Thursday, October 30, 2008

Thế nào là “Cơ sở khoa học” ?

Hai chữ “khoa học” đang trở thành một loại ngôn ngữ thời thượng của một số người muốn tăng trọng lượng cho phát biểu của mình. Các quan chức, không chỉ riêng ngành y tế, sử dụng hai chữ đó như là một dấu ấn cho độ tin cậy của những nhận xét. Nhưng tôi e rằng hai chữ “khoa học” đã bị hiểu lầm, rồi từ hiểu lầm dẫn đến lạm dụng, và lạm dụng khoa học dẫn đến việc gây khó khăn cho nhiều người và bất bình đẳng trong xã hội.

Khi được hỏi dựa trên cơ sở nào mà Bộ Y tế ra qui định người lái xe gắn máy trên 50 cc phải có chiều cao trên 145 cm và cân nặng trên 40 kg, các quan chức y tế cho biết họ dựa trên “cơ sở khoa học”. Họ giải thích thêm rằng đó là những số liệu về chiều cao và trọng lượng trung bình tính từ một cuộc điều tra nhân trắc học ở nước ta vào thập niên 1990. Phát biểu của một quan chức y tế cho biết: “Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao là 163,72±4,67cm, cân nặng là 52,11±4,70 và nữ có chiều cao là 153,00±4,32cm, cân nặng là 44,60±4,22. […] Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam.” Ngoài ra, Bộ Y tế còn cho biết họ đã tham khảo với các chuyên gia về nhân trắc học, xã hội học, chuyên gia pháp luật, và các giáo sư và những vị có uy tín trong ngành y tế.

Thật khó hiểu được cái logic biện chứng cho tiêu chuẩn thể trạng về an toàn giao thông bằng một liên kết giữa những con số trung bình và qui định về một ngưỡng chiều cao hay cân nặng. Thật ra, một liên kết như càng không thể xem đó là giải thích “khoa học”. Thế thì câu hỏi đặt ra là: cơ sở khoa học là gì? Theo cách hiểu được cộng đồng khoa học nhất trí, một qui định hay phát biểu được xem là khoa học nếu hội đủ ít nhất là 3 điều kiện: dữ liệu thật, công bố trước công chúng, và tính tái xác định. Một qui định hay phát biểu không hội đủ 3 điều kiện này không thể xem là mang tính khoa học được.

Khoa học dựa vào sự thật hay dữ liệu thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập và đo lường bằng những phương pháp chuẩn. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là dữ liệu có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Ở đây vấn đề đang được quan tâm là an toàn giao thông và yếu tố gây nên tai nạn giao thông, chứ không phải những con số thống kê mang tính mô tả về chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực. Do đó, đưa ra những con số trung bình từ một cuộc điều tra cộng đồng (chưa hẳn là một nghiên cứu khoa học) chẳng có liên quan gì đến an toàn giao thông không thể xem là bằng chứng khoa học được.

Khoa học không dựa vào kinh nghiệm cá nhân (dù cá nhân đó là chuyên gia) hay suy luận theo cảm tính. Theo y học thực chứng, ý kiến cá nhân của các giáo sư và chuyên gia có giá trị khoa học thấp nhất. Điều này đúng vì lịch sử y tế và y học cho thấy suy luận theo cảm tính đã gây ra rất nhiều tác hại cho bệnh nhân. Do đó, dựa vào ý kiến của chuyên gia thì không thể nói đó là bằng chứng khoa học được.

Bằng chứng khoa học là những kết quả và dữ liệu nghiên cứu đã được công bố trên các tập san khoa học chuyên ngành, và các tập san này có hệ thống bình duyệt (phản biện) từ các chuyên gia. Người viết bài này đã xem qua thư viện y sinh học quốc tế và chưa thấy bất cứ một nghiên cứu nào từ Việt Nam về mối liên hệ giữa chiều cao, cân nặng, hay vòng ngực và tai nạn giao thông. Các nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy chẳng có mối tương quan nào giữa chiều cao hay trọng lượng và tai nạn giao thông, nhất là ở nữ. Do đó, chưa có thể nói rằng những qui định của Bộ Y tế về thể trạng để cấp bằng lái xe gắn máy là dựa vào bằng chứng khoa học được.

Để mang tính chất khoa học, tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận. Liên quan đến đặc tính này, có thể nói mối liên hệ giữa chiều dài của chân và chiều cao mang tính khoa học, bởi vì nghiên cứu từ Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, và Nhật đều cho ra một kết quả nhất quán: chiều dài của chân bằng 46% chiều cao khi đứng. Kết quả của một nghiên cứu đơn thuần chưa thể xem là mang tính khoa học nếu kết quả này chưa được lặp lại nhiều lần trong nhiều quần thể khác nhau. Do đó, giả định của Bộ Y tế cho rằng chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (để qui định chiều cao tối thiếu 145 cm) là không có cơ sở khoa học. Cho đến nay, chúng ta chưa thấy bất cứ một mối liên hệ nào giữa thể trạng và tai nạn giao thông tại Việt Nam, cho nên chúng ta có quyền nghi ngờ “cơ sở khoa học” của Bộ Y tế.

Y tế và y khoa ngày nay dựa vào bằng chứng khoa học (còn gọi là y học thực chứng – evidence-based medicine). Bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo, nhưng dựa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí. Do đó, ở các nước tiên tiến ngày nay, mọi chính sách y tế công cộng đều dựa vào bằng chứng từ nghiên cứu khoa học và kiến thức thực địa, chứ không phải dựa vào ý kiến cá nhân của chuyên gia hoặc một chỉ đạo duy ý chí nào.

Chính vì dựa vào bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa việc thắt dây an toàn và tai nạn giao thông mà ở các nước phương Tây, Nhà nước có qui định bắt buộc người lái xe và hành khách xe ôtô phải thắt dây an toàn, hay người đi xe gắn máy và xe đạp phải đội nón bảo hộ. Nhưng vì chưa đủ bằng chứng khoa học về thể trạng và an toàn giao thông, cho nên chưa có nước nào dựa vào chiều cao hay cân nặng hay vòng ngực để hạn chế cấp bằng lái xe gắn máy. Thật vậy, ở các nước phương Tây, người khuyết tật, người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, thấp khớp, cao huyết áp, v.v… cũng được quyền lái xe.

Những lí giải trên đây cho thấy rõ ràng rằng qui định của Bộ Y tế chẳng những không có cơ sở khoa học, mà còn không phù hợp với trào lưu quốc tế, và vô hình chung gây khó khăn cho hàng triệu người, nhất là phụ nữ, và như đã chứng minh trong bài trước, gây bất bình đẳng xã hội một cách nghiêm trọng.

Điều đáng khích lệ là Bộ Y tế đã thấy sai lầm và đã rút lại qui định này. Nhưng quan trọng hơn là Bộ cần phải tài trợ nhiều nghiên cứu khoa học hơn nữa để trong tương lai các chính sách của Bộ mang tính khoa học hơn.

Bằng chứng khoa học

Sáng nay đi làm băng qua ngã tư đường có đèn giao thông gần bệnh viện St Vincent’s tôi chú ý đến hai bà cụ mặc đồng phục lao động đang ngồi chăm chú nhìn xe qua lại và bấm nút như đồng tiền. Tò mò, tôi đến hỏi hai bà làm gì, thì được biết là nhiệm vụ của họ là đếm số lượng xe qua lại. Tôi hỏi tại sao phải 2 người, thì bà cụ nói vì có hai con đường, một bà theo dõi xe đi chiều dọc, còn một bà theo dõi xe đi theo chiều ngang. Tại sao làm việc này? Tại vì có người than phiền là ngã tư này có vẻ ưu tiên cho một luồng xe, và thế là không công bằng, cho nên Nha Công chánh phải làm thu thập dữ liệu để xem than phiền đó có đúng không, và phía bên nào nhiều xe hơn phía bên nào, rồi từ đó sẽ sửa lại (nếu cần) thời gian đèn đỏ và đèn xanh. Hai bà cụ sẽ làm việc này trong vòng 3 ngày để thu thập dữ liệu.

Có thể nói rằng lời than phiền của dân chúng tương đối nhỏ. Nếu có chậm trễ vài giây cũng chẳng dẫn đến thiệt thòi gì đáng kể. Nhưng vấn đề không phải chỉ vài giây, mà là tích lũy suốt ngày thì sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và bất công . Nhưng trước khi thay đổi chu trình đèn đường, Nha Công chánh phải cẩn thận thu thập dữ liệu để làm cơ sở khoa học.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Người ta chỉ vì một việc nhỏ như thế mà còn phải cẩn thận thu thập dữ liệu để đảm bảo tính khách quan, còn ở nước ta, một qui định ảnh hưởng đến hàng triệu người mà chẳng hề trình bày được một thông tin khoa học nào đáng tin cậy, chẳng làm được một nghiên cứu khoa học nào. Tìm trong Pubmed, hoàn toàn không có một nghiên cứu nào về thể trạng và an toàn giao thông ở Việt Nam. Hoàn toàn không. Ấy thế mà các quan chức nhà ta mở miệng ra là nói là “có cơ sở khoa học”! Tôi nghĩ chắc họ hiểu lầm ý nghĩa của cơ sở khoa học, chứ chẳng phải nói dóc gì đâu.

Tôi là người tin vào trường phái y học thực chứng (evidence-based medicine), làm gì cũng phải căn cứ vào bằng chứng thu thập và xử lí có hệ thống. Đành rằng bằng chứng khoa học cũng có thể sai, nhưng không dựa vào bằng chứng khoa học thì sai lầm sẽ nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Hi vọng rằng qua bài học “chiều cao cân nặng” này Bộ Y tế sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm để bà con nhờ trong tương lai.

NVT

Wednesday, October 29, 2008

Bộ trưởng Y tế NSW

Hôm nay, câu chuyện xảy ra ở Viện tôi lên mặt báo quốc gia! Tony Stewart là Bộ trưởng Bộ y tế bang New South Wales, hôm thứ Tư vừa qua đến dự một buổi dạ tiệc gây quĩ cho nghiên cứu y khoa của Viện. Như bao nhiêu quan lớn khác, Stewart có người viết diễn văn cho ông, và người đó là cô Tina Sanger.

Đêm đó, bài diễn văn của ông bộ trưởng được đánh giá là quá tồi vì có nhiều câu … quá dốt. Nhưng ông bộ trưởng thì bực mình vì ông thấy diễn văn của ông ta ngắn quá (ổng muốn nói dài và lâu hơn), và không có những chi tiết về sự nghiệp hoành tráng của ông ta. Thế là ông ta gây sự với cô Sanger. Chẳng những gây sự mà còn sờ chân cô ấy. Cô ấy và người bạn trai bèn tố cáo bộ trưởng đã sờ mó chân cô ấy (tức là có thể phạm tội “sách nhiễu sex” hay sexual harassment).

Sự việc đến tai báo chí (hôm đó cũng có báo chí đến dự), và thế là câu chuyện ông bộ trưởng sờ chân phụ tá được cả nước đều biết. Tất nhiên, sếp ông bộ trưởng là thủ hiến cũng biết. Nghe nói thủ hiến cho gọi bộ trưởng vào và giảng cho một bài moral. Quan trọng hơn, có thể ông bộ trưởng này sẽ bị buộc từ chức trong vòng tuần này hay tuần tới vì cái tội này.

NVT

Trong hình là ca sĩ Delta Goodrem và ông Bộ trưởng Bộ Y tế Tony Stewart. Đằng sau là logo của Viện Garvan. Hình này của báo SMH chụp hôm thứ Tư tuần này.

