Tuesday, January 27, 2009

Suy nghĩ về giải phẫu thẩm mĩ và văn hóa

Lúc còn ở trong quê tháng rồi tôi có đọc được một bài báo rất thú vị về xu hướng giải phẫu thẩm mĩ ở nước ta. Xu hướng này thật ra đã được ghi nhận trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng khá lâu rồi. Càng ngày người ta càng đi làm đẹp ở độ tuổi càng ngày càng nhỏ. Thú vị hơn là đàn ông Việt Nam cũng đi làm đẹp. Làm đẹp thì chẳng có gì để trách, vì giới phụ nữ đúng là có nhu cầu này, nhưng xu hướng giảm độ tuổi thì đáng bàn. Thế là tôi chấp bút viết bài này cho một tờ báo ở Sài Gòn nhân số Xuân Kỉ Sửu. Bây giờ tìm thấy và đăng lên đây để đọc nhân ngày mồng Ba Tết.

Các tác giả Thánh kinh có lẽ là những người soi kiếng dùm cho chúng ta, làm cho chúng ta thấy được dấu vết của đấng thiêng liêng trong xác thịt không biết mệt nhòi. Tác giả cuốn Genesis viết "Chúa tạo ra loài người theo hình ảnh của Ngài," hay quyển đầu của kinh Cựu ước viết "Chúa sáng tạo ra thế giới". Rồi có những câu như "Theo hình ảnh của Ngài, Chúa tạo ra loài người", "Tôi vinh danh Ngài," những người soạn Thánh ca còn nhắc nhở: "Bạn có biết không," Paul hỏi, "thể xác của bạn là một ngôi đền của Chúa?"

Trong xã hội ngày nay (và có thể cả trong thời tiền sử), rất hiếm có một người nào hài lòng và ca ngợi thân thể của chính mình. Hầu như trong mỗi chúng ta đều, không nhiều thì ít, không hài lòng với thể diện của mình. Một số thì thấy cái tai vểnh cao quá. Số khác thì lo lắng đến cái mũi quá dài hay quá thấp. Giới phụ nữ thì có người quan tâm đến bộ ngực của họ quá to; nhưng cũng có người ăn không ngon ngủ không yên vì thấy ngực của họ không to như mong muốn. Một số chúng ta cảm thấy không hài lòng, chỉ đơn giản vì là đối tượng thù ghét, dè bỉu của người khác.

Lịch sử của thân thể con người là một phần của lịch sử phấn đấu để vượt qua chính mình. Từ xa xưa, con người đã tranh đấu để xóa bỏ những hạn chế của thân thể qua chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, sinh đẻ, và [khi có thể], giải phẫu. Ngày nay, một số đông đàn ông và phụ nữ, trẻ cũng như già, đang tìm đến các nhà giải phẫu để giải quyết sự bất mãn của họ đối với sắc diện của mình.

Những con số thống kê trong vài năm gần đây cho ta thấy một kĩ nghệ rất phát đạt. Chỉ riêng tại Mĩ vào năm 1981, có 296.000 trường hợp giải phẫu thẩm mĩ; năm 1984, con số này tăng lên 477.700; mười năm sau (1994), 1,3 triệu. Năm 1995, có hơn 825.000 giải phẫu sửa mặt. Năm 1996, cứ mỗi 150 người thì có một người tìm đến giải phẫu thẩm mĩ. Ở nước ta, dù chưa có những con số thống kê chính thức, nhưng sự xuất hiện của hàng loạt cơ sở giải phẫu thẩm mĩ ở các thành phố lớn nhỏ, thậm chí thị xã, là một tín hiệu cho thấy sửa sắc đẹp là một kĩ nghệ đang phát triển rất nhanh, và chắc chắc con số khách hàng cũng tăng theo cấp số nhân trong thời gian qua.

Khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ hơn. Phụ nữ người Á châu ở Mĩ thường sửa mắt từ một mí thành hai mí. Một số gia đình coi việc sửa sắc đẹp cho con như một món quà sinh nhật, cũng giống như trong cộng đồng người Do Thái thời thập niên 1950s và 1960s thường sửa mũi cho con gái nhân ngày sinh nhật 16 tuổi. Ở Ba Tây (Brazil), nhiều gia đình giàu có thường khuyến khích con gái giải phẫu ngực (làm cho vú nhỏ hơn) để phân biệt với những thiếu nữ thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội. Giới cha mẹ hi vọng rằng những món quà giải phẫu này sẽ làm cho thân thể con gái mình được nhìn vào với một ấn tượng tốt đẹp, và góp phần làm cho con gái họ hạnh phúc hơn cũng như có lợi thế về kinh tế. (Mà quả như vậy, ở bất cứ xứ sở nào và bất cứ thời nào, kể từ ngày giải phẫu thẩm mĩ ra đời, các nhà giải phẫu thường sử dụng sự hạnh phúc và hài lòng của khách hàng để làm giải thích ý nghĩa cho việc làm của họ). Một quan điểm khá phổ thông trong việc giải phẫu thẩm mĩ là nó (phẫu thuật) cũng giống trang điểm chiếc xe, và ai cũng làm vậy cả.

Nhưng giới khoa học nhìn hiện tượng này khác hơn. Qua nhiều nghiên cứu và ví dụ về việc dùng các phẫu thuật thẩm mĩ để thay đổi những đặc tính liên quan đến chủng tộc, giới tâm lí học giải thích rằng giải phẫu thẩm mĩ được phát triển dựa vào lòng khát khao để vượt qua, để chinh phục. Vượt qua “khuyết tật” bẩm sinh để trở thành người da trắng, hay một người Tây phương; xóa bỏ tì vết của người Á đông, Ái Nhĩ Lan; hay hấp dẫn, hay trở thành son trẻ hơn.

Lòng khát khao vượt qua, tự nó, được bắt nguồn từ sự thống trị của một lí tưởng thẩm mĩ đang thịnh hành trong một sắc dân hay thành phần kinh tế và quyền lực nào đó. Điều này giải thích tại sao phụ nữ Á đông sống trong các xã hội Tây phương có khuynh hướng nhuộm tóc thành màu vàng, để tự đồng hóa mình với lí tưởng đẹp của phụ nữ bản xứ.

Qua nghiên cứu các sách giáo khoa về giải phẫu, tiểu thuyết, tác phẩm điêu khắc, và thậm chí các trang nhà trên mạng internet của các nhà giải phẫu hiện thời, giới tâm lí học có thể dựng lên một lịch sử về giải phẫu thẩm mĩ. Câu chuyện bắt đầu từ thế kỉ 16, khi một số nhà giải phẫu cố gắng hồi phục lại khuôn mặt của những bệnh nhân mà mũi bị biến dạng do bệnh giang mai. Thời đó chưa có thuốc khử trùng và gây mê, những phẫu thuật này rất nguy hiểm và cực kì đau đớn. Nhưng đối với xã hội thời đó, một ngừơi có khuôn mặt với mũi bị đục khoét do bệnh giang mai là thuộc thành phần xấu (cho dù nạn nhân chỉ bị bệnh vì di truyền), vì thế, nạn nhân không ngần ngại chịu đau và đối đầu với hiểm nguy để được giải phẫu. Những cuộc giải phẫu đầu tiên này đặt ra vấn đề phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ (cosmetic surgery) và giải phẫu tái thiết (reconstructive surgery).

Nhưng quá trình phát triển của kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ thực sự bắt đầu từ thế kỉ 19, với sự ra đời của thuốc khử trùng và kĩ thuật gây mê, và quan trọng hơn hết là sự ra đời của lí thuyết khoa học về chủng tộc. Trong một thời gian dài, các nhà cơ thể học Âu châu từng bị mê hoặc bởi cơ thể của các phụ nữ da đen ở Phi châu. Theo đà bành trướng của giới thực dân Âu châu, các nhà cơ thể học Pháp và Anh bắt đầu so sánh cơ thể của phụ nữ người da đen với cơ thể của những phụ nữ mà họ xem là "bình thường" (tức là phụ nữ người Âu châu).

Trong cuốn tiểu thuyết "Beloved", Tác giả Toni Morrison vẽ lên một cảnh tượng "khoa học" đau lòng khi bà mô tả một nhân vật nguyên là thầy giáo, nhưng cũng là người chủ nô lệ và một số đứa cháu ghê tởm của ông ta, nghiên cứu một người nô lệ tên là Sethe; ông phân tích và so sánh cái “nhân tính” với cái “thú tính” của cô. Cuối cùng, Sethe quyết định giết chết con gái của mình để tránh cho đứa trẻ không phải rơi vào những bàn tay tàn ác của của những con người nhân danh khoa học này. Sethe không muốn bất cứ ai trên hành tinh này liệt những đặc tính của con gái mình vào đặc tính thú vật trên giấy tờ. Không thể được.

Sự chủng tộc hóa của khoa học trong thế kỉ 19 qui định giá trị văn hóa cho mỗi bộ phận của cơ thể như mông, tai, vú, và đặc biệt là mũi. Người Ái Nhĩ Lan có mũi quá nhỏ, người Do Thái có mũi quá to, mũi người Phi châu quá thấp, v.v… Trong các sắc dân này, hình dạng của mũi không nằm trong mô hình cái “mũi lí tưởng” của người Âu châu. Quan điểm nhân chủng học này còn được kéo dài mãi cho đến thể kỉ 20: Hitler bị ám ảnh với tai của Stalin, ông bỏ công phân tích kĩ lưởng và tin rằng đặc tính này thể hiện gốc Do Thái của Stalin!

