Sunday, January 25, 2009

Đón xuân này nhớ xuân xưa

26/1/2009. Đối với tôi hôm nay là một ngày đặc biệt. Ngày Mồng Một Tết. Còn ở Úc là ngày “Australia Day”, hay ngày Quốc khánh (1). Hôm nay cũng là ngày kỉ niệm tôi đến Úc 27 năm về trước: 26/1/1982. Hai mươi tám năm qua, ngày Tết chỉ xảy ra trong ngày thường hay ngày cuối tuần, chứ chưa bao giờ xảy ra vào ngày Quốc khánh Úc. Thế là năm nay tôi có thêm một ngày nghỉ để hưởng cái Tết xa nhà. Trong ngày này, bên nhà chắc mọi người quay quần trong gia đình chúc thọ, ăn uống, nhật nhẹt, và bàn tán chuyện trong năm đã qua. Còn ở bên này thì không có Tết, nhưng là ngày nghỉ, nên tôi cũng hồi tưởng chuyện của mình gần 30 năm về trước và những bước đường đời đầu tiên trên đất Úc …

Sau 9 tháng lưu lại trong 3 trại tị nạn Thái Lan (Budi, Songkhla, và Panatnikhom) và sau khi đã được chính phủ Úc cấp visa tị nạn, qua sự dàn xếp của tổ chức ICM (Inter-governmental Committee for Migration), tôi và 54 người đồng cảnh ngộ rời Bangkok đi Sydney trên chuyến bay của hãng hàng không Qantas.

Thật ra, chuyến đi được tổ chức từ 3 ngày trước. Ngày 22/1/1982, khi còn ở trại tị nạn Panatnikhom, tôi nhận được thông báo là sẽ đi Úc vào ngày 26/1, nhưng phải đi Bangkok vào ngày mai để chuẩn bị thủ tục. Đối với những người tị nạn, tin đi định cư là một tin mừng. Tất cả ai ở trại tị nạn đều muốn rời trại càng sớm càng tốt để làm lại cuộc đời, vì cuộc sống trong trại có quá nhiều khó khăn. Cảnh sát Thái Lan canh giữ trại không cần dấu thái độ kì thị của họ đối với người Việt trong trại (nhưng lại có cảm tình với người Miên và Lào), và họ rất tàn ác với những người Việt vi phạm qui định của trại. Có người ví cuộc sống ở trại tị nạn là một cuộc sống địa ngục. Do đó, đi tị nạn cũng có nghĩa là thoát khỏi cái địa ngục trần gian này, thoát khỏi cái môi trường ngột ngạc và đầy thù hận trong trại. Đêm đó, chúng tôi – những người có trong danh sách đi Bangkok – tổ chức tiệc ăn mừng. Nói “tiệc” là cho oai, chứ thực ra thì chỉ là những món “gà lựu đạn” và món ăn mà trại cung cấp. Gà lựu đạn là cụm từ dùng để chỉ những con gà chỉ còn xương như bị đạp lựu đạn, là món ăn mà trại cung cấp. Đáng lẽ theo qui chế của Liên hiệp quốc thì trại phải cung cấp thịt gà đàng hoàng cho người tị nạn, nhưng vì người Thái họ cũng ăn chận và hối lộ nên chỉ cung cấp cho mấy con gà lựu đạn này, còn thịt thì chắc họ bán ra ngoài thị trường. Có lẽ nhiều người khi nghe qua ăn cơm trọng trại tị nạn mà có gà thì ngạc nhiên lắm, nhưng sự thật là họ nấu cho tập thể ăn, cho nên nói "gà lựu đạn" là một đống xương gà được nấu một cách hỗ lốn, mà nhìn vào thì người ta khó phân biệt đó là thức ăn cho heo hay cho người. Tuy nhiên, khi nhận phần cơm về, với những tài chế biến khéo léo của người Việt, cái phần ăn kinh khủng đó trở thành những món ăn tương đối ngon miệng. Chúng tôi đã có một đêm ăn uống vui vẻ, mà cũng có phần lưu luyến, nhất là những người có người yêu chưa có tên trong danh sách đi định cư.

Sáng sớm ngày 23/1, chúng tôi đã chỉnh tề chờ xe bus đi Bangkok. Theo “truyền thống”, trại thường phát thanh ca khúc Biển nhớ của Trịnh Công Sơn (có đoạn “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”) để tiễn đưa chúng tôi lên đường. Chuyến xe khởi hành lúc 6 giờ sáng. Trên đường đi Bangkok, tôi quan sát cảnh nông thôn của Thái Lan và thấy chẳng khác gì Việt Nam mình, nên càng làm cho nỗi nhớ nhà thêm da diết. Nếu có khác biệt thì chỉ có xa cộ nhiều hơn và đường xá ở đây quá tốt so với bên Việt Nam. Còn những cánh đồng, nhà cửa, vườn tượt, cây cối, v.v… thì hoàn toàn là cảnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 2007 khi tôi đi dự hội nghị loãng xương ở Pattaya thuộc tỉnh Chonburi, tôi hỏi anh tài xế là Panatnikhom ở đâu, thì ngạc nhiên thay, anh ấy nói ngay tại tỉnh này: tỉnh Chonburi. Anh ta cho biết Panatnikhom là tên của một huyện xa của tỉnh Choburi. Có lẽ đúng là “huyện xa” vì tôi còn nhớ lúc đó ở trong trại cứ như là ở giữa nơi đồng không hiu quạnh, hay “middle of nowhere”. Không ngờ mấy chục năm trước mình ra đi từ đây và nay lại quay về đây. Cuộc đời đúng là “một cõi đi về”!

Sau khoảng 5 giờ đường, chúng tôi đến thành phố Bangkok. Sau cả năm trời bị giam cầm trong các trại tị nạn ở rừng sâu núi thẳm, tôi đến Bangkok bằng một tâm trạng của một người nhà quê ra tỉnh. Lần đầu tiên trong đời thấy xa lộ chồng chéo lên nhau và xe ôtô chạy như mắc cửi, tôi mới thấy “Hòn ngọc Viễn Đông” Sài Gòn của Việt Nam quá ư là lạc hậu và thậm chí bé nhỏ!