PS. Bạn đọc nào rành tiếng Anh có thể đọc bản tin dưới đây:

http://www.smh.com.au/news/national/night-with-stars-may-cost-mp-his-career/2008/10/29/1224956136411.html

Bombshell call backs abuse claims

Andrew Clennell and Alexandra Smith

October 30, 2008

Bộ Y tế nhận sai và rút lại qui định

Hôm nay thấy báo chí nói rằng “Bộ Y tế xin dừng quyết định 'thấp bé không được lái xe'”. Như vậy cuối cùng thì Bộ cũng nhận họ sai lầm. Ngay từ đầu tôi cũng có đề nghị Bộ nên rút lại qui định này, nhưng cho đến hôm qua họ vẫn bảo lưu ý kiến, nên tôi nghĩ bao nhiêu phản hồi và phản biện (kể cả của tôi) đã chẳng thay đổi được Bộ. Nhưng “everything is possible”, quyết định hôm nay của Bộ cho thấy họ cũng biết lắng nghe.

Nhưng vẫn còn những qui định khác về những bệnh mãn tính mà họ chưa rút lại. Không có nước nào không cho những người mắc bệnh tiểu đường, trĩ, hậu môn, cao huyết áp, v.v… lái xe cả. Theo tôi, nên rút lại tất cả các tiêu chuẩn này để nghiên cứu thêm, chứ không chỉ rút lại qui định về chiều cao, cân nặng và vòng ngực.

NVT

PS. Hôm nay thấy có bài này đặt câu hỏi làm kiểu gì cũng đáng chú ý:

http://vietimes.vietnamnet.vn/vn/nguoiquansat/5929/index.viet

Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?

Trong khi những người dân chưa hết “choáng váng” về hàng loạt quy định “gây sốc” của Bộ Y tế mới đưa ra thời gian gần đây quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển phương tiện giao thông thì hôm nay, ông Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) Trần Quý Tường thông báo sẽ rút 50% tiêu chuẩn sức khỏe với người điều khiển xe từ 83 xuống còn 40. Thông báo này được đưa ra sau khi hàng loạt những quy định của Bộ Y tế mới đưa ra trước vấp phải sự phản ứng dữ dội từ phía người dân thông qua các diễn đàn báo chí. Ông Tường thừa nhận “Đây là bất cập thuộc về lỗi kỹ thuật trong việc xây dựng và ban hành văn bản của Bộ Y tế”. Nhưng nhìn lại sự “bất nhất này của Bộ Y tế, người dân có quyền nghi ngờ: Liệu đó chỉ đơn thuần là lỗi kỹ thuật hay lỗi về con người ?

Trước đây, khi đưa ra những quy định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực và hàng loạt những quy định khác đối với người điều khiển phương tiện, ông Tường nói: “Chúng tôi đã tham khảo nhiều ý kiến chuyên gia, ý kiến các bộ ngành nhằm mục đích đảm bảo an toàn giao thông đường bộ”, thậm chí những chuyên gia của Bộ Y tế đã có hơn 1 năm nghiên cứu “kĩ lưỡng” trước khi đưa ra những quy định này. Tạm thời không bàn tới sự đúng sai, hay dở, tính khả thi của những quy định trên mà chỉ tính riêng việc giảm tới gần 50% tiêu chuẩn sức khỏe đối với người điều khiển xe, chúng ta cũng có thể thấy rõ sự “kĩ lưỡng” của các chuyên gia sức khỏe Bộ Y tế đã nghiên cứu trước đó.

Việc nghiên cứu kĩ lưỡng trước khi đưa ra một quy định là rất cần thiết bởi sự kĩ lưỡng đó sẽ đảm bảo được độ chính xác, tránh được những sai sót, bất cập của nó lên những đối tượng mà nó tác động. Đối tượng tác động của quy định 33 và 34 của Bộ Y tế lần này tương đối rộng rãi. Sau một thời gian dài nghiên cứu, quyết định này đã được đưa ra áp dụng. Thế nhưng ngay từ đầu, những điểm chính trong quy định này như: Cân nặng dưới 40kg, chiều cao dưới 1 m40, vòng ngực dưới 72cm không được phép điều khiển xe trên 50 cm3 … đã bị chính những đối tượng của nó là những người dân tham gia giao thông “phản pháo” một cách quyết liệt. Những người dân đã mượn diễn đàn báo chí để nói lên tiếng nói của mình. Sự phản ứng của người dân khiến cho những chuyên gia của Bộ Y tế lúng túng. Thay vì nghiên cứu lại kĩ lưỡng nội dung của những điều khoản trong quy định trên, ngay lập tức, những tiêu chuẩn đó được hạ xuống còn 50% so với quy định cũ. Lý do đưa ra khi nhận lỗi trước những sai sót của mình đó là do “lỗi kĩ thuật”. Một quy định đã có sự nghiên cứu kĩ lưỡng trước khi ban hành thì độ chính xác của nó phải rất cao, nếu có giảm bớt những tiêu chuẩn trong số đó, người ta chỉ chấp nhận sự xê dịch dưới 10% chứ không thể giảm đến một nửa như quyết định của Bộ Y tế mới làm.

Người dân hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi nghi vấn về những chuyên gia đưa ra quy định này. Phải chăng đây chỉ đơn thuần là lỗi kỹ thuật hay lớn hơn là lỗi về những con người đã trực tiếp nghiên cứu và đề xuất ra những điều khoản trong quy định này. Nếu như họ đã thực sự làm việc thực sự trong thời gian vừa qua mà vẫn để xảy ra sai sót đó, Bộ Y tế cần phải xem xét lại năng lực chuyên môn của những chuyên gia này. Còn nếu như thời gian qua họ không hề nghiên cứu dựa trên thực tế tình hình sức khoẻ của người Việt mà chủ quan duy ý chí dẫn đến đưa ra những điểm không phù hợp thì Bộ Y tế cũng nên xem xét lại tư cách của những chuyên gia này. Rõ ràng, sự thiếu sót này không thể đơn giản hoá trách nhiệm bằng cách đổ vấy cho “lỗi kĩ thuật” giống như phát biểu của ông Trần Quý Tường.

Một quy định có tầm ảnh hưởng rộng rãi tới rất nhiều người dân giống như quy định về đảm bảo sức khoẻ khi điều khiển phương tiện giao thông như Bộ Y tế đưa ra thời gian vừa qua là cần thiết và hợp lý.Thế nhưng, những quy định đó phải xuất phát từ những nghiên cứu sức khoẻ của những người dân. Khi quy định đưa ra nhằm đảm bảo an toàn tính mạng cho người dân và hợp tình hợp lý, không có lý do gì không nhận được sự đồng thuận của những người dân tham gia giao thông.

Phản ứng của người dân trong thời gian qua và hành động “đẽo cày giữa đường” của chuyên gia Bộ Y tế đã cho thấy sự bất cập trong việc xây dựng và ban hành văn bản của Bộ Y tế. Và đương nhiên, để cho những quy định của mình có thể thuyết phục với người dân, việc xem xét lại một cách nghiêm túc những quy định của mình trước khi đem ra áp dụng là điều không thể không làm đối với những người có trách nhiệm của Bộ Y tế.

Tuấn Hải (Vietimes)

Tuesday, October 28, 2008

Tìm sách

Có quá nhiều bạn hỏi tôi tìm cuốn hồi kí của giáo sư NĐM ở đâu. Rồi mới đây, có người hỏi tìm cuốn Thời của thánh thần ở đâu. Thật ra thì chỉ một vài phút qua google là các bạn có thể tìm thấy ngay chỗ để đọc những cuốn sách này (và nhiều cuốn khác nữa). Chẳng hạn như các bạn có thể đọc hồi kí NĐM ở đây hay tác phẩm TCTT của Hoàng Minh Tường tại đây. Vậy nhé, các bạn không phải tốn bandwidth để hỏi mấy cuốn này ở đâu.

NVT

Lại bàn về qui định sức khỏe và lái xe gắn máy

Chẳng hiểu sao tôi thấy bức xúc với những qui định của BYT về việc cấp bằng lái xe gắn máy. Tôi cứ liên tưởng đến mấy người hàng xóm dưới quê có chiều dài chân ngắn, , vài đứa cháu nam và nữ có vòng ngực “lép”, những người buôn gánh bán bưng ở các bến phà, v.v… sẽ phải chi ra hàng triệu đồng để qua mấy cái ải của BYT để có được bằng lái xe. Chưa thấy qui định nào của BYT gây ra nhiều tranh cãi như qui định này.

Trước dư luận của người dân, BYT đã giảm khoảng 50% tiêu chuẩn. Nhưng họ vẫn “bảo lưu” tiêu chuẩn 40 kg và chiều cao dưới 145 cm không được lái xe gắn máy trên 50 cc. Và, vẫn như mấy lần trước, họ không giải thích được tại sao có mấy con số cụ thể này. Hình như dưới mắt của mấy người quản lí BYT con người có thể giảm xuống thành những con số, và số phận của họ bị quyết định bởi những con số. Làm y tế mà vô nhân bản như thế thì thật là đáng ngại.

Một vị thứ trưởng BYT nói là những qui định mà Bộ này đưa ra đều có tham khảo những “nghiên cứu của các nhà nhân trắc học, xã hội học, chuyên gia pháp luật, các giáo sư và những vị có uy tín trong ngành y tế dựa trên hằng số sinh học của người Việt Nam, theo chuẩn quốc tế với xu hướng hội nhập và do đó không có chuyện nhầm lẫn.” Nhưng Giáo sư Tương Lai hỏi lại: “Xin cái bà thứ trưởng này, bà công khai hoá cho những danh tính của những nhà khoa học mà bà đã nêu đấy, nhà khoa học về nhân trắc học, nhà khoa học về xã hội học, nhà khoa học về pháp luật để người ta có thể chất vấn những nhà khoa học này. Họ căn cứ vào đâu để họ tư vấn cho bà Thứ Trưởng Bộ Y Tế đưa đến những quyết định theo kiểu như thế?”

Thật ra thì họ có giải thích, nhưng lời giải thích chẳng giống ai. Khi được hỏi tại sao chọn ngưỡng chiều cao 145 cm, một quan chức với bằng tiến sĩ nói: vì “Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao là 163,72±4,67cm, cân nặng là 52,11±4,70 và nữ có chiều cao là 153,00±4,32cm, cân nặng là 44,60±4,22. […] Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam.”

Mấy con số đó có liên hệ gì với nhau? Rồi mấy con số sau cái dấu cộng trừ đó là cái gì? Chẳng thấy ông này giải thích. Từ con số trung bình, rồi ổng phán là “có cơ sở khoa học”. Trời đất ơi! Hết biết. Tôi liên tưởng đến nghiên cứu sinh của tôi: đứa nào mà suy luận kiểu này thì chắc còn lâu mới ra trường. Đúng như Nguyên Lâm viết những người mắc bệnh não (thiếu suy nghĩ), bệnh tim (vô cảm), bệnh tay chân (quan liêu), bệnh tai (không chịu nghe), và bệnh mắt (thiển cận) thì không nên làm quản lí y tế. Chợt nhớ đến Nhà văn Hoàng Minh Tường: tại cái nước Việt Nam mình nó thế.

Chính vì nó thế nên quốc tế mới nhìn mình và mỉm cười. Hôm nay đọc báo thấy mấy qui định sức khỏe của Bộ Y tế để cấp bằng lái xe đã được báo chí quốc tế chú ý. Nhưng họ chú ý với giọng văn diễu cợt. Chẳng biết có ai trong BYT đọc mấy dòng này của báo Mĩ không? Nhưng họ chế diễu là phải. Thật sự, tôi chưa thấy một cơ quan y tế trên thế giới nào ra những qui định quái gở như thế.

NVT

PS. Cũng xin giới thiệu bình luận từ blog của một nhà báo (?). Xin nói trước là lời lẽ trong bài này hơi nặng đó nhé. Những phản ứng này cũng phản ảnh một phần cái nhiệt kế của công chúng trước qui định của BYT.