Nhưng nếu giả thuyết về sự vượt lên và hoà nhập vào một nền văn hóa thống trị là đúng thì người ta có thể đoán được rằng phần lớn những khách hàng giải phẩu thẩm mĩ phải là người Á châu hay Phi châu. Nhưng trong thực tế, một số rất lớn người da trắng thuộc giai cấp trung lưu hay thượng lưu lại là những khách hàng làm cho ngành giải phẫu thẩm mĩ phát triển. Tuy nhiên, sự chủng tộc hóa của khoa học vào thế kỉ 19 đã hình thành một quan điểm đương đại về cơ thể và những tiêu chuẩn được xem là đẹp và gợi cảm. Sự chủng tộc hóa về cái đẹp cùng với thời đại Khai sáng nhấn mạnh đến sự tự chủ và độc lập là những yếu tố đã làm cho kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ phát triển như ngày nay, và nó đã phát triển ra ngoài cái mục tiêu ban đầu là xóa bỏ sự khác biệt giữa chủng tộc. Một khi người ta đã xoá bỏ được những dị biệt chủng tộc, người ta phải suy nghĩ đến việc thay đổi những cơ phận khác trong cơ thể để chống lại lão hóa.

Hitler và Mussolini từng ra lệnh giải phẫu thẩm mĩ cho lính để nâng cao sức khỏe, kể cả sửa mí mắt. Kết hợp du lịch với giải phẫu cũng dần dần trở thành một kĩ nghệ. Ngày nay, người ta có thể di du lịch sang Ba Lan và sửa mặt, hay đi thám hiểm Phi châu và đồng thời sửa bộ phận sinh dục, hay sang Thái Lan để giải phẫu thay đổi giới tính!

Giải phẫu thẩm mĩ luôn luôn đi kèm với rủi ro, ngay cả trong thời đại gây mê và khử trùng. Một ca giải phẫu thẩm mĩ thường tốn nhiều thời gian, bệnh nhân phải tiêu ra một thời gian dài dưới sự theo dõi của bác sĩ và gây mê. Tình trạng rủi ro còn dính dáng đến vấn đề chuyên môn. Ngày nay, ở một số nơi, ai cũng có thể hành nghề giải phẫu. Báo chí mới tường thuật một trường hợp tử vong vì giải phẫu mí mắt mà nhà giải phẫu là một bác sĩ về mắt! Thậm chí, có nha sĩ tiến hành những ca giải phẫu thay tóc!

Một nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp, Orlan, đã từng đi giải phẫu ít nhất là 10 lần kể từ năm 1987. Bà còn làm phim để mô tả những ca giải phẫu của chính bà, để theo đuổi cái lí tưởng mà bà gọi là “Sự tái sinh của Thánh Orlan”. Orlan có một quan điểm hết sức cực đoan và ao ước có được một cơ thể hoàn hảo theo lí tưởng của cái đẹp Tây phương. Bà muốn có cái cằm của thần vệ nữ Venus, đôi mắt của Fountainbleu Diana, môi của Europa, mũi của Psyche, và lông mày của Mona Lisa.

Nhưng có phải giải phẫu thẩm mĩ là biểu hiện của một sự từ chối ý muốn của Thượng đế hay không? Những ca giải phẫu và tái giải phẫu của Orlan thực ra được thực hiện không chỉ muốn từ chối sự hiện hữu của một đấng thiêng liêng, mà còn nhân danh nghệ thuật và hiện thực văn hóa. Đàn ông cũng như phụ nữ liên tục tìm đến giải phẫu để tìm đến một sự hoàn hảo. Một kì giải phẫu lần này sẽ dẫn đến một kì giải phẫu kế tiếp, và kế tiếp. Và, trong xu hướng khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ, chu kì giải phẫu thẩm mĩ sẽ còn kéo dài và nhiều hơn trong tương lai. Với cái giá khá đắt của giải phẫu thẩm mĩ, cơ thể con người dần dần trở thành, không phải như là một món quà huyền nhiệm, nhưng là một công trình, một dự án đầy thử thách.

Những dấu vết, những lằn phía ngoài cơ thể là một yếu tố có thể làm cho người ta không hạnh phúc, và có khi là hàng rào cản trở trong quan hệ xã hội hàng ngày. Trong một xã hội hiện đại, nhiều khi chúng ta được đánh giá qua ấn tượng về cơ thể của chúng ta mà người khác tiếp nhận. Do đó, giải phẫu thẩm mĩ có thể xem như một cách thức chăm sóc nhu cầu của cơ thể con người. Trong thực tế, cái đường ranh phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ và giải phẫu tái thiết càng ngày càng khó nhận ra, đặc biệt là khi các nhà giải phẫu mô tả công việc của họ như là “chữa trị” cái phần tâm thần qua việc điều chỉnh cơ thể.

Giải phẫu thẩm mĩ có thể là một món quà huyền diệu của khoa học. Nhưng món quà đó cần phải được đặt trong lí tưởng thẩm mĩ và bối cảnh văn hóa của một dân tộc, hơn là một sản phẩm lai căng của sự đầu hàng trước một văn hóa ngoại lai.

NVT

No comments: