. "There are probably hundreds of genes involved."

But, even when they are found, will they tell us anything the naked eye and a record book do not already confirm?

If you want a weightlifter, look for someone with shorter limbs in ratio to their torso and greater upper body strength, physical features more common to Caucasians. Similarly, 11 of the past 12 Olympic hammer-throw champions came from a handful of northern European nations.
"You don't need to do a molecular test to see if someone's tall and a stopwatch does a pretty good job of telling you if someone's fast," said Jason Gulbin, who runs the Australian Institute of Sport's talent identification program.

But a genetic profile might help determine whether athletes are in the right event, whether they have a significant capacity to improve, what sort of training load they can bear and their susceptibility to injury.

"The key point is to implement research to understand the value of genetic information and this is the area that spooks people. And they get caught up in, a) the race angle and, b) the genetic manipulation/gene therapy side of things. When people hear the g-word they jump to conclusions," Gulbin said.

Despite the potential benefit of using genetics as an extra tool to screen, manage and prepare athletes, the AIS has been barred from genetic research by a directive from the former federal sports minister, Rod Kemp.

The AIS director, Peter Fricker, believes now is the time to act or Australia risks being left behind.

"A year or two ago, because there are so many other things that make a champion, I thought we could wait and see what the scientists come up with. But I worry that, because you can see countries around the world starting to do the research, we need to be on the front foot," he said. "Australia has to be in the game and we have to do it really well and we have to get reliable information so we can make sense of our talent-screening strategies."

Fricker believes we are still a decade away from reliable genetic predictors of performance that are worth building into talent-screening programs.

"Where we might end up with all this research is with a set of genetic variations - and if you've got this one, this one, this one, this one and this one, the chances are you'll be a much better athlete than someone who's only got two of those genes," he said.

"Just in raw potential, that's what the scientists are interested in - to see how accurate and how reliable having that genetic information might be. If you had no other information at all, would it really help you select the next champion?"

But while scientists such as Fricker are more cautious - citing a list of environmental factors that influence performance - Entine has little doubt genes will be able to pick winners, arguing that many key behavioural traits, such as the ability to withstand pain and a willingness to take risk, could well have genetic bases.

"There's no question that in not too many distant decades you'll be able to know right off what the parameters and possibilities are to becoming a great athlete for someone when they're popping out of the womb," he said.

Bảy nỗi buồn tháng bảy

Đọc bài sau đây của Nguyễn Ngọc Tư mà thấy buồn. Sáng nay lên net tìm thông tin về TPHCM như kinh tế, thu nhập, v.v… thì thấy thu nhập trung bình của cư dân thành phố là 2.180USD/năm. Vậy là khá rồi, nhưng tất nhiên còn phải điều chỉnh cho giá cả ở thành phố nữa. Nhưng còn ở nông thôn thì sao? Đây, bài báo này của NNT phản ảnh cái nghèo trần trụi, cái nghèo rất thật của một gia đình ở dưới quê. Kinh nghiệm của tôi cho thấy đây là một gia đình khá tiêu biểu ở quê: nghèo, ít học, lam lũ, và thiếu cơ hội.

Nhìn tấm hình của cô bé Huyền, thấy ánh mắt sáng, ngây thơ cứ như là thiên thần! Nhưng có lẽ cuộc đời của bao nhiêu em như em Huyền còn lắm gian truân và tương lai còn lắm mịt mờ. Không biết có bao giờ chính phủ thật sự bắt tay làm một cái gì đó thực tế để giảm mức cách biệt giữa nông thôn và thành thị như hiện nay. Tôi nghĩ giáo dục và y tế là hai lĩnh vực thực tế nhất.

NVT

===

Bảy nỗi buồn tháng bảy

Chỉ đường đến nhà chú Ba Bạch cho người bạn rồi, nghĩ, anh sẽ làm được một phim rất hay. Những hình ảnh anh ghi lại ở cái nhà lụp xụp bên bờ rạch Xẻo Thùng sẽ có tác động mạnh hơn những con chữ của tôi, vốn lúng túng khi gặp phải cảnh đời khốn khó. Chúng luôn mơ mộng uỷ mị trong khi nỗi đau thì thật quá, trơ trụi quá.

Anh thì khác, anh không viết gì cũng được. Anh có hình ảnh, vô số hình ảnh. Một thím Ba Bạch gầy gò, ngồi lặng lẽ sau lưng chồng, cái nhìn xa vắng. Mặt, cổ và đôi cánh tay chi chít những nốt u da to nhỏ, mắt nhìn đăm đăm xuống chiếc chiếu đã sờn. Mắt bà đục và đỏ (tôi đã tự hỏi do bà khóc nhiều, hay do ảnh hưởng của những nốt phù đã lan khắp thân?). Nỗi buồn trong suốt phủ lên cái góc giường chỗ vợ chồng bà ngồi, thấy rõ cánh tay trái teo và cong của ông, ánh sáng từ cái vách lá rách trống hoác sau lưng họ hắt vào những tia sáng chói loá kỳ dị.


Bé Huyền với ánh mắt sáng ngời

Hình ảnh anh có là cô bé Huyền gù lưng, còi xương, không lớn lên theo cái tuổi mười tám, đang ngồi giặt thau đồ lớn gấp ba cơ thể mình. Em Mơ loay hoay làm nhân bánh bao, mặt em méo, sưng húp vì bên thái dương vẫn còn thóp lớn bằng khu chén, nó mềm nhũn và phập phồng khi người lạ đứng quá gần (lúc tôi ấn tay vào, chỉ cần lún sâu một chút, tôi tin là đầu ngón tay tôi sẽ chạm vào… óc em). Thằng Lỳ lem luốc ngồi cười với khách, không khó để nhận ra đứa bé thiểu năng trí tuệ, “học bốn năm lớp 1 mà không nhớ chữ nào”.

Khi tôi đến thì nắng đã lên cao, nước bắt đầu ròng. Con rạch sau xóm kiệt nước, để lộ ra những chân nhà sàn cắm xiêu vẹo lỏng chỏng. Những mảnh ván sàn được ghép bằng gỗ vụn, vách sau cũng đắp vá bằng những tấm nylon khác màu, chắc chắn khi anh đến chúng vẫn còn nguyên đó. Sẽ chẳng có phép màu nào thay đổi những gì đang có ở nhà chú Ba, chỉ tuần qua. Hai khối u nhão, phồng lên đầy chật vùng thắt lưng của hai em Trắng và Mộng chẳng mất đi đâu, có thể chúng còn lớn hơn hồi tôi đến. Sẽ rủi ro hơn nếu va chạm mạnh ở vùng bướu, Trắng đã mấy lần phải nằm viện chỉ vì mấy đứa em vấp chân vào lưng. Hôm đó tôi cứ ngại khi phải săm soi thân thể họ, chạm tay vào hai khối u xạm và sần sùi chảy xệ xuống mông, vì hai anh con trai đã qua tuổi hai mươi, sượng sùng trước sự có người phụ nữ ngó nghiêng.

Tôi không biết chút gì về phim ảnh, nhưng có cảm giác dù phim anh không có lời bình thì những hình ảnh nhoi nhói đó sẽ lên tiếng kể về một nỗi buồn. Của những thân phận tật nguyền. Của cái nghèo vây bủa. Chiếc xuồng máy anh em Trắng, Mộng dùng đi bán bánh bao trở về nhà, sau một buổi sáng ế ẩm, chỉ bán được 50 cái. Những đứa em gái vẫn đang nhồi bột, xào nhân chuẩn bị bánh bán bữa chiều. Cái xoong hấp bánh đen đúa ngoài hàng ba le lói khói.

Cũng có vài buổi trưa những đứa con trai mang về bánh ế cùng với cái biên lai phạt của cảnh sát giao thông đường thuỷ do không có bằng lái vỏ. Không làm bằng lái được vì không hộ khẩu, không được làm giấy chứng minh nhân dân. Sống ở xóm Đảo đã gần hai mươi năm, cái nền nhà ẩm thấp dưới chân chú vẫn là của Nhà nước. 64/65 hộ ở xóm ven rừng, cách thị trấn Năm Căn sầm uất chỉ một con sông, đều chung cảnh ngộ. Điện mua đắt đỏ từ bên sông, bật một ngọn đèn là xót ruột. Trước đây cả xóm bán dạo trên sông, giờ quá nửa bà con chuyển qua nghề… bốc vác, vì quá sợ cảnh vay mượn ba bốn trăm ngàn để đi nộp phạt. Trắng kể nhiều bữa chui vào lùm cây chờ mấy anh cảnh sát rời trạm, nên mấy trăm cái bánh bao còn nguyên.

Bánh còn, bữa cơm thì khuyết, nhiều khi chỉ nước đá lạnh chan với mấy con ba khía rang mặn chát. Bữa cơm trưa nhà chú Ba cũng biết kể chuyện, bằng mớ thức ăn ít ỏi, bằng tiếng đũa ràn rạt khua chén, bằng âm thanh muỗng chạm vào đáy xoong cơm. Bảy nỗi đau tật nguyền ngồi chung với vài thành viên mạnh lành còn lại. Dị tật ăn mòn cả ước mơ, những chàng trai cô gái thậm chí không hy vọng mong chờ một mối tình, bởi “thân mang tật, không làm lụng gì được mà còn nghèo quá chừng…”.


Gia đình quây quần. Chú ý nhà lá, giường cây cũ kỉ, chiếu rách te tua

Những gương mặt hiền hậu, buồn buồn, thậm chí Huyền còn rất xinh xắn, nhưng Huyền sẽ mãi mãi ở trong nhân dạng của đứa trẻ. Nếu Mơ không đau đầu thì buổi sáng hai chị em sẽ đi làm bánh thuê trong xóm, ngày cũng được chừng mười ngàn tiền công. Chú Ba cũng đi kéo nước mướn. Đám con trai thì bán dài theo những vuông tôm xa. Sau bữa cơm trưa vào rừng bắt ba khía, hay xuống sông mò cá.

Chú Ba đôi lúc nhịn thuốc mua vé số, chú cũng chẳng còn biết hy vọng vào cái gì. Công việc khuân vác nặng nhọc ở những bãi bán vật liệu xây dựng, những nhà máy nước đá, những xưởng cưa… lại là nỗi ước ao của cả gia đình chú, “phải tụi nhỏ khoẻ mạnh, ngày cũng kiếm được ít chục ngàn mua gạo, chớ buôn bán bấp bênh vầy…”.

Nhưng cả mơ ước dưới mức bình thường đó, họ cũng không có được. Và khi bắt gặp cái nhìn, cái vẫy tay chất chứa hy vọng, tôi bỗng thấy mình giống như tờ vé số, đầy may rủi, chữ nghĩa tôi thì giúp được không, dù nhỏ, như làm lại bức vách rách tả tơi kia?!

Vậy nên, tôi mới nhờ bạn xuống chiếc đò nhỏ, và đi về cái xóm heo hút đó. Trăm sự cậy nhờ vào những hình ảnh xót xa của anh.

Nguyễn Ngọc Tư




Friday, August 22, 2008

150 năm lí thuyết chọn lọc tự nhiên

Năm nay giới khoa học kỉ niệm 150 năm ngày Charles Robert Darwin và Alfred Russel Wallace công bố lí thuyết chọn lọc tự nhiên (Theory of Natural Selection). Ngày 1/7/1858, tại Hội Linnean ở London [1] trình bày một cách khiếm diện bài báo khoa học 18 trang của Darwin và Wallace về lí thuyết chọn lựa tự nhiên, nhưng sau này người ta chỉ nhớ đến Darwin, ít ai nhắc đến Wallace [2]. Sự ra đời của lí thuyết chọn lọc tự nhiên, nói như nhà sinh vật học Stephen Jay Gould, là một ý tưởng cách mạng vĩ đại nhất của con người, là một phát hiện quan trọng nhất trong thiên niên kỉ.

Cũng như bất cứ một ló thuyết vĩ đại nào, lí thuyết chọn lọc tự nhiên cực kì đơn giản. Toàn bộ lí thuyết có thể tóm lược bằng một câu văn như sau: Mỗi loài vật, kể cả con người, có cùng một cội nguồn chung, và hình thể của các loài vật chúng ta thấy ngày nay là hệ quả của một quá trình chọn lọc tự nhiên.

Tại sao lí thuyết chọn lọc tự nhiên được các nhà khoa học đánh giá là một ý tưởng cách mạng vĩ đại của thiên niên kỉ? Tại vì nó là nền tảng của nền y sinh học hiện đại, nó cung cấp cho chúng ta một phương tiện để hiểu về thế giới tự nhiên; nó cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết sâu hơn (dù chưa hoàn hảo) về hành vi của con người, về nguồn cội của chúng ta đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Bất cứ ai làm trong ngành y sinh học đều có thể thấy lí thuyết của Darwin hoàn toàn đúng. Nhưng cũng có vài hiểu lầm về thuyết của Darwin do những người trong Kitô giáo theo thuyết Creationism (thuyết sáng tạo hóa) tung ra gây hỏa mù.

Có người hiểu rằng thuyết của Darwin cho rằng con người xuất phát từ khỉ. Không đúng. Darwin không bao giờ nói hay viết như thế. Darwin viết rằng khỉ, vượn, và người nhất định phải có cùng một nguồn cội (tổ tiên) vì họ rất giống nhau so với các sinh vật khác như người với cá chẳng hạn. Thật vậy, ngày nay, qua phân tích di truyền học, chúng ta thấy trong bất cứ gien nào hay dãy DNA nào được khảo sát, con người và loài tinh tinh có cấu trúc gien và DNA giống nhau hơn là giữa tinh tinh với khỉ. Nếu so sánh DNA của con người và DNA của tinh tinh, sự trùng hợp lên đến 98.4%, tức chỉ khác biệt 1.6%. Phân tích chuỗi DNA trong hệ thống máu globin, mức độ trùng hợp giữa con người hiện đại và tinh tinh là 98.76%, tức chỉ khác biệt trên dưới 1%. Chính vì sự trùng hợp di truyền này, nhiều nhà nhân chủng học đề nghị xếp loại tinh tinh thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm Pan troglodytes (hay những tinh tinh ‘thường’), nhóm 2 gồm Pan paniscus (còn gọi là bonobo hay pygmy chimpazee – tinh tinh nhỏ), và nhóm 3 là ... chúng ta, tức Homo sapiens, người thông minh. Có thể nói rằng chúng ta và linh tinh hay khỉ có cùng tổ tiên, nhưng qua tiến hóa thì bây giờ chúng ta “văn minh” hơn người anh em họ tinh tinh kia. Darwin không bao giờ nói kỉ là tổ tiên của con người. Nhớ nhé!

Theo thuyết tiến hóa và qua bằng chứng di truyền + khảo cổ học, sau khi tách rời khỏi người anh em họ tinh tinh, khoảng 2,5 triệu năm về trước, con người phát triển thành giống người Homo habilis. Giống người Homo habilis có khả năng làm những dụng cụ thô sơ bằng đá, và có hai chân. Dung lượng não của Homo habilis cao hơn loài tinh tinh, nhưng thấp hơn so với con người hiện đại. Khoảng 2 triệu năm trước, Homo habilis tiến hóa thành loài Homo erectus (loài người đi đứng thẳng lưng), và chính giống người này tản mát khỏi Phi châu và đi khắp thế giới. Đến khoảng 500.000 năm trước Homo erectus tiến hóa thành Homo Sapiens (loài người thông minh). Người Homo Sapiens có dung lượng và hình dạng não giống với con người hiện đại ngày nay.

Ngày nay, trong y khoa có một bộ môn học gọi là Darwinian Medicine hay Evolutionary Medicine (y học tiến hóa). Môn học này dạy sinh viên hiểu về bệnh tật hơn. Đại đa số các nghiên cứu y khoa trong thời gian qua nhằm đi tìm nguyên nhân của bệnh tật và tìm thuật chữa trị. Y học tiến hóa đặt câu hỏi tại sao cơ thể con người được thiết kế như hiện nay để chúng ta mắc những bệnh như ung thư, tiểu đường, xơ vữa động mạch, phiền muộn, ho, cảm cúm, v.v… Y học tiến hóa cung cấp cho chúng ta một viễn cảnh lớn hơn, góc nhìn rộng hơn, nhằm giải thích bổ sung các kết quả của nghiên cứu y học. Nhưng đây là chủ đề thú vị mà tôi hi vọng sẽ quay lại trong một dịp khác.

Chú thích:

[1] Nay là một phần của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Anh. Hội Linnean là một hội sinh học lâu đời nhất trên thế giới, danh xưng của hội lấy từ tên của nhà sinh vật học nổi tiếng người Thụy Điển Carl Linnarus.

[2] Nhiều người cho rằng Darwin ăn cắp ý tưởng của Wallace, nhưng khi xem xét bằng chứng giả thiết này không đúng. Wallace có gửi bài báo của mình cho Darwin đọc, và Darwin thấy những ý tưởng trong đó trùng hợp ý tưởng của mình nên đề nghị cả hai bài báo công bố cùng một lúc. Tuy nhiên, Darwin hơn Wallace một bậc: đó là ông có công thu thập dữ liệu và bằng chứng dồi dào để làm nền tảng cho lí thuyết của mình, còn Wallace thì chỉ nói suông. Có ý tưởng là một chuyện, nhưng phải có bằng chứng là một chuyện khác.