Monday, October 27, 2008

Cơ sở khoa học của Bộ Y tế (bổ sung)

Theo dõi những câu hỏi và trả lời trực tuyến do báo Tuổi trẻ tổ chức hôm thứ Bảy về vụ qui định lái xe gắn máy, tôi thấy nhiều người dân đặt câu hỏi hay, hết sức thiết thực, nhưng ngược lại những câu trả lời của các quan chức y tế và chuyên gia thì quá thất vọng. Thất vọng vì họ không trả lời câu hỏi của người dân, hay trả lời mà cứ như là hô khẩu hiệu tuyên truyền, hoàn toàn không có một bằng chứng khoa học nào cả. Xin trích dẫn vài câu hỏi, trả lời, và bình luận của tôi như sau:

Hỏi: Xin chào quý cơ quan, cho tôi được phép hỏi tại sao lại ra luật như vậy mà chưa xem xét ý kiến củq người dân. Tôi biết "Nhà nước này là của dân và do dân" mà đúng không? Ông Bộ Y tế thực tế đã xem xét kỹ các yếu tố trên về tai nạn giao thông chưa mà dám ra quy định như vậy? Tôi đã chạy xe máy gần 20 năm nay rồi mà chưa có lần nào gây tai nạn giao thông... mặc dù tôi không đủ tiêu chuẩn như quy định của Bộ Y tế mới đề ra như hiện nay. Tôi mong các cơ quan chức năng nên xem xét lại vấn đề này. (Cô minh, 39 tuổi, minhnghi2009@yahoo.com).

Trả lời: Đúng như vậy, Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi quy định của pháp luật đều vì lợi ích của người dân. Mọi hoạt động của Bộ Y tế cũng vì mục đích cao đẹp đó. Cũng vì xuất phát từ vấn đề bảo đảm an toàn và hạnh phúc của dân khi tham gia giao thông mà chúng tôi có quy định tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe.

Xin chúc mừng chị đã đảm bảo an toàn giao thông trong 20 năm qua, chúc chị luôn luôn có "phong độ" như vậy trong thời gian tới. Chị chưa nói rõ về sự thiếu hụt về sức khỏe của chị nên chúng tôi chưa có bình luận gì. Quan điểm của Bộ Y tế khi xây dựng quy định này là phù hợp với chuyên môn, tạo điều kiện tối đa cho người dân nhưng phải bảo đảm an toàn giao thông. Khi quy định này đi vào thực tiễn, nếu có điểm nào chưa phù hợp, chúng tôi sẵn sàng sửa đổi, bổ sung.

Bình luận: Có ai dám tin rằng qui định này “vì lợi ích của người dân” không, khi mà có đến 5-6 triệu phụ nữ Việt Nam có nguy cơ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc hay lái xe ôtô. Đảm bảo an toàn giao thông? Bằng chứng nào cho thấy giao thông sẽ an toàn hơn nếu áp dụng mấy qui định mới này? Tôi nghĩ vị quan chức này chưa trả lời câu hỏi của người hỏi.

Hỏi: Từ xưa đến nay có ai gây ra tai nạn giao thông duới 1m45 hay dưới 40kg không? Cho dù có cao hay nặng đi chăng nữa thì nếu không có ý thức trong việc tham gia điều khiển phương tiện giao thông thì cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Những người "lùn" và "ốm" có thể là do trời sinh người ta vậy chứ bản thân họ có muốn không? Nếu cấm họ thi lấy bằng và điều khiển phương tiện giao thông cơ giới vậy có phải là phân biệt đối xử không? (nguyen minh phuong, 30 tuổi, elvisphuong84@yahoo.com).

Trả lời: Mọi người đều thừa nhận rằng sức khỏe là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Nội dung này đã luật pháp khẳng định. Tôi hoàn toàn đồng tình với bạn về vấn đề ý thức của người tham gia giao thông, bạn có thấy rằng rất nhiều tai nạn giao thông xảy ra trong thời gian qua là do ý thức của người tham gia giao thông quá kém. Chúng tôi ban hành quy định này cũng là nhằm bảo đảm an toàn giao thông cho mọi người. Với những người không đủ điều kiện về sức khỏe lái xe máy trên 50cm3, vì sự an toàn giao thông của cá nhân và cộng đồng, có thể lựa chọn phương tiện giao thông phù hợp như xe gắn máy dung tích xi lanh dưới 50cm3.

Bình luận: Vị quan chức này vẫn chưa trả lời một câu hỏi rất hay và rất thực tế. Câu hỏi là có ai gây ra tai nạn giao thông dưới 145 cm hay dưới 40 kg không, mà ông quan chức này nói “mọi người đều …”! Mọi người là ai? Nếu muốn nói là “theo quan điểm của tôi” thì nói phức cho rồi, sao lại nói “mọi người”? Chắc chắc rất nhiều người trong thời gian qua không đồng tình và bất đồng ý với Bộ Y tế. Xin đừng ngụy biện theo kiểu mượn danh quần chúng (“mọi người”) để biện minh cho quan điểm phi khoa học của Bộ.

Hỏi: Tôi từng du học ở Mỹ và được cấp bằng lái xe ở đó. Tôi còn nhớ quá trình tiến hành các thủ tục cấp phép họ không có một yêu cầu nào về các chứng nhận sức khỏe. Vậy mà tổ chức giao thông ở họ vẫn tốt, tai nạn ít hơn Việt Nam rất nhiều. Vậy xin hỏi các cơ sở khoa học của quy định Tiêu chuẩn sức khỏe của Bộ Y tế là như thế nào? Tiêu chuẩn cần thiết cho ai? Cho xã hội? Cho các cá nhân điều khiển phương tiện? Cho các cơ sở, các cá nhân trực tiếp khám và ban hành giấy chứng nhận sức khỏe? Hay bộ chỉ muốn chứng tỏ mình quan trọng? (Tran Minh, 34 tuổi, thcongdan1@gmail.com).

Trả lời: Chào bạn Tran Minh, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, về mặt này Bộ Y tế đúng là một cơ quan quan trọng, chắc bạn và mọi người cũng đồng ý với tôi như vậy. Cơ sở khoa học của tiêu chuẩn sức khỏe chủ yếu dựa trên kết quả điều tra quốc gia năm 2001-2002. Trong những ngày vừa qua, có nhiều ý kiến không đồng tình với một số tiêu chuẩn về thể lực: chiều cao, cân nặng, vòng ngực ... Có thể có những tiêu chuẩn cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế về thể lực của người Việt Nam hiện tại nhưng việc đưa ra tiêu chuẩn vẫn cần thiết đối với đảm bảo an toàn giao thông cho chính người điều khiển phương tiện và cho những người khác. Người điều khiển phương tiện có quyền lựa chọn phương tiện phù hợp với điều kiện thể lực, sức khỏe phù hợp với chính mình.

Bình luận: Lại một câu hỏi về cơ sở khoa học của những qui định của Bộ Y tế, nhưng cách hỏi chứng tỏ người hỏi nắm vững vấn đề và có trình độ khoa học. Tuy nhiên, câu trả lời thì giống như không trả lời, vì không hàm chứa một information content (nội dung). Nói rằng cơ sở khoa học là một cuộc điều tra 2001-2002 hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Kết quả của cuộc điều tra đó là gì? Có phải cuộc điều tra đó có mục tiêu phân tích mối liên hệ giữa thể trạng và tai nạn giao thông không? Tôi không tin như vậy, bởi vì ngay cả Bộ trưởng GTVT còn nói chẳng có nghiên cứu nào như thế trong quá khứ cả. Như vậy, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi của bạn đọc.

Hỏi: Dạ thưa thầy, dưới cái nhìn của nhà nhân trắc học, thầy có nhận định thế nào về những số đo ước lượng (chiều cao, cân nặng, vòng ngực) trong quy định của Bộ Y tế ban hành, những con số đó có hợp lý hay không? Ngoài ra, việc không chấp nhận cho những người không đủ 1 trong 83 hạng mục sức khỏe (nhiều hạng mục khá mơ hồ) sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới người dân, điều đó có quan tâm tới ý nghĩa nhân văn đúng mực chưa ạ? Em xin cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khỏe! (Mai Trần, 25 tuổi, pixie_spring@yahoo.com.au)

Trả lời: Chào bạn, về các số đo và tiêu chuẩn thể lực, quy định của Bộ Y tế là có cơ sở khoa học. Tuy vậy, theo "qui tắc 1 - 2 - 3 s (sigma)" cũng có một số cần điều chỉnh, vì người Việt nói chung "nhỏ thó".

Thí dụ, vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp. Tôi tham gia tiểu ban hình thể các kỳ thi hoa hậu Việt Nam từ năm 1998 đến nay, thấy có nhiều bạn nữ vòng ngực chỉ có 72-73cm nhưng khỏe mạnh và vẫn tham gia thi, vào đến vòng biểu diễn!

Quy định về thể lực và tình trạng sinh lý-bệnh tật là điều cần thiết cho người điều khiển phương tiện giao thông. Ở nước ta từ năm 2001, Bộ Y tế đã có quy định về việc này, nhưng không được phổ biến rộng rãi, chứ đây không phải là lần đầu tiên có quy định. Chính vì vậy, nhiều người cảm thấy có điều gì đó thiếu tính nhân văn.

Bình luận: Lại một câu hỏi rất hay: căn cứ vào bằng chứng nào mà Bộ Y tế đi đến những tiêu chuẩn cụ thể đó. Thế nhưng, một lần nữa, câu trả lời thì rất khó hiểu. Không biết các bạn thì sao, chứ tôi chẳng hiểu cái “qui tắc 1-2-3s (sigma)” là qui tắc gì cả. (Nếu bạn nào hiểu, làm ơn giải thích cho tôi biết). Ngoài ra, tôi không hiểu cái logic của phát biểu “vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp”. Tại sao chưa hợp lí? Dựa vào tiêu chuẩn gì để nói là hợp lí hay không hợp lí? Số liệu của tôi (chỉ ở nữ) cho thấy vòng ngực trung bình là 80 cm với độ lệch chuẩn là 5.11 cm. Nói cách khác, có khoảng 95% nữ (trên 16 tuổi) có vòng ngực dao động từ 70 cm đến 90 cm. Nhưng mấy con số này chẳng liên quan gì đến câu hỏi của bạn đọc: tại sao có tiêu chuẩn 72 cm? Theo tôi, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi.

Nói chung, qua vài câu trả lời của các quan chức mà tôi trích dẫn trên đây, tôi thấy rõ ràng rằng những qui định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, v.v… mà Bộ Y tế đưa ra trong việc xét duyệt cấp bằng lái xe gắn máy hoàn toàn không có một cơ sở khoa học đáng tin cậy nào cả. Xin lặp lại để nhấn mạnh: hoàn toàn không có cơ sở khoa học nào cả.

Đọc qua những trả lời của các nhà khoa học và quan chức này, tôi thấy họ sử dụng cụm từ “khoa học” và “cơ sở khoa học” rất tùy tiện. Điều đáng ngạc nhiên (hay không ngạc nhiên) là mấy quan chức và chuyên gia này đều có bằng tiến sĩ, thậm chí mang hàm giáo sư! Tôi không biết họ hiểu thế nào là khoa học. Nhưng tôi hiểu khoa học bằng cách phân biệt giữa khoa học thật và ngụy khoa học dỏm hay ngụy khoa học (pseudoscience) như sau:

Khoa học

Ngụy khoa học

Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu truyền trong các tập san chuyên ngành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua kiểm tra về sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học mà cộng đồng khoa học chấp nhận.

Tài liệu của khoa học dỏm chủ yếu nhắm vào công chúng. Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.

Tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận (repeatability). Nói một cách khác, nếu có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự.

Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi “nghiên cứu,” nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào.

Đối với các nhà khoa học, tất cả những sai lầm, thất bại đều được khai thác triệt để, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai lầm.

Đối với giới làm khoa học dỏm, những sai lầm, thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ. Họ chỉ tuyên truyền những gì hợp với ý định và chủ kiến của họ.

Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện.

Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành. Khoa học dỏm có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục. Nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.

Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay thế. Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi.

Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao.

Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị.

Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, thuốc trị bách bệnh, v.v…) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng.

Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.

Dựa vào những tiêu chuẩn trên, tôi phải nói rằng những qui định của Bộ Y tế rất phi khoa học. Phi khoa học vì chưa có một nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa thể trạng và an toàn giao thông để đi đến làm luật hay ra qui định như thế. Thật ra, nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy qui định của Bộ Y tế đi ngược lại bằng chứng khoa học. Và, như tôi chỉ ra trong bài trước, họ còn sai về giả định đơn giản như chiều dài của chân và chiều cao. Một giả định đơn giản như thế mà Bộ còn sai thì câu hỏi đặt ra là họ còn sai chỗ nào nữa.

Hôm qua, tôi về xem lại qui định về lái xe bên Úc, tôi chẳng thấy một qui định nào về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, hay bệnh tật để được hay không được lái xe cả. Trong giấy xin bằng lái xe, họ yêu cầu người đứng đơn khai báo những bệnh tật chưa không cấm lái xe.

Để chắc ăn, tôi xem trên trang web giao thông vận tải của Chính phủ Úc thì thấy họ liệt kê một số bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe như hay bị chóng mặt, rối loạn về ngủ, cận thị, tiểu đường, bệnh tâm thần, bệnh tim, và một số bệnh liên quan đến tuổi tác. Nhưng họ còn nói thêm rằng mắc những bệnh này không có nghĩa là bạn không được lái xe, mà có nghĩa là bạn nên đến khám bác sĩ để tự mình biết đánh giá an toàn và cẩn thận trong khi lái xe.

Tôi nghĩ cách hay nhất là rút lại qui định này để bớt một gánh nặng cho người dân.

NVT

===
TB. Viết xong bài này tôi thấy trên Diễn đàn có giới thiệu 1 bài rất hay với tựa đề là "Có bệnh không nên làm quản lý" của Nguyên Lâm sau đây:

http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenLam_LamQuanLy.htm

Công luận vẫn chưa hết choáng váng vì những quy định của Bộ Y tế đưa ra về “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Trong đó có những chi tiết khiến tất cả những người bình thường đều phải có phản ứng như: những người thấp bé, nhẹ cân (chưa cao đủ 1,45m, nặng chưa tới 40 kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm) không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50-175cm3; người có bệnh viêm loét thực quản, hẹp thực quản, loét dạ dày, sa trực tràng, trĩ, viêm gan mãn tính, to gan, teo gan, người bị vỡ xương hàm...không được phép lái xe…Nhìn vào những tiêu chí này, người ta nhận ra một vài triệu chứng của những căn bệnh hình như đã thành mãn tính đối với một số nhà quản lý công quyền.


Thứ nhất, đó là bệnh về não trạng duy ý chí, bề trên. Duy ý chí vì đáng lẽ ra pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta nhiều khi do các cơ quan quản lý ban hành trước theo suy đoán, ý thích của mình, mà không hỏi người dân, sau đó người dân mới tham gia thụ động. Bề trên vì họ chỉ đứng trên kia nhìn xuống, mà không chịu xuống nhìn, cho rằng mình lúc nào cũng đúng, dân chỉ việc làm theo mà thôi.


Nói đến não trạng cũng vì nhà quản lý công quyền đã đưa ra những quy định “vô cùng… ngớ ngẩn”, “lạ lùng”, không giống ai như vậy. Nó khiến cho mỗi người bình thường đều phải tự hỏi, không hiểu “mấy ổng” có vấn đề hay không, nghi hoặc về não trạng của họ.


Thứ hai, đó là bệnh về mắt, cụ thể là thiển cận. Chẳng lẽ cơ quan quản lý không nhận ra những điều đơn giản như đâu phải cứ thấp bé nhẹ cân là nguyên nhân gây ra tai nạn và to béo nặng cân thì không gây tai nạn? Họ cũng không nhìn thấy được gì hơn ngoài 1,45m hay sao?


Thứ ba, đó là bệnh về tai. Họ đã không biết lắng nghe. Lắng nghe ở đây không phải là một hoạt động bản năng nghe thông thường mà là một hoạt động có ý thức, là quá trình thu nhận thông tin; nó bao gồm cả quá trình tiếp nhận, phân loại, xử lý, lưu giữ và sử dụng thông tin. Về mặt tâm lí và tình cảm thì lắng nghe còn là sự chấp nhận và đồng cảm với những ai sẽ chịu ảnh hưởng của quy định quản lý. Cơ quan quản lý trong trường hợp này không hiểu đã nghe ai, nghe từ đâu, nhưng rõ ràng là họ không hề bỏ công ra lắng nghe từ chính những người có liên quan trực tiếp nhất.


Thứ tư, đó là bệnh về chân tay. Nhà quản lý trong trường hợp này lười đến nỗi chẳng buồn động chân động tay để làm những thao tác tối thiểu như thảo luận đến nơi đến chốn trước khi cho ra những quy định như vậy. Đấy là chưa nói đến những động tác nhọc nhằn, tốn công sức, thời gian như điều tra xã hội học, nghiên cứu đa ngành, đánh giá tác động…


Thứ năm, đó là bệnh về tim. Cơ quan quản lý đã không hề động lòng, tỏ ra vô cảm trước mưu sinh của hàng triệu con người. Họ coi con người như một vật thí nghiệm khi vụng chèo, vụng cả chống rằng, trong khi thực thi, Bộ Y tế sẽ sửa đổi, bổ sung sớm nếu thấy quy định không phù hợp thực tế. Và như một tác giả viết, họ đã làm trái với nguyên tắc y đức số một của ngành y là “không làm hại người”, khi làm tổn hại về vật chất và cả tinh thần của hàng triệu người.



Thực ra, đã có những cơ chế phòng bệnh. Trước hết, đó là tự phòng bệnh lấy với nhau. Trong mỗi bộ, Bộ Y tế cũng vậy, đều có Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định văn bản của Bộ mình, rồi lấy ý kiến trong Bộ trước khi đưa ra ngoài. Tiếp đó, văn bản được gửi đi lấy ý kiến các bộ ngành khác, gửi sang Bộ Tư pháp thẩm định. Thế nhưng, những cơ chế này hiện nay có vẻ như chưa đủ sức đề kháng trước những căn bệnh nói trên. Cơ chế khiếu kiện hành chính nước ta cũng hơi trái khoáy khi chỉ cho phép kiện văn bản ảnh hưởng đến cá thể, mà không được kiện những văn bản có phạm vi ảnh hưởng rộng như Quyết định của Bộ Y tế. Còn tòa án hiến pháp lại chưa có ở nước ta, trong khi Quyết định này rõ ràng tác động xấu đến quyền đi lại- một quyền cơ bản của hàng triệu công dân, và phân biệt đối xử, kỳ thị với những người bị thiệt thòi.


Trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2008 đã có quy định cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành đánh giá tác động của văn bản, nếu không sẽ không được chấp nhận. Theo đó, cần đánh giá chi phí, hệ quả, những tác động có thể xảy ra đối với các nhóm trong xã hội, các khu vực, hoặc toàn bộ xã hội và nền kinh tế từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong qua trình làm luật, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Điều quan trọng, cơ bản nhất là nó đưa ra nhiều phương án khác nhau, và nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh tác động của các giải pháp đó, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để họ có thể lựa chọn được giải pháp tốt nhất. Phương pháp này thiết lập các tiêu chí để đánh giá và so sánh các tác động đó. Đây là sự tiếp nhận một thông lệ tốt của nhiều nước. Tuy nhiên, theo Luật, Quyết định của Bộ lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Luật này đến tháng 1/2009 mới có hiệu lực. Như vậy, hiện tại chỉ còn trông chờ vào Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp có tiếng nói phản biện, và Bộ Y tế “bỗng dưng” khỏi bệnh chăng?


Còn đối với các dạng văn bản quy phạm pháp luật khác, trong quá trình lấy ý kiến góp ý Nghị định thực thi Luật này, nhiều chuyên gia đã khuyến nghị phải đánh giá tác động đối với tất cả những văn bản nào ảnh hưởng đến nhiều người, nhóm dân cư trong xã hội. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu được chấp thuận, đây sẽ là một bộ lọc gạn lọc những văn bản không cần thiết, một cơ chế phát hiện, phòng ngừa việc ra đời những văn bản “lạ lùng” như vậy.


Cuối cùng, như một giáo sư có nói, “cần ban hành gấp quy định: người thiếu chất xám thì không được làm quản lý”. Người dân cũng tự hỏi: “mấy ổng” mắc nhiều bệnh vậy thì có đủ tiêu chuẩn để ngồi ở cái ghế quản lý công quyền, quyết những chuyện của hàng triệu con người như chúng ta?


Nguyên Lâm



Sunday, October 26, 2008

Về qui định sức khỏe để cấp giấy phép lái xe

Hôm nay thấy hai bộ Tư pháp và Y tế choảng nhau nảy lửa trên báo chí. Thật thú vị! Theo Bộ Tư pháp thì Bộ Y tế không có thẩm quyền trong việc ban hành quyết định ai được hay không được lái xe. Họ còn “đề nghị Bộ Y tế thực hiện việc tự kiểm tra, xử lý đối với hai quyết định đã ban hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp cũng như tính hợp lý của văn bản.”

Báo TT có đăng bài “Tìm đâu ngực nở, chân dài” của tôi, nhưng họ bỏ mấy biểu đồ và bỏ câu vè Tìm đâu ngực nở, chân dài / Để xe gắn máy có ngày thăng hoa. Họ có minh họa bằng bức hí họa vui vui dưới đây.

Chúng ta đang bàn chuyện này, nhưng trong thực tế thì đã có bao nhiêu người “bị nạn” rồi. Sáng nay, tôi nhận được thư của một bác sĩ ở Hà Nội nội dung như sau:

Em copy ngay mấy bài về cấp giấy phép lái xe để mang cho mấy ông cảnh sát giao thông xem. Tuần vừa rồi, hồ sơ thi bằng lái xe của em bị họ trả lại để chờ quyết định thầy ạ, mà em đủ 150cm đấy chứ. Bất mãn quá thầy ơi.”

Vâng, đúng là bất mãn thật. Chưa bao giờ thấy qui định hết sức kì cục như thế này. Một bài báo trên TT cho biết qui định của BYT chẳng những làm cho người dân tốn thêm tiền mà một số còn mất công ăn việc làm. Bài báo trích dẫn ý kiến của ông Huỳnh Văn Tú ở Cần Thơ cho biết sẽ có “hàng vạn người mất việc làm tài xế hoặc không được lái ôtô nhà nếu bị bệnh da liễu hoặc bệnh trĩ… vì lỡ mắc mấy bệnh này, bác sĩ không cấp giấy khám sức khỏe thì đâu có đổi được GPLX mới.”

Còn Bs Nguyễn Huy Phong thì “nhấn mạnh Bộ Y tế rất mâu thuẫn khi quy định không bắt buộc mỗi người khám nghiệm HIV, nhưng trong quy định mới người lái xe buộc phải xét nghiệm HIV và nếu có HIV là không được lái xe. Quy định mới này không những loại những người bệnh HIV ra khỏi xã hội mà còn khiến hàng loạt người đang hành nghề lái xe có nguy cơ thất nghiệp. Tôi và đồng nghiệp mấy ngày nay cũng bàn luận, thấy rằng nếu khám sức khỏe theo quy định mới của Bộ Y tế không những đạt yêu cầu lái xe mà còn đạt yêu cầu lái… máy bay”.

Điều ngạc nhiên là trước phản ứng như thế của công chúng, Bộ Y tế vẫn bình chân như vại, cứ như là làm ngơ! Đến nước này thì tôi nghĩ Thủ tướng cũng phải vào cuộc thôi, chứ nếu không thì mấy ông y tế này làm mưa làm gió gây khó khăn cho bà con quá.

