Tuesday, September 30, 2008

Liều lượng melamine bao nhiêu là an toàn?

Sau khi đọc phần góp ý của một bạn đọc (cám ơn bạn), tôi viết lại bài này cho rõ ràng hơn, vì bài trước trình bày ppm và mg/kg chưa rõ ràng.

NVT

===

Hiện nay, câu chuyện melamine đang gây hoang mang cho người tiêu dùng trong nước. Một số báo chí hình như có xu hướng giật gân, đưa tin vật dụng này đến đồ dùng khác chứa melamine (chẳng hạn như bài này) với hàm ý bất cứ sản phẩm nào có melamine là nguy hiểm. Nhưng trong thực tế thì khó mà khái quát hóa một cách đơn giản như thế, bởi vì dữ liệu khoa học chưa đầy đủ, nhất là dữ liệu về mối liên hệ giữa melamine và con người.

Vấn đề không phải là vật dụng hay thực phẩm hàm chứa melamine, vì nhiều hàng hóa lưu hành trên thị trường đều hàm chứa một ít melamine. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì hóa chất này được sử dụng trong các qui trình sản xuất giấy và bao bì cho nhiều loại hàng hóa gia dụng. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tìm thấy melamine trong các vật gia dụng này.

Liều lượng dung nạp melamine an toàn cho một người

Vấn đề là liều lượng melamine cỡ nào có thể gây tác hại đến sức khỏe cho con người. Câu hỏi này khó có câu trả lời dứt khoát, bởi vì phần lớn dữ liệu về tác hại của melamine trong quá khứ được thu thập qua thí nghiệm trên chuột, chó và mèo, chứ không phải trên người (và cũng chẳng có nhà khoa học nào dám làm thí nghiệm trên người).

Tuy nhiên, sau khi các chuyên gia về an toàn thực phẩm trên thế giới thảo luận qua email, họ nhất trí rằng nồng độ melamine dung nạp hàng ngày có thể chấp nhận được (tiếng Anh là tolerable daily intake hay TDI) là 0.5 mg/kg cân nặng. Ở Mĩ, Cục quản lí thực phẩm và dược phẩm (FDA) đề nghị TDI 0.63 mg/kg cân nặng. Xin nói thêm rằng ngưỡng an toàn 0.5 mg/kg cân nặng được xem là “bảo thủ”, tức rất nghiêm ngặt.

Khái quát hóa từ tiêu chuẩn trên, chúng ta có thể nói cứ mỗi kg cân nặng, một người có thể hấp thu 0.5 mg melamine mỗi ngày. Chẳng hạn như một em bé cân nặng 20 kg thì liều lượng melamine an toàn là 10 mg/ngày; hay một người lớn nặng 60 kg thì có thể dùng 30 mg/ngày mà không gây tác hại đến sức khỏe.

Nồng độ an toàn cho sữa và thực phẩm

Trên đây là liều lượng melamine an toàn mà con người có thể dung nạp hàng ngày. Câu hỏi tiếp theo là: nồng độ melamine trong sữa (hay thực phẩm nói chung) bao nhiêu là an toàn? Theo các chuyên gia ở New Zealand và Âu châu thì nồng độ melamine an toàn trong sữa và thực phẩm là 5 ppm (5 phần triệu). Nồng độ này được đưa ra với tinh thần bảo thủ (tức thấp hơn 100 lần cho phép). Cần nói thêm rằng 5 ppm có nghĩa tương đương với 1 giọt mực trong một bồn 52 lít nước.

Cho đến nay qua theo dõi báo chí, tôi chưa thấy sản phẩm sữa nào ở nước ta có nồng độ melamine ở mức nguy hiểm. Theo báo chí, qua xét nghiệm một số sữa lưu hành trên thị trường thì nồng độ melamine cao nhất là 6 ppm, tức cũng chưa thể xem là có nguy hại cho sức khỏe.

Vì thế, tôi nghĩ giới truyền thông không nên đưa những thông tin mang tính báo động có thể gây hoang mang trong công chúng, thậm chí có thể làm thiệt hại đến những nông dân Việt Nam đang làm ăn lương thiện cung cấp sữa cho thị trường.

Cần qui ước đạo đức cho kĩ nghệ thực phẩm

Bài này đã gửi cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Chỉ là vài suy nghĩ chung quanh chuyện sữa chứa melamine cộng với mấy chuyện trước đây.
NVT
====

Việc sữa sản xuất từ Trung Quốc hàm chứa chất melamine dẫn đến tử vong cho một số trẻ em đã được thảo luận khá nhiều trên báo chí Trung Quốc và thế giới. Người ta bàn đến việc đề ra những tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh gắt gao hơn, những qui chế luật pháp để ngăn ngừa một thảm trạng như thế trong tương lai. Tuy nhiên, một khía cạnh cực kì quan trọng khác hầu như không được bàn đến: đó là đạo đức kinh doanh thực phẩm. Chúng ta cần có một qui ước đạo đức trong việc kinh doanh thực phẩm hơn là thêm những điều lệ về an toàn và qui chế pháp lí trong việc quản lí sự an toàn thực phẩm
.


Thực phẩm không chỉ là nguồn dinh dưỡng mà còn có thể đóng vai trò quan trọng cho việc bảo vệ sức khỏe người dân. Chính vì thế mà thực phẩm thường được đặt dưới sự quản lí của các cơ quan có nhiệm vụ quản lí dược phẩm. Nhận thức được tầm quan trọng và ảnh hưởng của thực phẩm, các nước phát triển ở phương Tây có cả một hệ thống kiểm nghiệm chất lượng và an toàn thực phẩm rất nghiêm ngặt. Bất cứ thực phẩm nào, nhập cảng hay sản xuất tại địa phương, đều phải trải qua một qui trình kiểm tra rất chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho người tiêu thụ.


Nhưng cho dù với một hệ thống kiểm nghiệm như thế, trong thực tế vẫn có nhiều thực phẩm hàm chứa nhiều hóa chất độc hại “lọt sổ” và có mặt trên thị trường. Chỉ cần nhìn qua danh sách dài những thực phẩm từ Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan, v.v… mà Cục thực phẩm và thuốc của Mĩ (Food and Drug Administration) cảnh báo, chúng ta có thể thấy có đến hàng ngàn sản phẩm thiếu an toàn vì hàm chứa vi khuẩn và hóa chất có thể tác hại đến sức khỏe người tiêu thụ. Năm ngoái, ở Mĩ người ta phàn nàn rằng thực phẩm cho chó và mèo nhập từ Trung Quốc làm cho một số gia cầm này chết vì bị bệnh thận. Một cuộc thăm dò ý kiến (do báo USA Today/Gallup thực hiện) gần đây bên Mĩ cho thấy có đến 75% người Mĩ “rất quan tâm” hay “quan tâm” đến sự an toàn của thực phẩm nhập từ Trung Quốc.


Mới đây, kể từ khi sữa sản xuất ở Trung Quốc bị phát hiện có hàm chứa chất melamine (một chất làm tăng giả tạo nồng độ protein trong sữa nhưng đồng thời gia tăng nguy cơ sỏi thận), vấn đề an toàn thực phẩm một lần nữa được giới quan sát phương Tây tốn rất nhiều giấy mực để thảo luận. Giới bình luận phương Tây cho rằng đây là một đặc thù của một nền kinh tế đang phát triển, mà trong đó người sản xuất sẵn sàng hi sinh những tiêu chí về chất lượng và an toàn thực phẩm để thu vào càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Họ kêu gọi phải tăng cường quản lí thực phẩm từ Trung Quốc bằng những cơ chế pháp lí và thêm những điều lệ về an toàn và chất lượng.


Ở nước ta, qua vụ nước tương chứa chất 3-MCP và những nạn dịch bệnh liên tiếp xảy ra, vấn đề an toàn thực phẩm cũng được đặt ra nhiều lần. Nhiều doanh nghiệp bị phạt nặng. Có quan chức thậm chí còn đề nghị phạt người tiêu thụ vì … ăn bẩn!

Nhu cầu đạo đức


Nhưng các biện pháp pháp luật như phạt tiền có thể đem lại một sự hài lòng cho một số người, nhưng khó là giải pháp lâu dài cho kĩ nghệ thực phẩm. Luật pháp chỉ là biện pháp bề mặt, bề ngoài, áp dụng cho mọi người; đạo đức mới là biện pháp bề trong ở mỗi con người. Theo luật pháp, hành động sản xuất thực phẩm thiếu an toàn theo những tiêu chí khoa học nào đó là phạm luật, là phạm tội. Theo chuẩn mực đạo đức, cá nhân người sản xuất ý thức được rằng mình sản xuất sản phẩm độc hại là xấu, là có tội. Do đó, theo tôi, kĩ nghệ thực phẩm cần một qui ước về đạo đức.


Mỗi ngành nghề đều có những qui ước đạo đức cho chuyên ngành. Đối với những ngành nghề có liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, qui ước đạo đức (Code of Ethics) là một điều không thể thiếu được trong việc hành nghề. Chẳng hạn như giới y sĩ phải tuyên thệ y đức trước khi ra trường. Vì thực phẩm có liên hệ trực tiếp đến sức khỏe của một cộng đồng, thậm chí dân tộc, kĩ nghệ thực phẩm rất cần một qui ước về đạo đức.


Nhưng chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những qui ước hay điều lệ về hành nghề được các thành viên trong ngành nghề chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các điều lệ này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về các hành xử cho các tình huống khác nhau. Đạo đức, do đó, là một luật luân lí về hành vi của con người liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai. Để xác định được một hành động hay quyết định là tốt hay xấu, người quyết định phải so sánh những lựa chọn của họ với những tiêu chuẩn mà xã hội chấp nhận.


Thật ra, trước tình trạng bành trướng mạnh mẽ của kĩ nghệ thực phẩm ăn liền (như nhà hàng McDonald) và xu hướng béo phì ở các nước Âu Mĩ, một cuộc tranh luận về nhu cầu đạo đức cho kĩ nghệ thực phẩm đã từng xảy ra. Những người không tán thành chủ trương này lí giải rằng kĩ nghệ thực phẩm không cần qui ước đạo đức vì: một qui ước hay tuyên thệ như ngành y sẽ không bao giờ đầy đủ; một lời tuyên thệ đầu môi chót lưỡi không hẳn sẽ thay đổi hành động của một cá nhân (người vô đạo đức sẽ hành động vô đạo đức cho dù họ có nói về đạo đức); lời tuyên thệ có ý nghĩa về mối liên quan giữa con người với con người (như bác sĩ và bệnh nhân) nhưng trong kĩ nghệ thực phẩm người thiêu thụ là một thực thể vô danh do đó họ không có trách nhiệm cá nhân. Vả lại, nếu tuyên thệ thì tuyên thệ với ai là câu hỏi chưa có câu trả lời thỏa đáng.


Tuy nhiên, những người chủ trương cần phải có qui ước đạo đức cho kĩ nghệ thực phẩm lí giải rằng bởi vì luật lệ hiện nay chưa bao quát được những ngóc ngách và chi tiết cá nhân mà chỉ có thể “quản lí” bằng những giá trị đạo đức. Một lời tuyên thệ là một phát biểu về sự tin tưởng. Bởi vì thực phẩm thường do người mà mình không quen chế biến hay sản xuất, và những người này không hẳn có cùng khái niệm về an toàn với người tiêu thụ, cho nên xã hội cần giới chế biến và sản xuất thực phẩm phải tuyên thệ. Một lời tuyên thệ sẽ định nghĩa những hành động không chấp nhận được và sẽ là một phương tiện đạo lí để hạn chế những hành động xấu có hại cho cộng đồng.


Thế thì qui ước đạo đức cho kĩ nghệ thực phẩm là gì? Có thể nghĩ đến một số qui ước cơ bản về đạo đức cụ thể như: đặt sức khỏe và an sinh của người tiêu thụ, đặc biệt là trẻ em, trên hết và ưu tiên trước hết; duy trì thực phẩm có độ an toàn cao nhất và chất lượng cao nhất mà công nghệ hiện tại cho phép. Ngoài ra, kĩ nghệ thực phẩm cần phải hợp tác với các cơ quan chức năng của Nhà nước và các nhóm bảo vệ người tiêu thụ trong việc phát triển nhưng điều lệ và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo qui ước của Tổ chức y tế thế giới.


Trong ngành y, nguyên tắc số 1 là không làm hại người (do no harm). Nguyên tắc này cũng có thể áp dụng cho kĩ nghệ thực phẩm, nhưng kĩ nghệ cần phải đi xa hơn một bước, bởi vì nguyên tắc không làm hại người cũng có thể hiểu rằng không làm gì là không hại nhưng trong thực tế thì không hẳn như thế. Có lẽ nguyên tắc số 1 của kĩ nghệ thực phẩm phải là một lời tuyên thệ như “Tôi không sản xuất ra những thực phẩm mà tôi không dùng cho bữa ăn gia đình của chính tôi”. Có thể xem lời tuyên thệ này như là một qui ước vàng cho kĩ nghệ sản xuất và chế biến thực phẩm.


Nói tóm lại, ngoài pháp chế ra, vấn đề an toàn thực phẩm cần phải được quản lí bằng đạo đức. Mục đích của pháp luật là duy trì trật tự xã hội, còn mục tiêu của qui ước đạo đức là làm tốt nội tâm của cá nhân, giúp cho cá nhân hướng thiện. Với luật, trừng phạt là biện pháp chế tài bề ngoài; còn với đạo đức mỗi cá nhân là một quan tòa của chính mình. Theo đó, ngành sản xuất thực phẩm cần phải có một qui ước đạo đức tương tự như ngành y và hoạt động khoa học. Một qui ước đạo đức như thế có thể giúp cho công chúng nhận diện những cá nhân và doanh nghiệp kinh doanh thiếu đạo đức và góp phần cải tiến tình trạng an toàn thực phẩm.

Về sữa hàm chứa melamine: vài dữ liệu khoa học

Một bạn đọc đọc rất kĩ bài viết về sữa melamine của tôi và chỉ ra 3 sai sót về thuật ngữ cũng như fact. Đặc biệt độc giả chỉ ra rằng "Thông tin từ trung tâm đào tạo và phát triển cắc ký, không nói đến các mẫu sữa ở Việt Nam, không nói rõ là mẫu sữa SẢN XUẤT tại Việt Nam" như tôi viết. Tôi đã sửa lại bài viết đó, và kèm theo đây là bản mới nhất. Xin thành thật cám ơn bạn Phạm Gia Huệ.
NVT

===

Mấy tuần nay, tin sữa sản xuất ở Trung Quốc bị nhiễm melamine làm công chúng quan tâm. Thật ra nói “nhiễm” không đúng; phải nói là pha chế giả (adulterate) melamine thì chính xác hơn, bởi vì có bằng chứng cho thấy các nhà sản xuất sữa Trung Quốc cố ý sử dụng hóa chất này từ nhiều năm qua. Báo chí đã tốn nhiều giấy mực bàn về vấn đề này. Tính đến nay, có ít nhất là 53.000 trẻ em ở Trung Quốc mắc bệnh vì uống sữa chứa melamine, và trong số này có 4 em đã không may tử vong. Trước tác hại đến con người như thế, cả thế giới đều quan tâm, nếu không muốn nói là phẫn nộ, với một số người vì lợi nhuận mà quên đi đạo lí và trách nhiệm xã hội.

Nhưng cũng như bất cứ vấn đề nào, nhiều thông tin có khi dẫn đến nhiễu thông tin. Chẳng hạn như hôm qua một bài báo trên Tuổi Trẻ với tiêu đề Melamine độc hại như thế nào khẳng định rằng “melamine là tác nhân gây ra sỏi thận hai bên dẫn tới suy thận cấp - đặc biệt nếu xảy ra ở trẻ con rất dễ tử vong, nếu có thêm acid cyanuric thì độ độc càng tăng cao”, nhưng trong thực tế thì không đơn giản và khẳng định như vậy, bởi vì bằng chứng nghiên cứu ở con người thì thiếu (gần như con số không) mà bằng chứng nghiên cứu ở thú vật thì không hẳn rõ ràng. Còn ông Jean-Marc Olivé, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam thì phán một câu xanh dờn: “Việc sản phẩm sữa bị nhiễm melamine gây tác hại vô cùng nguy hiểm đối với sức khỏe, tính mạng của trẻ em, cũng như người lớn khi sử dụng.” Bằng chứng đâu? Nếu nói để tuyên truyền và “scare” công chúng nhằm phòng ngừa sức khỏe thì tôi thấy cũng ok, nhưng đứng trên phương diện khoa học thì những phát biểu như thế rất … phản khoa học.

Trong bài này, tôi cố gắng cung cấp vài thông tin từ y văn thế giới để hi vọng làm sáng tỏ vấn đề hơn qua những câu hỏi và trả lời.

Melamine là gì?

Melamine là một chất hữu cơ, màu trắng pha lê, và khó hòa tan trong nước. Tên khoa học của melamine là 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine, với cấu trúc hóa học gồm 3 nguyên tử carbone, 6 nguyên tử hydrogen và 6 nguyên tử nitrogen. Trọng lượng phân tử của melamine chỉ 126; trong đó, 66% là nitrogen.

Melamine sử dụng ra sao?

Vì giàu nitrogen, nên melamine được sử dụng làm chất dập lửa. Melamine thường kết hợp với chất formaldehyde để sử dụng trong qui trình sản xuất nhựa, chất keo, giấy, vải, và một số sản phẩm phục vụ cho việc tẩy rửa. Vào thập niên 1950s và 1960s, melamine từng được sử dụng như là phân bón vì nó hàm chứa lượng protein khá cao, nhưng khi đưa vào ứng dụng thì thất bại.

Melamine độc hại như thế nào?

Melamine tự nó không được xem là một độc chất. Axít cyanuric mới là một độc chất. Nhưng khi kết hợp với axít cyanuric thì nó mới trở thành độc hại. Khi melamine kết hợp với cyanamide sẽ cho ra melamine cyanurate, và đây chính là hợp chất tìm thấy từ sữa sản xuất ở Trung Quốc. Trong bài này khi đề cập đến “melamine”, tôi muốn nói đến melamine cyanurate.

Chưa ai biết mức độ độc hại của melamine ở con người ra sao, vì thiếu dữ liệu lâm sàng. Tuy nhiên, nghiên cứu trên chuột, thỏ, và chó cho thấy mức độ độc hại của melamine tương đối thấp. Thí nghiệm trên chuột cho thấy khi cho uống melamine với liều lượng 3161 mg/kg thì 50% chuột chết. Khi chuột được cho ăn thức ăn chứa 1200 mg/kg/ngày suốt 1 năm liền, các nhà nghiên cứu ghi nhận sạn trong nước tiểu, và một số triệu chứng như biếng ăn và mất cân. Nghiên cứu trên 75 cá hồi và cá basa, 4 con heo và 1 mèo cho thấy chỉ khi nào melamine và axít cyanuric thì mới gây sạn thận. Một nghiên cứu khác trên 38 con mèo bị tình cờ cho ăn thức ăn chứa melamine và axít cyanuric cũng thấy sạn thận.

Độ melamine an toàn?

Không có dữ liệu cụ thể ở con người để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, theo thông tin từ Trung Quốc thì sữa của công ti Sanlu sản xuất hàm chứa melamine đến2.565 mg/kg, và phần lớn các em bé bị sạn thận là do uống sữa này. Vì thế, có thể xem >2.565 mg/kg là ngưỡng độc hại.

Sữa sản xuất ở Việt Nam có an toàn không?

Gần đây có thông tin cho biết một số sữa hiện đang lưu hành trên thị trường ở Việt Nam (có thể một số xuất phát từ Trung Quốc) có nồng độ melamine cao nhất là 6000 ppb (6000 phần tỉ), tức tương đương với 6 mg/kg (tính theo đơn vị 1 ppm = 1 mg/kg). Do đó, sữa sản xuất ở Việt Nam có lượng melamine rất thấp và an toàn. Tuy nhiên, theo nguyên lí phòng ngừa, đáng lẽ lượng melamine không nên có trong sữa, nhất là sữa cho trẻ em.

Theo Cục thực phẩm và thuốc của Mĩ (FDA) thì liều lượng an toàn của melamine cho người lớn là 0,63 mg/kg/ngày, và cho trẻ em là 0,32 mg/kg/ngày. Chú ý “kg” là trọng lượng cơ thể. Nếu lượng melamine trong sữa là 10 mg/kg (hay 10 ppm), một em bé phải uống trên 0,30 kg sữa thì có thể vượt ngưỡng an toàn cho phép.

Tại sao pha trộn melamine vào sữa?

Câu trả lời ngắn là: tăng giá sữa. Lượng protein trong sữa càng nhiều nhà sản xuất có lí do để nâng giá sữa.

Nhưng câu chuyện có chút lí do kĩ thuật đằng sau. Hiện nay, phương pháp phổ biến nhất để xác định lượng protein trong thực phẩm là phương pháp Kjeldahl và Dumas. Cả hai phương pháp này đều dựa vào giả định rằng: (a) carbohydrate và mỡ không hàm chứa nitrogen; (b) hầu hết nitrogen trong thực phẩm hiện diện dưới dạng axít animo trong protein; và (c) tính trung bình lượng nitrogen trong protein là khoảng 16%. Dựa vào các giả định này, phương Kjeldahl và Dumas đo lượng nitrogen trong thực phẩm, và nhân lượng nitrogen này với một hệ số 1/0.16 để cho ra hàm lượng protein.

Bởi vì 66% melamine là nitrogen, và nắm được giả định của phương pháp đo lường như tôi vừa mô tả, nên giới sản xuất sữa cố tình pha chế melamine vào sữa, và khi được kiểm nghiệm bằng hai phương pháp Kjeldahl và Dumas thì hàm lượng protein trong sữa gia tăng. Lượng protein tăng cũng có nghĩa là giá sữa tăng theo. Một cách lường gạt có khoa học. Một cách làm giàu bất chính!

Ngoài sữa ra, có thực phẩm nào khác chứa melamine?

Thật ra, melamine không chỉ phát hiện trong sữa, mà còn thấy trong cà rem, sữa chua, kẹo, bánh biscuit, v.v… Đương nhiên, theo nguyên tắc phòng ngừa, bất cứ thực phẩm nào cũng không nên hàm chứa melamine. Do đó, việc kiểm tra và kiểm nghiệm các sản phẩm lưu hành trong thị trường nước ta không chỉ tập trung vào sữa mà còn xem xét đến các thực phẩm vừa kể.

Melamine mới phát hiện?

Thật ra, thông tin về việc các nhà sản xuất sữa ở Trung Quốc pha chế melamine đã được giới báo chí nêu ra từ những 15 năm qua, nhưng chỉ đến tháng 9 năm 2007, khi một số thực phẩm cho chó mèo nhập cảng từ Trung Quốc bị phát hiện có chứa chất melamine thì vấn đề mới được chú ý. Và, cao điểm là tháng qua khi các giới chức Trung Quốc phát hiện tác hại của pha chế giả tạo này đến trẻ em thì melamine trở thành tin tức.

Phải làm gì ?

Thực phẩm không chỉ là dinh dưỡng và mùi vị, mà còn đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phòng bệnh ở qui mô cộng đồng. Do đó, đã đến lúc kĩ nghệ thực phẩm cần phát triển những tiêu chí đạo đức kinh doanh tương tự như y đức và đạo đức khoa học trong ngành y. Một qui ước đạo đức như thế có thể giúp cho công chúng nhận diện những cá nhân và doanh nghiệp kinh doanh thiếu đạo đức và góp phần cải tiến tình trạng an toàn thực phẩm.

Nếu giới y khoa có những tiêu chuẩn đạo đức hành nghề (y đức), thì kĩ nghệ sản xuất thực phẩm cũng cần phải có những qui ước đạo đức (Code of Ethics) cho ngành. Ngành y có phương châm “Trước hết, không hại người”. Kĩ nghệ thực phẩm cũng cần phải có một phương châm tương tự như “Không sản xuất ra những thực phẩm độc hại, những thực phẩm mà cá nhân nhà sản xuất không dám dùng cho bữa ăn gia đình của họ”.

NVT

Monday, September 29, 2008

Hội nghị sinh hóa và sinh học phân tử 10/2008

Một bạn đọc chuyển cho tôi thông tin về hội nghị sinh hóa và sinh học phân tử sẽ diễn ra ở Hà Nội vào giữa tháng 10 này. Website của hội nghị là:

http://vafost.org/thongbaoso2_english.htm

Tôi tò mò vào đó xem chương trình thì thấy có rất nhiều quan lớn trong ban tổ chức:

"Academician Prof. Vu Tuyen Hoang, President, Vietnam Union of Science and Technology Associations (VUSTA).

Prof.Dr. Pham Manh Hung, Deputy Head, Central Commission of Popularization and Education.

Prof.Dr. Pham Khoi Nguyen, Minister of Natural Resources and Environment

Prof. Dr. Mai Trong Nhuan, President of Vietnam National University Hanoi

Prof.Dr. Cao Duc Phat, Minister of Agriculture and Rural Development

Prof.Dr. Hoang Van Phong, Minister of Science and Technology

Prof. Pham Song, President, Vietnam Association of Medicine

Prof.Dr. Jeremy Farrar, Director, Clinical Research Unit of Oxford University based in Tropical Diseases Hospital of Hochiminh City

Prof. Susan Hamilton, President, Education Committee of International Union of Biochemistry-Molecular Biology Associations

Prof.Dr. Nguyen Quoc Trieu, Minister of Health."


“Prof.Dr.Sc. Le Doan Dien, being in charge of general matters and financial management

4. 2. Vice Presidents:

+ Prof.Dr.Sc. Dai Duy Ban, being in charge of technical and publishing matters

+ Prof.Dr. Nguyen Trong Binh, being in charge of mobilising overseas Vietnamese scientists and foreign biochemists to attend the Conference.

+ Prof.Dr.Sc. Pham Thi Tran Chau, responsible for ceremonial social programs and external affairs

+ Assoc.Prof.Dr. Do Quy Hai, responsible for Central Vietnam

+ Prof. Do Dinh Ho, responsible for South Vietnam

+ Assoc.Prof.Dr.Sc.Ngo Ke Suong, responsible for coordinating the topic sessions during the Conference."


Và mục đích của hội nghị:

"* To evaluate the activities in the field of Biochemistry.

* To assemble the efforts of the mass of scientists and technicians in Biochemistry and related econo-scientific domains for making contributions to the country’s industrialization and modernization strategy.

* In the context of Vietnam’s accession to WTO, Vietnam Biochemistry is required to conduct new activities and thinking in the areas of training and scientific research as well as in technology transfer for application in practical production and life, especially in the areas of agriculture, biology, medicine and food industry. We are seeking assistance from A-IMBN to invite a Nobel Laureate to chair the Conference, which will be a symbolization to help mobilizing the Vietnamese scientific community forward."


Kinh thật! Hội nghị qui tụ toàn những VIP. Có cả giáo sư Nguyễn Trọng Bình, một chuyên gia hàng đầu về ung thư bên Mĩ. Chỉ tiếc một điều là có quá nhiều sai sót về tiếng Anh. Chẳng biết "Commission of Popularization and Education" là cơ quan gì. Ngoài ra, phần chương trình thì hình như nói nhiều về du lịch hơn là khoa học. Hi vọng ít người Tây phương vào xem, chứ nếu họ xem thì họ sẽ cười chết đi được và các VIP ta sẽ rất xấu hổ.

NVT

Giới thiệu trang web dịch trực tuyến

Xin giới thiệu các bạn một trang web rất hay do Google phát triển:

http://translate.google.com/translate_t#

Hay vì nó có thể dịch tiếng Việt sang tiếng Anh trực tuyến. Tuy chưa tốt lắm, nhưng cũng khá hoàn chỉnh. Tôi thử cho “nó” dịch vài câu từ tiếng Việt sang tiếng Anh thì thấy như sau:

"Tôi tên là Tuấn, đang công tác tại Đại học UNSW".

Nó dịch là: I called Tuan, working at the University of New South Wales

(Tàm tạm nhưng chưa chính xác. Sao nó thông minh biết UNSW là University of New South Wales vậy cà?)

"Sáng nay tôi thấy có vài thông tin liên quan đến melamine rất đáng đọc".

This morning I have seen some information related to Melamine is worth reading

(Văn phạm chưa chuẩn nhưng ok).

"Mấy tuần nay, tin sữa sản xuất ở Trung Quốc bị nhiễm melamine làm công chúng quan tâm".
May this week, news of milk production in China infected Melamine made public interest.

"Melamine tự nó không được xem là một độc chất".

Melamine itself is not seen as a single substance

(À, nó lầm chữ “độc” là “single”).

"Theo Cục quản lí thực phẩm và dược phẩm của Mĩ (FDA) thì liều lượng an toàn của melamine cho người lớn là 0,63 mg/kg/ngày."

According to Department-managed food and pharmaceutical products in the United States (FDA), the dose of Melamine safe for adults is 0.63 mg / kg / day.

"Mà, tại sao chỉ vinh danh tiến sĩ nhỉ? Những người không có bằng cấp loại này cũng có nhiều cống hiến quan trọng lắm chứ. Chẳng hạn như cụ Đào Duy Anh, cụ ấy đâu có cần cái bằng tiến sĩ mà vẫn để lại một di sản đồ sộ cho thế hệ mai sau."

But, why only honor list doctorate nhỉ? Those who have no qualifications are also many devoted but very important. Tools such as Dao Duy Anh, particularly where they are needed by the PhD but still leave an inheritance do so for future generations.

"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời".

I love my country hours from when the new life

(Cụ Phạm Duy chắc sẽ ôm bụng cười ha hả).

"Trăm năm trong cõi người ta".

Five hundred people in cõi.

(Hahaha)

"Nhà nàng ở cạnh nhà tôi".

The house next to her in my

(Hahaha)

Nói tóm lại, như các bạn thấy trang web này dịch văn xuôi tàm tạm, nhưng có nhiều sai sót về văn phạm. Còn bảo “nó” dịch thơ thì không được. Cũng dễ hiểu. Dù sao đi nữa, trang web sẽ giúp cho học sinh nước mình làm quen với tiếng Anh và đó là một điều rất tốt.

NVT

Thưởng 1000 USD/bài báo

Như tôi có nhắc đến trong một bài trước về sáng kiến của ông Nguyễn Thiện Nhân về việc thưởng 1000 USD cho tác giả có đăng một công trình nghiên cứu trên tập san quốc tế. Nguyên văn bài báo trên vnn trích ý kiến của ông Nhân như sau: “Về nghiên cứu khoa học, quan điểm của Bộ GD-ĐT là sẽ thưởng 1.000 USD/bài, cho những bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Có thể làm thí điểm ở ĐHQG HN.”

Hôm nay thấy ông Nguyễn Quang Á “thọc lét” ngài bộ trưởng một cách ngoạn mục. Theo ý anh A thì nhà nước không nên dính dáng hay cho tiền thưởng. Tôi đồng ý với ý kiến của anh A. Nhưng tôi muốn viết thêm đôi điều về chuyện này bởi vì nó dính dáng đến một ý tôi đề nghị trước đây cũng vài năm.

Trong tình trạng nghèo nàn về hoạt động khoa học, nhất là tình trạng công bố quốc tế như hiện nay, tôi nghĩ cần phải có cơ chế khuyến khích các nhà khoa học làm việc có năng suất hơn và chất lượng hơn. Cụ thể là phải nhắm vào việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Một trong những cơ chế khuyến khích là thưởng tiền mặt mà nhiều trung tâm nghiên cứu ở phương Tây áp dụng. Tôi cũng từng đề nghị cơ chế này trên báo chí. Nói ra không phải là dành công, nhưng ý tưởng này tôi đã nêu trên Tia Sáng cũng hơn 2 năm rồi.

Ở Viện tôi, người ta có chế độ thưởng 1000$ cho tác giả của những bài báo nguyên thủy (original contribution) được đăng trên các tập san có impact factor trên 10 (tức là loại tập san hàng đầu thế giới). Nguồn tiền thưởng không phải của Viện mà là của một Quĩ do các nhà từ thiện đóng góp.

Do đó, tôi đồng ý với như Nguyễn Quang A là Bộ GDĐT không nên dính dáng vào những chuyện nhỏ nhặt như tặng thưởng tiền bạc cho nhà khoa học có bài báo đăng trên tập san quốc tế. Việc đó đúng là chẳng có liên quan gì đến Nhà nước. Lấy tiền của dân đóng thuế để đem cho mấy ông làm khoa học là bậy, là có tội.

Tuy nhiên, anh A cho rằng chẳng biết nước nào có chính sách như thế thì tôi nghĩ không đúng. Ở Nhật, Hàn Quốc, Pakistan, và Trung Quốc, chính phủ vẫn thưởng cho những công trình tốt. Số tiền thưởng lên đến cả 3000 USD (như ở Hàn Quốc), và công trình này phải được bình bầu bởi một hội đồng khoa học gồm 10 chuyên gia. Hôm nào rảnh, tôi sẽ viết về chủ đề này cho rõ ràng hơn.

Bởi vì mục tiêu là tạo sự cạnh tranh giữa các trường đại học, tôi đề nghị việc tưởng thưởng nên để cho trường đại học hay trung tâm nghiên cứu quyết định. Còn nguồn ngân quĩ ở đâu ra thì đó là chuyện của trường, chứ Bộ không nên chi cho họ. Phải để cho họ tự bươn chãi, chứ không nên cứ rót sữa mãi như hiện nay được.

NVT

Sunday, September 28, 2008

Một văn miếu đương đại ?

Mấy hôm trước nghe nói trong nước sẽ xây một “Văn Miếu” mới để vinh danh các vị tiến sĩ đương đại. Nhưng thật ra thì công trình này hình như đang làm, vì hôm nay đọc báo thấy có tin Sẽ có một "Văn Miếu" mới lưu danh nhà khoa học đương đại (TTVH 27-9-08) và Khởi động Trung tâm Tiến sĩ đầu tiên (ANTĐ 27-9-08).


Ở Pháp người ta có đền Panthéon, nơi dành để chôn những danh nhân nước Pháp. Ở Ý (và hình như ở vài nước Đông Âu) người ta cũng có đền Panthéon. Nhưng có lẽ chẳng nơi nào có Văn Miếu như ở nước ta. Khi tiếp xúc với người nước ngoài tôi đều cố gắng “khoe” với họ rằng Việt Nam có trường đại học đầu tiên vào khoảng 900 năm trước. Tôi còn chứng minh cho họ thấy rằng Việt Nam rất trân quí giáo dục, vì hồi xưa các vị đỗ tiến sĩ đều được trọng vọng đón tiếp theo kiểu “Lọng anh đi trước, võng nàng theo sau” (riêng cái này đã kì thị phái nữ rồi, thiệt tình!) và tên các vị đó được khắc trên bia đá. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi biết những chuyện tôi “khoe” như thế. Mà, tôi thật tình nghĩ di sản văn hóa đó cũng đáng khoe lắm chứ; nó cũng là động cơ cho giới trẻ sau này cố gắng học hành.


Nhưng còn tiến sĩ đương đại? Tôi không biết phải nói sao. Bên cạnh những tiến sĩ thiệt, nước ta có khá nhiều tiến sĩ … không thiệt mấy. Cái này thì báo chí đã nói đến nhiều rồi, có lẽ tôi chẳng cần phải chứng minh làm gì. Thế thì đến cái “Trung tâm tiến sĩ” sắp ra đời này sẽ đưa ai vào “ngồi” trong đó? Tôi chắc chắn những người tử tế và có tư cách và còn sống chắc chắn vì lí do khiêm tốn sẽ không chịu vào trong đó.


Mà, tại sao chỉ vinh danh tiến sĩ nhỉ? Những người không có bằng cấp loại này cũng có nhiều cống hiến quan trọng lắm chứ. Chẳng hạn như cụ Đào Duy Anh, cụ ấy đâu có cần cái bằng tiến sĩ mà vẫn để lại một di sản đồ sộ cho thế hệ mai sau.


Nói tóm lại, tôi thấy ý tưởng về một “Văn miếu” hiện đại cũng hay. Nhưng tôi phản đối là chỉ dành cho tiến sĩ; tôi nghĩ phải mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai có đóng góp quan trọng vào văn hóa, văn nghệ và khoa học của nước nhà. Tất nhiên, đừng có quên các danh nhân ở phía Nam nghen!


NVT


Ghi thêm. Tôi đoán là khi cái "đền" này xây xong, sẽ có những trò đấu đá nhau để chen tên mình vào đó. Chỉ nhìn qua tập Văn học Miền Nam mà Võ Phiến sưu tầm đã gây ra nhiều tranh cãi. Người có tên trong sách thì chẳng nói gì, người không có tên hay bị loại ra (?) thì có bạn bè viết bài phàn nàn và ... chửi bới. Chẳng hiểu sao người ta quan trọng hóa vấn đề có tên hay không có tên trong mấy cuốn sách như thế. Phức cảm inferiority complex chăng?


Tôi cũng đồng ý với bạn vuquocdai trong phần ý kiến. Tôi nghĩ cuối cùng thì người dân lại phải nai lưng ra hứng chịu tiền xây cái "đền" này, mà chưa biết nó sẽ để lại di sản gì cho mai sau.

Thụ tinh trong ống nghiệm tại VN: Bước chân thần tốc

Lâu lâu đọc được thành tựu từ giới khoa học trong nước tôi rất mừng, chẳng hạn như bản tin dưới đây. Bài báo có cái tiêu đề rất kêu: “bước chân thần tốc”, hàm ý nói rằng khoa học thụ tinh trong ống nghiệm ở nước ta tiến bộ vượt bực. Nhưng có lẽ công bằng hơn là vượt bực so với các nước trong vùng thôi, chứ chúng ta còn phải học thế giới nhiều hơn nữa. Thật ra, trong lần về nước vài tháng trước có người trong nghề cho tôi biết rằng chúng ta chẳng có gì vượt trội so với Thái Lan và Phi Luật Tân, nhưng ta nói hay hơn họ! Chẳng biết hư thực ra sao.

Thật vậy, đã từ lâu tôi nghe về những thành công ngoạn mục về thụ tinh trong ống nghiệm của Bv Từ Dũ, nhưng rất khó kiểm chứng vì không thấy báo cáo khoa học nào đáng tin cậy để đọc. Ngay cả bài báo dưới đây cho biết “tỷ lệ thành công khá cao” nhưng chúng ta vẫn không biết bao nhiêu là cao. Nhưng may mắn thay, bài báo có đề cập đến một bài báo khoa học của nhóm Bs Vương Thị Ngọc Lan công bố. Chỉ cần không đầy 2 phút tôi đã tìm ra bài báo đăng trên tập san Reproductive BioMedicine Online. Theo bài báo này thì tỉ lệ thụ thai lâm sàng là khoảng 30%. Như vậy, tỉ lệ thành công cũng tương đương với nhiều nghiên cứu trên thế giới, thậm chí thấp hơn tỉ lệ ở Brazil (khoảng 40%).

Tôi chú ý đến đoạn sau đây của bài viết: “Năm 2008, Việt Nam đã bắt đầu có những báo cáo khoa học được đăng tải trên tạp chí khoa học uy tín trên thế giới. Mới đây nhất là bài báo của Th.S – BS Vương Thị Ngọc Lan cùng cộng sự đã được đăng tải trên tạp chí Reproductive BioMedicine Online – một trong những tạp chí uy tín nhất thế giới về y sinh học do Giáo sư Robert Edward, người thực hiện TTTON đầu tiên trên thế giới làm tổng biên tập. Điều đáng nói là, hiện nay mỗi năm ngành y của Việt Nam chỉ có vài bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế, chủ yếu do các tác giả nước ngoài đứng tên chính, tác giả Việt Nam là cộng sự.”

Tôi hơi nghi ngờ câu này: “tạp chí Reproductive BioMedicine Online – một trong những tạp chí uy tín nhất thế giới về y sinh học.” Sự thật thì tập san này mới thành lập, và cho đến nay vẫn chưa có impact factor. Với một tập san non trẻ như thế, chưa đủ thời gian để gây ảnh hưởng hay tạo uy tín hay gây ảnh hưởng lớn trong ngành Ob&G, khó có thể nói rằng đó là tập san uy tín nhất thế giới về y sinh học được. Tuy nhiên, "có còn hơn không", tôi nghĩ thành tựu như thế cũng đáng hoan nghênh và cũng góp phần nâng cao uy tín y học nước ta trên trường quốc tế.

NVT

====

http://www.sggp.org.vn/ytesuckhoe/2008/9/166463/

Friday, September 26, 2008

Nhân sự khoa bảng trong đại học Việt Nam

Mấy ngày nay, các đại học -- qua báo chí -- kêu ca thiếu nhân sự giảng dạy ở các đại học. Thật ra, đây là chuyện thường ngày ở nước ta, chứ có gì mới đâu. Có mới chăng là trong vài năm gần đây, nước ta có quá nhiều đại học ra đời (có người mỉa mai nói là "đại học mọc lên như nấm"), thì việc thiếu giảng viên và giáo sư là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng vấn đề là các "đại học" mới ra đời đó có xứng đáng gọi là đại học hay không mới là vấn đề. Không hiểu nổi tại sao Bộ GDĐT cho phép lập đại học mà không có cơ chế để kiểm tra chất lượng giảng dạy và cơ sở vật chất. Tôi nghĩ nước ta cần nhiều trường cao đẳng và dạy nghề hơn là cần đại học.

Hôm nay thấy báo Tuổi Trẻ có bài này với vài thống kê thú vị.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=279771&ChannelID=13

Theo bài báo này, năm học 2007-2008, cả nước có 38.217 giảng viên dạy đại học. Con số này cũng nhiều đó chứ. Nhưng phân tích ra thì thấy trong số này có:

* giáo sư: 303 người (0,8%)
* phó giáo sư: 1805 (5%)
* tiến sĩ 5643 (15%)
* thạc sĩ: 5643 (15%). Chú ý: sao con số tiến sĩ và thạc sĩ y chang nhau vậy cà? Tôi nghi quá!
* cử nhân: 15045

Cộng lại tất cả là 28439. Vậy còn 9778 người còn lại có trình độ gì? Chẳng lẽ dưới cử nhân mà dạy cử nhân?

Thật ra, cách phân chia như trên cũng chưa chính xác, bởi vì người thạc sĩ cũng có thể là phó giáo sư hay giáo sư. Nhưng thôi, tạm tạm vậy cũng cho chúng ta vài con số thú vị về lực lượng giảng dạy đại học ở nước ta.

Nhưng tôi thắc mắc. Trong thống kê trên, các đại học ta có 2108 là giáo sư và phó giáo sư. Nhưng một bài báo hồi năm ngoái (http://vietnamnet.vn/giaoduc/2007/12/760841) cho biết tính đến tháng 12/2007, cả nước có "gần 6600" giáo sư và phó giáo sư. Nhưng chỉ có 2108 hay 32% là trực tiếp giảng dạy. Như vậy còn lại ~4500 vị làm gì? Thật là đáng ngạc nhiên!

Tôi tìm câu trả lời hoài mà không ra. Nhưng lần mò một hồi thì tôi cũng tìm ra một phần câu trả lời, và đó là rất nhiều vị có hàm giáo sư hay phó giáo sư chỉ làm chức vụ hành chính, công chức, hay quan chức nhà nước mà thôi. Chẳng hạn như trang wikipedia cho thấy nhiều vị thậm chí nằm ở trong các bộ! Như ông Nguyễn Thiện Nhân, tuy là bộ trưởng nhưng cũng mang hàm giáo sư! Hình như chỉ có Việt Nam ta hay vài nước XHCN mà bộ trưởng là giáo sư.

Có lẽ đã đến lúc phải xem xét lại chức danh giáo sư, xem lại cả tiêu chuẩn phong chức danh này, chứ cứ tình trạng này (nhiều người mang hàm giáo sư mà không dạy cũng chẳng nghiên cứu) thì hóa ra nhiều giáo sư ở nước ta chỉ là giáo sư dỏm.

NVT

Về hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh

Đi công tác xa về thấy có nhiều bạn gửi email riêng cho tôi xin bản pdf tập hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh. Tôi xin lỗi các bạn là đã không/chưa trả lời vì nhiều lí do, kể cả lí do sự lịch thiệp trong cách viết thư mà tôi đã có lần nhắc đến. Gs Mạnh đã nói không muốn phát tán tập hồi kí đó nữa. Tuy nhiên, tập hồi kí vẫn còn đầy trên internet. Tôi chỉ google mà đã thấy hàng loạt website có chứa, chẳng hạn như:

http://www.mediafire.com/file/wnifvahyynd/Hoi_ky_Nguyen_Dang_Manh.pdf
http://www.mediafire.com/?wnifvahyynd
http://namdatviet.com/download_monthly/Hoi_ky_Nguyen_Dang_Manh.pdf
http://depositfiles.com/en/files/8130727

Bạn nào vẫn còn thích thì đến một trong những website đó mà tải về đọc.

Cho đến nay thì trích đoạn của tập hồi kí này đã được đăng tải trên báo giấy ở hải ngoại, từ Mĩ sang Úc. Những tờ báo CC đặc biệt khai thác tập hồi kí này một cách triệt để cho việc bôi nhọ những nhân vật còn sống hay đã qua đời, kể cả chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Đăng Mạnh đã cung cấp cho họ một phương tiện kiếm thêm thu nhập, và ông cũng đang là thần tượng của những tờ báo này.

NVT

Thursday, September 25, 2008

Giáo dục VN: Loay hoay tìm cách phát minh lại... cái bánh xe

Viết xong vài ý kiến về chuyện đại học đẳng cấp quốc tế tôi thấy bài phỏng vấn này (xin nói thêm rằng anh THD là một người quen cũ của tôi ở bên Mĩ):

http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/4886/index.aspx

Giáo dục VN: Loay hoay tìm cách phát minh lại... cái bánh xe

Trong đó, THD có nói:

Vậy ông thất vọng nhất điều gì ở giáo dục VN?


Khi đọc những tin tức về giáo dục của VN, tôi cứ thấy giống như một cuốn phim chiếu đi chiếu lại, luôn là những vấn đề sách giáo khoa, học thêm, bằng giả mạo… chuyện đi chuyện lại cũng vẫn vậy.


Vấn đề triết lý giáo dục, giáo dục để làm gì, đào tạo đại học công hay tư, miễn học phí hay tăng thu học phí... thế giới đã bàn trước ta hàng chục năm. Người ta đã có kết quả nghiên cứu lợi hại ra sao, đúng sai thế nào. Vậy mà chúng ta bây giờ lại đem ra xới lại.


Hoá ra, thay vì áp dụng kết quả đã có, tìm cách giải quyết các tồn tại khác của nền giáo dục, thì ta lại bàn về cái đã có. Điều này cũng giống như việc đi tìm cách phát minh lại... cái bánh xe vậy.”


Chính xác quá! Khi nói “Phát minh cái bánh xe” là ông bạn TDH muốn dịch thành ngữ tiếng Anh “Re-inventing the wheel”, ý nói lặp lại những cái cơ bản nhất đã được thế giới chấp nhận. Nhiều tranh luận về giáo dục Việt Nam có thể xếp vào loại “reinventing the wheel” này. Người ta ra ngoài này, có thể chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, nắm lấy một ý hay khái niệm nào đó, và thế là về nhà lên báo đề nghị thế này thế nọ. Rồi bà con chen vào tranh cãi chung quanh ý kiến đó. Nhưng kết cục thì chẳng giải quyết được điều gì cả.


Có đọan cuối này đáng chú ý:


Được biết, GS cùng một nhóm cộng sự đã có một bản "Đề án cải cách giáo dục Việt Nam"?


Đúng vậy. Chúng tôi đã cùng nhau tính toán, và ước tính chỉ cần mất 20 triệu USD là xây dựng được một trường đại học chất lượng cao, đạt đẳng cấp quốc tế. Chúng tôi sẽ hỗ trợ hết mình mà không cần bất cứ sự đền đáp nào. Nhưng cho đến nay bản đề án này vẫn chưa nhận được tín hiệu nào từ ngành giáo dục.


Thật bi hài, khi người ta bỏ ra hàng chục triệu USD để tổ chức hoa hậu, trong khi đó chưa ai dám bỏ ra 20 triệu USD để xây dựng một trường đại học tầm cấp quốc tế theo đúng nghĩa chuẩn của nó.”


So sánh về thi hoa hậu thật thú vị. Nhưng nếu vậy thì tôi nghĩ chắc cũng có người nói sao không bỏ 20 triệu USD để lo cho người nghèo, để xây dựng hệ thống cấp nước cho tỉnh A, để xây một bệnh viện, v.v… và v.v...


Nhưng có thật 20 triệu USD là có trường đẳng cấp quốc tế? Tôi nghi ngờ lắm. Nhiều người tâm huyết với nền giáo dục trong nước đã đọc bản đề cương đó và ý kiến nói chung là phi thực tế. Tôi nghĩ chỉ có 20 triệu USD mà có được đại học đẳng cấp quốc tế thì e rằng … lãng mạn quá. Mấy người sọan thảo đề cương này toàn là dân làm toán và kinh tế, chứ có ai làm về khoa học thực nghiệm đâu, nên họ có tầm nhìn không thực tế. Một công trình khoa học thực nghiệm có tầm cũng tốn trung bình cả trăm ngàn USD. Một phòng lab để phân tích di truyền cũng tốn ngót nghét 1 triệu USD. Chỉ máy tính không thôi cũng vài triệu USD. Muốn có đại học đẳng cấp quốc tế thì phải có giáo sư đẳng cấp quốc tế. Mà, lương của mấy vị này không ít đâu (một trăm ngàn là họ không làm). Dù cho có trả lương ok, chưa chắc họ chịu về VN làm việc vì vấn đề funding nữa, chứ đâu phải cơ sở vật chất không. Nói chung, tôi không nghĩ 20 triệu USD là có thể xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế được. Có thể xây được một trung tâm toán học hay làm gì đó mà không có khoa học thực nghiệm và không có y sinh học, nhưng chưa chắc là làm được.


NVT

ĐH đẳng cấp quốc tế: Lãng mạn nhưng thiếu nhiều tiêu chí

Đọc bài post dưới đây tôi thấy suy nghĩ của mấy vị quan chức giáo dục nước ta còn quá đơn giản, và giông giống như thời bao cấp. Họ nói đến tiêu chí để một trường đại học đạt được đẳng cấp quốc tế. Nhưng xin thưa: làm gì có tiêu chí cụ thể cho một đại học đẳng cấp quốc tế. Trên thế giới không có ai nói đến tiêu chí để thẩm định một đại học là đẳng cấp quốc tế hay đẳng cấp địa phương. Hoàn toàn không có những tiêu chí để cân đo đong đếm như lên kế hoạch kinh tế.

Để được công nhận là đại học “đẳng cấp quốc tế” (world class university), nó không đơn giản là phải có máy chiếm phim khi giảng bài, hay thầy cô biết nói tiếng Anh, hay công bố nghiên cứu khoa học. Không, không đơn giản như thế đâu. Thật là buồn cười khi người ta nói trường có máy chiếu phim là thế là đã đạt được một phần của tiêu chí đẳng cấp quốc tế. Trời ơi, sao mà … trẻ con vậy không biết nữa! Những thứ như projector để giảng bài là chuyện đương nhiên (obvious), nó chẳng phải là tiêu chí gì cả.

Có nhiều yếu tố làm nên uy tín của một đại học, và tôi đã bàn đến trong một bài trước đâu đó trên Vietnamnet. Những yếu tố (chứ không phải tiêu chí) này bao gồm năng suất và chất lượng nghiên cứu khoa học, đội ngũ giáo sư, cơ sở vật chất, thư viện, sinh viên đến từ địa phương hay quốc tế, uy danh của sinh viên sau khi tốt nghiệp, v.v… Những yếu tố này mất nhiều năm để xây dựng, chứ không phải theo kiểu kế hoạch 5 năm hay 10 năm như thời bao cấp.

Trước đây tôi cũng có đề nghị nên thưởng cho những ai có công trình công bố trên các tập san khoa học quốc tế, nhưng lúc đó chẳng ai chú ý. Nay thấy bài này có nhắc đến ý kiến đó. Tuy nhiên tôi nghĩ kiểu suy nghĩ như:

Về nghiên cứu khoa học, quan điểm của Bộ GD-ĐT là sẽ thưởng 1.000 USD/bài, cho những bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Có thể làm thí điểm ở ĐHQG HN.”

còn quá đơn giản. “Bài viết” là công trình gì? Chẳng lẽ review hay Letter cũng được thưởng? Còn “tạp chí khoa học nước ngoài” cũng cần xem lại, vì tạp chí của Nhật hay thậm chí của Thái Lan cũng là “nước ngoài”, nhưng chắc chắn chẳng ai trong giới khoa học quan tâm. Nếu có ý triển khai đề nghị của tôi thì cũng nên tham vấn người nào đó có kinh nghiệm ở ngoài này chứ không nên làm đại trà theo kiểu nói trên và cuối cùng lại gây ra tiêu cực + tốn kém tiền của người dân.

Nước mình nghèo mà chơi sang. Ở ngoài này, bọn Tây phương nó giàu có, mà cũng không có chế độ thưởng đến 1000 USD / bài báo; chỉ có một số ít đại học và trung tâm nghiên cứu thưởng tiền, nhưng phải là bài báo trên các tập san có impact factor cao (chẳng hạn như trên 10) và số tiền thưởng cũng không nhiều như dự tính của Bộ GDĐT. Đúng là nghèo mà vung tay quá trán! Ông bà mình thường nói “liệu cơm gấp mắm”. Các quan chức khoa học và giáo dục nên học câu này!

NVT


======

http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/09/805433/

ĐH đẳng cấp quốc tế: Lãng mạn nhưng thiếu nhiều tiêu chí

Trường ĐH Khoa học tự nhiên (KHTN), ĐHQGHN đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 trở thành trường ĐH nghiên cứu ngang tầm khu vực. Còn gần 13 năm để hoàn thành, rất ý kiến nhiều trái chiều đã được đưa ra tại buổi làm việc của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân với trường vào sáng 23/9.

13 năm cho mục tiêu lãng mạn trường ĐH quốc tế?

Ông Bùi Duy Cam, Hiệu trưởng Trường ĐHKHTN, xác định mục tiêu đến năm 2020 là: Trở thành trường ĐH nghiên cứu tiên tiến, trong đó một số ngành và chuyên ngành có chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học ngang tầm các trường ĐH tiên tiến trong khu vực châu Á.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý với mục tiêu này và nhấn mạnh: Trường ĐHKHTN là phấn đấu trở thành trường ĐH nghiên cứu đẳng cấp khu vực.

Trường ĐHKHTN là một trong số ít trường ở Việt Nam có số cán bộ là TS, GS, PGS chiếm tỷ lệ cao. Quy mô toàn trường là gần 11 nghìn HSSV, trong đó chính quy và tại chức đều có số lượng hơn 4.100 người.

Về cơ sở vật chất (CSVC), hầu hết các giảng đường lớp học đều đã có màn chiếu và đảm bảo đủ yêu cầu về projector cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy của thầy.

Tuy nhiên, để vươn lên tầm quốc tế thì Trường ĐHKHTN còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết mà từ nay đến năm 2020 chỉ còn 13 năm, một thời hạn khá ngặt nghèo ...

Thứ trưởng thường trực Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long, lại cho rằng mục tiêu đến năm 2020 đạt đẳng cấp ngang tầm khu vực là khiêm tốn quá! Còn gần 13 năm thì phải được đặt ở cấp quốc tế. Ông Long nhấn mạnh: Nếu Trường ĐHKHTN không làm được thì khó có trường nào làm được.

Các trường phải xác định mỗi ngành học đào tạo ra để làm gì. Việc này các trường phải tự cứu mình, đợi Bộ GD-ĐT thì chậm lắm. Trường ĐH KHTN cần dự báo được hết nhu cầu cho từng ngành, chỉ ra được tương lai cũng như định hướng cho người học ra trường sẽ đi làm việc được ở đâu và hạn đến tháng 4/2009 phải có câu trả lời.

(Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân)

Tuy khẳng định như vậy nhưng ông Long cũng dẫn ra hàng loạt khó khăn phải đối mặt như: Các phòng học còn chật chội, thiết bị trong phòng thí nghiệm còn ít nên hạn chế sự làm việc của nghiên cứu sinh. Thêm vào đó, phương pháp đổi mới giảng dạy chưa rõ được điểm nhấn...

Đây mới chỉ là những điều mắt thấy tai nghe khi ông Long và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự giờ môn Điện và từ ở lớp B3K52 ngày 23/9 chứ không phải là những tiết học bình thường của trường.

Không chia sẻ quan điểm lãng mạn cùng ông Bành Tiến Long, Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Đình Tiến đưa ra nhận xét thực tế hơn và đề nghị phải xác định các tiêu chí rõ ràng, cụ thể: 13 năm mà trường đạt cấp khu vực đã là cao và khó khăn khi so với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore...

Ông Tiến nhận xét, Trường ĐHKHTN là một trong những nơi có kết quả nghiên cứu khoa học cao, nhưng vẫn còn hạn chế với nhiều yếu tố chưa phát huy được. So với các trường của các nước trong khu vực như Thái Lan thì còn thấp. Để đạt được chất lượng trường tiên tiến chắc chắn phải có định hướng và đặc biệt phải có tiêu chí cụ thể.

Cùng quan điểm với Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Đình Tiến , ông Trần Quốc Toản, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cũng cho rằng: để tiến tới ĐH nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, trường phải xác định tiêu chí để đánh giá và có so sánh. Trong đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực cần xác định vấn đề then chốt là “quả đấm” chủ lực để tạo đà nâng chất lượng giáo dục ĐH. Nếu phát triển theo mô hình “quả mít” (cái gì cũng là mũi nhọn, bình quân chủ nghĩa) thì không chỗ nào vượt lên được cả!

Thứ trưởng Nguyễn Bích Đạt, Bộ Kế hoạch-Đầu tư cũng cho rằng Bộ GD-ĐT cần đưa ra tiêu chí như thế nào là tiêu chuẩn trường tiên tiến quốc tế.

Thiếu điều kiện thỏa mãn những tiêu chí quốc tế

Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Đình Tiến chỉ rõ 2 chuẩn cơ bản gồm chuẩn mực trong giáo dục cũng như chuẩn nghiên cứu khoa học. Cơ sở cho 2 chuẩn này phải là con người: Đã là trường đẳng cấp quốc tế thì trình độ giảng viên giảng bằng tiếng quốc tế là bao nhiêu phần trăm, trường đề ra là 25% thì ít quá.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý với quan điểm này và nhấn mạnh: ĐH đẳng cấp quốc tế nhất định phải có thầy đi dạy ở nước ngoài song song với việc mời thầy nước ngoài về dạy. Lúc đó, việc trao đổi giảng viên song phương với các trường quốc tế là rất cần thiết.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chiều mời thỉnh giảng về thì khá dễ, nhưng chiều đi giảng tại quốc tế thì khó. Để có thầy giáo "mang chuông đi đánh xứ người" thì không chỉ đơn thuần là giảng dạy được bằng tiếng Anh mà trước hết phải có các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, mang tầm quốc tế. Lúc đó, thế giới mới có thể biết đến các thầy và mời đi giảng.

Về nghiên cứu khoa học, quan điểm của Bộ GD-ĐT là sẽ thưởng 1.000 USD/bài, cho những bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Có thể làm thí điểm ở ĐHQG HN.

(Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân)

Được biết, Trường ĐHKHTN là một trong những trường có thế mạnh trong nghiên cứu khoa học. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và đội ngũ giảng viên. Nhưng năm 2008, tổng kinh phí trường thu về trong hoạt động này mới đạt gần 25 tỷ đồng với các loại đề tài từ cấp Nhà nước xuống đến cấp trường. Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã công bố được 110 công trình trên các tạp chí khoa học quốc tế. Trong phương hướng phát triển của trường năm 2009, trường cũng chỉ đặt ra mức kinh phí cho hoạt động này là hơn 30 tỷ đồng.

Gợi ý tiếp yếu tố thứ hai, ông Tiến cho rằng đó là CSVC, mà ở đây chủ yếu là phòng thí nghiệm. Trường phải trang bị cho đạt chuẩn để tiếp cận được nghiên cứu ở trình độ quốc tế. "Tôi chỉ thấy có một phòng thí nghiệm gọi là đạt chuẩn tương đối, còn hầu hết khá sơ sài dù có thiết bị tốt", ông Tiến đánh giá.

Mặc dù vậy, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân vẫn cho rằng: nếu năm 2020 Trường ĐHKHTN mới đạt cấp quốc tế thì hơi chậm với cả nước vì các trường ĐH sau này đang chạy khá nhanh.

Wednesday, September 24, 2008

Những điều bình dị

Tôi là cộng tác viên của TBKTSG, cho nên thường được gửi báo biếu. Một trong những mục tôi thích đọc là mục Trà dư tửu hậu, và tôi thỉnh thoảng cũng viết cho mục này. Hôm nay đọc được bài mà tôi copy về đây. Bài viết làm tôi nhớ đến một món ăn rất dân dã nhưng cũng rất ngon: bánh ống. Đó là món ăn khoái khẩu của tôi từ lúc còn rất nhỏ, lúc còn học tiểu học trong làng quê. Ở làng tôi, chỉ có người Khmer làm món này. Nói là bánh ống, nhưng tôi nghĩ phải nói là “cơm ống” thì chính xác hơn. Ở quê tôi người ta không nấu bằng khoai mì, nhưng bằng cơm tấm, trộn với dừa được nạo nhỏ ra, và cho thêm mùi lá dứa (hay lá nào đó mà khách thích). Một người hàng xóm nhà tôi tên là Ý Hai nấu món này ngon lắm, và tất nhiên tôi được thưởng thức hoài. Nhưng đến khi “lên thành” đi học thì tôi không còn ăn món này thường xuyên nữa. Mãi đến năm ngoái (tức là cả 40 năm qua), trong một chuyến về thăm nhà, tôi mới có dịp ai bán món này, và người nấu không phải là Ý Hai mà là con của Ý.

Đôi khi những cái nhỏ và bình thường như thế làm cho tôi nhớ lâu. Nó cũng chẳng khác gì hành trang tinh thần của một đời người. Chẳng hạn như hồi đầu năm, tôi về thăm nhà, và nhân dịp đi nhậu với mấy thằng em ở Bến Nhứt, tôi lái Honda đi ngang qua vùng Chắc Kha, hai bên đường lộ là đồng ruộng xanh rì, y như là một bức ảnh nghệ thuật. Điều làm tôi ngây ngất là mùi mạ, mùi lúa non. Ui chao, nó ngọt ngào làm sao. Tôi chợt nhớ đến bài Hương tóc mạ non của ông nhạc sĩ Thanh Sơn, mà theo ông ấy kể lại là ông lấy cảm hứng từ một bữa đi ra đồng “nghe” thấy mùi lúa non (như tôi đang thưởng thức) mà viết thành ca khúc đó. Còn tôi thì cũng có cảm hứng, nhưng nghĩ chưa ra chữ để viết thành một bài gì cho ra hồn. Thôi thì ghi lại cảm xúc của mình ở đây để mai mốt biết đâu sẽ có cảm hứng mà viết một bài.

Nhưng tôi lại lo xa … Làng quê Việt Nam bây giờ, theo tôi, mất cái quê và tính thi vị rồi. Tốc độ đô thị hóa đã làm mất đi biết bao cái bình dị của làng quê. Con đường vào làng bây giờ toàn là Honda. Sông thì bị ô nhiễm bởi rác plastic. Nhiều hàng quán mọc lên hai bên đường trông rất đau mắt. Rồi một ngày nào đó, chắc không xa đâu, tôi sợ là sẽ không còn cơ hội để ngửi mùi mạ non ở con lộ Chắc Kha nữa.

NVT

http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoadulich/vanhoa/9452/

Thiếu cái thật bình thường

Thứ Hai, 8/9/2008, 10:37 (GMT+7)

Văn phòng tự dưng được xây ở một khu dân cư mới. Mà lại ở một góc cuối cùng, giáp ranh với ruộng và vườn. Mở cửa sổ là thấy ngay một màu xanh ngắt của đám dừa từ xa xa và cả đám lau sậy ở ngay trước mặt. Ông nhà thơ nào mà ngồi ở văn phòng này chắc mỗi tuần ra được một tập thơ.

Ở góc nhìn này, những khi trời mưa thì thật là thúi ruột. Trời tối hù, lau sậy ngả nghiêng, còn đám dừa oằn oại. Nước lên xâm xấp khiến cá rô nhảy long lóc trên mặt đường. Mấy cô cậu nhân viên hớn hở, phóng ra bắt cá bất chấp trời mưa. Nghịch ngợm như con nít, đến khi ướt nhẹp hết mới hay. Buổi chiều tụi nó có vài con cá rô kho ăn cơm. Ăn cho vui vậy thôi chứ nhiều nhõi gì, mà đứa nào cũng nói thiệt đã. Thấy vậy, mình cứ nghĩ bụng chuyện bình thường vậy mà tụi bây cũng thấy đã.

Cái chậu kiểng ở nhà không có người tưới thường xuyên nên chết queo. Thấy cái chậu trống không nên một hôm lượm mấy hột khổ qua nhét xuống đất. Vậy mà nó lên vù vù. Dây khổ qua càng ngày càng dài ra nhưng lại oằn oại, yếu xìu vì không có cái gì cho nó bám lấy để leo lên.

Thấy vậy mới lượm mấy cành kiểng chết khô hôm trước cắm vào chậu cho nó leo. Thằng nhỏ ở nhà thấy mới cắm cành khô xuống một chút mà mấy cọng râu của dây khổ qua đã quấn riết. Nó vỗ tay: Hay quá, đã quá. Tội nghiệp nó xưa nay có thấy đâu. Có vậy mà cũng đã quá.

Rồi cha con phải kiếm dây giăng qua giăng lại trên hàng rào sắt để cho khổ qua leo lên. Cái khoảng trống nơi hàng rào giờ đan đầy những lá xanh và những bông hoa vàng nho nhỏ, coi cũng vui mắt; còn đã hơn trồng kiểng nhiều.

Buổi sáng thằng nhỏ rú lên khoái trá vì có một trái khổ qua nhỏ xíu bất chợt xuất hiện từ một nách lá. Nó vô khoe: đã quá ba ơi. Mình chạy ra coi, thấy trong bụng vui lắm, ngộ lắm mà miệng cứ nói với con: vậy mà cũng đã.

Hôm rồi về quê công tác. Hồi còn nhỏ sống ở đây mà bây giờ thấy lạ hoắc. Nhiều thay đổi, nhiều cái biến mất tiêu. Đi vòng vòng thị xã, lúc nào cũng thấy thiếu thiếu cái gì. Chợt thấy một bà nhà quê (nói vậy thôi chứ chưa chắc bả nhà quê đâu) gánh một cái nồi đen tròn tròn có mấy cái ống tre bốc khói bên trên. Trời đất ơi, bả bán bánh ống. Lần nào về cũng đi kiếm, vậy mà giờ mới gặp. Kêu lái xe tấp vô lề mua bánh. Bả hết hồn tưởng bị công an xúc tới nơi. Hóa ra có mấy thằng cha thèm bánh quá ghé mua ăn vậy mà.

Khoai mì mài ra trộn với nước lá dứa tạo màu xanh và mùi thơm. Rọc bánh đã chín ra rồi nhét dừa, đường và muối mè vô. Bả làm chưa xong gói thứ hai thì gói thứ nhất đã được ăn mất tiêu. Miếng lá chuối bóng lưỡng vì được liếm sạch! Bà bán bánh cười cười vậy chứ trong bụng chắc đang rủa: đồ chết thèm.

Mà đã thiệt, lâu lắm rồi mới hưởng được cái hương vị này; nó có cao sang gì cho cam. Bình thường thôi mà. Sáng hôm sau, rủ nhau đi ăn bún nước lèo. Cái thứ bún suông nấu bằng mắm, tô bún không có muỗng, chỉ có đũa. Không có thịt, chỉ có rau. Vậy mà bưng tô húp một cái rột, sạch cặn; đứa nào cũng kêu đã thiệt.

Bây giờ có những cái thật bình thường nhưng hay làm mình có những cảm giác thiệt đã. Nó bình thường nhưng vắng bóng trong cuộc sống bề bộn lâu quá lại trở nên xa xỉ. Nhưng những cái giản dị, bình thường đó đâu có lỗi. Lỗi là ở mình, lỗi là mình đã quên và lâu rồi không tìm đến nó.

Buổi tối, do làm biếng đội nón bảo hiểm mới lấy xe đạp của thằng nhóc chạy ra nhà ông bạn uống cà phê. Trên đường về, thả dốc cầu cho xe chạy xuống. Đã thiệt. Lâu nay chạy xe gắn máy qua lại hàng ngày mà đâu có cảm giác này. Hóa ra những cái bình thường vẫn còn đang ở quanh ta.

LÊ DUY

Monday, September 22, 2008

Nhục nhã vì cầm hộ chiếu Việt Nam?

Hôm nay đọc báo thấy một câu phát biểu “ấn tượng” làm tôi phải tiêu ra vài phút để viết ra những dòng chữ sau đây. Đó là câu nói của ông Ngô Quang Kiệt (tên đầy đủ có chêm tiếng Tây phía trước tên tiếng Việt là Joseph Ngô Quang Kiệt), Tổng giám mục Giáo phận Hà Nội, trước báo chí vào ngày 21/9: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam". Chữ "cái" nghe đã không êm tai rồi! Thoạt đầu tôi tưởng là ông Joseph Ngô Quang Kiệt đã lưu danh hậu thế với câu nói này, và đứng cùng hàng ngũ với một ông linh mục tên Hoàng Quỳnh, người từng nói một câu để đời: “Thà mất nước, chứ không mất Chúa.” Xin nói thêm rằng năm 1945, ông Hoàng Quỳnh là Tổng Tuyên Úy đoàn thanh niên Công Giáo Phát Diệm, một nhân vật khét tiếng chống Việt Minh.

Nhưng tôi hỏi bạn bè và kiểm chứng lại thì không hẳn như thế. Ông Kiệt quả là tác giả câu nói đó, nhưng ông nói trong bối cảnh cụ thể. Rất tiếc là giới báo chí trong nước đã có thái độ thiếu công bằng với ông Kiệt khi trích dẫn không đầy đủ câu nói của ông ta. Thật ra, nguyên văn lời phát biểu của ông Kiệt như sau:

"Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng.”

Ấy thế mà báo chí chỉ trích câu đầu mà không trích câu sau đặt trong bối cảnh của câu phát biểu. Vì trích ngang xương như thế nên công chúng vô cùng phẫn nộ với ông. Không trách được khi có người yêu cầu ông trả lại hộ chiếu cho Nhà nước và nên đi nhận quốc tịch Vatican. Hệ quả thật không nhỏ. Tôi nghĩ giới báo chí còn nợ ông Kiệt một lời xin lỗi.

Quay trở lại câu nói đầy đủ của ông Ngô Quang Kiệt, bây giờ thì tôi hiểu tại sao ông ta cảm thấy nhục nhã: vì ông bị bọn hải quan ngoại quốc xoi xét. Việt kiều cầm hộ chiếu Mĩ, Pháp, Canada, Úc, Đức, v.v… về Việt Nam cũng bị hải quan Việt Nam hoạnh họe, nhưng tôi chưa thấy Việt kiều nào nói họ cảm thấy nhục khi cầm hộ chiếu do các nước đó cấp.

Do đó, tôi nghĩ ông Kiệt chọn cụm từ “nhục nhã” để mô tả sự bực bội đó theo tôi là không chính xác, vì chẳng có gì phải nhục nhã ở đây. Ông đâu có ăn trộm hay ăn cướp ai, đâu có phạm pháp gì đâu, mà phải cảm thấy nhục nhã. Đáng lẽ ông phải nói là “khó chịu” thì chính xác hơn.

Nhưng nếu ông cảm thấy nhục nhã hay khó chịu thì ông phải làm gì? Nếu tôi là ông, tôi sẽ nhìn thẳng vào mắt người hải quan xoi mói ông và nói rằng “tôi không hài lòng với việc làm của ông, tôi thấy ông kì thị.” Tôi là một thường dân và đã từng nói như thế. Ông là tổng giám mục, ông có quyền uy để nói như thế, phải nói thẳng vào mặt những tên kì thị để ông còn ngẩng mặt cao với đời và tự hào mình là người Việt Nam. Không bày tỏ thái độ của mình là vô tình biến mình thành một kẻ nhục nhã và mang trong mình phức cảm tự ti. Tôi nhớ đến câu của Tổng thống Mĩ John F. Kennedy: đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho mình, mà hãy hỏi mình có thể làm gì cho tổ quốc.

Với kinh nghiệm cá nhân tôi có thể khẳng định ông Ngô Quang Kiệt, không biết vô tình hay cố ý, đã nói sai. Ông nói sai ở chỗ này: “Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Có lẽ ông chưa đi nhiều (dù ông tự nói như thế) nên chưa biết đó thôi, vì sự thật là đối với hải quan Tây phương, bất cứ người cầm hộ chiếu là người Nhật hay Hàn Quốc, kể cả người đó là tướng lãnh, vẫn có thể bị khám xét như thường. Hoàn toàn không có chuyện công dân hai quốc gia này đi qua tất cả mọi nơi mà không ai xem xét gì. Sai. Sai quá.

Tôi cầm hộ chiếu Úc và là công dân Úc (trên giấy tờ) mà thỉnh thoảng khi đi công tác về vẫn bị xét tơi bời như tôi mô tả ở đây. Khi tôi sang Canada công tác cũng bị hải quan ở đây hỏi những câu trịch thượng. Thật ra, tôi không phải là người duy nhất bị xoi mói như thế; hàng chục ngàn người Úc (kể cả người Úc gốc Anh) cũng vẫn bị xoi mói như thường.

Theo tôi, hộ chiếu không phải là lí do hải quan xâm xoi hành khách, mà là nơi xuất phát của chuyến bay. Nếu chuyến bay xuất phát từ các nước Á châu, nhất là Đông Nam Á và Nam Á, thì xác suất là hải quan Tây phương sẽ “chăm sóc” rất kĩ, nhưng nếu chuyến bay từ Mĩ hay Âu châu thì hành khách rất ít khi nào bị xăm xoi.

Nhưng ông Joseph Ngô Quang Kiệt mới có 56 tuổi (ông sinh năm 1952), nên có thể nói rằng ông còn trẻ người non dạ so với cái chức tổng giám mục của ông. Ông còn nhiều thì giờ để học, để suy nghiệm về lịch sử, để đi đây đi đó và mở mắt ra so sánh, và để nhìn lại câu nói của mình.

Ông Joseph Ngô Quang Kiệt nổi tiếng vì ông chủ trương “đòi đất” bằng mọi giá. Nói đến đất làm tôi nhớ đến câu nói bất hủ của Tổng giám mục Desmond Tutu của Nam Phi: “When the missionaries came to Africa they had the Bible and we had the land. They said ‘Let us pray.’ We closed our eyes. When we opened them, we had the Bible and they had the land.” (tạm dịch: khi giới truyền đạo đến Phi châu, họ có cuốn Thánh Kinh và chúng tôi có đất. Họ nói: ‘chúng ta hãy cầu nguyện’. Chúng tôi nhắm mắt. Khi chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất). Câu này được trích từ cuốn Desmond Tutu: A Biography (2004) của Steven Gish. Câu nói đó vẫn còn tính thời sự ở Việt Nam.

Có lẽ không sai khi nói rằng đạo Công giáo vào Việt Nam qua con đường của thực dân Pháp. Sử gia người Pháp Georges Coulet từng nhận xét trong quyển Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon) như sau: “Công giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”. Ở miền Nam, suốt 30 năm liền, những người Công giáo nắm chính quyền (cả hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều là người Công giáo). Mối liên hệ khắng khích giữa Công giáo và thực dân Pháp đã tích cực giúp cho cộng đồng Công giáo Việt Nam chiếm được những miếng đất "đắc địa" trên khắp miền đất nước. Những miếng đất tốt nhất, ngay tại trung thâm thành phố hay thị xã, được được xây nhà thờ hay cơ sở công giáo. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều nhà thờ ngày nay chễm chệ "ngồi" trên những miếng đất rất tốt tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn. Trước khi “đòi đất”, có lẽ ông Kiệt nên nghiền ngẫm để xác định ai là chủ nhân thực sự của những miếng đất mà ông đang “đòi”. Ông có lẽ nên nhìn lại lịch sử cộng tác giữa Công giáo và thực dân có đáng nhục nhã hay không?

NVT

Sunday, September 21, 2008

Nhật kí Los Angeles

Bolsa 19/9

Chiều nay tôi và thằng em họ lái xe từ San Diego về Los Angeles để kịp chuyến bay về Sydney. Chiều thứ Sáu trên xa lộ 405 rộng thênh thang (tính chung xa lộ có đến 17 lằn xe), nhưng xe cộ đầy đường. Có chỗ thậm chí còn bị kẹt xe, nhưng nói chung không kẹt xe kiểu Sydney mà kẹt xe kiểu thoải mái, tức là xe vẫn chạy nhưng chậm hơn một chút thôi. Thằng em tôi nói chuyện kẹt xe ở đây là chuyện thường ngày, chẳng có gì đáng nói, nhưng tôi thì thấy như vậy chẳng phải kẹt xe gì quá nghiêm trọng đâu.

Trên đường về Los Angeles, tôi ghé tạt ngang qua khu Little Saigon, nơi được xem là thủ đô của dân Việt ở Mĩ. Hai anh em dạo chơi một vòng xem có cái gì mới, và mua vài CD nhạc. Bây giờ phần lớn CD nhạc đều do giới ca sĩ trong nước tung ra hay sản xuất ở ngoài này. Rất nhiều CD của các ca sĩ đang nổi tiếng hiện nay Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng, Đức Tuấn, Phương Thanh, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Nguyệt Anh, v.v… đều có mặt cả. Mà, các trung tâm ở đây bán giá CD của ca sĩ trong nước rất “mềm”: chỉ 3 USD/CD hay mua 5 CD giá chỉ có 10 USD. Nhưng đụng đến các CD của giới ca sĩ hải ngoại do các trung tâm như Thúy Nga sản xuất thì giá đắt hơn 2, 3 lần. Thôi, ủng hộ phe trong nước một cái, nên mua vài CD để nghe. Nói vậy chứ, chưa chắc tôi sẽ có thì giờ nghe hết mấy CD này, đó là chưa nói có đủ can đảm để nghe những bài nhạc mới mà chỉ nghe qua là hết hồn mất vía!

Thú thật, ngoại trừ Lệ Thu và Thái Thanh tôi rất ít khi nào mua CD của các ca sĩ hải ngoại vì tôi thấy chẳng có gì mới và phần lớn là ca sĩ karaoke mà thôi. Gần đây có vài ca sĩ trong nước gia nhập làng nhạc hải ngoại như Minh Tuyết, Hương Thủy, Y Phụng, v.v… nhưng tôi chẳng bao giờ nghe họ hát. Không phải họ hát không hay, nhưng tôi rất sợ giọng ca của họ mà đi với lối hòa âm của các trung tâm này thì tôi chắc bị yếu tim mất. Riêng hai cô Minh Tuyết và Hà Phương thì tôi càng tránh họ vì thấy họ uốn éo ỏng ẹo mà mất hồn, nhưng tôi lại thích giọng ca của Cẩm Ly hơn vì tôi thấy chị này ca thật với giọng của mình.

Phố xá Bolsa chẳng có gì đổi mới (hay có đổi mới nhưng tôi chưa đủ thì giờ để phát hiện). À, có cái mới là dọc theo đường Bolsa và các con đường chung quanh, xuất hiện nhiều biển quảng cáo tranh cử của các ứng cử viên vào các chức vụ hành chính địa phương, Tôi thấy mấy năm gần đây số người Mĩ gốc Việt ra tranh cử địa phương càng ngày càng nhiều. Phần lớn họ là những người trẻ tuổi, tốt nghiệp đại học bên Mĩ. Nhưng con số đắc cử thì hình như chẳng bao nhiêu. Có người ra tranh cử theo kiểu “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” nên làm cho bà con không ưa và không dồn phiếu cho họ.

Tôi đến phố Bolsa cũng khoảng 6 giờ chiều, nhưng hàng quán vẫn còn mở cửa. (Điều này khác với Sydney, chỉ đến 5 giờ chiều là hàng quán Việt Nam đóng cửa gần hết vì sợ ăn cướp). Phần lớn phố xá Little Saigon hay Bolsa vẫn là những hàng quán ăn uống, bán đồ và quần áo “Made in China”, siêu thị thực phẩm, văn phòng luật sư và bác sĩ. Tựu trung khu Little Saigon chỉ có thế: ăn uống là chính. Có lẽ chính vì thế mà mỗi lần tôi kêu bọn em họ chở xuống đây, chúng nó thường buông một câu: mua gì ở đó. Không mua gì cả, chỉ ăn thôi. Mua sắm thì đi shopping của Mĩ chứ ai lại đi mua mấy thứ hàng hóa của China và Made in China!

Vào quán ăn kêu một món ăn lót dạ trước khi lên máy bay. Tạt qua Lee’s Sandwiches (một tiệm bánh mì nổi tiếng của người Việt tại Mĩ) để mua vài ổ bánh mì lên máy bay (chứ thời đại bây giờ hãng United Airlines này nó sẽ bỏ đói mình, mà nếu có cho ăn thì tôi cũng không ăn được mấy món dầu mỡ của họ). Sẵn đó mua luôn 2 tờ báo (Người Việt và Việt Tide về đọc cho đỡ buồn. Mở hai tờ báo ra đọc, nhưng tôi không đọc được bài nào cho đến nơi đến chốn, vì tất cả các bài viết đều quá nhàm chán, hoặc đã đọc trên internet từ lâu, hoặc luận điệu nghe quá quen thuộc đến nổi mình có thể đoán biết câu cuối viết về cái gì.

Sẵn đây tôi muốn viết vài hàng nhận xét về báo chí Bolsa. Có thể nói rằng báo chí tiếng Việt ở Bolsa tuy rất nhiều (so với dân số người Việt ở đây) nhưng nội dung và chất lượng thì quá kém, quá nghèo nàn. Tuy nghèo nàn về nội dung nhưng rất phong phú về quảng cáo. Thật ra, có thể nói không ngoa rằng phần lớn những tờ báo ở Bolsa mà tôi đã có dịp xem qua từ những 15 năm nay chỉ có thể nói là những tờ quảng cáo thương mại chứ không phải cơ quan truyền thông đúng nghĩa. Chẳng hạn như tờ Người Việt (NV) -- tờ nhật báo tiếng Việt lâu đời và lớn nhất ở Bolsa -- có 4 phần với tổng số 46 trang, nhưng có đến 27 trang dành cho quảng cáo. Phần nội dung xoay quanh tin tức chủ yếu dịch từ báo chí Mĩ, hay lấy từ các tờ báo trong nước qua mạng internet (nhưng họ thay đổi “Việt Nam” thành “Cộng sản Việt Nam”). Phần lớn những thông tin lấy từ báo chí Việt Nam là những bản tin mang tính tiêu cực như tham nhũng, kinh tế khó khăn, giáo dân gây rối ở Thái Hà, v.v… rồi họ “thêm mắm thêm muối” cho bản tin có cường điệu tiêu cực cao hơn. Tờ NV cũng có một phần bình luận bàn về chuyện trên trời dưới đất, nhưng dù sống ở đất Mĩ, nhưng họ có vẻ thích bàn chuyện tận bên … Việt Nam. Họ trốn tránh thực tế hàng ngày để bàn chuyện xa xôi. (Cái này giới tâm lí học có một thuật ngữ mà nay tôi đã quên). Ngay cả bàn chuyện bên Việt Nam, nhưng giọng điệu thì rất cổ điển: lúc nào cũng lên giọng dạy đời, lấy Mĩ làm cái chuẩn để phán xét người khác và nước khác. Mục “Diễn Đàn” hình như là nơi để cho độc giả xả stress hay xả xú bắp, nên ôi thôi đủ thứ đề tài như lẩu thập cẩm thời sự được đưa ra trên các trang giấy. Ở mục này, tôi vẫn thấy những từ ngữ quen thuộc và những luận điệu chống cộng cổ điển, những luận điệu mà các chuyên gia tuyên truyền Mĩ đã phát triển và sử dụng từ thời Chiến tranh Lạnh. Một số bài viết thể hiện tác giả ôm quá chặt cái quá khứ vàng son của mình, và không có khả năng phán xét thực trạng của đất nước hiện nay một cách khách quan.

Mở tờ Việt Tide (VT) ra đọc tôi cũng thấy những từ ngữ và bài viết na ná như NV. Cũng như NV, Viet Tide dành nhiều trang cho quảng cáo: trong số 120 trang in ấn đẹp mắt, có đến 72 trang quảng cáo thượng vàng hạ cám, từ phòng mạch bác sĩ với chi chít những bằng cấp, đến điện thoại cầm tay, và kể luôn cả những thứ sữa ong chúa mà người ta cho rằng có khả năng chữa bách bệnh. Dù tờ tuần báo được quảng cáo là “tờ báo của trào lưu mới”, nhưng tôi chẳng thấy mới chút nào về nội dung. Cũng giống như NV, Viet Tide dịch tin tức từ báo chí Mĩ và lấy tin tức từ báo chí trong nước qua mạng internet. Chẳng hạn như Viet Tide trích đăng tập hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh viết về Hữu Thỉnh, nhưng còn chêm thêm vào đó những từ ngữ rất nặng nề: “Liên tiếp hồi ký Đi tìm cái tôi đã mất của Nguyễn Khải, tiểu thuyết Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, và nay hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh làm đau đầu các nhà lãnh đạo văn hóa văn nghệ. Chịu sức ép nặng nề, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã phải thông qua đài RFI tuyên bố không chấp nhận bất cứ trang web nào được công bố hồi ký của ông. Vì yêu cầu của giáo sư không nhắm vào báo giấy nên chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả chương nói về Hữu Thỉnh – một gương mặt vô cùng nham nhuốc hơn một thập kỷ nay vẫn chễm chệ ngồi trên ghế chủ tịch Hội nhà văn dẫu rằng chân tướng đê tiện của hắn đã được nhà văn Võ Văn Trực lột trần trong cuốn tiểu thuyết Cái đầu hói.” Không biết nếu Nguyễn Đăng Mạnh đọc được những dòng chữ này ông sẽ nghĩ gì? Hình như người viết cũng xem thường độc giả vì tác phẩm của Võ Văn Trực là “Vết sẹo và cái đầu hói”. Tôi đã đọc cuốn này, chẳng thấy chỗ nào ông ấy ám chỉ Hữu Thỉnh cả. Mới chỉ đọc những dòng chữ của Nguyễn Đăng Mạnh (tức thông tin chỉ một chiều), chưa biết sự thật ra sao, mà Viet Tide đã vội vã chửi Hữu Thỉnh nặng nề như thế thì tôi nghĩ đạo đức làm báo của họ quả có vấn đề.

Thật ra, ngôn ngữ và cường độ chống cộng của VT có phần còn hơn NV. Chẳng hạn như trong mục “Thư gửi bạn ta”, người phụ trách mục này (Bùi Bảo Trúc) viết về Hội đồng tỉnh Acapulco (Mexico) quyết định cho dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những từ ngữ hết sức nặng nề, những từ ngữ mà tôi nghĩ khó chấp nhận trên báo giấy. Ông BBT viết như sau: “Nhưng Acapulco đã làm một việc rất mất dậy và vô giáo dục như thế để chọc tức Hoa Kỳ vì họ thừa hiểu người Mỹ không thèm chấp nhũng trò chơi đểu giả như thế”. Ông BBT hình như có vốn từ vựng với những “mất dậy”, “vô giáo dục” và “đểu giả” hơi bị nhiều. Tưởng cần nhắc lại rằng ông BBT cũng từng dùng những chữ “mất dậy” và “vô giáo dục” để thóa mạ họa sĩ Huỳnh Thủy Châu khi cô này sử dụng hình cờ vàng ba sọc trong chậu nước như là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Trong bài thóa mạ Huỳnh Thủy Châu, ông viết: Việc vẽ lá cờ vào cái chậu rửa chân không thể là việc tôn vinh những người Việt Nam và đất nước Việt Nam như con ranh con hỗn láo vô gíáo dục, mất dậy Trần (sic) Thủy Châu này đã nói.

Đọc tờ Viet Tide tôi có cảm giác tờ báo này muốn tự chứng tỏ rằng họ còn Mĩ hơn Mĩ. Họ khen Mĩ là “một quốc gia tử tế nhưng lại luôn luôn bị đối xử rất là khốn nạn”. Tôi nghĩ các bạn có thể lấy hằng trăm ví dụ để phản biện câu này, nhưng có lẽ không cần thiết. Ca ngợi Mĩ như thế, nhưng khi đến Mexico thì ngôn ngữ trở nên dạy đời và trịch thượng: “Đó là một quốc gia để cho dân chúng đẻ lia lịa, nuôi không nổi, mặc cho dân bỏ trốn sang nước Mỹ làm những nghề cu ly hèn hạ nhất. Đáng lẽ phải biết liêm sỉ và tự trọng để dậy dỗ dân chúng kiêu hãnh về đất nước mình, quê hương mình, sống chết với nơi ra đời, gắn bó với quê cha đất mẹ, và nếu có ra đi nước ngoài thì hãy cố gắng sống cho ra người, giữ gìn danh dự quốc thể, đừng làm những việc quá thấp.” Tôi không biết nếu người Mễ đọc được những dòng chữ này họ sẽ nghĩ gì về một ông Mĩ gốc Mít lên giọng dạy đời họ như thế. Tôi thì nghĩ chuyện gì cũng có căn cơ của nó, kể cả chuyện người Mễ trốn sang Mĩ làm cu li (đáng thương chứ sao đáng trách) cũng có một quá trình lịch sử phức tạp. Lịch sử đó theo tôi biết không đơn giản như cái nhìn của ông BBT. Ngay cả một người cực đoan như Samuel Huntington phê phán Mexico rất nhiều nhưng ông cũng không bao giờ sử dụng đến những từ ngữ trịch thượng và nặng nề như ông Mĩ gốc Mít này. Đó là lí do tôi nói một số người Việt ở Mĩ có thái độ Mĩ hơn Mĩ.

Nói chung, tôi thấy báo chí tiếng Việt ở Bolsa chỉ quanh quẩn với những tuyên truyền chống cộng. Chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết, và người ta có quyền tin hay phê phán một học thuyết. Thành ra, tôi thấy họ có quyền chống cộng (cũng như người khác có quyền theo cộng sản), nhưng tôi thấy cách chống cộng của họ thiếu tính trí thức và thiếu tính khách quan. Thật vậy, mở phần diễn đàn hay các bài bình luận của vài cây bút chống cộng trên báo chí Bolsa ai cũng có thể thấy đó là những diễn đàn chửi bới, chứ không phải tranh luận. Chửi bới khác với tranh luận, bởi vì tranh luận cần lí thuyết và tri thức, còn chửi bới thì chỉ cần thóa mạ bằng những ngôn từ dung tục như giới hàng tôm hàng cá.

Còn khái niệm khách quan thì hầu như không hiện hữu trong báo chí Bolsa. Thay vào đó, người ta viết theo cảm tính cá nhân, và để cho cảm tính dẫn dắt ngòi bút đi từ xuyên tạc này sang xuyên tạc khác, và chu kì cứ thể tiếp diễn. Đối với họ, bất cứ cái gì bên Việt Nam làm cũng sai, và nguồn gốc của sai lầm chỉ vì … cộng sản. Theo đó, thay đổi chế độ thì mọi chuyện sẽ ok. Một lối suy nghĩ quá đơn giản! Có lẽ họ chưa chịu khó đầu tư tri thức để suy nghĩ vấn đề cho đến nơi đến chốn, nên họ không ngần ngại tiếp tay với các thế lực chống Việt Nam để gây khó khăn cho đất nước.

Như tôi đề cập trên, báo chí tiếng Việt Bolsa bàn về Việt Nam nhiều hơn là bàn về sự việc địa phương mà họ sinh sống. Tôi nghĩ ngoài lí do chạy trốn thực tế, còn có vấn đề voyeurism nữa. Ngồi ghế salon trong phòng khách bên Mĩ để chỉ tay năm ngón và lên giọng dạy đời thì chắc chắn đơn giản và dễ hơn là đi tìm hiểu thực tế hỗn độn và phức tạp. Đương nhiên, tôi nghĩ phía Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng cần biết người ngoài nghĩ gì, nhưng tôi không nghĩ phía Việt Nam sẽ tiếp thu những ý kiến mang nặng phần chửi bới hơn là lí giải. Hệ quả là báo chí Bolsa trở nên irrelevant với những gì mà người trong nước quan tâm, và không có đóng góp nào cho phát triển ở trong nước.

Tôi còn có cảm tưởng rằng báo chí Bolsa là một phương tiện nhồi sọ, chứ không phải cung cấp thông tin khách quan cho cộng đồng. Có lẽ vì thế mà nhiều người Việt ở Mĩ khi về thăm quê hương họ cũng ăn nói y như báo chí Bolsa. Nhưng đến khi biết tình hình thực tế trong nước thì họ không còn tin vào báo chí Bolsa nữa. Còn người nào biết tiếng Anh, có cơ hội tiếp cận internet thì họ chẳng cần đến báo chí tiếng Việt, vì đọc báo chí nước ngoài, báo trong nước, và kiểm chứng sự thật, họ có thể đi đến những nhận xét riêng cho mình chứ không để cho báo chí tiếng Việt nhồi sọ một cách quá trắng trợn.

Tôi quen biết khá nhiều người trong giới báo chí, kể cả báo chí Bolsa, và viết ra những nhận xét trên chắc họ sẽ buồn (nếu họ đọc được). Nhưng tôi nghĩ có lẽ họ cũng cần/muốn biết người ngoài cuộc suy nghĩ gì, và hi vọng rằng những nhận xét trên là nhận xét của một người ngoài cuộc.

Bài này viết trên máy bay nên ý nghĩ có vẻ lung tung và linh tinh. Xin các bạn thông cảm.

NVT