Xe chở chúng tôi vào một trung tâm tạm trú mà sau này tôi mới biết đó là một nhà tù dành cho người nước ngoài. Tuy là nhà tù, nhưng tôi thấy tiện nghi thì khá hơn gấp trăm lần so với trại tị nạn. Có nước tắm đầy đủ (chứ không phải 20 lít nước/ngày như ở Panatnikhom), ăn uống cũng đầy đủ hơn, và cảnh sát ở đây cũng lịch sự hơn nhiều so với mấy người ở trại tị nạn. Tuy nhiên, chúng tôi không được phép ra ngoài trại. Trong thời gian ở đây, nhân viên sứ quán Úc vào làm thủ tục định cư cho chúng tôi.

Đến ngày 26/1 thì chúng tôi lên một chiếc xe bus khác để ra phi trường. Một lần nữa, tôi ngạc nhiên về sự trù phú của Bangkok, mà trong lòng thì buồn cho Sài Gòn của mình. Tôi tự hỏi chẳng biết bao giờ Sài Gòn mới được như Bangkok, và cũng không có câu trả lời, vì chút nữa đây tôi sẽ càng xa quê hương.

Ngồi trong phòng chờ đợi ở phi trường, trong lòng tôi lúc đó buồn vui lẫn lộn. Tôi không bao giờ có cảm tình (nếu không muốn nói là ghét) chính phủ Thái Lan, vì thái độ làm ngơ và bất nhẩn của họ trước thảm nạn trên biển Đông, nhưng dù sao đi nữa, đất Thái cũng đã cưu mang tôi trong thời gian khó khăn nhất, và vì đã có một sự gắn bó như vậy, tôi cảm thấy buồn buồn khi phải chia tay Thái Lan. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn! Vui là vì tôi biết sắp tới đây mình sẽ được tự do, được sang một xứ sở “văn minh”, và nhất là không còn bị giam cầm trong các trại tị nạn nữa. Tôi mường tượng ra vài giờ nữa đây, tôi sẽ đặt chân lên một nước rất đẹp, nơi có những thắng cảnh như nhà con sò và cầu cảng Sydney. Tôi sẽ làm gì ở đất nước đó vẫn là một câu hỏi lớn …

Đang miên man chuyện tương lai thì nhân viên ICM cắt dòng suy nghĩ của tôi. Họ lùa chúng tôi lên chiếc máy bay khổng lồ (mà sau này tôi biết là Boeing 747) thuộc hãng hàng không QANTAS của Úc, và được sắp xếp ngồi ở những hàng ghế sau cùng trong máy bay. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay to lớn như thế. Đang loay hoat tìm cái thắt dây an toàn thì tiếp viên đem đến cho chúng tôi khăn lau mặt thơm phức và li nước cam vàng tươi vô cùng mát mắt. Sau nhiều tháng bị đối xử như tù nhân, đây là lần tôi được phục vụ và đối xử tốt. Tôi đã thật sự xúc động và ngạc nhiên không hiểu sao họ lại tử tế với mình như thế!

Sau tám giờ bay, máy bay đang hạ dần cao độ, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố Sydney đã hiện ra trong tầm mắt. Tôi sắp tới Úc. Cái ý tưởng đó lại làm cho tôi bồi hồi, xúc động một cách khó tả. Trên máy bay, cô tiếp viên nói trên loa câu “Chào mừng các bạn đến Sydney, Úc Đại Lợi” (Welcome to Sydney, Australia) và thông báo cho chúng tôi biết hôm nay là ngày 26 tháng 1 năm 1982, ngày Quốc khánh của Úc. Cô ta còn cho biết nhiệt độ hôm nay là 42 độ C.

Sau khi làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng, tôi ra ngoài hành lang phi trường. Tôi chưa có khái niệm về nhiệt độ 42oC như thế nào, nhưng khi ra phi trường trong cái nóng hừng hực tôi mới bị sốc. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng nước Úc đang ở vào mùa hè! Một rừng người Tây đang chờ thân nhân. Tôi thấy mình lạc lõng làm sao. Người thì ốm tong teo trong khi ai cũng có vẻ hồng hào phương phi. Người ta thì hành lí sang trọng, còn tôi thì chỉ có cái vỏ vải trên vai chứa đúng hai bộ quần áo. Tôi chỉ có đôi dép bata và cái áo trắng với cái quần tây màu xanh đen dài lòng thòng, trông chắc như Hai Lúa lên thành. Thật ra, Hai Lúa còn hơn tôi nữa, vì lúc đó tôi chẳng có một đồng xu trong túi.

Trong đám đông người Tây, có một đoàn người Á châu đi đón người thân tị nạn. Trong đoàn người đó, có anh Trường và con anh ấy đi đón tôi. Con gái của anh (lúc đó chắc chỉ 10 tuổi gì đó) cầm một bó hoa đưa cho anh em tôi như là một lời chào mừng đến Sydney. Tôi đang lúng túng chẳng biết làm gì với cái bó hoa đó, thì nhân viên ICM đã hối chúng tôi lên xe bus về hostel. Nghe chữ “hostel” tôi đã ngạc nhiên, vì hồi nào đến giờ chỉ nghe “hotel” chứ có nghe hostel bao giờ đâu. Mãi sau này tôi mới biết hostel là một loại hotel cho “host” (khách) – viết ghép – ở dài hạn.

Chúng tôi lên xe bus đi về một trung tâm tạm cư ở vùng ngoại ô phía Tây Nam Sydney có tên là Cabramatta. Trên đường từ phi trường đến vùng ngoại ô Cabramatta, tôi để ý không thấy nhà cửa cao vút trời như ở Bangkok, mà chỉ toàn là nhà gạch đỏ ao, không sơn phết phía ngoài như nhà ở Việt Nam. Có lúc xe chạy ngang qua những khu cây cối um tùm mà tôi tưởng như đang đi trong rừng. Lúc đó, tôi đã hơi thất vọng, vì nước Úc không như mình nghĩ trong tâm tưởng là một xứ với nhà lầu cao trọc trời, văn minh, hiện đại. Xe bus đổ bến Cabramatta Hostel, tôi đã thấy vài anh chị đang nằm trên bãi cỏ xanh rì đọc sách hay ngắm nhìn trời xanh ... Tôi để ý thấy đủ sắc dân ở đó mà sau này tôi được biết là họ đi từ Campuchea, Lào, Hồng Kông, Nam Dương, Ba Lan, Nam Tư, Tiệp Khắc, Liên Xô, v.v…

Nhìn hostel từ phía ngoài qua màu gạch có vẻ cũ kĩ, nhưng phía trong phòng lại đầy đủ tiện nghi như phòng trong khách sạn. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng người Úc không chú trọng bề ngoài nhưng lại rất quan tâm đến phía trong. Theo qui định của hostel, chúng tôi không được nấu nướng trong phòng mà phải ăn ở phòng ăn của nhà bếp. Phòng ăn và nhà bếp rất lớn, có khả năng phục vụ cả vài trăm người. Lần đầu tiên vào phòng ăn, tôi bị choáng ngộp trước lượng thức ăn và sự dư thừa của thịt cá và trái cây ở đây. Tất cả thức ăn đều được bày đặt một cách cực kì ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả thức ăn đều do người Úc nấu theo kiểu [dĩ nhiên là] Úc. Mỗi ngày nhà bếp phục vụ ba buổi ăn: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối. Mặc dù thức ăn đầy rẩy, tôi vẫn không ăn được gì nhiều, một phần do nhớ nhà, một phần vì thức ăn không hợp khẩu vị (không có nước mắm hay các món như kho ...). Mà cũng chẳng riêng tôi, hầu như người Á châu nào cũng có cùng cảm tưởng. Cứ mỗi lần họ phục vụ món thịt trừu thì phòng ăn có đầy người Tây phương và vắng mặt người Á châu; nhưng nếu bữa ăn có món thịt gà thì lại thấy hiện diện của nhiều "đầu đen". Sau này, nhà bếp họ biết khẩu vị của người Á châu, nên họ thuê hẳn đầu bếp Á châu vào nấu, và thế là chúng ta có những bữa ăn ngon.

Vì mới tới trại, chưa đủ thời gian để chính phủ trợ cấp an sinh xã hội, nên Hội Chữ Thập Đỏ lúc đó phát cho chúng tôi mỗi người 20 đô-la và một vé đi mua quần áo cũ ở tiệm của Hội. Tôi mừng lắm, lần đầu tiên cầm trên tay 20 đô và cũng chẳng biết phải làm gì với số tiền này. Tôi bèn cuốc bộ đến cửa hàng mua hai bộ đồ cũ và một đôi giày cũ để thay đổi. Tất cả chỉ tốn chỉ 2 đô-la! Nói là đồ cũ nhưng thực ra thì chất lượng còn rất tốt đối với tôi. Tôi còn dư đến 18 đô.

Sau vài ngày quen nước quen cái, tôi tìm đường cuốc bộ ra phố và thấy có một tiệm thực phẩm có tên là Hồ Vị An và một tiệm phở Quê Hương. Tôi mừng húm vì có thể vào mua mì gói về "nhà" nấu ăn (dĩ nhiên là dấu ban quản trị hostel) mà không phải ăn thịt trừu nữa. Nhưng tôi vẫn chưa dám vào quán phở ăn, vì thấy một tô phở giá tới 2 đô-la, tức tương đương giá hai bộ quần áo và đôi giày của tôi!

Tôi đã có những ngày sung sướng nhất ở đây, những ngày thực sự tự do, không còn phải lo âu vì những lần chuyển trại, chẳng ai quấy rầy hay khủng bố tinh thần. Tôi viết thư về nhà báo cho Ba Má và các em biết là đã đến bến bờ tự do, nhưng ở nhà chỉ nhận một ít thư của tôi do chế độ kiểm duyệt khắc nghiệt lúc đó. Sau này tôi mới biết là sau lần anh em tôi vượt biên, Ba tôi đã phải trình diện hàng ngày trong sáu tháng liền với công an xã để nghe họ giảng giải về chính sách của cách mạng. Tất cả thư từ tôi gửi về nhà hoặc bị tịch thu, hoặc Ba tôi phải đọc trước các ông công an xã. Có lần Ba tôi nổi nóng không đi đọc thư cho họ nghe nữa, và thế là họ buông tha.

Tôi ghi danh đi học tiếng Anh. Nhưng tôi lại thất vọng về cách dạy ê a của thầy cô ở đây, và chỉ một tuần sau tôi lại nghỉ học. Tôi quyết định tự học tiếng Anh. Nhưng tôi cần một cuốn từ điển. Tôi mạo hiểm đón xe lửa ra thành phố (downtown) Sydney, ghé một nhà sách khổng lồ có tên là Dymock nằm trên đường Georges. Tôi bước vào nhà sách tìm mua cuốn từ điển Oxford và cuốn sách văn phạm tiếng Anh Practical English Usage của soạn giả Michael Swan (mà tôi đã từng dùng tự học hồi ở trại tị nạn). Tôi đinh ninh là chữ Ford (đọc là "fo.d"), vậy thì Oxford phải đọc là "ox.fo.d". Nghĩ thế, tôi nói với anh bán hàng là tôi tìm mua cuốn từ điển "ox.fo.d"; anh ta trố mắt nhìn tôi không hiểu tôi nói từ điển gì, và lịch sự kêu tôi đánh vần cụ thể. Tôi bèn viết ra trên giấy chữ "Oxford"; anh ta ồ lên một tiếng rồi vui vẻ chỉ tôi cách đọc là "ox.fớd". Nhớ suốt đời! Ôi! Tiếng Anh sao mà rắc rối quá!

Tôi tự học tiếng Anh từ đó. Cách học tiếng Anh của tôi rất đơn giản: Mỗi ngày tôi học chỉ một chữ. Nhưng tôi học cẩn thận, ngoài nghĩa của chữ, tôi còn tìm hiểu nguồn gốc của chữ này đến từ đâu, những biến thể của nó, và cách sử dụng những biến thể này như thế nào. Chẳng hạn như chữ produce, tôi phải tìm hiểu produce (động từ và danh từ), biến thể production, product, productive, v.v… phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ. Mỗi ngày tôi tìm báo để đọc, và chữ nào không biết thì xem từ điển, chữ nào chưa biết cách phát âm thì chờ đến chiều khi đài truyền hình họ truyền đi những bản tin tức này và để ý họ phát âm mấy chữ mình chưa rành ra sao. Tôi thấy học như thế có hiệu quả rất cao về từ vựng. Còn về văn phạm thì cuốn Practical English Usage của Swan đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Tôi học văn phạm bằng cách … dịch sách. Để phân biệt cách chia và sử dụng động từ, tôi dịch những phần liên quan trong cuốn sách sang tiếng Việt. Tôi phát hiện rằng cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và dịch sang tiếng Việt là cách học tuyệt vời nhất.

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi thành thật nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn có kiến trúc hơi lạ có tên là “Belmore Hotel”. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent's đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent's toạ lạc, để xin việc. Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây do thành thật, kì này tôi làm gan nói dối là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. "Làm ở đâu?" Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là thái củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi nui xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả. Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và cắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi, vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà .. .

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất to, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tôi phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của anh mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Anh có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã nói dối về chuyện làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Ramsey và thú nhận là tôi đã nói dối bà ta về kinh nghiệm nhà bếp hôm phỏng vấn. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có vài tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v… cũng có cùng số phận như tôi. Những người này đã từng là chuyên viên lành nghề, nhà khoa bảng, luật sư, bác sĩ, v.v... ở nước họ, nhưng sang đây vẫn phải làm việc tay chân, vì bằng cấp của họ không được công nhận tại Úc. Và tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 600 giường, với độ 400 bệnh nhân. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xáo nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái, chẳng ai nói gì. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn! Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cấm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê, gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v… Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác. Thằng Trạng là đứa em đi vượt biên chung với tôi cũng xin vào khách sạn làm nhà bếp, nhưng nó chỉ được nhận là nghề rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ mà thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi làm việc ca đêm.

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đo-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. (Thời đó giá cả còn rẻ lắm, một lít xăng chỉ có 15 cent chứ không phải 1.10 đô như bây giờ). Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (cửa hàng bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng. Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977, giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nổi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Nhưng tai nạn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s. Đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặct đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe. Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tính xong, ông hỏi tôi có luật sư không, thì tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Thật ra, trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.” Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì có biết ông tòa nói gì đâu. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”! Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và hình phạt là tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe.

Tôi sớm nhận ra mình phải thoát khỏi cái công việc này, vì nó chẳng dẫn mình đến đâu. Tôi quyết chí tìm con đường đi học lại, và quá trình học lại của tôi là một câu chuyện dài cần phải có thì giờ để thuật lại.

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam, nên ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Có người còn sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi. Làm cái gì cũng nhớ lại bên nhà. Ra phố đông người mà thấy mình lạc lõng làm sao. Lạc lõng không phải vì tiếng Anh kém, mà vì tâm trạng nhớ nhà. Lúc nào tôi cũng nghĩ phải chi mình mua cái này cái kia để gửi về nhà. Thành ra, có một ca khúc tôi còn nhớ đến nay trong đó có đoạn: Ôi me yêu ơi, con lang thang giữa phố đông người / Tuy phố đông người, nhưng con lạc loài một bóng đơn côi. Ngay cả cái nóng của Sydney vào mùa hè làm tôi nhớ đến cái nóng bên nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!
Một mình anh lê bước trên đời
Nắng nơi đây cũng là nắng ấm
Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương

Những lời nhạc trên đây đã được viết ra từ 30 năm về trước mà cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp Tết.

Chú thích

(1) Ngày 26/1/1788, đoàn thuyền gồm 11 chiếc dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Arthur Philip do Đế quốc Anh gừi sang chinh phục Úc. Trước đó 18 năm (1770), thuyền trưởng James Cook đã từng ghé đây. Việc đế quốc Anh quyết định chinh phục Úc là một hành động mở rộng lãnh thổ sau khi thất bại ở châu Mĩ. Sau này, các chính phủ liên bang quyết định lấy ngày 26/1 làm ngày Quốc khánh, có khi còn gọi là ngày lập quốc (Foundation Day). Nhưng đối với người thổ dân, những cư dân địa phương đã có mặt ở đây cả mấy chục ngàn năm, thì ngày đó là ngày xâm lăng – Invasion Day.

12 comments:

Anonymous said...

Hay qua Thay. Thay viet tiep giai doan di hoc sau do cho tui em hoc tap voi
Chuc Thay khoe

Anh-Tuan said...

Cám ơn anh Tuấn đã kể lại những bước chân đầu tiên nơi xứ người. Mỗi người tỵ nạn đều bắt đầu bằng con số không to tướng. Nhìn lại nhũng chặng đường đã qua, cũng cảm thấy chút tự hào về những điều mà mình đã đạt được ! Tôi đặt chân đến Úc một buổi sáng mùa đông, không áo ấm, chân mang đôi dép Nhật ( không có được đôi giày bata như anh, hì hì ), nhớ mãi cái ngày đầu tiên đặt chân đến phi trường Sydney...
Nhân ngày đầu năm gửi đến anh những lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới.

Anonymous said...

Khen anh cung thua, nhung moi chi doc qua mot phan doi cua anh lam toi thay nguong mo nhung nguoi ty nan o ngoai nhu anh.

Hom nay o ben nay ai cung an Tet va toi cung da ngam hoi men. Nhung van muon co vai loi chuc Tet. Men chuc anh dat duoc nhieu thanh tuu hon nua. Khi nao ranh anh phai ke cho chung toi ve quang doi ke tiep nhe.

Hai Lua

Anonymous said...

Chao anh Tuan
Toi vo tinh doc duoc blog cua anh, co nhung bai anh viet rat thuc va nhieu bai lam cho toi phai suy nghi. Toi xin co vai y kien muon dong gop voi anh mot cach chan thanh.

Toi nghi rang neu la la nguoi dao Cong giao thi khi chet di, anh se duoc phong la mot ong Thanh, neu anh la dao Phat thi anh se tro thanh mot vi Phat cao ca , chi thua kem Duc Phat ma thoi , tam goi la Buddha assistant, khong biet co duoc chang ?

Qua nhung bai anh da viet, cho du la anh co thanh tam thanh y di nua thi cung co nhieu cho lam cho toi phai suy nghi lai ve con nguoi cua anh, vi nguoi ta noi la "van minh vo nguoi", con nguoi anh the nao thi anh se viet van nhu vay dieu nay khong the lam khac di duoc. Long day thi mieng moi noi ra.

Chi co dieu toi tiec la ong Bui Tin hay mot tac gia nao do (toi khong nho ten), da viet cuon sach "Ve ba ong Thanh" (hy vong anh co doc cuon sach nay), neu cuon sach do chua duoc viet bay gio, va neu tac gia do biet duoc anh luc nay, chac de tua cua cuon sach se la "Ve bon ong Thanh".

Qua cac bai viet trong blog cua anh, toi nhan thay nhung diem lam anh khong duoc vui trong cuoc song o xu Uc nay, nhung gi anh khong dong y voi cuoc song hien tai cua anh (thi du nhu anh bi Hai Quan Uc doi xu the nay the no o phi truong Sydney the nay the no etc...) thi anh nho rat ky, va mo ta tung chi tiet trong cac bai viet cua anh.

Con nhung gi nguoi Uc lam cho anh trong nhung thang ngay anh song o xu nay, giup do anh the nao thi anh cung appreciate vay, nhung theo toi chi la mot thu appreciation cho co le^. ma thoi.

Doc cac bai viet cua anh, nhat la nhung bai anh phe phan cac he thong phap luat cua Uc, cac chinh tri gia cua Uc, cach anh viet ve nhung nguoi ty nan luc nao cung nghi la Uc la so mot, the nay the no etc..., toi thay duoc su "kieu ngao nga^`m" cua anh.

Toi cung la mot nguoi dan Nam Bo nhu anh, cung xuat than o mien Tay nhu anh, cung duoc hoc hanh den noi den chon nhu anh, cung la nguoi ty nan nhu anh, tuoi tac thi lon hon anh vai tuoi, nen doc van cua anh la toi co the hieu va hieu duoc nhung gi anh viet.

Thoi thi cung duoc, vi con nguoi anh, no nhu the ma. Anh co tai, anh hoc gioi thi cho du anh co o Uc hay o My hay o bat cu mot nuoc nao tren the gioi, anh cung se thanh cong, do la chuyen tat nhien. Co dieu neu anh thay rang luat phap Uc doi xu voi anh mot cach ky thi, khong dung voi expectation cua mot nguoi hoc thuc nhu anh thi anh co quyen tu do di den sinh song o mot xu nao ma anh thich.

Toi cung coi duoc hinh anh lam thong dich vien cho Bo Truong Y Te cua VN la Nguyen Quoc Trieu trong blog cua anh. Toi nghi : neu anh thay Viet Nam trong dung anh, Viet Nam doi xu voi anh khong ky thi, o Viet Nam anh thay duoc tinh que huong dam da etc..., anh co the ve Viet Nam sinh song thoai mai, chu can gi anh phai o Uc de roi viet nhung dieu nhu vay. Va hon nua, chac co nhung luc anh da hoi tiec rang : sao hoi xua tui ngu qua, tui vuot bien lam chi, phai chi tui biet nhu vay, tui da o lai de xay dung que huong Viet Nam cua tui ????

Doc bai "Don Xuan nay nho Xuan xua" cua anh, toi thay anh mo ta tung chi tiet ve nhung gi anh da phai chiu dung trong nhung ngay anh o trai ty nan ben Thailand. Roi toi lai nho lai anh viet khi anh tro ve Pattaya de tham du cac Hoi nghi ve loang xuong vao nhung nam gan day (o mot bai viet khac cua anh), toi cam nhan duoc mot "revenge" (mot su tra thu, mot tu tuong kieu ngao), tuong tu nhu mot cach "dau tranh giai cap" vay do.

Mot nha khoa hoc co tri nho tot nhu anh that la dang quy, nhung toi tiec o cho la memory cua anh lai la mot loai "selective memory", anh nho tat ca, nhung anh chi viet nhung gi anh muon viet chu khong viet het 100% su viec. Nhung gi anh viet ka su that, nhung khong co nghia la anh da viet het 100% su that. Khac nhau la o cho do... Uong qua anh Tuan a.

Trong bai viet nay, anh da nho lai ba ma anh da phai kho so nhu the nao khi anh vuot bien, roi bay gio anh tro lai giup cho chinh nhung nguoi da lam kho ba ma anh, chinh vi vay ma toi goi anh la mot ong Thanh.

Nhung thua anh Tuan, anh co the doi gat duoc moi nguoi, doi gat ca Troi dat (???), nhung co mot nguoi anh khong doi gat duoc, do chinh la con nguoi cua anh. Su gia doi co the tao cho anh mot cai be mat tam thoi nhung khong bao gio truong cuu dau anh Tuan a.

Anh dung nghi la toi da kich anh ve mat chinh tri, hoan toan khong co dau anh Tuan a. Theo toi nghi, anh co quyen tu do cua anh, anh co quyen suy nghi theo chieu huong cua anh, anh co quyen lam nhung gi theo y anh muon, vi anh dang song trong mot xu dan chu ma.

Ve mat chuyen mon, toi khong du tu cach de ban voi anh, toi ton trong kien thuc cua mot Professor of the University of NSW. Hon nua, chuyen mon cua toi va cua nah rthuoc 2 linh vuc khac nhau nen khong co van de tranh cai o cho nay. Xin anh dung hieu lam toi.

Toi chi xin mot dieu anh dung viet nhung dieu nhu xua nay anh da viet, dung co qua cau roi rut cau, dung tao hieu lam cho nhung nguoi VN khac (nhat la nhung nguoi con o ben VN) khi doc cac bai trong blog cua anh, vi nguoi VN minh hay co loi suy nghi "ong ay hoc gioi, ong ay noi la dung".... Chuyen do xua roi anh Tuan a, chac anh dong y voi toi.

De ket thuc cac y kien nay, xin goi anh mot nhan xet cua cu gia 79 tuoi o Sydney sau khi toi doc mot vai bai viet cua anh cho cu nghe . Cu noi rang : Cau nay hoc gioi, tot that nhung cau ay chua biet minh la ai, va cau ay quen rang co nhung nguoi co di hoc nhung khong co giao duc, vi di toi truong hoc va giao duc la 2 chuyen khong phai luc nao cung di chung voi nhau"

Chao anh.

Nguyễn Văn Tuấn said...

Chà, lại có người trách tôi sao chỉ nói xấu Úc và còn chất vấn trí nhớ selective của tôi, và hàm ý nói vô giáo dục. Trang blog này ban đầu chỉ có vài người bạn biết, nhưng dần dà nhiều người biết và mọi người phê bình, nhận xét nhiều, tôi không có xóa bỏ mấy comments dù có ý không hay ho. Tuy nhiên, người vô danh trên đây viết thì tôi phải nói thẳng là “không đồng ý”. Thái độ của người vô danh này, chỉ cái việc dấu tên, nói lên được phần nào nhân cách, ấy thế mà lại đi chất vấn người khác!

Tôi không nghĩ mình vô ơn với nước Úc. Chuyện nước Úc cưu mang tôi thì rõ ràng như thế, và chuyện tôi làm việc để cống hiến cho xứ sở này là điều tôi có thể tự hào. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi phải khen Úc. Hoàn toàn không. Cũng như tôi phê bình Việt Nam hay Mĩ thì tôi cũng phê bình Úc. Không bao giờ bỏ qua sự chất vấn. Còn những câu hỏi tại sao tôi không về Việt Nam này nọ (nghe quen quen) thì thú thật tôi thấy nó trẻ con quá, ngụy biện quá, không đáng để tôi trả lời. Nó thậm chí không xứng đáng câu hỏi của một người tự nhận là “có học”.

Tôi không có bình phẩm gì về nhận xét của cụ già 79 tuổi, nhưng tôi nghĩ thật sự thì chính cụ cũng chưa biết mình là sai. Đúng là có người có học mà vô giáo dục, và một trong những người như thế là người tự cho mình ngồi một chỗ vuốt râu nhận xét người khác mà không biết người ta để tỏ ra mình cũng ưu thời mẫn thế. Người ta gọi những người như thế là vô giáo dục, còn tôi thì gọi họ là “Thúy Vân đàn ông”.

NVT

Anonymous said...

Kinh anh Tuan
The la anh hieu lam y cua toi roi. Toi chi viet len nhung dieu toi nghi, khong ham y gi ca. Khi anh noi la cau hoi tai sao anh khong ve VN nay no (nghe quen quen), chac anh lai nghi la toi co y chi trich anh ve mat chinh tri ? anh lai hieu lam toi roi do. Chuyen cua anh, nhu toi da noi, anh co tu do cua anh. Toi khong co y phe phan gi anh ve mat chinh tri ca. Xin anh doc ky lai nhung gi toi da post cho anh. Gian qua mat khon, anh Tuan a.

Co dieu dang buon la nhieu nguoi khac viet cho anh, viet de khen anh van khong de ten that, ho van la "anonymous" (vo danh) thi anh rat la vui ve (thoi thuong cua cuoc doi ma). Bay gio toi chi viet mot vai y kien co ve nghe khong thuan lo tai cua anh, thi anh lai da noi gian roi. Anh nong tanh qua di thoi. Ma thoi, trung ngon thi nghich nhi, thoi dai nao cung vay thoi, phai khong anh Tuan ?

Anh lai viet la "Thái độ của người vô danh này, chỉ cái việc dấu tên, nói lên được phần nào nhân cách, ấy thế mà lại đi chất vấn người khác! ". The nhung nguoi dau ten ma khen anh thi la nguoi co nhan cach tot, con nguoi nao gop y voi anh ma khong de ten that , khong thuan lo tai anh thi la nguoi co nhan cach xau hay sao ? Again, dieu nay chung to anh nong tinh qua di anh Tuan a.

Thoi de cho anh khong hieu lam toi nua, thi day, toi ten la Nguyen van Thanh, sinh nam 1949 tai Vinh long, duoc chua ? Toi viet ten that cua toi, khong phai de chung minh la toi co nhan cach, hay la de tranh cai gi voi anh, nhung chi co y de lam cho anh bot hieu lam toi thoi.

Va neu nhung gi toi viet da lam cho anh khong vui thi toi xin loi anh, chinh thuc xin loi anh tren trang blog cua anh. Chac doc den day anh vui long ha da roi chu ?

Anh lai viet la "Nó thậm chí không xứng đáng câu hỏi của một người tự nhận là “có học”.
Thua anh Tuan, khi toi viet la toi "co hoc" (noi theo nguoi Nam Bo do ma) chang qua toi cung da co dip den truong giong nhu anh, cung hoc hanh thi cu giong nhu anh, cung trai qua nhung khoang doi kho cuc, ngheo kho nhu anh, co khi co cuc kho hon anh nua kia. Nhung neu anh noi la tui khong xung dang la mot nguoi "co hoc", toi cung danh chiu thoi, biet lam sao bay gio. Anh hoc gioi, anh co quyen khinh nguoi, cung la thoi thuong, mieng nha quan co gang co thep, thoi nao cung vay, phai khong anh Tuan ?

Thoi thi mot lan nua, toi thanh that xin loi anh, neu biet duoc la anh khong vui khi nghe gop y thi toi da khong viet len nhung suy nghi cua toi de gop y voi anh.

Tuy nhien toi cung cam on anh da viet tra loi cho toi, du la toi da khong viet ten that, du la anh da biet la toi khong co nhan cach, toi au tri, tre con, nguy bien, khong xung dang la nguoi "co hoc" etc... Co dieu toi man nguyen la toi da khong sai khi goi anh la mot ong Thanh.

Mot lan nua toi xin thanh that xin loi anh, chuc anh nhieu may man...

Kinh chao anh.
Nguyen van Thanh.

Anonymous said...

Anh Tuan,anh Thanh

Toi cung la mot nguoi Nam Bo nhu 2anh, que toi o Ca Mau, nhung co noi ra thi 2 anh cung chang biet toi la ai. Tanh toi thi hay "di hoa vi quy" nen cung xin gop mot vai y kien cho vui dau nam de 2 anh cung ... hoa ca lang. Neu co gi khong phai, xin 2 anh bo qua cho.

Anh Tuan da tu mau thuan voi chinh minh khi tra loi anh Thanh nhu vay : Tôi không có bình phẩm gì về nhận xét của cụ già 79 tuổi, nhưng tôi nghĩ thật sự thì chính cụ cũng chưa biết mình là sai.

Anh khong binh pham gi ve nhan cach cua cu gia 79 tuoi, anh vua viet xong cau do, anh da "nghĩ thật sự thì chính cụ cũng chưa biết mình là sai.". Anh co thay anh tu mau thuan lay chinh minh chua ? Co le vi vay ma anh Thanh noi la anh "gian mat khon" chang ???

Ma thoi, ca 2 anh, nguoi 8 lang, ke nua can, dau nam dau thang chua chi da but chien voi nhau lam chi, hay song cho thoai mai vui ve, cuoc doi ngan ngui, song nay chet mai. So ve tuoi tac, chac 2 anh cung co the da la ong noi ongoai ca roi (neu co vo som), chuoi nhau tren blog, con nit no cuoi cho..

Co dieu toi phai noi that la doc xong 2 comments cua 2 anh, toi cung co than phuc anh Thanh phan nao (mot chut thoi), anh lem linh va tham thuy that do anh Thanh a, anh da lam dung nhu ong ba minh noi "noi ngot ma lot den xuong".

Anh Tuan la mot chuyen gia noi tieng tren the gioi ve loang xuong, ma anh da noi "lot den xuong", chang trach lam sao anh Tuan chang noi tran loi dinh (noi gion thoi anh Tuan oi). Da so nguoi Nam Bo chung minh thuong hay nong tanh, phai khong 2 anh ?

Khong biet vo tinh hay co y ma anh da phan nao lam cho anh Tuan mat di cai net than tuong trong mat mot vai nguoi doc blog cua anh Tuan (khi anh Tuan da "gian mat khon" - xin loi anh Tuan nha, toi nghi sao noi vay). Le ra anh khong nen lam nhu vay anh thanh a.

Voi so tuoi cua anh Thanh (sinh 1949), toi doan la ngay xua anh hoc Luat o Saigon truoc nam 1975 ??? thi chuyen anh Tuan khong the tranh cai voi nhung ly luan cua anh cung la chuyen thuong tinh thoi.

Thong thuong, nhung nguoi lam khoa hoc thuan tuy nhu anh Tuan kho long tranh cai duoc voi dan hoc Luat nhu anh Thanh (neu nhu toi doan dung).

Nhan dip dau nam, cung la anh em VN voi nhau ca, toi xin chuc ca hai anh deu vui ve trong nam moi. Anh Tuan cu tiep tuc viet blog cho anh em doc cho vui.

Nguyễn Văn Tuấn said...

Một anh bạn tôi khi được hỏi sao không cho bạn đọc viết comments trên blog thì anh ấy nói không thích comment, vì nó giống như “người tức giận chạy xe qua quăng lựu đạn rồi chạy mất. Ngay cả nhiều trang hải ngoại nghiêm túc để cho độc giả phê bình, tôi thấy như có người đi ngang qua chửi, cười hà hà, bất công với tác giả.” Trang blog này cũng có những comment khen tặng, chê, chỉ trích, v.v… nói chung là đủ cả. Blog mang tính cá nhân, nhưng chữ đã viết ra thì nó trở thành công cộng, nên có người khen kẻ chê là bình thường. Giống như “làm dâu trăm họ” vậy. Tôi hiểu điều đó nên không cảm thấy phiền hà gì.

Có người comment là chỗ quen biết, một số thì chưa quen (như anh vậy), và một số lớn khác thì anonymous. Vài người núp dưới anonymous để chỉ trích khi tôi viết về những chuyện tiêu cực hay những nhận xét critical về Việt Nam, nhưng tôi không trả lời, vì thấy như anh bạn trên kia nói những comment ngắn đó như là người nổi giận quăng lựu đạn, không xứng đáng với thì giờ mình bỏ ra. Nhưng comment của anh thì dài hơn, chứng tỏ anh có suy nghĩ, nên tôi mới trả lời.

Còn chuyện tôi có hiểu lầm hay không thì tôi nghĩ dựa vào những gì anh viết (chỉ biết qua chữ nghĩa thôi) tôi không nghĩ vậy. Không phải anh là người đầu tiên tỏ ý nói tôi vô ơn với nước Úc đâu; đã có hai người bạn thân khác cũng có ý như thế trong lúc trà dư tửu hậu. Có người thậm chí còn nói “Ông chê Úc quá, sao ông không qua bên Mĩ hay Việt Nam mà sống”? (Nhưng lại có người chỉ trích tôi là phê phán Việt Nam như thế thì đừng nên về quê làm gì!) Cả hai ý đều rất … hài hước! Do đó, tôi viết “nghe quen quen” là thế. Hình như người ta nhập nhằng giữa phê phán critical với chống đối, hay khen với chấp nhận.

Thú thật, tôi không phân biệt luật hay thâm thúy hay gì đó. Đối với tôi cái gì cũng phải rõ ràng, còn viết theo kiểu "đa tầng" để cho rằng mình là "sĩ phu" hay thâm thúy gì đó thì tôi chỉ mỉm cười.

NVT

dzunghle said...

BS Tuấn viết hay quá. Mặc dù không biết GS BS Tuấn, nhưng em rất cảm phục BS qua những gì đã làm cho ngành Y Tế VN. Em cũng đang mon men theo con đường học Y (hiện em đang học undergrad major in Bio, minor in Chem tại Mỹ). Những bài viết của BS Tuấn cho em thêm nhiều kinh nghiệm và thông tin bổ ích.
Đầu năm, kính chúc BS Tuấn lúc nào cũng nhiều niềm vui, mạnh khỏe, chỉ số trích dẫn càng tăng cao, và muốn gì có nấy.

Anonymous said...

Cam on anh Tuan, luc tra loi nhung gop y cua toi ban dau thi anh da to ra rat gian du : "Thái độ của người vô danh này, chỉ cái việc dấu tên, nói lên được phần nào nhân cách, ấy thế mà lại đi chất vấn người khác! "

"Còn những câu hỏi tại sao tôi không về Việt Nam này nọ (nghe quen quen) thì thú thật tôi thấy nó trẻ con quá, ngụy biện quá, không đáng để tôi trả lời. Nó thậm chí không xứng đáng câu hỏi của một người tự nhận là “có học”.

Chua chi ma anh da voi mat sat toi nhu vay. Cho den khi toi viet lai cho anh la anh hieu lam y toi (toi chua bao gio viet la anh vo on doi voi nuoc Uc), toi da chinh thuc xin loi anh tren blog cua anh - thi anh da diu giong : "Nhưng comment của anh thì dài hơn, chứng tỏ anh có suy nghĩ, nên tôi mới trả lời. "

Anh thay chua,tu mot dua tre con, mot nguoi nguy bien, mot nguoi khong co tu cach, toi da duoc anh bien thanh mot con nguoi " co suy nghi" trong vong khong day 24 gio dong ho. Cam on anh nhieu lam. Nam nay chac la toi se trung Lotto giai nhat roi do.

Phan toi thi toi cung xin rut kinh nghiem : tu ray ve sau, anh viet gi thi viet, toi chang bao gio dam gop y voi anh ca. Anh noi sao cung dung, anh lam gi cung hay ca. Hy vong nhu vay se lam cho anh vui hon.

Toi cung xin muon blog cua anh Tuan de cam on anh ban vo danh nao do (anonymous) da co y giang hoa giua toi va anh Tuan. That ra thi anh Tuan va toi dau co gi bat hoa dau ma giang hoa, vi toi va anh Tuan chang quen biet gi nhau.

Chang qua la toi da khong biet duoc la anh Tuan chi thich doc nhung loi khen (du nguoi khen la anonymous - vo danh) ma khong thich doc nhung gop y khong thuan voi lo tai cua anh ay, nen toi da vo tinh lam anh ay tu ai. The thoi. Du sao, toi cung cam on anh ban da co long tot.

Chuc anh Tuan nhieu suc khoe, vui ve de tiep tuc cong hien vao viec giup do que huong Viet Nam.

Nguyen van Thanh (sinh tai Vinh Long nam 1949).

Anonymous said...

Tôi không cho rằng việc ẩn danh và nhân cách dính dáng gì với nhau. Có rất nhiều người khi làm việc từ thiện họ vẫn chọn cách ẩn danh để thực hiện điều họ thực tâm muốn làm.
Còn việc ẩn danh trong ý kiến của mình cũng chưa hẳn người viết thiếu nhân cách, trong những vấn đề "nhạy cảm" hoặc chỉ trích những tiêu cực ở trong nước đôi khi vì vấn đề an ninh cá nhân mà người viết cần phải ẩn danh. Cẩn tắc vô áy náy ! Kinh nghiệm về cuộc sống ở trong nước dưới một chế độ vẫn chưa tôn trọng những quyền căn bản nhất thì tôi sẽ không ngạc nhiên nếu có những ý kiến dưới dạng ẩn danh. Và tôi xin chọn cách này cho ý kiến thô thiển của mình.

Nguyễn Văn Tuấn said...

Anh Thanh à, anh lại lầm nữa và đoán sai nữa!

Tôi không đến nổi trẻ con chỉ để thích được khen (ở tuổi của anh, sao anh lại nghĩ trẻ con thế nhỉ?) và tôi cũng không đến nỗi nóng giận khi thấy mình bị chỉ trích. Anh không thấy có hàng chục comment mang tính chỉ trích sao, và tôi có trả lời không? Hay có nhiều người khen (thật ra thì cũng chẳng khen mà chỉ bình luận cho vui) và tôi phải nói gì trước những bình luận đó? Tôi không nói thì có người nói tôi bất cần; còn nói thì người ta nói chỉ thích khen!

Tôi nghĩ anh không nên mượn câu chuyện của tôi để smear cá nhân. Có chuyện gì tôi nhớ sai thì anh nói ra, chứ dùng thủ đoạn này thì tôi thấy hơi thấp. Mà, chưa chi anh đã nói tôi có trí nhớ selective, nhưng anh không hề biết rằng những gì tôi kể chỉ là 1 phần trong tập sách tôi viết về thời tị nạn.

Tôi thấy anh hình như không chịu khó đọc những chữ tôi viết ra, mà cứ ngồi đó sắp xếp những câu chữ của tôi ra ngoài văn cảnh để cho thấy rằng tôi tự mâu thuẫn. Đây cũng là một thủ đoạn quen quen tôi hay thấy trong những trao đổi chợ búa. Nhưng anh lầm rồi, tôi không thể sai lầm sơ đẳng như vậy đâu. Anh còn suy đoán linh tinh và áp đặt cho tôi những ý tôi không bao giờ có. Tôi nói ra anh đừng buồn nhé: tôi thấy anh có vẻ cù cưa quá. Và tôi cũng mất thì giờ viết mấy dòng chữ này. Thôi thì đây là lần cuối tôi trả lời anh vậy.

NVT