Sunday, November 30, 2008

Khoa học Việt Nam: cần cả số lượng và chất lượng!

Bác BTL mới viết một bài thú vị trên Diễn Đàn (Chuyện quê nhà), mà Vietnamnet đổi thành “Chấn hưng giáo dục: Chớ để số lượng đè chất lượng”. Không cần đọc qua bài viết tôi nghĩ ai cũng đồng ý với bác BTL là không nên xem nhẹ chất lượng để chạy theo số lượng. Trong bối cảnh trường đại học ở nước ta đang mọc lên như nấm, vấn đề chất lượng được đặt ra quá đúng lúc. Nhưng bài viết lấy câu chuyện số lượng và chất lượng bài báo khoa học để cảnh báo vấn đề số lượng và chất lượng đại học. Tôi e rằng lí giải như thế là thiếu thuyết phục. Thiếu thuyết phục bởi một lí do đơn giản: không có mối liên hệ gì giữa số bài báo khoa học và số trường đại học.

Những trường hợp gian lận khoa học mà bác ấy lấy làm ví dụ về mối liên hệ giữa số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học cũng không thuyết phục. Nếu lấy trường hợp nhà vật lí Jan Hendrik Schön công bố bài báo khoa học như cơm bữa để làm ví dụ về việc chạy theo số lượng mà xem nhẹ chất lượng (gian lận) thì chỉ mới có một mặt. Mặt khác nhà sinh học Hwang Woo-Suk hay William Summerlin (là bác sĩ về da [dermatologist] chứ không phải miễn dịch học như bác BTL viết) là những người không có nhiều bài báo khoa học và thành tích khoa học của họ cũng mõng (Gs Hwang Woo-Suk chưa có đến 30 bài), nhưng họ vẫn gian lận! Nêu ra điều này để biết rằng gian lận trong khoa học không tùy thuộc vào số lượng bài báo khoa học. Số lượng bài báo khoa học không phải là yếu tố giảm chất lượng khoa học. Thật ra, có bằng chứng cho thấy nhà khoa học công bố càng nhiều nói chung cũng chính là những người có nhiều công trình với chất lượng cao!

Tôi nghĩ trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta cần nâng cao cả hai phần số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học. Nâng cao số lượng ấn phẩm khoa học cũng là một cách cải tiến chất lượng khoa học.

Bức tranh lớn

Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn (citations) của những bài báo khoa học. Số lượng bài báo phản ảnh “sản lượng” nghiên cứu khoa học và mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu của một nước. Nhưng số lượng chỉ phản ảnh một phần của tình trạnh hoạt động khoa học, một khía cạnh khác cũng không kém phần quan trọng là chất lượng nghiên cứu khoa học, vốn chưa được quan tâm đúng mức. Gần đây có vài ý kiến cảnh báo không nên quá quan trọng số lượng mà quên phần chất lượng, vì một xu hướng như thế có thể tác động tiêu cực đến khoa học nước nhà.

Quan tâm đến chất lượng nghiên cứu khoa học không phải là một điều mới, nhưng ít ai định nghĩa cụ thể chất lượng là gì. Chất lượng nghiên cứu khoa học là một khái niệm phức tạp, bởi vì nó có liên đới đến ý nghĩa xã hội, triết lí, và đạo đức khoa học. Có người đề nghị hiểu chất lượng khoa học qua hai nghĩa: một bên là “ý nghĩ nội tại” của chuyên ngành, và một bên là “ý nghĩa ngoại tại” chuyên ngành. Đối với những người trực tiếp làm nghiên cứu khoa học chuyên ngành (tức là những người thiết kế và thực hiện công trình nghiên cứu) thì chất lượng của một công trình khoa học là giá trị khoa học của nó. Chất lượng khoa học trong trường hợp này là phản ảnh đánh giá của đồng nghiệp trong chuyên ngành, vá đó chính là ý nghĩa nội tại. Còn ý nghĩa ngoại tại đề cập đến tác động hay ảnh hưởng của công trình nghiên cứu đến xã hội và kinh tế.

Theo khái niệm chất lượng như vừa đề cập, thì việc đo lường chất lượng là một vấn đề rất khó khăn. Cho đến nay, vẫn chưa có một thước đo nào là hoàn hảo cả. tuy nhiên, giới khoa học dễ dàng nhất trí với nhau những thước đo tương đối khách quan là dựa vào chỉ số trích dẫn cho mỗi bài báo khoa học, hay trong trường hợp cá nhân thì thước đo là chỉ số H mà tôi đã có dịp giới thiệu trước đây.

Số lượng

Nước ta hiện nay có 38.217 giảng viên dạy đại học; trong số này có 303 giáo sư, 1805 phó giáo sư, 5643 tiến sĩ. Năm 2008, tổng số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế xuất phát từ Việt Nam là khoảng 910 bài, tức chưa đầy 10% tiềm năng của số lượng giáo sư và tiến sĩ! Ngay cả trong thưc tế có 70% các tiến sĩ giữ chức vụ quản lí cũng không thể nào biện minh được tình trạng yếu kém về năng suất khoa học như vừa trình bày.

Con số ấn phẩm khoa học ở nước ta chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 1/5 của Singapore. Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, 20 năm nữa, con số bài báo khoa học nước ta có thể chỉ 2500 bài, tức chỉ bằng phân nửa con số của Singapore hay 20% thấp hơn Thái Lan của năm 2008.

Tuy nhiên, so sánh tỉ lệ tăng trưởng trong thời gian 2004 đến 2008, năng suất khoa học Việt Nam có chiều hướng tích cực. Con số bài báo khoa học của Việt Nam trong năm 2008 phản ảnh một tỉ lệ tăng trường gần 2 lần so với năm 2004. Trong cùng thời gian này, Thái Lan tăng 78%, Mã Lai tăng 95%, và Singapore tăng 21%. Các nước như Philippines và Insonesia có tỉ lệ tăng trường khoảng 30 đến 40%

Phần lớn các ấn phẩm khoa học của Việt Nam là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Chỉ có khoảng 30% công trình là do tác giả người Việt Nam đứng tên đầu hay chịu trách nhiệm chính. Dù hợp tác khoa học là xu hướng toàn cầu, nhưng sự thật trên cho thấy chúng ta vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào ngoại quốc, và chúng ta có nguy cơ mất quyền làm chủ tri thức liên quan đến khoa học Việt Nam.

Chất lượng

Chẳng những số lượng thấp và chất lượng cũng không cao so với thế giới. Đại đa số các công trình nghiên cứu từ Việt Nam chỉ công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor) thấp, thậm chí những tập san địa phương như của Hàn Quốc và Nhật! Để đánh giá cụ thể chất lượng (vì trích dẫn cần thời gian) tôi chọn những công trình công bố trong thời gian 2000-2001. Có 675 bài báo khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế. Tổng số lần trích dẫn trong thời gian 2001 đến 2006 là 6576 lần ; do đó, chỉ số trích dẫn trung bình là 9,74 lần cho mỗi bài báo.

So sánh với các nước trong vùng cho thấy chỉ số trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so với Thái Lan (9,09), Singapore (9,26), Nam Dương (9,47) và Phi Luật Tân (9,33). Nếu dựa vào chỉ số RCI để đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ số RCI (0,59) cao nhất trong vùng. Ngay cả Trung Quốc hàng năm "sản xuất" trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27.

Tuy chỉ số RCI của Việt Nam cao hơn các nước trong vùng, nhưng vẫn còn quá thấp so với trung bình trên thế giới. Thật vậy, chỉ số RCI = 0,59 của Việt Nam cho biết chất lượng và tầm ảnh hưởng của các nghiên cứu khoa học Việt Nam thấp hơn mức độ trung bình trên thế giới khoảng 40%. Ở các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ và Tây phương, chỉ số RCI thường cao hơn 1 (cao hơn trung bình thế giới).

Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố . Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là "có ảnh hưởng". Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Do đó, nếu tính theo số lần trích dẫn trên 5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan. Tính trung bình, khoảng 42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là cao hơn số trung bình trên thế giới. Các ngành khoa học Việt Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học. Riêng hai ngành toán và kĩ thuật số lần trích dẫn không cao và có thể chẳng có ảnh hưởng gì lớn trên thế giới. Điều đáng quan tâm là 41% các bài báo về kĩ thuật từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố. Nói cách khác, có khá nhiều nghiên cứu từ nước ta hoặc là không được đồng nghiệp quốc tế quan tâm, hoặc không có giá trị đáng kể cho chuyên ngành.

Mối tương quan giữa số lượng và chất lượng

Một thực tế ở nước ta là nhiều trung tâm nghiên cứu và đại học Việt Nam chưa có văn hóa công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Thật vậy, rất nhiều nghiên cứu sinh chưa biết đến công bố quốc tế là gì, bởi vì một phần ngay cả người hướng dẫn luận án cũng chưa từng có kinh nghiệm công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế.

Do đó, chúng ta cần nâng cao số lượng ấn phẩm khoa học và chất lượng nghiên cứu khoa học. Theo tôi, cần phải trước mắt tập trung vào việc nâng cao số lượng trước để tạo một “văn hóa công bố quốc tế” trước, và sau đó là nâng cao chất lượng nghiên cứu.

Câu hỏi đặt ra là nâng cao số lượng có liên quan với chất lượng hay không? Câu trả lời ngắn gọn là: có. Phân tích số và chất lượng công trình nghiên cứu về ung thư của 19 nước Âu Mĩ cho thấy nước nào có nhiều công trình thường là những nước có nghiên cứu chất lượng cao (nhưng không phải tuyệt đối). Ở mức độ cá nhân, phân tích số lượng ấn phẩm của 26 nhà vật lí cấp giáo sư cho thấy người có nhiều ấn phẩm cũng thường là người có chỉ số H cao (xem Biểu đồ dưới đây). Chỉ số H là một thước đo chất lượng nghiên cứu khoa học cho một cá nhân. Các dữ liệu này cho thấy tuy có ngoại lệ, nhưng số lượng ấn phẩm khoa học thường đi song song với chất lượng nghiên cứu khoa học.

Biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa xếp hạng về số lượng ấn phẩm khoa học và chất lượng nghiên cứu khoa học của 19 nước Âu Mĩ (nguồn: Lawani, Scientometrics 1996;9:13-25). Biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa số lượng bài báo và chỉ số H (phản ảnh chất lượng nghiên cứu) của 26 giáo sư vật lí (nguồn: M Schreiber, Ann Phys (Leipzig) 2007;9:640-652).

Thật ra, điều này cũng không khó hiểu. Nghiên cứu khoa học là một quá trình tích lũy kiến thức. Khi sự tích lũy đến mức độ “critical mass” (đầy đủ thực lực) thì mới có thể cho ra một công trình có giá trị lớn. Rất hiếm có, nếu không muốn nói là chưa thấy trong khoa học thực nghiệm, ai đùng một cái cho ra một công trình có giá trị cao mà trước đó chưa bao giờ có công bố. Một nhà khoa học bình thường phải góp mặt trên trường quốc tế một thời gian, phải khởi đầu với những công trình trung bình (nếu không muốn nói là dưới trung bình) một thời gian rồi mới dần dần tìm ra một định hướng mới cho riêng mình và có đóng góp quan trọng.

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học là một đầu tư lâu dài. Nhưng không có nhà tài trợ (trong trường hợp Việt Nam là Nhà nước) cho nghiên cứu phải chờ đến 20 năm để cho nhà khoa học cho ra một công trình có giá trị lớn. Cũng không thể biện minh rằng vì cần có công trình có chất lượng cao nên nhà khoa học không cần công bố những nghiên cứu “tầm thường”, vì nói như thế là ... ngụy biện.

Bác BTL cho rằng nếu tập trung khuyến khích số lượng thì sẽ gây nguy cơ gian lận khoa học. Tôi e rằng ý kiến này thiếu tính thuyết phục. Thật ra, có thể lí giải ngược lại: chính những nhà nghiên cứu có ít bài báo khoa học nên phải cố gắng ngụy tạo số liệu để có công trình có chất lượng. Trường hợp của Hwang Woo-Suk là một ví dụ cho những người chạy theo hào quang bằng ngụy tạo trong khi không có thực lực. mặt khác, những người đã có nhiều công trình (số lượng), thì họ không có nhu cầu ngụy tạo mà cần nâng cao chất lượng khoa học hơn. Nhìn vấn đề theo cách này, số lượng là một động cơ để nâng cao chất lượng. Và, điều này phù hợp với dữ liệu thực tế mà tôi trình bày trên.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy gian lận khoa học và chất lượng khoa học có liên quan với nhau. Khó có thể lấy vài trường hợp gian lận trong khoa học để biện minh rằng không cần số lượng mà chỉ cần chất lượng, vì trong thực tế, gian lận khoa học xảy ra ở bất cứ nơi nào trong bất cứ thời đại nào và ở bất cứ ngành khoa học nào.