NVT

Thời của thánh thần

Đôi khi máy bay hoản chuyến cũng có cái … lợi. Đó là trường hợp của tôi ngày hôm qua, sau khi xong hội nghị ở Melbourne tôi và vài bạn vội vã bay về Sydney để còn kịp có một ngày nghỉ Chủ nhật. Thay vì bay lúc 6 pm, hãng hàng không bảo là máy bay đến trễ nên phải chờ đến 8 giờ tối. Thật ra, họ “xạo” thôi, chứ chẳng trễ gì cả. Lí do đơn giản là họ thấy chuyến bay 6 pm có ít khách quá, nên họ dồn lại cho chuyến bay 8 pm để bay một chuyến, vừa tiết kiệm xăng dầu, vừa gọn nhẹ, và đương nhiên là lời nhiều hơn. Mấy hãng hàng không bây giờ là thế cả.

Nhưng còn hành khách như tôi thì phải hứng chịu sự tiết kiệm của họ. Ui chao, phải làm gì trong cái thời gian 2 giờ ở cái phi trường buồn tẻ này? Nhìn quanh mấy nhà hàng toàn là loại “fast food giết người”, mới nhìn qua dầu mỡ đã phát ngán. Mấy tiệm bán sách thì giá tận mây xanh! Loay hoay một hồi, tôi chợt nhớ mình có đem theo cuốn tiểu thuyết Thời của thánh thần mà tôi chưa đọc hết trong chuyến bay từ Sài Gòn về Sydney trước đây. Suốt gần 4 giờ liền chờ máy bay và đi máy bay, tôi đọc ngấu nghiến cuốn tiểu thuyết hấp dẫn này. Gấp lại cuốn sách, nghĩ mình đã học được cái gì về chuyện nhân tình thế thái, ý nghĩa của tác giả muốn nhắn gửi là gì, văn chương ra sao, v.v… cứ quay quẩn trong đầu. Thế là sáng nay tôi vội viết vài hàng để cứ như xem là nhật kí vậy …

Thời của thánh thần (TCTT) là sáng tác của Nhà văn Hoàng Minh Tường (hình như là người Hà Nội) mới được Hội Nhà Văn in vào quí III/2008 thì đã bị thu hồi. Phải nói rằng lệnh thu hồi càng làm cho tôi tò mò và tác giả nổi tiếng thêm. Thế là trong chuyến về quê vừa qua, trong thời gian ở Hà Nội tôi cố tìm cuốn sách cho được. Các bạn ngoài đó dù hứa là sẽ tìm ra nhưng mãi đến khi tôi lên máy bay vào TPHCM mà vẫn chưa có. May mắn thay, một anh bạn văn ở TPHCM có nhã ý cho tôi đọc cuốn sách này. Cuốn này anh mua khi sách mới ra lò, bìa màu xanh và đen. Phía sau có trích dẫn vài phê bình (khen) của các nhà nghiên cứu văn học và nhà văn. Nhìn vào phía trong thấy người biên tập là Nhà văn Trung Trung Đỉnh, cũng là một trong những người tôi hay đọc. Chà, điệu này chắc Trung Trung Đỉnh cũng bị “hỏi thăm” quá.

Cầm cuốn tiểu thuyết dầy cộm gần 650 trang giấy tôi cũng … nao núng, vì muốn đọc hết cũng chiếm nhiều thời gian chứ đâu phải chuyện đùa, mà thời gian thì tôi lúc nào cũng thấy eo hẹp. Nói vậy thôi, trong quãng đường TPHCM – Sydney, tôi cũng “ngốn” trên 400 trang sách. Nói như thế để các bạn thấy cuốn tiểu thuyết có nhiều tình tiết hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. (Lại quảng cáo cho bác Hoàng Minh Tường!)

Câu chuyện Thời của thánh thần

Không gian của TCTT là một làng quê ngoài Bắc có tên là làng Động, huyện Phương Đình, tỉnh Sơn Minh. Thời gian của những câu chuyện trong TCTT kéo dài từ thời kháng chiến chống Pháp, Cải cách ruộng đất, đến giải phóng miền Nam năm 1975, và những biến động lớn sau cái thời điểm lịch sử đó. Bối cảnh của TCTT là những câu chuyện đau lòng (vâng, chỉ có thể nói là “đau lòng”), những mâu thuẫn mang màu sắc đạo đức, xã hội và chính trị trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Tác giả hình như muốn giải phẫu lịch sử nước nhà trong thời gian đầy biến động đó qua những xung đột trong một gia đình Việt Nam.

Đó cũng là một điều thú vị, bởi vì trong tiểu thuyết TCTT là tác giả không dựng một nhân vật chính; toàn bộ cuốn tiểu thuyết chỉ xoay quanh gia đình họ Nguyễn Kỳ. Ông Nguyễn Kỳ Phúc (còn gọi là ông Cử Phúc) có 4 người con ruột: Kỳ Khôi, Kỳ Vỹ, Kỳ Vọng, và cô con gái Kỳ Hậu. Ngoài ra, ông còn có một người con nuôi là Nguyễn Kỳ Quặc. Vì Kỳ Vọng và Kỳ Quặc sinh cùng năm, và sợ khó nuôi nên ông Cử Phúc còn đặt tên cho hai đứa là Vện và Cục! Do đó, Kỳ Quặc còn có tên là Kỳ Cục.

Cho đến ngày ông Cử Phúc qua đời, không ai biết cha mẹ ruột của Kỳ Quặc là ai. Thật ra, Nguyễn Kỳ Quặc là con của bà Đào Thị Cam. Bà Cam là một thiếu nữ xinh đẹp nhất làng, bị tên đồn trưởng lai Tây Trương Phiên làm nhục, mang thai, và hạ sinh ra nó, rồi bỏ trong một bụi cây. Đến khi bà cử Phúc đi qua đường thấy được rồi mang về nuôi và xem như là một đứa con trong nhà. Kỳ Quặc được ông bà Cử Phúc xem như con ruột, bình đẳng với các anh em khác, thậm chí còn được ưu tiên vì sự bất hạnh của Kỳ Quặc.

Sau vụ bị làm nhục, Đào Thị Cam bỏ vào chùa đi tu với pháp danh Đàm Hiên. Nhưng sau đó, Đàm Hiên bỏ tu và theo kháng chiến, rồi trở thành một cán bộ cao cấp trong phong trào phụ nữ. Trong thời gian theo kháng chiến, Cam yêu một đồng chí của mình có tên là Lê Thuyết. Hai người chưa kịp thành hôn thì Lê Thuyết hi sinh trong một trận đánh Tây. Lúc bấy giờ, Cam đã là một cán bộ lãnh đạo huyện và hay giả trang đến nhà ông Cử Phúc để thầm kín thăm con.

Nguyễn Kỳ Khôi thoát li gia đình đi theo cách mạng (Việt Minh) từ năm 15 tuổi. Trong môi trường kháng chiến, Kỳ Khôi trở thành một cán bộ xuất sắc, lập được nhiều công trạng và được cấp trên ưu ái. Tổ chức quyết định đặt tên mới cho Kỳ Khôi là Chiến Thắng Lợi.

Kỳ Khôi lần đầu gặp Đoàn Thị Cam thì mê mẩn tâm hồn, dù Cam lớn hơn Kỳ Khôi vài tuổi. Sau khi kháng chiến thành công, Kỳ Khôi và Cam lại gặp nhau ở Hà Nội. Hai người trong tình cảnh “tình trong như đã mặt ngoài còn e” gặp nhau trong ngày vui của cách mạng, họ kéo nhau đến phố Phương Đình và sống như hai vợ chồng trong ba ngày liền. Kết quả của ba ngày là một bào thai, và sau này Cam đặt tên là Lê Kỳ Chu. Cam đặt họ Lê để qua mắt Tổ chức rằng đó là con của Lê Thuyết, chứ không dám đặt họ Nguyễn Kỳ, bởi vì nếu như thế là … mất đạo đức cách mạng. Trong một thời gian dài Kỳ Khôi (hay Chiến Thắng Lợi) không hề biết mình có con là Kỳ Chu!

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, một số lớn người công giáo, dưới sự kích động và tuyên truyền của thực dân Pháp rằng Chúa đã vào Nam, bỏ theo vào Nam. Nguyễn Kỳ Vọng lúc đó ở Hà Nội và có quen một gia đình Công giáo cũng mạo hiểm theo gia đình này vào Nam. Nguyễn Kỳ Vọng từng đỗ bằng Thành Chung trước đây, giỏi Pháp văn, được chính quyền Ngô Đình Diệm trọng dụng, cho đi học ở Mĩ và tốt nghiệp kĩ sư công chánh. Sau khi về nước, Kỳ Vọng được bổ nhiệm làm trưởng ti công chánh. Ở trong Nam, Kỳ Vọng lập gia đình, có con ngoan vợ đẹp, và thành đạt trong nghề nghiệp.

Trong khi đó, ở ngoài Bắc, Nguyễn Kỳ Vỹ cũng thoát li gia đình theo cách mạng. Kỳ Vỹ có tài viết văn làm thơ, và dưới sự hỗ trợ ngầm của người anh Chiến Thắng Lợi trở thành một nhà văn sáng chói trên văn đàng. Kỳ Vỹ nổi tiếng với tập thơ Thời của thánh thần, qua sự lăng xê của cán bộ quản lí văn hóa là Ngô Sỹ Liên (bí danh Tư Vuông). Khi đoàn quân chiến thắng về tiếp quản thủ đô, Kỳ Vỹ tình cợ gặp và yêu một người con gái đẹp như trong tranh tên là Đào Trinh Khiêm, ái nữ của một gia đình giàu có ở Hà Nội. Trinh Khiêm cũng rất yêu thơ của Kỳ Vỹ, nên hai người rất tâm đầu ý hợp với nhau. Mặc cho những “đấu tranh giai cấp” và cảnh cáo của Tổ chức, Kỳ Vỹ nhất định thành hôn với Trinh Khiêm.

Nhưng người anh Chiến Thắng Lợi lại còn nổi tiếng hơn trên trường chính trị. Thắng Lợi lúc tiếp quản thủ đô là một thủ trưởng quan trọng trong guồng máy chính quyền cách mạng. Do có quan hệ với một người con gái dân tộc Tày tên Là trong thời đóng quân ở Sơn La, nên trên đường về Hà Nội, Tổ chức buộc Thắng Lợi phải thành hôn với Là. Sau này, Là trở thành cửa hàng trưởng bách hóa, và cũng là một vị trí đem lại nhiều lợi lộc kinh tế cho gia đình trong thời bao cấp.

Tưởng cách mạng thành công thì gia đình ông Cử Phúc sẽ sống trong hạnh phúc trước sự thành đạt của con. Nhưng đùng một cái, cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) diễn ra ở miền Bắc làm đảo lộn trật tự đạo đức gia đình và xã hội, và gia đình ông cũng không nằm ngoài biến động đó. Dù kinh tởm trước những cái chết oan ức của bạn bè ông trong cuộc CCRĐ, ông Cử Phúc vẫn tự tin rằng mình từng là cán bộ cách mạng, có con làm quan to trong chính quyền cách mạng, ông sẽ an toàn thôi. Nhưng sự đời trớ trêu đã dẫn đến những biến động và hệ quả khôn lường.

Trước ngày CCRĐ, Kỳ Khôi có ghé qua làng Động thăm nhà. Bây giờ Kỳ Khôi đã là một quan cách mạng với danh xưng Chiến Thắng Lợi lẫy lừng, đi đâu cũng bằng xe ôtô có người lái và bảo vệ. Những tôi luyện của Tổ chức trong thời cách mạng đã biến Kỳ Khôi thành một người hoàn toàn xa lạ với những chuẩn mực đạo đức, lễ nghi và truyền thống dân tộc. Chiến Thắng Lợi chỉ biết có mình, và gia đình và những người anh em trong gia đình phải là nền tảng trong sạch để anh thăng tiến trong sự nghiệp cách mạng. Cho nên khi về đến nhà, anh cảm thấy bực mình, có khi khinh bỉ những lễ nghi truyền thống vốn có bao đời nay, anh muốn đập đổ hết những “hủ tục” này, muốn hiện đại hóa làng Động bằng những chuẩn mực đạo đức mới: đạo đức cách mạng. Hãy đọc một đoạn anh nói với bố mình:

Vẽ vời quá! Lợi lắc đầu – chúng ta đang bắt đầu một thời đại mới, thời đại xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư của phong kiến đế quốc, xóa bỏ triệt để mê tín dị đoan. Nếu không có anh em chúng con, Thầy muốn làm gì mặc Thầy. Nhưng bây giờ, khi vợ chồng anh em chúng con đã về, thì mọi việc phải khác. Con xin Thầy nhớ cho rằng anh em chúng con bây giờ đã là cán bộ cách mạng. Nhất cử, nhất động quần chúng đều nhìn vào đánh giá, bọn phản động dòm ngó xuyên tạc.”

Khi phát hiện người em Kỳ Vọng của mình đã bỏ đất Bắc vào Nam, Chiến Thắng Lợi như con hổ bị thương. Trong suy nghĩ của Chiến Thắng Lợi, Kỳ Vọng vào nam đồng nghĩa với việc theo ngụy, có nghĩa là lí lịch của anh có một vết đen, và con đường thăng tiến của có thể sẽ khó hanh thông. Không chấp nhận giải thích của ông Cử Phúc về lí do kỳ Vọng vào Nam, Chiến Thắng Lợi nói thẳng với bố mình bằng những câu như:

Chúng bạn nào rủ rê? Thầy xui nó. Thầy muốn bắt cá hau tay. Rút cục Thầy vẫn lòi cái bản chất tư sản phong kiến, chân nọ chân kia. Thằng Vọng cam tâm làm tay sai cho địch rồi. Nó nhảy sang chiến tuyến bên kia. Nó là thằng Việt gian phản động. Tôi mà biết âm mưu phản dân hại nước của nó từ trước, tôi sẽ bắn bỏ. Hai thằng chúng tôi không quản hi sinh xương máu, đi theo cách mạng là muốn cứu cho cái lí lịch bất hảo của gia đình này. Vậy, Thầy và nó đã làm hỏng tất cả.”

Đã đến nước này thì tôi phải nói thật với Thầy. Tôi phải từ thằng Vọng. Từ nay thầy u và cái chi họ Nguyễn Kỳ này đừng gọi tôi là Nguyễn Kỳ Khôi nữa. Thằng Khôi đã chết rồi. Mấy năm ở Việt Bắc, tôi đã có tên mới là Chiến Thắng Lợi …”

Những câu nói như thế làm cho ông Cử Phúc nổi điên. Ông đuổi ngay Chiến Thắng Lợi ra khỏi nhà, và nói: “Anh không còn là con tôi nữa. Bước ngay ra khỏi cái nhà này!” Từ đó, Chiến Thắng Lợi say mê theo sự nghiệp cách mạng và không gặp lại cha mình một lần nữa. Ngay sau vụ xung đột cha con đó là vụ CCRĐ và kết cục là cái chết không tòan thây của ông.

Cuộc CCRĐ đã cung cấp một cơ hội cho những người nghèo và thiếu học trong làng Động vốn từng làm công và hưởng ơn của ông Cử Phúc trở thành những quan tòa xử ông và đồng môn của ông. Một trong những nhân vật quan tòa đó chính là Đĩ Ngao, người được tác giả mô tả là “thấp lùn, răng vẩu, mặt rỗ chằng chịt” chuyên nghề mổ thịt trong làng. Nhưng điều làm cho ông Cử Phúc đau lòng nhất là Kỳ Quặc, do những người trong làng xúi dục, đã đứng lên tố cáo cha nuôi của mình là một địa chủ ác ôn! Hãy nghe một đoạn bi hài trong lời đấu tố của Kỳ Quặc:

Lý Phúc, mày có biết ông là ai không? - Cục đã lặp lại hoàn toàn từ lời nói đến điệu bộ cuộc đấu tố của Đĩ Ngao với Chánh tống Thiện hôm nào. Anh hùng hổ xông đến trước mặt Lý Phúc, chỉ thẳng và mặt ông bố nuôi, giọng run bắn và nhòe nhoẹt vì vừa tu một hơi hết ba chai rượu ngang để lấy dũng khí -- ông là Nguyễn Kỳ Quặc hay Cục cứt chó mà mày đã bóc lột từ lúc mới đỏ hỏn nhặt từ ông Đống về đâyNgay cả cái tên Nguyễn Kỳ Quặc mà máy đặt cho ông cũng đã thể hiện sự khinh bỉ và đểu giả. Ông bị vợ chồng mày bóc nột từ khi mới nọt nọng cất tiếng khóc oe oe chào đời.”

Cuộc đấu tố qua ngòi bút của tác giả quả là đầy chất bi hài, tục tĩu, nhưng cực kì dã man. Ông Cử Phúc không giận mà chỉ buồn. Ông giải quyết cái buồn bằng cách treo cổ tự tử giữa nhà. Cái chết của ông Cử Phúc làm rúng động cả làng Động. Cái chết bi thảm của ông còn làm cho Kỳ Quặc thức tĩnh, ăn năn hối lỗi, quay trở về với đạo đức làm con. Sau này, chính Kỳ Quặc là người gìn giữ tông đường giòng họ Nguyễn Kỳ.

Cái chết bi thảm của ông Cử Phúc được mục kích bởi cô con gái út của ông là bé Kỳ Hậu. Chứng kiến cảnh cha mình chết trong tư thế treo cổ và không toàn thây, Kỳ Hậu phát bệnh câm. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, Kỳ Hậu chỉ là cái bóng bé nhỏ bên những người anh trong gia đình.

Sau thời CCRĐ là vụ Nhân văn Giai phẩm. Lần này, nạn nhân trong gia đình Nguyễn Kỳ là Kỳ Vỹ, và nhân vật Chiến Thắng Lợi được tác giả đưa ra như là một tương phản cho hai tính cách: một bên là tự do tư tưởng, và một bên là bảo thủ. Kỳ Vỹ được cử đi học ở nơi hẻo lánh thuộc Liên Xô cũ. Trong thời gian ở đây, anh được tiếp cận với những ý tưởng mới và cộng với những trải nghiệm của cá nhân trong thời chiến ở trong nước, anh đã có những sáng tác làm cho cơ quan quản lí tư tưởng văn hóa khó chịu. Đỉnh của những sáng tác này là bài thơ Tiếng hát nhân dân được tạp san Giai phẩm bốn mùa công bố. Liền sau đó là hàng loạt bài phê phán Kỳ Vỹ một cách nặng nề. Những nhãn hiệu ghê gớm được dán lên tên Kỳ Vỹ: nào là sự tha hóa của một ngòi bút, văn nghệ chống Đảng, phản động, v.v… Tổ chức phải triệu hồi Kỳ Vỹ về nước và được giao cho những công việc không hợp với khả năng. Anh sáng tác nhưng chẳng báo nào dám in vì đã có chỉ thị của Tổ chức. Người thương bảo anh cứ sáng tác và kí tên người khác để họ đem đi đăng báo. Nhưng tính người nghệ sĩ vẫn phóng khoáng và Kỳ Vỹ lại gặp trở ngại vì những sáng tác của mình mà người ta phát hiện tác giả chính là Kỳ Vỹ. Sau lần này, Kỳ Vỹ bị cho đi lao động khổ sai và đi tù một thời gian đến nỗi Kỳ Vỹ mang bệnh trầm cảm và bất lực. Nhưng nhờ sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp là nhà văn Châu Hà và sự chung thủy của người vợ anh yêu mến Đào Trinh Khiêm, anh được ra tù. Trong một thời gian dài cho đến sau thời giải phóng miền Nam, Kỳ Vỹ sống trong thiếu thốn và đau khổ.

Biến động gia đình lần thứ ba xảy ra trong thời gian sau khi miền Nam được giải phóng. Sau năm 1975, Nguyễn Kỳ Vọng vẫn được chính quyền cách mạng ưu đãi, tuy không còn là trưởng ti công chánh, nhưng Kỳ Vọng vẫn được làm việc chuyên môn mà không phải đi học tập cải tạo. Thật ra, Kỳ Vọng rất được các quan chức cách mạng kính trọng vì kiến thức chuyên môn uyên thâm của anh, và được mời soạn thảo báo cáo trình bày cho Bộ giao thông vận tải. Sau ngày giải phóng, Chiến Thắng Lợi cho người bí mật dò la tông tích của Kỳ Vọng. Chiến Thắng Lợi thờ phào nhẹ nhõm khi biết rằng Kỳ Vọng không phải là một tên phản động, mà là một chuyên gia kĩ thuật giỏi.

Kỳ Vọng quyết tâm làm một chuyến ra Bắc thăm nhà. Chuyến về quê gợi cho Kỳ Vọng bao nhiêu kỉ niệm, nhưng điều buồn nhất là anh biết được cái chết bi thảm của bố mình. Anh đem tiền vàng ra cho anh em trong nhà để trang trải những khó khăn trong thời bao cấp. Sau khi về lại Nam thì Kỳ Vọng phát hiện vợ con anh đã vượt biên sang Mĩ. Sự ra đi của vợ con là một vết đen cho sự nghiệp của Kỳ Vọng. Từ đó, anh bị kì thị, nghi kị, không cho làm việc, và bị theo dõi gắt gao. Sau một thời gian không chịu nỗi sự hà khắc của chế độ mới, anh lại vượt biên sang Mĩ. Chuyến đi để lại trong anh nhiều nỗi kinh hoàng trên biển và mãi mãi thay đổi suy nghĩ của anh về đất nước và con người. Càng đau lòng hơn khi sang đến Mĩ anh biết rằng người vợ anh từng yêu quí đã sống chung với một người Mễ, còn cô con gái anh bị chết trên biển trong chuyến vượt biên với mẹ mà anh không hề được báo trước đây. Ở Mĩ, anh sống cuộc đời một chuyên gia lành nghề nhưng là một người tha hương. Anh quay về mối tình đầu của mình tức Tạ Thị Thu Uyên, người đã lôi kéo anh mạo hiểm vào Nam.

Trong một lần hội ngộ với người bạn văn chương của Kỳ Vỹ là Châu Hà trên đất Mĩ, tác giả đã để cho Kỳ Vọng thốt lên những lời nói mà có lẽ người vượt biên chẳng lấy gì làm lạ:

Tôi nói anh đừng giận. Bởi tôi có 4 năm ăn lương công chứng cộng sản. Trong thời gian ấy tôi đã tìm đọc hầu hết các tác giả văn học thế hệ các anh … Các anh đã tìm thấy căn bệnh, nhưng các anh không dám dũng cảm chữa trị …

Văn chương của các anh chỉ là sự minh họa … Văn chương cũng như xã hội, mắc phải bệnh giả dối trầm trọng. Đời sống xã hội nước ta không tự nhiên như nó cần phải có. Lúc nào người ta cũng lên gân với nhau. Cha lên gân với con, chồng lên gân với vợ, cấp trên lên gân với cấp dưới … Trẻ học mẫu giáo mà toàn như cụ non, cũng lên gân để cố yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học vẹt những điều lớn lao, sáo rỗng. Chúng không được dạy yêu ông bà, cha mẹ, yêu cái gia đình nhỏ bé của mình trước khi yêu những gì rộng lớn hơn … Văn chương thì chỉ một gam tô hồng, coi cách mạng Việt Nam là nhất thế giới, là tiên phong của nhân loại. Chủ nghĩa xã hội là thiên đường, tư bản là xấu xa, đang giãy chết … Căn bệnh chủ quan giáo điều, bệnh thành tích là nguyên nhân của thói giả dối, đạo đức giả.”

Ai tin tôi? Ai cho tôi cống hiến? Các vị có cả một hệ thống tổ chức từ cơ sở đến trung ương để chọn lọc những người cầm quyền. Từ tổ phó trở lên đã phải qua hệ thống sàng lọc trước khi đề bạt. Dân thường chẳng ai chen chân vào được. Đất nước của các vị chứ đâu phải của mọi người Việt? Anh có biết bạn tôi, nhà sử học Võ An Thới, nói gì không? Anh ta bảo rằng các anh sổ toẹt hết lịch sử. Giành được nước là các anh đút túi như của cải riêng của mình. Các anh vô ơn, chẳng cần biết rằng đất nước này có tới 4000 năm dựng nước và giữ nước, mà các anh mới chỉ là khoảnh khắc, công lao như cái móng tay. Nếu không có công lao mỡ cõi của tổ tiên từ thời Lý, Trần, nếu không có Đoan Quận công Nguyễn Hoàng với cuộc vượt biên vào Ái Tử, Quảng Trị năm 1558, rồi đến các đời Chúa Nguyễn đưa dân vào mở mang khai khẩn thì ranh giới nước Việt còn ở tận Châu Ô, Châu Rí, tận Thuận Quảng, Phú Yên, chứ đâu có Sài Gòn, Cà Mau, Hà Tiên, Phú Quốc … cho các anh giải phóng. Vậy mà vừa vào Sài Gòn, việc đầu tiên của các hậu sinh là xóa sổ hết những con đường, những địa danh mang tên Nguyễn Hoàng và các hậu duệ, các công thần nhà Nguyễn …

Tuy nhiên, dù gay gắt như thế nhưng TCTT có một kết cục có hậu (happy ending). Đến khi Nhà nước mở của kinh tế, thì cũng là lúc Chiến Thắng Lợi nghỉ hưu, và tìm lại người con đầu lòng của mình, tức Lê Kỳ Chu. Cả nhà phải tổ chức một buổi lễ nhỏ để đổi họ Lê Kỳ Chu thành Nguyễn Kỳ Chu. Nguyễn Kỳ Chu là một “đại gia” ở Nga về nước mở doanh nghiệp làm kinh tế rất khá. Nguyễn Kỳ Chu còn cho người em cùng cha khác mẹ làm tổng giám đốc công ti ở Việt Nam. Kỳ Vọng có dịp về quê và hợp lực với người cháu Nguyễn Kỳ Chu bỏ tiền ra xây lại nhà tổ Nguyễn Kỳ. Lúc này thì nhân vật Chiến Thắng Lợi đã nhạt nhòa trong tiểu thuyết, và nhường cho nhân vật Đào Thị Cam. Trong giây phút lâm chung, Đào Thị Cam cho cả gia đình biết Nguyễn Kỳ Cục chính là đứa con của bà. Tên Tây lai Trương Phiên, khi vào Nam trở thành một chuẩn tướng nổi tiếng ác ôn và khát máu. Khi miền Nam bị thất thủ, Trương Phiên và đồng bọn bỏ chạy sang Mĩ và trở thành thủ lãnh một tổ chức kháng chiến chống cộng. Nhưng cuối cùng y cũng nhớ về quê hương và xin được bà Cam tha thứ.

Vài nhận xét

Đọc TTCT tôi thấy dễ đồng ý với nhận xét của Nhà văn Nguyễn Khắc Trường: đáng lẽ tên của tiểu thuyết phải là “Những người khốn khổ” hay “Những kẻ khốn khổ”. Quả vậy, nguyên cuốn tiểu thuyết, Hoàng Minh Tường đã thành công phác họa nên những số phận nghiệt ngã trong một gia đình có nề nếp gia phong. Đọc những mánh khóe xảo quyệt, lừa dối trẻ con, mưu mô hại nhau giữa những người từng quen biết nhau mà ngán ngẩm cho thế thái nhân tình trong thời bao cấp. Thật ra, những “thói đời” này hoàn toàn có thật ngoài đời, không phải ngày xưa thời bao cấp, mà còn ngay ngày nay. Những nghiệt ngã này do thời thế gây nên, cũng như là những cành cây bị gió bụi làm cho ngã bên này, nghiêng bên kia, và khi cơn gió bay qua thì để lại trên cành cây đầy thương tích. Tôi nghĩ có lẽ đó chính là thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc, và nếu đó là chủ đích thì tác giả đã thành công.

Bối cảnh và câu chuyện hấp dẫn, nhưng điều đáng tiếc là tác giả ít khi nào phân tích tâm lí. Tác giả chủ yếu mô tả câu chuyện, và cố nhồi nhét vào miệng nhân vật những thông điệp mình muốn nói. Không biết bạn đọc khác thì sao, nhưng tôi khi đọc tiểu thuyết thường thích đọc những phân tích tâm lí mà tác giả chiêm nghiệm qua các nhân vật và sự kiện mà họ dựng nên. Tôi nghĩ làm nhà văn giỏi phải là một nhà phân tích tâm lí giỏi. Không có phân tích tâm lí làm giảm giá trị nhân văn của cuốn tiểu thuyết một phần.

Tác giả đã nói rõ rằng toàn bộ nhân vật và không gian trong tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, tác giả chẳng ám chỉ ai, và chúng ta có thể tin như thế. Nhưng cách đặt tên cho nhân vật của tác giả cũng có thể cho chúng ta lí do để đặt câu hỏi. Tôi đoán rằng giới văn học ở Hà Nội chắc chắn có thể liên tưởng những nhân vật trong tiểu thuyết với một số nhân vật ngoài đời. Chẳng hạn như như đặt tên nhân vật triết gia Trần Đức chắc tác giả cũng muốn nói đến một nhân vật có thật ngoài đời, hay tờ báo talaviet cũng là một diễn đàn internet do một số người Việt ở nước ngoài thành lập. Những cái tên Kỳ Cục, Kỳ Khôi, Kỳ Vỹ, v.v… cho thấy tác giả cũng có óc hài hước rất … Bắc Hà. Không biết trong thực tế có cái làng nào tên làng Động hay không, nhưng có lẽ đó cũng là một cách sáng tác của tác giả muốn ngầm gửi gắm một thông điệp là cái làng bạo động hay nhiều biến động.

Về văn chương, tôi không thấy những nét đặc sắc nào so với những văn của Bùi Ngọc Tấn hay Nguyễn Khải. Tác giả tỏ ra muốn thu hút người đọc bằng vài câu chuyện phòng the. Nhưng rất tiếc là những mô tả về sex không đạt, vì những câu chữ trong sách lặp đi lặp lại nhiều lần đến độ nhàm chán. Mà, ngay cả những mô tả này cũng không có gì hay, đọc lên giống như là đọc những câu chuyện nhảm nhí hay thấy trong sách được bày bán ở các phi trường nhằm giết thì giờ, chứ không phải là những mô tả ý nhị và thi vị.

Tuy nhiên, tôi thấy trân trọng Hoàng Minh Tường ở chỗ tác giả có tinh thần khai sáng, phê phán, thách thức, đánh đổ, và vượt qua ý thức hệ. Cuốn tiểu thuyết cho thấy trong thời gian khó khăn đó, những bản năng cơ bản của con người, sự suy nghĩ, nhạy cảm, nhận thức, phán đoán của cá nhân bị kiềm chế hoặc làm cho còi cọc đi. Từ đó, văn học đôi lúc chỉ có chức năng thể hiện những hiện thực giả dối. Thể hiện cụ thể nhất ở điểm này là nhân vật Tư Vuông và Văn Quyền, những người bất tài về văn chương nhưng có tài nói dối và có tài xu nịnh để được thành danh. Điều đáng nói là họ viết những điều mà ngay cả chính họ cũng biết không phải là sự thật, một sự phản bội lại chính mình!

Những đoạn tác giả cho nhân vật Kỳ Vọng nói cũng là một cách gián tiếp ghi nhận những quan điểm của nhiều người bỏ nước ra đi sau 1975. Những quan điểm đó dù không phản ảnh đầy đủ, nhưng cũng nói lên sự chịu khó tìm tòi và khả năng lắng nghe của tác giả. Có lẽ phần này là phần yếu nhất trong tác phẩm TCTT. Những đoạn viết về những chống đối của những người cực đoan ở hải ngoại có thể nói là khá gượng ép. Thật vậy, đây đó trong cuốn tiểu thuyết chúng ta sẽ thấy một vài câu chữ, một vài thông điệp liên quan đến người Việt ở nước ngoài mang nặng tính tuyên truyền. Người đọc tinh tế sẽ có cảm nhận dejà vu, vì những khẩu hiệu hay câu chữ này mình như đã từng đọc hay thấy trong thời … bao cấp.

Gấp lại cuốn sách, tôi nghĩ đến trong thời bao cấp văn học bị đặt nằm trong khuôn khổ của một ý thức hệ chính trị hay hệ thống đạo đức, và điều này đồng nghĩa với việc biến văn học thành một công cụ tuyên truyền, công cụ đạo đức, và là một nỗi bất hạnh của văn học. Chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa yêu nước đã làm cho việc thực thi một chế độ tự do tư tưởng rất khó khăn. Những người trí thức như Kỳ Vỹ hay Châu Hà có thể can đảm chống hệ thống giá trị đạo đức và quyền lực của Tổ chức, nhưng họ lại tỏ ra bất lực khi đương đầu với sự mê tín hiện đại. Sự mê tín này nảy nở và phát triển nhờ vào một tập hợp tiềm thức có qui mô quốc gia, được núp dưới bản năng sinh tồn hàng ngày, chứ không phải dưới danh nghĩa một hiện tượng đạo đức xã hội nào cả. Những bạn bè chung quanh Kỳ Vọng và Kỳ Vỹ bày mưu tính kế chỉ để lấy căn nhà, chứ chẳng phải đạo đức gì cả. Điều bi hài là họ thể hiện những mưu mô xảo trá này bằng cái gọi là “tình cảm cách mạng”!

Như nói trên, tôi nghĩ Nhà văn Hoàng Minh Tường có tham vọng lớn là làm một cuộc phẫu thuật lịch sử Việt Nam qua một gia đình nhỏ mà những biến động trong gia tộc có nhiều điểm trùng hợp với lịch sử nước nhà. Tuy nhiên, tôi nghĩ kĩ thuật để làm cuộc phẫu thuật vẫn chưa được sắc bén lắm, và sau cùng là ý định của tác giả vẫn chưa thực hiện được. Giải pháp hay lời giải thích của tác giả có thể tóm lược trong câu nói cuối cùng trước khi chết của bà Cam (“Thời cuộc sinh ra thế. Đất nước chúng ta từng trải qua những khúc nhôi bi đát như thế. Chúng ta đều là những đứa con khốn khổ của mẹ Việt Nam. Mẹ Việt không chối bỏ đứa con nào”) tuy có phần ấn tượng nhưng không nói lên được điều gì.

Không biết bạn đọc khác thì sao, nhưng tôi khi đọc tiểu thuyết hay sách nào đó là đi tìm một sự thách thức về tư tưởng, nhưng TCTT không có những thách thức đó mà lại kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu có thể làm hài lòng người đọc, nhưng tôi không nghĩ đó là một nốt nhạc ngân vang, một khía cạnh mà tôi nghĩ tiểu thuyết cần phải/nên có.

Bài viết này chẳng phải giới thiệu tác phẩm của Hoàng Minh Tường (vì tác phẩm đã bị thu hồi rồi) và cũng không phải là một phê bình, mà chỉ là một vài cảm nhận nhanh sau khi đọc xong cuốn sách. Tôi tưởng những vết thương CCRĐ, Nhân văn Giai Phẩm, những dư chấn Giải phóng miền Nam, v.v… đó đã qua lâu rồi, và thời gian đã đủ để một cuốn tiểu thuyết như TCTT được trình làng (như nhiều tiểu thuyết về Cách mạng Văn hóa bên Trung Quốc đã ra đời). Nhưng hình như các cơ quan quản lí văn hóa nhận định rằng thời gian trên 30 năm qua vẫn chưa đủ để đẩy lùi quá khứ chìm nổi, nên tác phẩm của Hoàng Minh Tường chưa có cơ hội đến tay người đọc rộng rãi hơn. Và, đó là một thiệt thòi cho văn học nước nhà.

NVT

Thursday, October 23, 2008

Tìm đâu ngực nở, chân dài

Trong thời gian gần đây, Bộ Y tế phải đối phó với nhiều vấn đề y tế công cộng, nhưng nhiều biện pháp hay phán quyết mà Bộ đưa ra hay áp dụng đều có vấn đề. Có lẽ chúng ta còn nhớ “vụ Khang Mĩ Đơn”, một loại dược thảo đặt âm đạo sản xuất ở Trung Quốc lại được Bộ xếp vào nhóm “thực phẩm chức năng”!?. Rồi những lí giải khá khôi hài của các quan chức trong Bộ chẳng những không thuyết phục mà còn làm câu chuyện tiếu lâm cho người dân.

Trước vụ Khang Mĩ Đơn là “vụ mắm tôm”. Bộ khăng khăng phán rằng mắm tôm là thủ phạm gây bệnh tả bởi vì mắm tôm hàm chứa vi khuẩn tả cholerae, nhưng xét nghiệm hàng trăm mẫu mắm tôm, chẳng thấy vi khuẩn đâu. Bộ không có một lời xin lỗi doanh nghiệp bị điêu đứng vì lệnh cấm mua bán mắm tôm. Sau mắm tôm là vụ thịt chó bị “kết tội” là nguyên nhân của bệnh tả. Khi hỏi bằng chứng khoa học, Bộ cũng không trưng bày được dữ liệu để làm cơ sở cho phán quyết của mình. Mới đây nhất là vụ melamine, Bộ Y tế lúng túng chưa biết phải làm gì với số sữa có kết quả xét nghiệm dương tính melamine dù chỉ dưới 5 ppm.

Nhưng những ngày tháng cuối năm 2008 này, câu chuyện làm cả nước bàn tán là qui định về thể trạng để cấp giấy phép lái xe gắn máy. Liên quan đến qui định của của Bộ Y tế về việc cấp giấy phép lái xe gắn máy, tiêu chuẩn chiều cao được nhiều người quan tâm nhất. Trong một bài viết trước, tôi đã chỉ ra rằng không có bất cứ một cơ sở khoa học nào để cho rằng những người có chiều cao thấp hơn 145 cm có nguy cơ gây tai nạn giao thông cao hay thấp hơn người có chiều cao trên 145 cm.

Nhưng thật ra, việc căn cứ vào chiều cao chỉ là một tiêu chuẩn gián tiếp; tiêu chuẩn chính là chiều dài của chân. Thật vậy, trong tài liệu “Một số nội dung về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” (có thể xem ở đây), Bộ Y tế viết rõ:

Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học là: Theo thông số kỹ thuật của một số xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ trên 50 cm3 đến dưới 175cm3 , thì chiều cao yên xe trung bình từ 74 cm đến 76cm. Để đảm bảo an toàn giao thông, người điều khiển xe mô tô 2 bánh phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75cm. Mà để có chiều dài của chân từ 75cm trở lên thì người đó phải có chiều cao đứng trên 1m45.”

Lí giải trên đây cho thấy thông số chính để quyết định cấp giấy phép lái xe gắn máy là chiều dài của chân, chứ không phải chiều cao. Cần nhắc lại rằng chiều cao khi đứng (standing height, hay gọi tắt là chiều cao) bằng chiều cao khi ngồi (sitting height) cộng với chiều dài của chân (leg length). Trong 3 chỉ số chiều cao trên, chiều cao khi đứng và chiều cao khi ngồi dễ đo nhất, nhưng trong thực tế có đến 5 phương pháp khác nhau để đo chiều cao khi ngồi, và chưa có phương pháp nào có thể cho là chuẩn cả. Cố nhiên, khi biết chiều cao đứng và chiều cao ngồi, thì chiều dài của chân có thể xác định.

Bộ Y tế lí giải rằng bởi vì chiều cao trung bình của yên xe là 75 cm, cho nên người lái xe cần phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75 cm để đảm bảo an toàn khi lái xe. (Có người nói xe đạp cũng có chiều cao yên xe 75 cm trở lên, vậy có cấm lái xe đạp không?)

Nhưng từ đó, Bộ Y tế đã làm một suy luận khá táo bạo: họ giả định rằng một người phải có chiều cao đứng là 145 cm thì mới có chiều dài chân bằng 75 cm. Nói cách khác, giả định đằng sau phát biểu này là chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (lấy 75 cm chia cho 145 cm).

Tôi có lí do để cho rằng giả định này không đúng với thực tế. Tôi và đồng nghiệp trong nước đã thực hiện một nghiên cứu trên khoảng 300 phụ nữ tuổi 16 trở lên. Những người này không có vấn đề về sức khỏe ảnh hưởng đến thể trạng, và họ được chọn ngẫu nhiên từ các quận ở Hà Nội. Chúng tôi đo lường chiều cao, chiều cao ngồi, và từ đó xác định chiều dài của chân. Kết quả (xem Biểu đồ) cho thấy tính trung bình chiều dài của chân bằng 46% chiều cao, với độ lệch chuẩn là 1,4%. Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu ở người Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, và Đài Loan: tức đúng 46%.

Biểu đồ 1 -- mối tương quan giữa chiều dài của chân (trục tung) và chiều cao (trục hoành) ở 327 phụ nữ trên 16 tuổi. Những điểm chấm màu đỏ là những người có chiều dài chân dưới 75 cm (chiếm khoảng 95% tổng số). Nói cách khác, chỉ có 5% nữ có chiều dài của chân trên 75 cm, tức [theo Bộ Y tế] hội đủ điều kiện lái xe gắn máy trên 50 cc.

Nói cách khác, giả định của Bộ Y tế (51,7%) không đúng với thực tế. Vấn đề giả định sai có ảnh hưởng lớn đến qui định tiêu chuẩn. Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng thông số chính để làm tiêu chuẩn cấp bằng lái xe gắn máy là chiều dài của chân, chứ không phải chiều cao. Bộ Y tế đòi hỏi chiều dài của chân phải trên 75 cm mới được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc.

Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu người Việt có chiều dài chân trên 75 cm? Bởi vì chiều dài của chân bằng 46% chiều cao cơ thể, cho nên một người phải có chiều cao tối thiểu là 163 cm mới có chiều dài của chân bằng 75 cm. Chiều cao trung bình của người nam (trong độ tuổi 16-65) là 163,3 cm và nữ là 153,4 cm. Do đó, số người có chiều cao dưới 163 cm là khoảng 50% nam và 95% nữ. Biểu đồ trên cũng cho thấy ở nữ, chỉ có 5% người có chiều dài của chân trên 75 cm. Nói cách khác, nếu căn cứ vào chiều dài của chân trên 75 cm thì chỉ có khoảng 50% nam và 5% phụ nữ Việt Nam được phép lái xe gắn máy trên 50 cc!

Nhưng tỉ lệ 46% (chiều dài của chân trên chiều cao) chỉ là tỉ lệ trung bình, và tỉ lệ này dao động giữa các cá nhân trong một quần thể, chứ không phải bất biến. Thật vậy, Biểu đồ 1 trên đây cho thấy mối liên hệ giữa chiều cao và chiều dài chân không phải là một mối liên hệ xác định tuyệt đối, tức không phải lúc nào chiều dài của chân bằng chiều cao nhân cho 0,46. Hai người có cùng chiều cao (chẳng hạn như 150 cm), nhưng một người có thể có chiều dài của chân là 65 cm và người kia là 75 cm. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế: không thể căn cứ vào chiều cao mà xác định chiều dài của chân cho một cá nhân.

Ấy thế mà Bộ Y tế căn cứ vào chiều cao để suy luận cho chiều dài của chân cho mỗi cá nhân! Đây là một sự hiểu lầm cơ bản, bởi vì con số trung bình chỉ áp dụng cho một quần thể, chứ không phải cho mỗi cá nhân. Áp dụng một chỉ số trung bình để quyết định cho một cá nhân dễ dẫn đến những quyết định không công bằng cho thành viên trong xã hội.

Ngoài ra, Bộ Y tế còn qui định rằng người có vòng ngực dưới 72 cm cũng không được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc. Qui định này chẳng những thiếu cơ sở khoa học mà còn khó thực hiện. Lí do đơn giản là vòng ngực có mối tương quan với chiều cao: người càng cao vòng ngực càng lớn (và ngược lại). Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi vòng ngực cũng có tương quan với độ tuổi, nhưng hàm số tương quan phức tạp hơn là mối tương quan giữa vòng ngực và chiều cao. Do đó, khó mà dựa vào một giá trị tham chiếu bất biến (như 72 cm) là không hợp lí và thiếu tính khách quan.

Tuy nhiên, Biểu đồ 2 dưới đây cho thấy số phụ nữ chịu ảnh hưởng bởi qui định về vòng ngực không nhiều như chiều dài của chân. Tính trung bình, khoảng 4% nữ trong độ tuổi 16-65 có vòng ngực ngắn hơn 72 cm. Vì không có số liệu cho nam nên tôi không ước tính được có bao nhiêu nam sẽ bị ảnh hưởng bởi qui định của Bộ Y tế.

Biểu đồ 2 -- mối tương quan giữa vòng ngực (trục tung) và chiều cao (trục hoành) ở 327 phụ nữ trên 16 tuổi. Những điểm chấm màu đỏ là những người có vòng ngực 72 cm (chiếm khoảng 4% tổng số). Nói cách khác, có 4% nữ [theo Bộ Y tế] không hội đủ điều kiện lái xe gắn máy trên 50 cc vì vòng ngực “lép”.

Những bàn luận trên đây cho thấy rõ ràng Bộ Y tế đã sai lầm trong giả định về cách tính chiều dài của chân. Sai lầm này dẫn đến sai lầm về qui định chiều cao. Nhưng vấn đề cơ bản hơn là tiền đề của việc dựa vào chiều cao. Câu hỏi đặt ra là: chiều cao có phải là yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông?

Ở nước ta, nghiên cứu của Trường Đại học Giao thông vận tải (công bố trong Hội nghị về giao thông ở vùng Đông Á vào năm 2005) cho thấy những nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông là: lái xe quá tốc độ chiếm 34% tổng số tai nạn, vượt tuyến ẩu và bất cẩn (22%), say xỉn (11%). Nghiên cứu này còn cho biết 50% tai nạn giao thông xảy ra trên các quốc lộ, 31% trên các đường trong các thành phố, và chỉ 12% ở tỉnh lẻ. Cũng cần nói thêm rằng ở nước ta, 81% tai nạn giao thông là do nam giới gây ra.

Nghiên cứu ở Thái Lan (một nước có nhiều đặc điểm giao thông gần ta nhất) cho thấy các yếu tố nhân trắc có liên quan đến tai nạn giao thông là trong độ tuổi 15-19, độc thân, làm nghề buôn bán, lái xe gắn máy, và đặc biệt là nam giới. Thật vậy, công trình nghiên cứu này một lần nữ cho thấy nam giới có xác suất gây tai nạn giao thông cao gấp 2 lần so với nữ giới.

Thật ra, không một nghiên cứu nào cho thấy chiều cao, trọng lượng, hay vòng ngực là yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông. Và, cũng chẳng có nước nào trên thế giới qui định cấp bằng lái xe dựa vào các chỉ số thể trạng này.

Do đó, nhân danh an toàn giao thông bằng cách hạn chế cấp giấy phép lái xe gắn máy dựa vào các chỉ số thể trạng này là không phù hợp với bằng chứng khoa học và gây ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội. Mọi người trong xã hội, kể cả người khuyết tật hay có chiều cao thấp hay cân nặng thấp hay vòng ngực ngắn, đều có quyền bình đẳng tham gia giao thông. Nhà nước cần phải đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người chứ không gây thêm bất công trong việc tham gia giao thông.

Tìm đâu ngực nở, chân dài

Để cho xe máy có ngày thăng hoa


NVT