Nói tóm lại, trong bối cảnh Việt Nam, tôi nghĩ cần phải khuyến khích để nâng cao số lượng và cải tiến chất lượng nghiên cứu. Tôi cho rằng tập trung vào chất lượng để xem nhẹ số lượng là một xa xỉ trong tình hình hiện nay, trong khi cả hai phần này đều thiếu ở nước ta.

Chàng “lãng tử-kiếm khách”

Bài này có lẽ viết khá đầy đủ về Minh Phụng. Miền Tây, đặc biệt là An Giang và Vĩnh Long, là cái nôi của vọng cổ. Cũng như nhiều nghệ sĩ cải lương khác, Minh Phụng cũng xuất thân bần hàn.

Bài này có nhắc đến một số tuồng nổi tiếng do Minh Phụng diễn thời trước 1975. Tôi đã nghe và xem tất cả. Đúng như nhà báo này nhận xét, hình ảnh của Minh Phụng có lẽ là “kiếm khách lãng tử”. Rất tiếc tôi không còn cái server nào để upload bài Xin một lần yêu nhau do Minh Phụng và Lệ Thủy diễn xuất. Phải nghe bài này để thấy MP hát hay như thế nào.

NVT

http://www.phapluattp.vn/news/van-hoa/view.aspx?news_id=235556

NSƯT Minh Phụng: Chàng “lãng tử-kiếm khách” đã qua đời!

50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu... Trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương.

Sáng 29-11, Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Minh Phụng đã qua đời tại nhà riêng sau khi gia đình cố hết sức giữ gìn những hơi thở sau cùng cho anh trên đường đưa từ Bệnh viện Chợ Rẫy về nhà. Gia đình, đồng nghiệp, khán giả ngậm ngùi tiếc thương anh, mãi nhớ về một nghệ sĩ hào hoa trong hình tượng những “lãng tử-kiếm khách” lay động con tim khán giả...

Vẫn một tâm hồn nghệ sĩ đến phút cuối

Trên chiếc xe ca, người nhà vẫn cố sức bóp bóng hỗ trợ nhịp thở cho nghệ sĩ Minh Phụng nhưng việc ấy chẳng tỏ ra có tác dụng gì. Về đến nhà, anh đã hoàn toàn bất động.

Nghệ sĩ Kiều Tiên òa khóc, nhờ nghệ sĩ Lệ Thủy làm mặt cho chồng như một “tục lệ” trong giới nghệ sĩ. Giữa lúc ruột gan rối bời, thi hài chồng nằm đó, người nhà, bạn bè xúm quanh hỏi lắm chuyện cần, nghệ sĩ Kiều Tiên như giật mình, vội vàng chạy đi kiếm cái đầu tóc giả. Chị thổn thức: “Phải đội vô cho đẹp, ảnh sợ xấu lắm. Ảnh nói mình là nghệ sĩ, lúc nào khán giả cũng nhìn vô mình như tượng trưng cho cái đẹp”. Vừa thoa son, phủ phấn cho thi hài nghệ sĩ Minh Phụng, người bạn diễn ăn ý từng được mệnh danh là cặp đôi Bão biển trên sân khấu Kim Chung với mình, nghệ sĩ Lệ Thủy vừa nói như dỗ dành: “Rồi nè, đẹp rồi nè, ra đi tươi tắn nghe anh!...”.

Nghệ sĩ Kiều Tiên khóc, kể: “Anh Minh Phụng mất lần này một phần vì ảnh là nghệ sĩ, sợ xấu, sợ phải cưa chân. Cách đây nửa tháng, ảnh đau quá, gia đình mới đưa vào Chợ Rẫy. Bác sĩ nói phải cưa chân mới giữ được mạng sống nhưng ảnh không cho. Qua giới thiệu, gia đình đưa ảnh qua Bệnh viện Đại học Y Dược để một bác sĩ từ Pháp về chạy chữa theo cách khác. Mấy ngày gần đây ảnh đau quá, hôn mê, gia đình lại đưa ảnh vào Chợ Rẫy, quyết định cưa bớt một khúc chân bị hoại tử vì suy tim, suy thận để giữ mạng sống cho ảnh mà ảnh vẫn không qua khỏi. Ảnh đâu có muốn chết, ảnh vẫn mang tâm nguyện được sống thêm hai năm nữa để nhìn đứa con trai út lấy vợ mà...”.

Thẫn thờ, nghệ sĩ Lệ Thủy cho biết cách nay 10 ngày, khi chị vào thăm, nghệ sĩ Minh Phụng vẫn còn rất tỉnh táo. Anh vẫn đau đáu chuyện ca diễn, gặp gỡ khán giả. Anh hăng hái bàn tính với chị Tết này sẽ diễn nguyên tuồng Xin một lần yêu nhau. Anh nói lúc đang trên giường bệnh: “Tôi sẽ hát đến hơi thở cuối cùng. Căn bệnh suy thận hiện nay buộc tôi phải ba ngày trong tuần đến bệnh viện chạy thận nhưng tôi vẫn hết sức lạc quan vì bên tôi vẫn còn đồng nghiệp, khán giả yêu mến mình”.

Và thật, đúng là anh đã hát đến hơi thở sau cùng. Đêm 1-11, trong cơn đau nhức hành hạ, anh vẫn ra sân khấu tham gia live show của nghệ sĩ Ngọc Đáng. Đây là hình ảnh cuối cùng, tuyệt đẹp của anh để lại cho sân khấu cải lương. Còn năm 2005, khi vừa từ cõi chết trở về sau một lần thay tim, còn khá yếu, anh vẫn sóng đôi cùng các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy trên sàn diễn tạo nên những khoảnh khắc vừa mong chờ vừa thỏa lòng người xem...


Hình Minh Phụng chụp hôm 1/11/08 trong đêm nhạc của nghệ sĩ Ngọc Đáng

Nhớ mãi “áo vũ cơ hàn”...

Trong lòng khán giả cải lương hằng bao thế hệ, vở tuồng Tâm sự loài chim biển đã trở nên vô cùng quen thuộc. Thậm chí nhiều người còn có thể ngân nga một vài câu vọng cổ mô tả ngạo khí ngang tàng của một tay kiếm khách nghèo lang bạt nhưng trọng nghĩa, trọng tình có cái tên “Áo vũ cơ hàn”.

Sở dĩ “Áo vũ cơ hàn” có sức sống như thế là nhờ công không nhỏ của nghệ sĩ Minh Phụng. Anh đã thể hiện nhân vật bằng một giọng ca vừa khí khái, vừa u buồn, vừa tha thiết khiến người nghe rất dễ nhập tâm và dễ cảm. Và dĩ nhiên, trong cái dễ cảm, dễ nhớ của những nhân vật lãng tử-kiếm khách không thể thiếu sự hào hoa cùng những mối tình ngang trái. Minh Phụng thường rất thành công trong những vai diễn như thế với một vóc dáng sân khấu sáng đẹp, giọng ca hay trời phú và khả năng diễn được xem là vượt trội so với những nghệ sĩ được xếp hạng là “đào - kép ca” (khác đào - kép diễn) như anh.

Bây giờ những “Áo vũ cơ hàn” trong Tâm sự loài chim biển, Âu Thiên Vũ trong Xin một lần yêu nhau, Mộ Dung Thạch - Kiếp nào có yêu nhau, Trần Tự Tâm - Máu nhuộm sân chùa, hay một Mẫn Vân Lâu - Mùa thu lá bay mang nét lãng tử phong trần, si tình của nghệ sĩ Minh Phụng vẫn sống mãi cùng khán giả. Và bởi các nhân vật của nghệ sĩ Minh Phụng dễ nhớ, dễ cảm quá nên khi nghe ông sức khỏe suy kém, cần thay thận vào năm 2005, đã từng có một người hâm mộ tình nguyện tặng cho ông quả thận của mình...

Vinh quang đến từ cơ cực

Nghệ sĩ Minh Phụng sinh năm 1944 tại Chợ Gạo, Tiền Giang với tên thật là Ngô Văn Thiệu, còn tên khai sinh sau này là Nguyễn Văn Hoài.

Tuổi thơ cậu bé Thiệu trôi qua khốn khó trong gia đình có 10 người con. Từ bảy tuổi, hàng ngày cậu bé đã phải dậy từ 4 giờ sáng để phụ mẹ dọn gánh hàng nhỏ ra chợ bán. Còn nghề chính của Thiệu sau giờ đến trường là bán đậu phộng rang, chuối chiên giúp gia đình. Tuổi thiếu niên, nhờ giọng ca hay, Thiệu được nhạc sĩ Hương Huyền giới thiệu vào gánh hát Tân Đô và được ông bầu đặt nghệ danh là Tân Tiến.

Vai diễn đầu tiên của anh “kép con” Tân Tiến lại là vai một nhà sư già trong vở Bến tang thương. 17 tuổi, kép Tân Tiến đổi tên thành Minh Phụng ghép từ hai cái tên “Minh” và “Phụng” của con một người bạn thân. Từ đó, cuộc đời nghệ sĩ Minh Phụng trôi nổi hơn 10 năm qua hàng chục đoàn hát lớn, nhỏ với đủ dạng vai và cả cái nghề nhắc tuồng để kiếm sống.

Sự gian khổ và lòng kiên trì đã tôi luyện anh kép trẻ ngày một sáng giá hơn để lọt vào mắt các ký giả kịch trường. Từ những năm 1968, cái tên Minh Phụng bắt đầu được báo chí nhắc đến trên sân khấu Thủ Đô. Sau đó, được đoàn Kim Chung mời ký hợp đồng, cũng là lúc giọng ca chín muồi, nét diễn trở nên sắc sảo, từ cơ cực, nghệ sĩ Minh Phụng bắt đầu đón nhận vinh quang của một ngôi sao sân khấu. Cái tên của anh sánh cùng tên những cô đào hạng nhất thời bấy giờ như Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ... từ lĩnh vực băng đĩa ra đến sân khấu. 50 năm qua, cái tên Minh Phụng đã in đậm trong lòng khán giả mộ điệu...

NSƯT Minh Phụng mất lúc 7 giờ sáng 29-11. Nhập quan lúc 15 giờ ngày 29-11. Tang lễ được tổ chức tại nhà riêng, số 791/7D Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, TP.HCM. Lễ động quan lúc 6 giờ sáng 6-12, đưa đi an táng tại chùa Nghệ sĩ, TP.HCM.

Saturday, November 29, 2008

Minh Phụng

Hôm nay đọc một tin buồn: nghệ sĩ Minh Phụng qua đời. Theo báo chí thì MP sinh năm 1945, tức thọ 64 tuổi ta. So với tuổi thọ của người Việt Nam ngày nay, có thể nói sự ra đi của MP là sớm.

Có lần tôi viết rằng mỗi người Việt mình đều có một “cái quê” trong người, bởi vì suy cho cùng không ai mà không xuất phát từ quê. Với tôi, “quê” là cái làng nhỏ tí tẹo mà mình lớn lên. Mà, ở dưới quê thì không thể nào “thoát” khỏi âm hưởng vọng cổ được. Ở quê tôi, nhà cửa thường cất ven sông, nhà tôi bên này sông, còn nhà hàng xóm thì bên kia sông. Tôi còn nhớ hồi đó, trưa trưa là nhà hàng xóm mở radio để nghe vọng cổ, họ mở âm lượng lớn lắm, đến nổi tôi ở bên này mà cứ mồng một. Cái làn điệu vọng cổ đó nó đi vào mình chẳng biết từ lúc nào và trở thành một hành trang trong cuộc đời của mình.

Hồi xưa khi đi học trên tỉnh thành, tôi không dám nói mình thích vọng cổ vì sợ đám bạn nó chê mình là “dân cải lương”, và hai tiếng cải lương hồi đó đồng nghĩa với cái gì lạc hậu, quê mùa, hay nói như thời nay là “Hai Lúa”. Nhưng lớn lên tôi mới biết đó chính là làn điệu của mình, của dân tộc mình, thì hà cớ gì mình không tự hào mà lại dấu diếm. Tân nhạc là của người ta mình chỉ bắt chước mà thôi, mà bắt chước thì ngàn đời anh vẫn đi sau người ta. Thành ra, bây giờ tôi có thể ngẩng đầu cao nói: tôi thích cải lương, tôi thích vọng cổ.

Một trong những tiếng hát cải lương làm tôi mê hoặc là tiếng hát của Minh Phụng. Tiếng hát trong veo đó không thể nhầm lẫn với bất cứ tiếng hát nào đã chinh phục biết bao nhiêu người trong quê như tôi. Sau này vẫn có nhiều người bắt chước tiếng hát của MP, nhưng bắt chước thì làm sao bằng “bản gốc” được. Ngay cả sau này ra hải ngoại tôi vẫn sưu tầm mấy bài trước 75 của MP, và nay cũng có cả một kho cải lương.

Minh Phụng đương nhiên là một trong những giọng ca vàng của thập niên vàng của cải lương thời trước 1975. Tuy không phải là vua vọng cổ như Út Trà Ôn (không ai thay thế được ông này), nhưng Minh Phụng chắc chắn được rất rất nhiều người hâm mộ qua những tuồng cải lương nối tiếng một thời như Áo Vũ Cơ Hàn chẳng hạn. Hồi còn nhỏ thấy mấy kép diễn cải lương rất oai phong lẫm liệt, tay cầm kiếm, mặc quần áo như tướng như vua, rồi lại còn bay qua bay lại, tôi có thời mơ mình được … bay.

Hôm nay, thấy một người tài ra đi, tôi không khỏi ngậm ngùi cho tương lai của nghệ thuật cải lương ở nước ta. Thời bây giờ ít người trẻ -- có nhưng mà ít – đi xem cải lương. Nhiều nghệ sĩ than là không biết cải lương sẽ sống được bao lâu nữa, vì những nghệ sĩ vàng lần lượt ra đi hay sắp ra đi. Tôi thì theo thuyết “hết xuống lại lên”, tôi nghĩ cải lương sẽ có ngày cất cánh sau khi kinh tế ta khá lên và đời sống người dân ổn định. Đến lúc đó thì chắc Minh Phụng ở suối vàng có thể mỉm cười thấy hậu duệ của mình duy trì nền nghệ thuật dân tộc và rất độc đáo này.

NVT

http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n49/minhPhung.html

Minh Phụng

Tiểu Minh Tinh

Có ai đã từng nói “Nhân tài hay có những dĩ vãng phi thường”. “Dĩ vãng phi thường” ở đây không phải theo nghĩa người đó được may mắn sinh ra trong một gia đình quyền thế, dư thừa điều kiện theo đuổi tới cùng mọi đam mê, mà ngược lại, trong tận cùng của hố thẳm đen tối tương lai, họ vẫn miệt mài vươn tới mỗi ngày bằng tấm lòng đam mê và những giọt mồ hôi tập luyện khổ nhọc. Có lúc phải trả bằng vết bầm, bằng huyết lệ cho niềm khao khát của chính mình. Bị đánh, bị đập... vì không tiền mua được một tấm vé vào xem những tài năng, những thần tượng của mình, đành phải leo tường, xé rào... để được nhìn tận mặt, học từng lối nói, cách diễn, hoặc được nhìn chỉ một nụ cười của thần tượng đó ngoài đời thường.

Cậu bé Nguyễn Văn Hoài (nghệ sĩ Minh Phụng sau này) cũng bắt đầu từ những khởi điểm đơn độc đó. Nhà nghèo với mười anh chị em, ban ngày đi học, bốn giờ sáng phải dậy để ra chợ bán cá, bán khóm, bán bánh mì phụ đỡ Mẹ hiền. Nghề gì cực khổ nhất cậu bé cũng đã trải qua. Có khi sáng dậy tới trường Trương Công Định trễ, bị thầy giáo bắt quỳ dưới cột cờ, nước mắt chan hòa. Mỗi chiều đi học về, cậu bé còn phải đi bán phụ thêm đậu rang, bánh chuối... Thấy nhóm người nào họp lại hát ca cải lương tài tử, đàn địch um xùm là cậu buông mọi thứ để chúi người vào thưởng thức. Thấy thằng bé mặt mày đẹp trai, ngoan ngoãn… nhiều bác, nhiều chú cho vào ngồi ké nghe. Oâi tiếng đàn bầu, đàn kìm nghe ảo não nhưng tình tự làm sao. Và khi tiếng vọng cổ của chú Tư Xuân hàng xóm cất lên rồi dứt, cậu cùng bà con trong xóm vỗ tay rầm rầm. Cậu bé Hoài còn giỏi về ca tân nhạc. Lúc đó là thời của nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết với Trăng Rụng Xuống Cầu, Khúc Ca Ngày Mùa… được giới bình dân hát nguyên bản, hát đổi lời... ở mọi nơi mọi chỗ. Hoài hát giỏi, mặt duyên dáng… nên mỗi lần hàng xóm tổ chức “hùn” ăn cháo gà rồi sau đó trống kèn ca hát, cậu bé lúc nào cũng được mời trước nhất. Nhớ nhất là những ngày bán ế, người chung quanh biết tài hát hay của Hoài bèn nói “Mày hát đi, hát rồi tụi tao mua cho”. Thế là hát, và bán được thêm hàng.
Hoài có khiếu về nhạc, chỉ mười ba tuổi, nghe trên đài phát thanh nhà kế bên, cậu bé thuộc hết mấy bài ca của Thanh Hải, Hữu Phước hoặc của Uùt Bạch Lan, Uùt Trà Oân, các bài Gánh chè khuya, Tình anh bán chiếu, Tấn Quỳnh khóc bạn, Em bé bán trà... Cậu bé thuộc từng lời từng chữ bài ca nhuyễn nhừ hơn cả bài học hàng ngày. Những ngày trong trường Nguyễn Đình Chiểu của thành phố Mỹ Tho sắp nghỉ lễ, thầy giáo tổ chức văn nghệ ca hát giữa các em trong lớp với nhau, lúc nào Nguyễn Văn Hoài cũng là người đầu tiên được mọi người đề cử lên hát. Lúc này, buổi chiều đi học về, Hoài tranh thủ chạy ra sân banh quần vợt làm thêm nghề lượm banh, vì kiếm thêm tiền một phần, nhưng chính là để nhìn tận mặt cầu thủ kiêm danh ca Hữu Phước xách vợt vào sân. Thời đó, đầu thập niên 60, những tên tuổi Uùt Trà Oân, Hữu Phước... là những tên tuổi thần tượng lẫy lừng trong lòng cậu bé Hoài, và nếu được có cơ hội gặp gỡ ngoài đời dù chỉ là giây phút, quả là một hạnh phúc vô bờ.

Trong suốt thời gian được góp mặt, góp tiếng đó đây… cậu bé Nguyễn Văn Hoài may mắn quen được soạn giả Hương Huyền. Nhân cơ hội đoàn Tân Đô đang tập tuồng ở đình Điều Hòa, cậu ngỏ ý đi theo đoàn hát. Sau khi nhìn sắc vóc, diện mạo lẫn thử tiếng ca... soạn giả Hương Huyền vui vẻ đưa Anh đến gặp ngay ông bầu Công Tạo. May mà lúc này đoàn Tân Đô đang tập tuồng Bến Tang Thương cần vai một ông sư. Vai nhà sư này Anh không thích lắm nhưng miễn sao được lên sân khấu là hạnh phúc lắm rồi. Và buổi diễn đầu tiên của “nhà sư” Minh Phụng với vở Bến Tang Thương, Anh còn nhớ như in là tại rạp Viễn Trường (Mỹ Tho) năm 1962, lúc Anh vừa tròn 17 tuổi. Lúc đó, Anh đang quen với người bạn gái rất dễ thương, để lấy lòng nàng, Anh đặt nghệ danh đi hát cho mình bằng tên hai đứa cháu của cô bạn gái. Một người tên Minh, một kẻ tên Phụng... từ đó nghệ danh Minh Phụng theo Anh suốt 43 năm trời dài đăng đẳng.

Sau Tân Đô, cuộc đời đưa đẩy Minh Phụng đến với những đoàn hát nhỏ khác như Hoa Thảo – Hậu Tấn, rồi đoàn Thanh Phương. Phút giây Anh không thể nào quên với đoàn Thanh Phương là khi được giao vai chánh – dũng sĩ Ai Dũng Phương – một chàng trai Ai Cập – trong vở tuồng Bên Cầu Định Mệnh. Giọng ca lanh lảnh cao vút và nét đẹp trai của kép mùi Minh Phụng đã thu hút người đến xem tuồng này mỗi đêm càng nhiều.

Đầu năm 1964, Minh Phụng luân lưu về đoàn Quốc Việt, và thời gian ở đoàn này, Anh đã quen và yêu thầm cô đào hát Kiều Tiên. Có một cây viết văn nghệ kịch trường thuật lại sự kiện này như sau: “Hồi tuổi 20, tánh Minh Phụng nhút nhát, chỉ lén nhìn Kiều Tiên diễn trên sân khấu, vì Anh chuyên đóng vai lão, còn chị đóng vai đào; giỏi lắm chỉ dám hỏi thăm chuyện gia đình hoặc bàn bạc về vai diễn. Mưa dầm thấm lâu, tình yêu bén rễ. Năm đó chị 17 tuổi, tóc để ngang vai, nụ cười xinh xắn, nét mặt hồn nhiên… Minh Phụng yêu Kiều Tiên bởi tính thông minh, học đâu nhớ đó, thầy tuồng chỉ nói qua một lần là chị làm được. Đến cuối năm 1964, Anh được gánh đại bang Thủ Đô của ông bầu Ba Bảng mời về hát. Đối với một kép hát vô danh như Minh Phụng lúc đó, được bầu gánh đại bang mời là niềm tự hào. Không dám báo cho ai biết, vì nếu bầu của đoàn Quốc Việt biết sẽ làm khó làm dễ, anh lén trốn đi. Hôm đưa tiễn gặp nhau, Kiều Tiên khóc thật nhiều khi nghe anh hứa chừng nào nổi tiếng anh sẽ về cưới chị. Nhưng rồi lời hẹn thề giống như một cơn mưa. Những năm tháng phấn đấu với nghề hát, Minh Phụng đã có một mối tình khác trong khi chị Kiều Tiên vẫn ở vậy. Lúc đó, Anh không giấu được tâm hồn xao động mỗi khi có người nhắc đến Kiều Tiên, song hoàn cảnh và duyên số đã cuốn Anh đi đến cuộc hôn nhân với một người nghệ sĩ khác, và có 3 mặt con với cuộc tình này”.

Đến cuối năm 1964, sau khi rời đoàn Quốc Việt, một bước nhảy vọt khá xa khi tên tuổi kép Minh Phụng lọt vào mắt ông bầu Ba Bảng – chủ nhân đoàn Thủ Đô, một đại ban nổi tiếng ai ai cũng biết. Chỉ cần xuất hiện vài đêm trong vai chánh những vở Sầu Quan Aûi, Hoa Chiều Hương Muộn, Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, Mây Trôi Về Phương Cũ... tên tuổi Minh Phụng lên như diều gặp gió. Và tất nhiên, Anh sẽ là đích nhắm trên đường tìm tòi các tài năng của các ông bà bầu uy tín nhất lúc bấy giờ của các sân khấu cải lương miền Nam.

Thời điểm đó, đoàn Kim Chung của bầu Long tạo dựng được 5 đoàn, vừa hát ở Sài Gòn, vừa đi trình diễn ở các tỉnh miền Nam và Trung. Chỉ cần nhìn thấy sắc diện, và nghe làn hơi cao vút của Minh Phụng, không cần suy nghĩ, bầu Long đã hạ bút ký một hợp đồng dài hạn cho Anh. Các vai chánh đều giao cho Anh, và lần lượt Minh Phụng sánh vai cùng những người bạn diễn rất nổi tiếng như Uùt Bạch Lan (tuồng Trinh Tiết Một Loài Hoa), Mỹ Châu (Bích Vân Cung Kỳ Aùn), Diệu Hiền... và đến thời điểm 1970, khi đóng cặp với Lệ Thủy trong những vở Xin Một Lần Yêu Nhau, Kiếp Nào Có Yêu Nhau... tên tuổi Minh Phụng đã ở trên một đỉnh cao chót vót của nghệ thuật.
Trên mười năm làm mưa làm gió ở các sân khấu cải lương miền Nam, Minh Phụng đã tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trong các vở tuồng hương xa như Xin Một Lần Yêu Nhau, Hỏa Sơn Thần Nữ, Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Băng Tuyền Nữ Chúa… mà ấn tượng nhất là vai “Aùo Vũ Cơ Hàn” trong vở Tâm Sự Loài Chim Biển của soạn giả Yên Lang.

Năm 1976, mái ấm gia đình Minh Phụng tan rã bởi một vài biến cố cuộc đời. Minh Phụng tham gia đoàn Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An, soạn giả của những vở tuồng nổi tiếng Con Cò Trắng, Gánh Cỏ Sông Hàn… Thời gian này, Kiều Tiên cũng tình cờ được mời về gánh hát này và đến cuối năm 1977, hai người mới chính thức chung sống với nhau, và hơn một năm sau, bé Y Phụng ra đời.

Tính đến nay, đã suốt 43 năm rong ruổi trên con đường nghệ thuật miệt mài… để đánh dấu những kỷ niệm ân tình của tiếng hát Minh Phụng với khán thính giả hải ngoại, một đêm cải lương thật giá trị với sự góp mặt của các tài danh sân khấu cổ nhạc như Tài Linh, Cẩm Tiên, Châu Thanh, Tuấn Châu, Kiều Tiên… đặc biệt là sự xuất hiện bất ngờ của ngôi sao “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết cùng với Minh Phụng trong một trích đoạn ấn tượng bao lâu nay có tên Mùa Thu Lá Bay vào đúng 6 giờ chiều, Chủ Nhật ngày 11 tháng 12 năm 2005, tại nhà hàng Seafood Kingdom. Phần điều khiển chương trình sẽ do MC Trần Quốc Bảo và Anh Lê Bá Chư phụ trách.

Friday, November 28, 2008

Thí nghiệm mì ăn liền?

Một giáo sư ở Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội làm một thí nghiệm “thú vị”: họ ngâm trái đu đủ xanh vào nước dung dịch, tiêm dung dịch vào cuống, bôi đều lên vỏ quả. Sau 17 giờ đồng hồ ngâm, tiêm, bôi qua dung dịch có pha thuốc “thúc chín tố”, quả đu đủ không có biến đổi gì đáng kể. Vị giáo sư hóa kết luận: “Dùng với liều lượng vừa phải thì không có vấn đề gì” và đề nghị cơ quan chức năng “đưa ra quy trình sử dụng” đối với loại thuốc này.

Thí nghiệm này nhằm mục đích “phản nghiệm” một bài báo tường thuật rằng đu đủ, chuối ở đây đều sử dụng loại thuốc làm chín hoa quả. Sau khi thu mua về họ mang về nhúng vào một thùng nước đã pha sẵn thuốc, sau đó xếp gọn gàng lại và phủ nilon hoặc bì tải, sáng hôm sau là có quả chín vàng.

Tôi rất ngạc nhiên với một thí nghiệm đơn giản như thế mà đã đi đến đề nghị! Chưa biết qui trình thí nghiệm được thiết kế như thế nào, dung dịch với hóa chất gì và liều lượng bao nhiêu, quả được bảo quản trong điều kiện nào, và đánh giá kết quả “biến đổi” như thế nào … Nói chung các chi tiết về kĩ thuật hoàn toàn không được mô tả cho đáng tin cậy mà đã đi đến kết luận sớm quá! Thật là nguy hiểm!

Không ai làm thí nghiệm mà không lặp lại vài lần (repeatibility), và mỗi lần không ai làm thí nghiệm chỉ trên một quả hay trái cây (sample size). Thật là ngạc nhiên khi thấy một thí nghiệm giống như mì ăn liền như thế lại được báo chí nhắc đến. Có lẽ đó cũng là một tín hiệu về nền khoa học nước ta.

NVT

Thursday, November 27, 2008

Những bài học qua một lần đề bạt

Thành thật cám ơn các bạn xa gần, đã quen và chưa quen, đã gặp và sẽ gặp, có lời chức mừng về chuyện đề bạt. Tôi xem lần đề bạt như là một cái mốc quan trọng trong cuộc đời khoa bảng của mình. Nhớ lại những ngày mới lên trại tị nạn Songkhla, mặt mài ngơ ngác, hoảng sợ sau một lần vượt biển (hay nói đúng hơn là vượt qua cái chết), chẳng biết tương lai sẽ đi đến đâu hay phải làm gì, rồi đến những ngày gian nan làm phụ bếp, lặt rau, rửa chén trong bệnh viện, cho đến ngày hôm nay là một quãng đường dài. Trong quãng đường đó, tôi chịu ơn không biết bao nhiêu người, và hôm nay cũng là dịp để tri ân những người mà tôi từng quen biết và chịu ơn. Tôi muốn kể lại câu chuyện và tự mình rút ra vài bài học cá nhân để các bạn đọc nhân ngày cuối tuần này …

Hai tuần trước, sau khi đi phó hội về thì tình cờ gặp sếp JS, Viện trưởng, ngay tại tiền sảnh của Viện. Dù chúng tôi làm chung một tòa nhà nhưng ít khi nào gặp nhau và càng ít trao đổi nhau, vì mỗi người bận bịu chuyện của mình. Sếp kéo tôi sang một bên rồi nói: “Mọi chuyện xong hết rồi, chỉ chờ thông báo chính thức thôi”. “Mọi chuyện” ở đây có nghĩa là những thủ tục liên quan đến việc đề bạt lên chức professor của tôi. Sếp JS bắt tay tôi và cho biết ông ta vừa mới nhận điện thoại của sếp PS (khoa trưởng y khoa Đại học NSW) cho biết về kết quả đề bạt như là một tin mừng cho tôi. Nhưng “xong” là xong ở cấp Hội đồng Bình duyệt thôi, vì đơn vẫn phải được phê chuẩn bởi Hội đồng Khoa bảng (Academic Board) của trường UNSW. Nói chung, Hội đồng Khoa bảng ít khi nào bác bỏ đề nghị của Hội đồng Bình duyệt.

Hôm nay (27/11/08) là ngày Hội đồng Khoa bảng của trưởng UNSW họp để phê chuẩn danh sách đề bạt các giáo sư, phó giáo sư và giảng viên. Họ họp suốt ngày. Nhưng đến trưa thì tôi nhận được điện thoại của khoa trưởng y khoa là PS. Dù biết kết quả từ 2 tuần trước, nhưng tôi vẫn thấy … hồi hộp. Ông PS, vẫn theo thói quen tự thuở nào, không vào đề ngay, mà nói dong dài là ông ta vừa mới tham dự buổi họp cuối năm của Hội đồng Khoa bảng ra, đơn tôi đã được duyệt qua, và đơn đề bạt của tôi đã “successful”, rồi nói lời chúc mừng. (Nếu tôi là ông, tôi sẽ nói kết quả trước cho người ta yên lòng, và sau đó sẽ dong dài chuyện thủ tục). Ông ta còn dặn tôi là có thể thông báo cho sếp JS biết, nhưng yêu cầu Viện Garvan không công bố trên phương tiện thông tin đại chúng cho đến khi trường UNSW chính thức ra thông báo vào ngày mai hay chậm nhất là ngày thứ Hai tuần tới. Trước tin vui đó, tôi biết nói gì hơn là cám ơn sếp đã ủng hộ mình. Ông ấy cười ha hả trong điện thoại (tôi chưa bao giờ nghe sếp cười kiểu này) rồi nhắc lại câu nói trước kia: tao đã nói ok thì sẽ ok mà; thôi bây giờ tao phải vào họp tiếp, mày phải làm việc tốt hơn nữa cho trường, ok?

Tôi có email cho một người bạn trong nước rằng nghe tin này cảm giác tôi như lúc nghe tin thi đậu đệ thất hồi xửa hồi xưa vậy. Câu chuyện đời của tôi có những khúc quanh có thể giải thích tại sao tôi không quan trọng hóa cái chức danh khoa bảng này ...

Năm 1998, tôi được bổ nhiệm chức danh associate professor of medicine thuộc một trường y bên Mĩ. Năm 2000, tôi quay về Úc thì bị “ném” về Bệnh viện Liverpool như là một hình phạt, và phải “trụ trì” ở đó một năm trước khi quay lại với Viện Garvan vào năm 2001. Lúc trở về Garvan, Đại học New South Wales (UNSW) phong cho tôi chức senior lecturer. Tôi không chịu nhận chức danh này vì tôi nói đã là associate professor bên Mĩ rồi. Nhưng UNSW cho rằng cái chức associate professor bên ấy chỉ tương đương với senior lecturer bên Úc mà thôi (1), và còn lên lớp giảng rằng tôi không nên tự ái về chuyện này. Điều khôi hài là họ làm như tôi không biết gì về hệ thống khoa bảng vậy! Tôi vẫn không chịu nhận, bởi vì tôi nghĩ rằng nhận chức danh này có nghĩa là mình chấp nhận một bước lùi, và quan trọng hơn, đứng về mặt “track record” tôi đã hơn gấp 2 lần vị trí associate professor và có thể nói là thừa so với chức professor. (Lúc đó tôi đã có gần 100 bài báo khoa học trên các tập san hàng đầu trong ngành y chứ chẳng riêng gì ngành nội tiết, và chỉ số H của tôi cũng cao hơn con số 20). Tôi chịu ảnh hưởng thuyết quân tử, thà không có chức danh chứ nhất định tên Mít này không chịu “lép vế” -- tôi nghĩ thế. Đến năm 2004, sếp tôi khuyên xin chức danh để hợp thức hóa vài việc làm, tôi đệ đơn và được tiến phong chức associate professor tại UNSW. Hai năm sai tôi định xin tiếp full professor thì họ nói chưa đủ thời gian, phải “phấn đấu” chờ vài năm nữa. Nay thì thời gian đó đã đến và tôi lại xin đề bạt chức professor. Nhưng trước đó tôi đã được Hội đồng nghiên cứu y tế và y khoa quốc gia (National Health and Medical Research Council – NHMRC) bổ nhiệm làm senior research fellow, một “cái ghế” rất khó có được so với chức danh professor, cho nên lần này tuy vui thật nhưng tôi không có gì phải quá quan trọng hóa.

Nếu không quan trọng thì tại sao tôi tốn công làm thủ tục -- tôi nghe bạn đọc hỏi. Tôi làm là vì 2 lí do: lí do thứ nhất là tôi cần phải có một appointment với trường để nhận nghiên cứu sinh chính thức qua trường. Thật ra, tôi có chức vụ với 3 trường (trường y lâm sàng St Vincent’s, trường y tế cộng đồng, và trường y học – medical science), nhưng chẳng có trường nào trả lương; họ chỉ để tên mình làm “hoa lá cành” trong báo cáo cuối năm, và bù lại tôi có quyền nói mình là người của họ! Lí do thứ hai là tôi muốn việc làm của mình được ghi nhận một cách chính thức. Tôi xem mấy chức danh này là một cách ghi nhận đóng góp của mình cho quê hương thứ hai. Ở đây (và ở đâu chắc cũng thế) có cơ chế xin và cho. Muốn được ghi nhận hay công nhận thì phải “xin”, rồi người ta xét duyệt nếu thấy ok thì sẽ “cho”. Không có chuyện người ta tự dưng gõ cửa phòng mình và cho một chức danh hay giải thưởng nào cả.

Bây giờ là thời điểm tôi có thể ngồi xuống, suy nghiệm về những việc mình đã kinh qua, để có thể chia sẻ kinh nghiệm với những người đi sau. Từ ngày bị một người đồng hương trong trại tị nạn từ chối giúp đỡ, tôi nguyện với lòng là sẽ không dấu diếm gì cả, biết cái gì thì mách bảo cho người đi sau biết. Qua vài lần đề bạt và một lần được trao chức danh NHMRC senior fellow tôi đã rút ra nhiều bài học, nhiều kinh nghiệm mà tôi nghĩ mình có thể “truyền” lại cho người đi sau.

Hôm trước, tôi đã viết về những qui trình và bài học về đề bạt, về tiêu chuẩn cụ thể và qui trình đề bạt. Do đó, lần này tôi không đề cập đến những khía cạnh đó nữa, mà chỉ tập trung mách bảo các bạn vài bài học cá nhân. Tôi phải nhấn mạnh đây chỉ là những kinh nghiệm cá nhân. Nhưng tôi nghĩ những kinh nghiệm này cũng có thể giúp ích cho các nhà quản lí khoa học và đại học trong nước trong việc tham khảo để đi đến một hệ thống hoàn thiện hơn trong việc đề bạt các chức danh khoa bảng ở nước ta.

Mít-tinh với khoa trưởng và chuẩn bị

Chuyện đề bạt khoa bảng là chuyện tương đối quan trọng, và đòi hỏi phải đầu tư về sức lực và trí não. Mỗi lần làm thủ tục đề bạt tốn khá nhiều thì giờ để chuẩn bị đơn từ, hồ sơ, và thậm chí phải đi tập huấn những khóa chuyên dạy cách trả lời phỏng vấn nữa. Lần trước, tôi phải tốn cả 6 tháng trời để chuẩn bị cho việc xin chức danh NHMRC senior fellow. Năm nay thì do kinh nghiệm lần trước, nên tôi không tiêu ra nhiều thời gian nữa, mà chỉ hoàn thiện và học hỏi thêm một số “thủ thuật” trong việc trình bày đơn đề bạt và cách trả lời phỏng vấn.

Mỗi năm, UNSW đề ra những thời điểm cụ thể để ứng viên chuẩn bị. Mỗi chức danh có một thời điểm riêng. Trong trường hợp năm nay, với chức vụ professor, UNSW công bố chính sách đề bạt vào tháng 2/2008, ứng viên phải chuẩn bị vào tháng 6, nộp đơn và hồ sơ vào tháng 7, tập huấn vào tháng 8, phỏng vấn vào tháng 10, và công bố kết quả vào ngày 27/11. Theo qui định trên giấy tờ là thế, nhưng trong thực tế thì ứng viên đã biết kết quả từ tháng 10 (sau khi phỏng vấn), và đó cũng là trường hợp của tôi.

Năm nay, UNSW có một vài thay đổi nhỏ trong qui trình đề bạt. Một trong những qui trình đó là tôi phải “hội kiến” với khoa trưởng (dean) y khoa trước khi đệ đơn. Chỉ khi nào khoa trưởng “bật đèn xanh” thì tôi mới làm thủ tục đề bạt. Đây là một bước sàng lọc do khoa y đặt ra, chứ không hẳn là qui trình chung. Sở dĩ có bước này là vì ông khoa trưởng không muốn “tá tướng” của khoa mình thất bại trong việc tiến phong, nên muốn xem qua bề dày khoa học trước cho chắc ăn -- một kiểu làm “mếch lòng trước đặng lòng sau” như ông bà ta hay nói.

Tôi hẹn gặp sếp PS, khoa trưởng y khoa UNSW, trong một buổi sáng tháng 6. Ông này nguyên là người Úc, nhưng sau này sang “đầu quân” bên New Zealand, nghe nói có công cải cách y khoa bên đó, nên bây giờ được UNSW mời về làm khoa trưởng y khoa (sau khi giáo sư khoa trưởng BD bị cho “nghỉ hưu” sớm vì giải quyết không ổn thỏa vụ gian lận khoa học của giáo sư BH). Ông PS tuổi khoảng ~60 hay ~65, rất lịch sự, rất business, tiếp tôi trong cái office nhỏ nhưng xinh xắn của ông. Sau vài lời thăm hỏi xã giao, tôi và ông ta nói chuyện trên trời dưới đất khoảng 35 phút, chẳng có chuyện gì liên quan đến khoa bảng cả! Chỉ có một câu duy nhất liên quan đến việc đề bạt là ông ấy bảo tôi nên làm đơn qua hệ thống đề bạt “academic’, chứ không phải “conjoint”. Đề bạt theo ngạch academic oai hơn nhưng cũng tốn nhiều thời gian hơn là ngạch conjoint.

Trong khi nói chuyện, tôi để ý ông ấy thỉnh thoảng liếc nhìn cái CV của tôi trước mặt ông. Tôi không có ấn tượng gì với ông, và cũng chẳng thấy ông nói gì đáng chú ý. Ông không tỏ ra thân thiện mà cũng chẳng lạnh lùng gì cả. Tôi đoán ở chức vụ này, ông phải hành xử như thế thôi, để tỏ ra mình hoàn toàn khách quan. Hết giờ, ông ấy bắt tay tôi và nói: “Ok, mày có thể làm thủ tục được rồi đó”. Tôi hỏi: “Mày cho tao biết xác suất thành công là bao nhiêu, vì tao không muốn thất bại trong chuyện này.” Ông ấy cười nói: “Mày lo gì chuyện này; tao nói ok thì mày cứ làm.” Sếp nói thế thì ừ, cứ làm -- tôi nghĩ thế -- có mất con voi nào đâu mà lo!

Sau đó là soạn đơn xin đề bạt. Tôi mất gần 2 tháng trời cho cái đơn này, chẳng những đau đầu với bố cục, mà còn phải cân nhắc đến từng câu, từng chữ, không có câu chữ nào thừa hay thiếu. Như tôi đề cập hôm trước, đơn chính chỉ có 10 trang giấy A4, kể cả 1 trang tóm lược. Trong 10 trang này mình phải trình bày tại sao mình xứng đáng với chức danh mình xin. Ngoài ra, một khâu tương đối tốn nhiều thời gian là khâu chuẩn bị những “bằng chứng” để làm cơ sở cho đơn đề bạt. Tôi phải liệt kê tất cả những công trình nghiên cứu mình đã công bố trong vòng mấy mươi năm qua. Chẳng những danh sách mà còn phải có những chỉ số trích dẫn cho từng bài, và chỉ số H mới nhất, thêm biểu đồ về số lượng bài báo và số lần trích dẫn qua nhiều năm. Tôi còn phải nhờ thư viện tìm lại những thước phim truyền hình mà tôi trả lời phỏng vấn cho các đài ABC, đài số 9, và đài số 10. (Nhìn lại mấy thước phim này tôi thấy muốn … trốn). Tôi còn phải sưu tầm tất cả những bài báo tiếng Anh viết về tôi trong quá khứ trên báo chí Úc và Mĩ, cũng như những bài viết nói về nghiên cứu của tôi. Nói chung, khâu này cần phải nhờ sự giúp đỡ của thư viện và bộ phận PR, chứ một mình tôi thì không cách gì làm được.

Tính đến nay tôi đã công bố hơn 260 bài báo khoa học, trong số này có 135 bài là “original contributions” (công trình nguyên thủy), 15 bài review, 16 bài xã luận và bình luận, 11 chương sách giáo khoa, và phần còn lại là “conference proceedings”. Trong số này, 65% là do công trình về loãng xương của tôi, còn lại là do hợp tác với các đồng nghiệp bên ngành ung thư, tiểu đường, thần kinh, và nội tiết. Tính trung bình, mỗi bài báo nguyên thủy của tôi được trích dẫn 52 lần (so với trung bình trong ngành là 22). Chỉ số H của tôi hiện nay là 41, và chỉ số m là 2.56. Số nghiên cứu sinh và postdoc đã đào tạo được là 12 người, một số đã là giáo sư. Nói chung, với các chỉ số này và phục vụ cho chuyên ngành cấp quốc tế, tôi hoàn toàn ở vị trí “thượng phong”, không ai có thể chất vấn hay tấn công được. Nhưng tôi ở thế yếu khi xét đến vấn đề thu hút tài trợ và phục vụ cộng đồng. Số tiền tài trợ tôi đem về cho UNSW là trên 3 triệu AUD, và số này chỉ thuộc hàng trung bình trong các giáo sư y khoa. Vì thế tôi biết rằng trong phỏng vấn sẽ có người “điểm huyệt” chỗ này, và phải chuẩn bị giải thích cho thuyết phục. Về phục vụ cộng đồng tôi ở vào thế yếu nhất, và chắc chắn sẽ có người tấn công là “ngồi trong tháp ngà”. Tuy nhiên, bù lại tôi nói tôi có phục vụ cộng đồng ở … Việt Nam. Đây cũng là cách giải trình mà tôi lấy ra để “bảo vệ” mình trong lần phỏng vấn cho NHMRC Senior Fellowship.

Đồng nghiệp bình duyệt

Như tôi có đề cập trong bài viết trước, cách thức đề bạt ở các đại học phương Tây, kể cả Úc, tận dụng triệt để hệ thống peer-review, tức là để cho đồng nghiệp bình duyệt về mình. Trong trường hợp của tôi, tôi có quyền đề cử 4 người bình duyệt (3 người ở Úc và 1 người ở Canada). Còn trường đại học thì đề cử 3 người của họ. Trên nguyên tắc tôi không biết trường chọn ai, nhưng qua đi dự hội nghị thì tôi biết tất: đó là LR ở Mayo Clinic (một trong những ông tổ nội tiết học), ES (một nhân vật lừng danh trên thế giới ở Melbourne và cũng là … bạn tôi), và người thứ ba là EBC (San Diego, cũng là một nhân vật lừng danh về HRT). Hai trong số 3 người này là bậc thầy của thầy tôi, và một người là cùng đẳng cấp với thầy tôi. Trong hội nghị ở Montréal, họ tự đến nói với tôi rằng họ duyệt đơn của tôi, nhưng vì nguyên tắc họ không thể cho tôi xem họ viết gì, chỉ biết là họ ủng hộ trường hợp tôi.

Đặc biệt có LR nói thẳng là đáng lẽ tôi nên được đề bạt từ mấy năm trước chứ không chờ đến nay. Còn ES thì quen tính nói như trắng với đen là “promote him, keep him in academia”. Riêng EBC thì kín miệng không nói gì cả, chỉ nói là “Tao xếp mày hạng top 1%”. Với những người bạn bậc thầy, bậc đàn anh mà đề nghị như thế thì tôi thấy cũng yên tâm.

Còn 4 người tôi đề cử để duyệt thì tôi không biết họ viết gì, vì họ vẫn theo nguyên tắc là không nói cho ứng viên biết. Thật ra, có qui định là nếu họ cho tôi đọc báo cáo của họ thì trường phải kiếm người khác và có thể hủy bỏ lần đề bạt này! Tuy nhiên, qua tình bạn và tình đồng nghiệp tôi tin tưởng rằng họ không “đâm sau lưng chiến sĩ”, nên cũng không có vấn đề gì.

Nói chung, cuộc sống trong xã hội hay trong cộng đồng khoa bảng là một cuộc sống đa chiều, mà trong đó các thành viên phải tùy thuộc với nhau để mà sống và làm việc. Tôi nghĩ cuộc sống và sinh hoạt khoa bảng như là một hàm số xã hội phức tạp, mà trong đó ai cũng phải phụ thuộc vào nhiều người khác để học hỏi và tồn tại. Nghĩ như thế này tôi càng thấm thía câu nói của Trịnh Công Sơn: Sống ở đời cần phải tử tế với nhau.

Một cuộc phỏng vấn lạ lùng và nhớ đời

Sau khi đệ đơn xong là đến khâu học hỏi. Tôi phải đi dự những seminar và workshop chuyên dạy về cách trả lời phỏng vấn. Tôi học hai khóa và thấy rất có ích. Những người đi trước chỉ tường tận những “trick” và “trap” để đương đầu với hội đồng khoa bảng.

Theo lịch trình, tôi được phỏng vấn vào ngày 16/10/2008. Nhưng hỡi ơi, đó là ngày tôi có mặt ở Hà Nội để thực hiện workshop ở Viện Nhi trung ương theo lời mời của nhóm RMH ở Melbourne. Một ngày trọng đại như thế mà mình vắng mặt thì ăn nói làm sao với hội đồng khoa bảng đây? Tôi bèn gọi điện thoại cầu cứu khoa trưởng, với lí giải là tôi không biết trước ngày phỏng vấn, nên đã nhận lời Việt Nam rồi. Người ta đã mua vé, đặt phòng khách sạn, học viên đã đăng kí hết rồi, tôi không thể dời ngày được. Tôi xin được phỏng vấn trước ngày 13/10 hay sau ngày 20/10, nhưng khoa trưởng không chịu, vì ông ấy nói rằng tất cả thành viên đã được chọn và đã hẹn ngày xong hết rồi. Cuối cùng, ông nói phải phỏng vấn qua điện thoại! Tôi hơi phân vân với đề nghị này, vì trước đó chưa bao giờ làm như thế cả. Ông hẹn là sẽ hỏi ý kiến hiệu trưởng rồi trả lời sau. May mắn thay, hiệu trưởng bật đèn xanh đồng ý, và thế là tôi an tâm lên đường đi Hà Nội.

Giờ phỏng vấn được định là 10 giờ sáng (giờ Sydney) ngày 16/10. Lúc đó, 10 giờ bên Sydney là 6 giờ sáng bên Hà Nội, tức là tôi phải thức sớm để chuẩn bị. Từ 4 giờ sáng tôi đã không ngủ được, một phần vì khác giờ, một phần vì … hồi hộp. Đành phải thức dậy thôi. Tôi đọc lại đơn của mình một lần nữa, xem qua những tiêu chuẩn, những bài học trước đây, để chuẩn bị đối phó với cuộc phỏng vấn. Tôi còn thậm chí viết ra những câu hỏi và viết ra luôn những điểm chính để trả lời xuống giấy. Tôi chuẩn bị đâu gần 20 câu hỏi, nhưng trong thực tế họ hỏi nhiều câu nằm ngoài dự đoán của tôi! Nhưng có chuẩn bị tốt như thế vẫn rất tốt cho tinh thần.

Đúng 6 giờ sáng, chuông điện thoại phòng reo. Không chờ đến tiếng chuông thứ hai, tôi nhấc ngay điện thoại. Phía bên Sydney là tiếng nói của ông khoa trưởng PS. Ông ta hỏi tôi thời tiết Hà Nội ra sao và vài câu vớ vẩn khác. Lúc đó, tôi nghĩ thầm trong bụng: mẹ kiếp, mình đang nôn nóng gần chất, mà ổng cứ hỏi chuyện … tào lao. Nhưng may quá, ông nói để tiết kiệm thì giờ, ông sẽ đi vào cuộc phỏng vấn. Mở đầu, ông nói về “luật chơi” của cuộc phỏng vấn như tôi có quyền phản đối câu hỏi nhưng không có quyền chất vấn lại người hỏi, người hỏi không có quyền hỏi những câu mang tính cá nhân hay xâm phạm cá nhân, và cuộc phỏng vấn sẽ có người ghi âm lại tất cả những câu hỏi và trả lời, v.v… Nếu tôi đồng ý luật chơi thì tiếp tục, còn không thì … ngừng. Nghe qua mấy “luật chơi” này tôi cũng chẳng ngạc nhiên vì mình từng là người phỏng vấn người khác, tôi thấy ông ấy nói với tôi hơi thừa, nhưng vì lí do pháp lí nên ông phải nói rõ ràng như thế.

Ông vào đề bằng cách giới thiệu hội đồng phỏng vấn, gồm có 8 giáo sư, dưới sự chủ tọa của ông. Trong số 8 người này, có 5 người trong khoa y (họ là chuyên gia về tim mạch, nội tiết, thần kinh, dịch tễ học, và di truyền học), 1 người từ khoa khoa học (science faculty), và 2 người từ trường đại học Sydney. Tôi chẳng quen biết ai trong 8 người này. Có thể đó cũng là cách họ chọn người để đảm bảo tính khách quan. Sếp của tôi cũng có mặt trong cuộc phỏng vấn, nhưng ông chỉ dự với vai trò “quan sát viên” mà không được có ý kiến gì cả. Tám người này luân phiên hỏi tôi, có câu hỏi họ yêu cầu tôi chỉ trả lời trong một số phút nhất định. Họ không bình luận gì về câu trả lời, mà chỉ tập trung lắng nghe tôi nói. Những câu hỏi mà tôi còn nhớ là:

  • Nói cho chúng tôi biết tại sao ông muốn đề bạt lên chức danh professor? Ông tự đánh giá mình so với các tiêu chuẩn của trường như thế nào? Ông có 5 phút để trả lời. Đây là câu hỏi của khoa trưởng (ông ta chỉ hỏi 1 câu duy nhất).

  • Nói cho chúng tôi nghe 3 công trình nghiên cứu tiêu biểu của ông. Xin đừng nói quá chi tiết, chúng tôi chỉ muốn nghe câu chuyện đằng sau của công trình và ảnh hưởng như thế nào.

  • Nếu ông bước vào một hội nghị quốc tế, người ta có nhận ra ông không? Nếu nhận ra, thì ông được biết đến về lĩnh vực gì?

  • Trong số hàng trăm công trình khoa học và bài báo ông liệt kê, có bao nhiêu ông thực sự là người chủ trì, và bao nhiêu là do nghiên cứu sinh của ông làm và ông chỉ đứng tên tác giả.

  • Ông làm việc với Gs JE khá lâu và ông ấy cũng là thầy cũ của ông, vậy ông có thể chứng minh cho chúng tôi biết ông độc lập với thầy cũ mình như thế nào.

  • Trong thời gian 1999-2001, số lượng bài báo của ông có vẻ suy giảm. Tại sao?

  • Ông tự đánh giá chất lượng các công trình khoa học của ông như thế nào?

  • Chỉ số trích dẫn của ông rất ấn tượng. Xin nói cho chúng tôi biết có bao nhiêu bài báo chưa bao giờ được trích dẫn, và ông có bình luận gì không?

  • Triết lí đào tạo tiến sĩ của ông là gì. Ông có 2 phút để nói.

  • Nghiên cứu sinh postdoc của ông có vẻ thành công nhiều. Bao nhiêu thành công là do ông và bao nhiêu là do công sức của họ?

  • Ông làm gì để phát triển nhóm (lab) nghiên cứu của ông trong tương lai?

  • Nếu ông là khoa trưởng y khoa, ông sẽ làm gì để nâng cao vị thế và uy tín của khoa trên trường quốc tế?

  • Ông có đóng góp gì cho chính sách khoa học và y tế không?

  • Ông nghĩ gì về y học thực chứng? Theo ông, y khoa nên đi về định hướng nào trong tương lai?

  • Ông liệt kê 7 cuốn sách ông in ở Việt Nam. Thì giờ đâu mà ông làm nhiều thế; ông có ngủ không? Đây là câu hỏi cuối cùng; ông giáo sư hỏi tôi câu này có vẻ đùa vui vì tôi nghe ông ấy cười trong điện thoại.

Vì đây là một cuộc điện đàm qua điện thoại kiểu telephone conference, và tôi đoán là có lẽ vì bàn họp hơi rộng, họ ngồi chung quanh, và máy điện thoại không tốt (dỏm?) nên âm lượng không cao mấy. Điều này làm cho tôi khó nghe được câu hỏi. Thật ra, tôi có quyền yêu cầu họ nói lớn lên, nhưng vì mình đã “không đẹp” với họ (không có mặt trong buổi phỏng vấn) lại còn ở một nơi mà họ có thể hiểu lầm là tôi đi nghỉ mát, lại còn đòi hỏi quá như thế thì không “phải đạo” mấy, nên tôi đành phải kiên nhẫn và áp điện thoại sát tai để nghe. Thật là vất vả! Sau gần 45 phút (họ hứa chỉ 30 phút) phỏng vấn và trả lời, tôi thấy mình cũng nhẹ người như vừa làm xong một nhiệm vụ. Sau đó vài phút, sếp tôi gọi điện qua chúc mừng nói: “You have done a good job” (mày đã làm xong việc một cách tốt đẹp).

Xuống phòng ăn sáng, gặp Nguyên (người cùng đi làm workshop với tôi), tôi kể lại câu chuyện phỏng vấn như là một cách trị liệu, kể để rồi quên nó đi! Tôi lại chuẩn bị đi “chiến đấu” tiếp trong workshop ở Viện Nhi đúng 8 giờ sáng và không muốn nhớ đến cuộc phỏng vấn nữa.

Tôi nghĩ mình trả lời ok, nhưng như bất cứ việc gì, tôi nghĩ nếu làm lại lần nữa, tôi sẽ làm tốt hơn. Nói chung, tôi không có vấn đề gì trong phỏng vấn. Trước khi phỏng vấn tôi đã được trường tập dượt và cũng biết được những nguyên tắc của cuộc phỏng vấn. Một trong những nguyên tắc đó là mình phải tỏ ra ngang hàng với người phỏng vấn, chứ không phải thấp hơn, và nhất là không bao giờ tỏ ra mình là người xin ân huệ. Sếp tôi nói tôi đã thể hiện nguyên tắc này tốt. Có lẽ một phần do tự tin, một phần do tính cách Á châu, và do thực lực nên tôi không bao giờ cảm thấy mình “dưới cơ” hay “lép vế” với bất cứ ai trong những người phỏng vấn mình. Trước khi phỏng vấn, tôi đã xem qua bề dày khoa học (track record) của những thành viên này và thấy chỉ số H của người “nổi” nhất cũng chỉ bằng phân nửa chỉ số H của tôi, còn mấy người khác thì không đáng kể, ngay cả số lượng và chất lượng bài báo khoa học. Có vài câu trả lời mà tôi nghĩ lại mình có vẻ hơi trịch thượng và “hách”, nhưng sếp tôi thì nói chẳng có gì là trịch thượng cả!

Nhưng cũng có vài ba câu tôi thiếu chuẩn bị nên trả lời chưa được thông lắm. Chẳng hạn như câu hỏi có bao nhiêu bài chưa bao giờ trích dẫn, vì không có con số cụ thể nên tôi hơi chao đảo và nói … lạc đề (ngay cả sếp tôi còn nhận được điều này). Những câu hỏi về chính sách khoa học, về “nếu là khoa trưởng” cũng làm tôi lúng túng (vì chưa bao giờ nghĩ họ hỏi), phải mất cả vài chục giây định thần để trả lời. Tôi nghiệm ra những câu hỏi cắc cớ nhưng quan trọng này là nhằm mục tiêu thử xem mình có tầm nhìn cao và xa hay chỉ quay quẩn tầm nhìn của một người làm chuyên môn. Tôi chợt nhớ đến câu nói của sếp JS trước đây rằng làm khoa học cần phải quan tâm đến cái mà ông ấy gọi là “big picture” (bức tranh lớn) chứ không chỉ chúi đầu vào những chuyện nhỏ. Tôi trả lời dựa vào những gì mình đã viết trước đây trên báo đại chúng, và “chêm” vài câu về định hướng nghiên cứu để khoa y UNSW có thể sánh vai với các đại học hàng đầu bên Mĩ. Tôi không biết ông khoa trưởng nghĩ gì về câu trả lời “đao to búa lớn” đó, nhưng rõ ràng là tôi khác quan điểm với ông ấy về nghiên cứu.

Tuy nhiên, tôi thấy thái độ phỏng vấn của họ không quá khó khăn như lần phỏng vấn chức danh NHMRC senior fellow. Thật ra, tôi thấy họ có vẻ thân thiện, và tạo điều kiện cho mình trả lời hay biện minh. Trong 8 người phỏng vấn, tôi để ý 2 người hỏi một số câu có thể gọi là “critical” (và thách thức), như chú ý đến biểu đồ về số bài báo công bố, định lượng mức độ độc lập, hay câu hỏi mang tính “khiêu khích” rằng thành tựu tôi chỉ là do nghiên cứu sinh làm, hay tôi chỉ nhân danh sếp mà lấy công của học trò. Nhưng tôi lại thấy đó là cơ hội để mình giải trình trường hợp của mình tốt hơn. Nguyên lí của tôi là lúc nào cũng cố gắng biến câu hỏi khó thành một cơ hội để mình … nói thêm (hay nói như ông bà mình hay nói là biến thế yếu thành thế mạnh).

Và những bài học cá nhân

Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi đã trải qua. Vậy thì, tôi có thể chia sẻ những kinh nghiệm gì với các bạn đi sau, các bạn trẻ hơn? Tôi nghĩ đến câu hỏi này nhiều, và thấy mình có thể rút ra vài bài học cá nhân sau đây:

Phấn đấu vượt trội. Tôi nghĩ dù muốn hay không muốn ghi nhận thì cũng phải nhìn nhận một thực tế: những người giữ những vị trí trong xã hội, kể cả những chức vụ khoa bảng, là những “bộ lạc”. Trong những bộ lạc đó, kẻ đứng đầu tạo ra những luật chơi và những tiêu chuẩn để sàng lọc những ai có thể trở thành đồng nghiệp của họ. Đối với một người tị nạn từ một đất nước nghèo và chiến tranh triền miên như Việt Nam, mà lại xuất thân từ nông thôn, thì ấn tượng mà người phương Tây có trong đầu sẽ là một kẻ tầm thường, không đáng chú ý. Trong thực tế, trước đây tôi đã gặp nhiều tình huống mà tôi cảm thấy như mình bị xem thường, bỏ ra rìa, và nhiều trường hợp mà họ “nói trên đầu” mình. Do đó, tôi tự đặt cho mình một cái chuẩn khắt khe hơn: tôi phải hơn họ ít nhất là hai cái đầu. Tôi nghĩ hơn họ một cái đầu vẫn chưa đủ. Đó chính là mục tiêu mà tôi phấn đấu để khi xét đến bất cứ một tiêu chuẩn nào, tôi vẫn phải đứng trên những cái tiêu chí mà người ta kì vọng cho chức vụ đó. Một khi đã đạt mục tiêu tôi cảm thấy mình chẳng những có đầy đủ “leverage” để nói chuyện mà còn sẵn sàng trả đũa, hay nếu cần có thể “làm hách”, với những ai tỏ ra dám trịch thượng với mình. Trong thực tế, tôi đã có lần “thử nghiệm” một cách công khai với một người đồng nghiệp dám tỏ thái độ bề trên với tôi để làm cho người đó thấy phải tự mình thấy ngượng!

Hi sinh vài nhu cầu cá nhân. Để vượt trội hơn đồng nghiệp phương Tây chỉ có 2 cách: một là làm việc có hiệu quả và thông minh hơn họ, và hai là nếu không thông minh hơn thì phải làm việc nhiều thì giờ hơn họ. Để có nhiều thì giờ cho công việc, tôi nghĩ chúng ta cần phải hi sinh một số nhu cầu cá nhân, hạn chế những tiệc tùng, giao tiếp cá nhân không cần thiết. Nói cách khác, đôi khi cũng cần phải tự đóng cửa, tự cô lập mình để hoàn thành những dự án, những dự tính mà mình đã đặt ra.

Mục tiêu rõ ràng và kiên trì. Trong cuộc sống và công việc tôi thấy đôi khi tôi bị thu hút bởi những chuyện không đâu, và tốn nhiều thời gian không cần thiết. Cho nên, bài học cá nhân của tôi là làm việc gì cũng phải có mục tiêu cụ thể, phải biết việc mình đang làm sẽ dẫn đến thành quả gì. Rồi từ đó, vạch định việc làm cho từng thời gian cụ thể. Tôi có thói quen mỗi sáng ngồi xuống viết ra những việc mình cần làm hôm nay (things to do), và lúc nào cái danh sách dự án cũng trên bàn nhắc nhở mình đã và đang đi đến đâu trong tiến trình của việc đạt mục tiêu.

Để đạt mục tiêu mình đề ra, tôi thấy ý chí rất quan trọng. Phải kiên trì theo đuổi mục tiêu cho đến cùng, chứ không nên bỏ dở giữa chừng. Điều này đòi hỏi tính kiên nhẫn, tính “thua keo này bày keo khác”, quyết chí không bỏ cuộc. Ghi nhận vấn đề và khó khăn, nhưng không phải ghi nhận để than vãn và bỏ cuộc, mà phải biến khó khăn thành thách thức để làm việc.

Nhắm vào chất lượng. Công trình khoa học luôn luôn là chỉ tiêu chính, nếu không muốn nói là “chìa khóa” để được đề bạt. Nhưng một tác giả dù công bố nhiều công trình khoa học không nói lên thành tựu và ảnh hưởng gì cả, mà cần phải chú ý đến chất lượng. Chất lượng một công trình khoa học có thể đánh giá qua hệ số ảnh hưởng của tập san, và nhất là qua số lần trích dẫn. Mà, muốn có chất lượng cao thì cần phải đầu tư thời gian suy nghĩ về câu hỏi nghiên cứu và phương pháp. Phải tự hỏi mình vấn đề nghiên cứu có lớn không, có gây ảnh hưởng gì đáng kể, có khả năng đưa chuyên ngành một bước cao hơn, v.v… Không nên tập trung vào những nghiên cứu chỉ giải quyết những vấn đề nhỏ hay những vấn đề mang tính địa phương có giá trị nhất thời.

Nắm lấy phương pháp. Tôi để ý thấy nhiều đồng nghiệp họ nói rất hay và có khi rất nổi tiếng, nhưng khi được hỏi về những chi tiết phương pháp thì họ lúng túng. Rất tiếc, đó là tình trạng khá phổ biến ngày nay. Do đó, một trong những chỉ tiêu tôi đặt ra là phải nắm lấy phương pháp, vì có phương pháp trong tay cũng có nghĩa là mình có một “leverage” lớn khi cạnh tranh với người khác. Nói cho cùng, nói đến khoa học là nói đến phương pháp. Chính vì thế mà tôi khuyên nghiên cứu sinh của mình ngoài việc suy nghĩ về vấn đề, còn phải làm chủ cho được phương pháp, để mai đây mốt nọ ra trường có thể trở thành độc lập nhanh chóng trong nghiên cứu khoa học.

Tìm thầy giỏi và một trung tâm tốt. Ông bà ta có câu “không thầy đố mày làm nên” hay “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Tôi vẫn thấy hai câu này rất thực tế và cũng là một lời khuyên rất có ích. Để thành công trong khoa học, mỗi người cần phải chọn cho mình một người thầy có tiếng trên trường quốc tế. Làm việc hay học hỏi với người thầy có tiếng tạo cho chúng ta cơ hội giao lưu với những người có tiếng và hàng đầu trên thế giới (vì cũng như bộ lạc, trong khoa học người ta cũng có giai cấp và giai cấp cao chỉ giao du với những người cùng cấp), và điều này rất có ích trong việc tạo dựng sự nghiệp. Những người thầy có tiếng thường chỉ làm những nghiên cứu lớn, và do đó, làm cho họ cũng có nghĩa là chúng ta làm quen với cách suy nghĩ lớn, chứ không tủn mủn như những nhóm nghiên cứu khác. Ngoài ra, một trung tâm nghiên cứu nổi tiếng là một môi trường khoa học rất tốt để giao lưu cùng những nhà khoa học giỏi. Do đó, cần tìm đến “đầu quân” cho những trung tâm này để học hỏi từ họ, học hỏi từ cách tổ chức và làm việc, đến những vấn đề chuyên môn.

Làm việc theo nhóm (teamwork) và hợp tác. Tôi chưa thầy ai thành công trong khoa học mà làm việc đơn lẻ. Trong hoạt động khoa học ngày nay, người ta tập trung nhau thành từng nhóm. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nghiên cứu khoa học ngày nay đòi hỏi sự đóng góp của nhiều người từ nhiều ngành nghề khác nhau. Làm việc theo nhóm có một lợi thế là các thành viên cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi phương pháp lẫn nhau, và nhất là phát triển ý tưởng mới liên ngành, và qua đó có thể nâng cao “năng suất” khoa học. Do đó, một cách nâng cao số lượng và chất lượng công trình khoa học là phải có tinh thần làm việc theo nhóm, phải biết tôn trọng các đồng nghiệp khác, và phải biết “cho và nhận” (“give and take”).

Làm việc theo từng nhóm cũng có nghĩa là lắng nghe nhau, cạnh tranh nhau trong tinh thần hợp tác. Gặp nhau thường xuyên và chia sẻ ý kiến về phương pháp là một điều rất có ích. Nói đến điều này, tôi thấy ở Việt Nam mình người ta có truyền thống cạnh tranh đạp đổ nhau, đố kị nhau (thấy ai hơn mình là tìm cách hạ bệ người ta bằng mấy chuyện cá nhân vu vơ) hơn là hợp tác, và đó là một thái độ rất có hại cho khoa học. Tôi thường hay nói với nghiên cứu sinh là ý tưởng thường đến từ những cái mà tiếng Anh gọi là Open discussion (thảo luận mở rộng) chứ không chúi đầu trong chuyên ngành của mình. Bây giờ nhìn lại một số công trình của mình tôi thấy học hỏi rất nhiều phương pháp và ý tưởng từ các ngành ung thư và tim mạch. Ngay cả việc phát triển mô hình tiên lượng loãng xương tôi cũng học hỏi từ các chuyên gia ngành ung thư.

Tiếng Anh. Ngay từ những ngày đầu tiên mới định cư ở Úc, tôi nhận ra tiếng Anh là phương tiện để tồn tại trong xã hội này. Trong khoa học, tôi có thể không ngần ngại nói rằng tiếng Anh là một chìa khóa thành công, bởi vì phần lớn các tập san khoa học ngày nay đều sử dụng tiếng Anh làm phương tiện thông tin. Không rành tiếng Anh thì khó mà thành công trong khoa học, cho dù nhà khoa học giỏi cỡ nào. Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp tác giả có những nghiên cứu rất hay, nhưng khi trình bày thì do tiếng Anh quá kém nên làm nãn lòng đồng nghiệp. Nhưng giỏi tiếng Anh như thế nào để thành công? Tôi nhớ đến lời khuyên của ông Mười Hương, một thượng cấp của tướng Phạm Xuân Ẩn (một nhà tình báo tài ba) khi ông Ẩn được cử sang Mĩ học: sang bên ấy, cậu phải luyện tiếng Anh cho tốt, phải nói, viết và hành xử như người Mĩ, chứ không phải như người Việt. Nói cách khác, phải hội nhập với đồng nghiệp bằng thứ ngôn ngữ của họ, với cách nói và viết của họ chứ không phải cách diễn tả của người Việt.

Kinh nghiệm tôi cho thấy tiếng Anh là một trở ngại lớn cho người Việt chúng ta. Có nhiều sinh viên Việt Nam quá tự tin rằng họ biết văn phạm tiếng Anh nhưng chỉ kém về phát âm mà thôi. Tuy nhiên, theo nhận xét của tôi và kinh nghiệm cá nhân, sinh viên ta chẳng những kém về phát âm, mà còn rất kém về cách viết và tranh luận trước đám đông. Viết cho lưu loát, cho hay, cho thuyết phục lại càng khó. Viết chẳng những đòi hỏi một tư duy logic mà còn đòi hỏi nghệ thuật. Tư duy logic giúp mình sắp xếp ý tưởng cho có thứ tự, trước sau rõ ràng. Còn nghệ thuật ở đây là kĩ năng dùng chữ sao cho đơn giản, không phô trương, chính xác, mà nói lên được điều mình muốn nói.

Tôi chưa bao giờ đến trường học tiếng Anh có hệ thống, mà chỉ tự học là chính. Kinh nghiệm học tiếng Anh của tôi nằm trong 3 lời khuyên: học từ căn bản; chịu khó đọc báo và đối chiếu với đài tivi hay radio; chịu khó thực hành viết và nói. Ngày xưa, có khi cả ngày tôi học chỉ có 1 chữ, nhưng tôi nắm rất vững và hiểu chữ đó từ cái gốc. Nguồn gốc nó từ đâu; các biến thể tính từ, động từ, danh từ, v.v... ra sao; đọc như thế nào; cách sử dụng trong câu văn ra sao, v.v... Hai cuốn sách giúp tôi nhiều nhất là cuốn Từ điển Longman và cuốn Practical English Usage của Michael Swan. Học xong chữ, sáng ra tìm một tờ báo để đọc. Tìm hiểu chữ mình không biết. Chiều về mở đài tivi nghe phóng viên đọc tin. Xác suất là phóng viên sẽ đọc lại một phần bản tin từ báo chí lên đến 95%. Truyền thông Tây phương này nói là đa dạng chỉ đúng một phần, chứ thực chất nó chỉ lặp đi lặp lại một vài tin thôi. Học như thế rất hiệu quả!

Trên đây là những kinh nghiệm và bài học mà tôi đã rút ra được từ những lần đề bạt trước đây và lần này. Tôi hi vọng những bài học và kinh nghiệm này sẽ giúp chút ích cho các bạn đi sau hay các bạn trẻ đang phấn đấu trong sự nghiệp khoa bảng. Tôi nghĩ được đề bạt lên chức danh này nọ chỉ là cái danh, cái quan trọng hơn là cái “thực”. Thực ở đây là trở thành một người có ích cho xã hội, đóng góp tri thức của mình để đem lại phúc lợi thực sự cho cộng đồng, cho quê hương. Do đó, không nên quá đặt nặng cái danh trước cái thực, vấn đề quan trọng hơn là làm sao sử dụng tri thức và chức danh của mình cho xứng đáng với tiềm năng của đất nước và dân tộc.

Năm nay là năm thứ 28 tôi rời Việt Nam, và năm thứ 27 tôi định cư ở Úc (tôi đến Sydney ngày 26/1/1982, ngày Quốc khánh Úc). Khi sang đến đây thì cái gì cũng làm lại từ đầu. Nhìn lại quãng đường mình xa quê và sống ngoài này, tôi thấy mình chẳng khác gì một đứa bé chập chững mới biết đi, tập nói tập viết (tiếng Anh), rồi theo thời gian trưởng thành và nay thì vào giai đoạn “luống tuổi”. Trong thời gian khá dài đó, tôi làm từ những việc khó khăn nhất như làm “kitchen hand” (tức là rửa chén và rửa rau cải trong nhà bếp) đến làm giáo sư. Sếp tôi nói “cuộc đời mày như là một lịch sử”, nhưng tôi nói “cuộc đời của mỗi người Việt Nam cùng thời với tao là một lịch sử”. Không cần nói ra, tôi nghĩ chắc các bạn cũng đoán biết tôi không có một cuộc đời bằng phẳng như nhiều người khác cùng thời, bởi vì tôi trải qua một giai đoạn tị nạn và những khó khăn cùng đau khổ sau đó. Phải mất đến vài năm sau khi định cư ở Úc tôi mới lấy lại thăng bằng trong cuộc sống để tiếp tục mục tiêu của mình. Nay thì có thể nói tôi đã phần nào đạt được mục tiêu mình đề ra. Trong giây phút này, tôi nghĩ đến nhiều người (có thể rất nhiều người) đã giúp đỡ tôi trong quá trình ăn học và làm việc, và tôi muốn nhân cơ hội này ghi nhận và tri ân những người đó. Nhưng tôi nghĩ ngay đến Ba Má tôi, hai người đều đã qua đời trước khi chứng kiến sự trưởng thành của thằng con. Tôi cũng da diết nhớ đến anh Hai tôi, người đã cho tôi những bài học đầu đời thời trung học, và cũng là người đặt ra những cái chuẩn cao để không cho tôi tự mãn, nhưng rất tiếc anh đã đi về cõi vĩnh hằng quá sớm để thấy thằng em “học hành ra sao” -- câu anh thường hay nói thuở sinh tiền mỗi khi anh bực mình với tôi. Bà con tôi thường nói nếu anh cả tôi còn sống đến ngày nay thì chắc gì anh ấy còn làm cho tôi phấn đấu nhiều hơn nữa. Mất anh cả như mất một cái chuẩn mực để mình nương theo.

Cuối cùng, xin mượn câu của tin gọi một chút này làm ghi của cụ Nguyễn Du để gửi gắm những dòng tâm sự rất cá nhân này.

NVT

Bạn nào muốn biết lần phỏng vấn trước thì có thể đọc ở đây (3 phần):

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2007/06/mt-ln-i-phng-vn.html

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2007/06/mt-ln-i-phng-vn-v-nhng-bi-hc.html

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2007/06/mt-ln-i-phng-vn-v-nhng-bi-hc-phn-cui.html

Hai mươi tám năm về trước tôi là như thế này. Nhìn lại thì thấy mình rất "nerdy". Thằng con tôi nó scan tài liệu này (vì tôi chưa biết scan) xong rồi nó nói you look funny, Dad! (Ba trông buồn cười quá hà). Người nặng chỉ 54 kg (thiếu ăn mà), cái kính cận dầy cộm (8 độ) và nặng chịch, với khuôn mặt lo lắng cho tương lai. Tiếng Anh như vầy mà học hành gì -- phản ứng của người phỏng vấn tôi khi xin đi Úc qua câu hỏi qua Úc sẽ làm gì. Hình này do Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc chụp cho tất cả những ai mới nhập trại tị nạn Songkhla (miền nam Thái Lan). Sau gần 1 năm tôi được cấp visa đi Úc. Tôi đến Sydney ngày 26/1/1982, hôm đó trời nóng 42 độ C. Chú ý visa không có thời hạn (indefinite) vì lúc đó đâu có đi đâu nữa.

Wednesday, November 26, 2008

Tin cá nhân

Với cá nhân tôi, hôm nay (27/11/08) là một ngày quan trọng, vì tôi vừa mới nhận điện thoại từ Khoa trưởng Y khoa của UNSW báo tin là đơn đề bạt lên chức professor của tôi đã “successful”. Sáng nay, Hội đồng Khoa bảng (Academic Board) của UNSW họp và phê chuẩn đơn đề bạt. Có thể ngày mai hay thứ Hai thì tôi mới nhận được thư thông báo chính thức của Hiệu trưởng.

Thế là sau 8 tháng chuẩn bị đơn từ, thu thập dữ liệu, học cách trả lời phỏng vấn, phỏng vấn thử, phỏng vấn thật, nay thì giây phút “phán xét” đã đến. Thật ra thì đây không phải là một vinh dự to tát gì so với cái NHMRC Fellowship mà tôi được trao năm ngoái, nhưng chức danh professor thường được giới khoa bảng xem là một “Holy Grail”, cho nên nếu nói tôi không vui mừng thì tôi dối lòng. Tôi thật sự vui mừng, vì thấy quá trình [hãy cứ cho là] “phấn đấu” (tôi không thích chữ này!) của mình trong 28 năm qua trên xứ người đã được ghi nhận.

Tôi định viết một bài để thuật lại kinh nghiệm của mình trong quá trình đề bạt chức danh quan trọng này như thế nào cho các bạn trẻ hay các bạn đi sau học hỏi. Nhưng trước tiên, tôi phải đi tìm một chai rượu đỏ cho ngon để cùng đồng nghiệp Viện Garvan ăn mừng! :-)

NVT

Trần Nhân Tông và vài suy nghĩ về Phật giáo

Tôi là người ngưỡng mộ vua Trần Nhân Tông từ thời còn mài đũng quần ở ghế trung học, cho nên tôi sưu tầm một “đống” sách về ông vua độc đáo này. Sưu tầm nhiều thế thôi, chứ lâu lâu mới mở ra đọc một cuốn. Mấy năm trước khi về thăm nhà, tôi còn lội ra tận Yên Tử để chụp vài tấm hình và tìm hiểu nơi ông tu hành và viên tịch ra sao.

Hôm nay đọc báo mới biết Quảng Ninh tổ chức một hội thảo nhân tưởng niệm 700 năm ngày vua nhập niết bàn, và có cả thư của cụ Võ Nguyên Giáp nữa (xem tin dưới đây). Vua Trần Nhân Tông sinh năm 1258 và qua đời ngày 1/11/1308, như vậy ông thọ chỉ 50 tuổi. Theo phân tích của tôi thì ông thuộc vào nhóm vua có tuổi thọ trung bình thời đó. Tuy ở trọ trần gian chỉ có 50 năm, nhưng ông để lại nhiều thành tích oanh liệt và dấu ấn văn hóa mà chúng ta nên trân trọng ngày nay. Hai lần đánh bại bọn Nguyên Mông. Đánh giặc xong, giữa lúc uy thế lừng danh, ông bỏ ngai vàng, nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, đi chu du và sau cùng là xuất giá đi tu năm 41 tuổi. Như vậy, ông đi tu chỉ trên 9 năm. Trong thời gian tu thiền ngắn ngủi đó, ông sáng lập ra phái Trúc Lâm – Yên Tử (Nhạc sĩ Phó Đức Phương có một sáng tác hay về Trúc Lâm – Yên Tử) và để lại cho đời nhiều bài thơ mang tính triết lí ở đời. Tiêu biểu cho triết lí này là bài “Cư trần lạc đạo” nổi tiếng, tiêu biểu cho Trần Nhân Tông : “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên, Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

Một số sử gia sau này tỏ ý trách ông gã Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Người ta còn đặt vè mang tính kì thị chủng tộc để chê trách cuộc hôn nhân này. Nhưng trước khi cuộc hôn nhân xảy ra, ông đi chu du ở Chiêm Thành đến 9 tháng trời. Trong thời gian ở Chiêm Thành ông được tiếp đón trọng vọng vì có công giúp Chiêm Thành đánh thắng quân Nguyên. Tôi đoán trong thời gian này ông có cảm tình với vua Chiêm Thành nên hứa gã con chăng? Vả lại, ông vua Chế Mân này cũng không đến nỗi tệ. Nhưng chúng ta biết sau khi Chế Mân chết thì vua Trần Anh Tông (anh của Huyền Trân) ra lệnh cho Trần Khắc Chung đem thuyền vào Chiêm Thành “đón” công chúa về nước, vì sợ theo tục lệ Chiêm Thành thì Huyền Trân có thể lên dàn thiêu theo chồng!

Ở đây lại có một giai đoạn “bí sử” về mối liên hệ giữa ông tướng Trần Khắc Chung và Huyền Trân. Nghi vấn đặt ra là chuyến đi cứu công chúa kéo dài đến 1 năm trời, và trong thời gian đó hai người có tư thông với nhau hay không? Một số sử gia cho rằng có. Nhưng bằng chứng thì … không thấy. Năm 1308, Huyền Trân về Thăng Long và cũng theo vua cha đi tu.

Các triều đại xưa nước ta, khởi đầu là Nhà Lý, rất trọng Phật Giáo, và xem đạo Phật là một quốc giáo. Đạo Phật đã đem lại những qui ước đạo đức cho những người cầm quyền thời đó. Trong sách Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết: “Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng đạo Phật.” Tôi cũng nghĩ như thế. Có thể nói Nhà Lý đã tạo nên một nền tảng luân lí và đạo đức xã hội làm cơ sở cho triều đại Nhà Trần phát triển sau này.

Còn bây giờ, trong tình trạng suy đồi đạo đức và luân lí như hiện nay, đạo Phật có thể đóng vai trò gì không? Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng sau chiến tranh chỉ có tôn giáo và âm nhạc mới khôi phục đạo đức xã hội. Lúc đó khi ông nói câu đó tôi cũng chẳng để ý, nhưng nay già chút tôi ngẫm ra rất có lí. Sau này tôi cũng nghe Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói tương tự trên quan điểm Phật giáo.

Dù muốn hay không, đạo Phật là đạo lâu đời nhất và lớn nhất ở nước ta. Có rất nhiều người không biết mình theo đạo Phật bởi vì những chuẩn mực đạo đức của Phật giáo đã hòa nhập thành truyền thống đạo đức dân tộc. Do đó, Phật giáo có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát huy đạo đức xã hội trong thời đại ai cũng chạy theo đồng tiền. Nhưng muốn làm chuyện đó, Phật giáo phải được cởi trói, phải trở thành một đoàn thể xã hội độc lập với Nhà nước. Thế nhưng trong thực tế chúng ta thấy hoạt động của Phật giáo vẫn chịu sự chi phối của Nhà nước. Sự chi phối đó có cái hay mà cũng có cái dở. Cái hay là Nhà nước có thể đứng ra tài trợ cho Phật giáo trong việc hoằng pháp, đào tạo tăng ni và xây dựng cơ sở vật chất; nhưng cái dở là bị mấy ông Nhà nước can thiệp vào nội bộ của Phật giáo và vô hình trung họ không có một tiếng nói để được xem là độc lập. Tôi nghĩ đã đến lúc Nhà nước nên noi theo các triều đại Lý Trần mà lấy Phật giáo làm nền tảng đạo đức và cho phép Phật giáo mở trường dạy học như ở Thái Lan và các nước trên thế giới.

NVT

http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/11/815520

Tướng Giáp: Làm sáng tỏ công lao Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông đúng là một vị vua văn võ song toàn, một vị Phật hoàng có công lao to lớn đối với dân tộc - Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong thư gửi Hội thảo khoa học "Đức Vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông - con người và sự nghiệp" diễn ra hôm nay (26/11) tại Quảng Ninh.

Hội thảo được tiến hành trong dịp Đại lễ Tưởng niệm 700 năm ngày nhập Niết-bàn của Đức Vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông do Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức.

Trong lá thư đề gửi Chư vị Hòa thượng, Thượng tọa, tăng ni và các nhà nghiên cứu tham dự Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam, hòa nhập với nền văn hóa dân tộc góp phần to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đến thời đại nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã hai lần trực tiếp lãnh đạo quân và dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông và mở mang đất nước".

"Trong thời đại nhà Trần, lần đầu tiên xuất hiện một vị vua - vua Trần Nhân Tông đã rời bỏ ngai vàng đi vào nhân dân, xuất gia tu hành đạo Phật, sáng tạo nên một trường phái Phật giáo mới - Phật giáo Việt Nam.

Trần Nhân Tông đúng là một vị vua văn võ song toàn, một vị Phật hoàng có công lao to lớn đối với dân tộc", Đại tướng nhấn mạnh.

Khẳng định cuộc hội thảo này "có ý nghĩa quan trọng", Đại tướng bày tỏ mong muốn hội thảo "đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn nữa công lao, sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông". Điều này, theo ông, sẽ "góp phần làm cho đạo Phật ngày càng gắn bó với dân tộc, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu".