Saturday, January 31, 2009

Một sự kiện làm sốc nước Úc (Darcey Irish Freeman)

Hôm thứ Năm vừa qua (29/1/09), một người đàn ông tên là Arthur Freeman lái chiếc xe Toyota Landcruiser trên cầu West Gate (thành phố Melbourne), trên xe là 3 đứa con của ông, hai trai (đứa lớn 6 tuổi và đứa nhỏ 2 tuổi) một gái (4 tuổi). Khi xe đến điểm cao nhất của cầu (58 mét trên mặt nước), ông dừng xe lại, đến bên ghế tháo giây an toàn cho bé gái Darcey Freeman, bồng em ra ngoài và thả em bé xuống sông, rồi ông lên xe thản nhiên lái xe đi tiếp.

Những người lái xe trên cầu kinh ngạc trước hành động của ông, nhưng vì sự việc xảy ra quá nhanh, nên chẳng ai can thiệp được. Họ gọi điện thoại cho cảnh sát, và chỉ trong vòng 5 phút cảnh sát đường sông đã đến hiện trường; họ cứu vớt bé Darcey, làm hô hấp nhân tạo trên đường đến bệnh viện. Nhưng dù được chạy chữa tận tình, em tắt thở vào lúc 1:35 pm. Arthur Freeman liền bị cảnh sát bắt sau đó, ra tòa sơ khởi, và chờ ngày ra tòa đại hình trong tháng Năm năm nay.

Sự kiện người cha vứt con gái mình xuống sông đã và đang làm rúng động lương tâm nước Úc và gây sốc cả thế giới. Arthur Freeman không phải là người thuộc thành phần nghèo khổ trong xã hội; ông là một kĩ sư trong ngành công nghệ thông tin, từng làm việc ở London một thời gian, thu nhập cao, và rất tự hào với bạn bè khi bé Darcey chào đời. Cho đến nay, không ai hiểu nỗi tại sao một người đàn ông 35 tuổi, giai cấp trung lưu, lại trở thành một tên giết người máu lạnh như thế. Trong khi bị cảnh sát giam giữ, Arthur Freeman không nói được một chữ, chỉ ôm đầu khóc sướt mướt và xin được tha thứ. Không ai khai thác được gì, vì các giới chức sợ ông sẽ tự tử. Người ta chỉ biết Arthur Freeman từng có tiền sử “acute psychiatric” (tức bệnh tâm thần cấp tính ?).

Có thể hiểu được công chúng rất phẫn nộ với người cha giết con này. Có người cực đoan đề nghị nên cho một viên đạn vào đầu ông ta. Người khác thì kêu gọi chính phủ nên phục hồi án tử hình. Tuy nhiên cũng có người lí giải rằng vì ông Arthur Freeman và vợ ông đang trong tình trạng li dị, và vì luật ở Úc khi li dị người đàn ông chịu thiệt thòi nhất, nên dẫn đến thảm nạn trên. Một chuyên gia về luật gia đình chỉ ra rằng trong quá khứ đã có hàng trăm vụ li dị dẫn đến bạo động như chồng cầm súng bắn vợ, bắn quan tòa, chồng hành hung vợ ngay trước mặt cảnh sát, v.v… Do đó, chuyên gia này kêu gọi phải thay đổi luật gia đình sao cho công bằng hơn.

Có người có vẻ dị đoan còn chỉ ra rằng do yếu tố … tâm linh. Trên internet có người chỉ ra rằng cầu West Gate trong khi xây dựng vào thập niên 1970, cầu bị sập làm cho 35 công nhân tử nạn. Họ nói chắc linh hồn những người tử nạn làm cho ông Arthur Freeman trở thành kẻ giết người. Một cách giải thích hết sức hài hước, nhưng cũng được nhiều người phụ họa!

Tuy nhiên, những lí giải trên vẫn chỉ là võ đoán và suy luận từ những bằng chứng gián tiếp. Vẫn chưa có ai cung cấp một lời giải thích có lí nhất cho hành động điên rồ trên. Nhưng các chuyên gia tâm lí thì có cái nhìn lạnh lùng và bi quan hơn. Chẳng hạn như Giáo sư Paul Wilson (Đại học Bond) suy luận rằng có lẽ do xã hội càng ngày càng tách rời nhau đã làm cho con người trong xã hội cảm thấy cô đơn hơn và đó chính là yếu tố nguy cơ dẫn đến những hành động điên rồ.

Riêng tôi thì không biết giải thích như thế nào, chỉ là người đọc báo và muốn lắng nghe những cao kiến của các chuyên gia. Mỗi lần nghĩ đến thảm nạn của bé Darcey, nó không chỉ làm tôi sốc mà còn một phần nào đó mất niềm tin vào con người. Thật không hiểu nỗi tại sao có người chẳng biết nhân danh cái gì để cướp đi mạng sống của người khác. Vẫn biết rằng cái thiện và ác tồn tại trong mỗi con người, nhưng tại sao cái ác lại có thể lấn cái thiện để biến một người như ông Freeman thành kẻ sát nhân. Tôi phải đi tham khảo triết lí nhà Phật để tìm hiểu thêm ...

NVT

Friday, January 30, 2009

Trò chuyện với Bộ trưởng Bộ Y tế

Ngành y tế và giáo dục có lẽ là hai ngành “nóng” nhất ở bất cứ nước nào trong thời bình. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy người đứng đầu của hai ngành này hơi “bị” quan tâm nhiều. Trước đây (và ngay cả hiện nay), bất cứ việc làm nào của ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng đều được giới quan sát bình luận và “chiếu tướng” rất tận tình. Có người còn mỉa mai này nọ.

Nay đến ngành y tế. Thật ra, ngành y tế được giới báo chí quan tâm còn nhiều hơn cả ngành giáo dục – tính theo tiêu chí số bài báo và thông tin liên quan đến các vấn đề y tế. Đọc bài trả lời phỏng vấn sau đây của người đứng đầu ngành y tế nước ta, tôi thấy rất thú vị vì qua đó mà có thể biết được một số suy nghĩ và định hướng của Bộ Y tế. Bài phỏng vấn tương đối dài, nhưng tôi chỉ trích vài đoạn (trích một cách trung thực chứ không ngoài văn cảnh) và có vài dòng nhận xét mà thôi.

Hồn nhiên ?

Có lẽ người phỏng vấn cũng muốn nhắn gửi một thông điệp nào đó nên đặt tựa đề cho bài phỏng vấn là “Trò chuyện với bộ trưởng ‘hồn nhiên’ nhất trước Quốc hội”. Chú ý hai chữ hồn nhiên được đưa vào hai dấu ngoặc nháy nháy, như cười cợt. Phóng viên Vietnamnet chẳng những viết rằng người đứng đầu Bộ Y tế là “hồn nhiên” mà còn “hồn nhiên nhất”, tức ông đứng đầu bảng trong danh sách những vị bộ trưởng hồn nhiên.

Vậy thì chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa của hồn nhiên ra sao. Tôi xem Từ điển Tiếng Việt thì thấy các nhà ngôn ngữ học giải thích như sau hồn nhiên là “biểu hiện có bản tính gần với tự nhiên, có sự đơn giản, chân thật, trong trắng, nhiều khi ngây thơ trong tình cảm, trong sự suy nghĩ, trong tâm hồn.” Từ điển còn chua thêm một ví dụ: “Tính hồn nhiên như trẻ thơ” (Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 1998, trang 445. Tôi phải trích dẫn đàng hoàng để hóa giải những ai nghi ngờ tôi nói không có bằng chứng.)

Tôi có cơ duyên làm người thông dịch cho ông Bộ trưởng, và có dịp trò chuyện một hai câu với ông, và tôi không nghĩ ông ngây thơ như trẻ thơ đâu. Ấn tượng của tôi thấy có lẽ những giải thích như thật thà, trong trắng và giản dị đúng với ông hơn.

Y đức

Bàn về tình trạng suy đồi đạo đức trong ngành y hiện nay, Bộ trưởng nói: “Nghị quyết 46 của Bộ Chính trị đã nói rõ nghề y là nghề đặc biệt, đào tạo, đãi ngộ đặc biệt. Nhưng thật ra đến bây giờ cũng chưa có đãi ngộ gì đặc biệt cả. Lương thì ra trường học 6 năm cũng như 4 năm, sản phẩm của ngành y là sức khỏe con người nhưng cũng 3 - 4 năm lên lương một lần. Trong khi ở các nước, hệ số lương của thầy thuốc khác. Chính vì vậy, một mặt, vi phạm y đức thì không có lý do gì để bào chữa, kể cả anh lương thấp, anh quá tải, nhưng mặt khác, phải cảm thông, chia sẻ với anh em.” Có cái gì lấn cấn ở đây, một mặt ông không chấp nhận tình trạng suy đồi đạo đức, mặt khác ông lại nói thông cảm cho các bác sĩ phi y đức.

Ông thông cảm là vì đồng lương của họ thấp. Nhưng tôi không thấy hai về này liên quan nhau mật thiết gì cả. Ở bên này, lương bác sĩ cũng cao (hay rất cao) nhưng họ vẫn có vấn đề y đức (dù vấn đề của họ không nghiêm trọng như ở nước ta). Tiền bạc chưa hẳn là yếu tố quan trọng. Trong trường y, người ta hay nói hoặc là anh có đạo đức, hoặc là không. Đạo đức, theo quan điểm này, là một tính bẩm sinh. Nhưng quan điểm mới trong các trường y ngoài này là y đức cũng cần được DẠY, chứ không để mặt cho cảm tính chi phối (như thông cảm) được. Một nghiên cứu mới đây trên Academic Medicine hết sức thú vị, vì theo kết quả này thì khi bác sĩ được dạy về đạo đức, dạy cách biểu lộ cảm xúc với bệnh nhân, cách nói chuyện và cầm tay bệnh nhân, v.v… rõ ràng có cải tiến. Vấn đề ở nước ta là môn y đức chưa được đưa vào chương trình giảng dạy một cách có hệ thống và nghiêm chỉnh. Đó mới là mấu chốt của vấn đề, chứ không phải “thông cảm” là giải quyết được vấn đề.

Đồng lương và những tính toán

Ông Bộ trưởng còn tỏ ra có số liệu khi ông làm những so sánh sau đây. Nói về đầu tư cho ngành y tế, ông nói: “Đầu tư của ta lại rất thấp. Thái Lan gấp 16 lần ta, Mỹ gấp 120 lần. Nước nghèo thì ngành y tế cũng nghèo, cái này ngành cũng rất chia sẻ với Chính phủ, khắc phục phải dần dần.” Hình như ông so sánh con số tuyệt đối (đôla) về đầu tư. Nhưng so sánh như thế là sai nguyên tắc số 1 của khoa học, vì bối cảnh kinh tế các nước khác nhau. Thu nhập bình quân của Mĩ mà đem so với Việt Nam thì chẳng khác gì lấy trái táo so sánh với trái cam. Một cách so sánh công bằng hơn là so sánh tỉ lệ đầu tư cho y tế. Tôi xem qua số liệu thì thấy chi tiêu của Nhà nước ta cho ngành y tế chỉ chiếm 6,1% tổng số chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này thấp nhất so với các nước láng giềng như Campuchea (16%), Lào (khoảng 7%), Mã Lai (6,5%), Trung Quốc (10%), và Nhật (16.4%). Tuy thấp, nhưng khó mà nói chi tiêu ngành y tế của Thái Lan cao gấp 16 lần nước ta!

Nhưng có lẽ ông quên rằng người dân cũng đầu tư nhiều cho ngành y tế. Ngân sách gia đình cho ngành y tế chắc chắn cũng 20%. Tuy nhiên, con số này thì chắc ông Bộ trưởng không nắm được và chắc cũng chẳng quan tâm. Ông quan tâm đến lương của bác sĩ hơn. Ông nói: “Mục tiêu lớn nhất trong năm nay ... là bảo vệ thành công đề án tăng thu nhập của các bác sĩ.” Hóa ra, nâng cao lương bổng cho bác sĩ mới chính là mục tiêu lớn nhất của ông, chứ ông không quan tâm đến các vấn đề lớn hơn của ngành y tế!

Ông làm những so sánh rất ngạc nhiên. Khi được hỏi: “Chúng tôi chia sẻ với ông những trăn trở đó. Thực tế là bất cập trong ngành y thì mọi người dễ thấy, ai cũng có thể kêu ca, vào bệnh viện không được khám chữa bệnh như ý là kêu, nhưng ít người hiểu bác sĩ được đãi ngộ như thế nào, mổ một ca, trực một đêm được hưởng bao nhiêu phụ cấp” ông trả lời rằng: “Thu nhập của y bác sĩ còn thấp lắm. Ở Singapore trực 1 đêm được 70 đôla, ta có 45.000 đồng, chưa đầy 3 đôla, mà đấy là bệnh viện đặc biệt đấy.”

Thật là ngạc nhiên! Làm sao mà so sánh tiền trực đêm ở Singapore với Việt Nam đơn giản như thế trong khi hai nước có thu nhập rất khác nhau. Thu nhập bình quân đầu người ở Singapore là 48.900 USD, còn Việt Nam ta thì mới ngoi lên con số 1024 USD năm nay. Bảy chục đôla ở Singapore tương đương với 0,14% thu nhập bình quân, còn ở nước ta 45.000 đồng hay 2,65 USD, tương đương với 0,26% thu nhập bình quân. Nếu nhìn như thế này thì tiền phụ trội cho bác sĩ ở nước ta là cao hơn Singapore đó chứ! Biết rằng so sánh như thế cũng đâu phải công bằng, nhưng tôi muốn chỉ ra rằng so sánh của người đứng đầu ngành y tế có phần thiếu tính khách quan.

Tuy nhiên, ông đề nghị: “Theo tôi, với thời giá bây giờ, bác sĩ phẫu thuật chính một ca phải được hưởng 400-500 nghìn đồng mới xứng đáng.” Lại ngạc nhiên! Tôi không biết nước nào có cái khoản này, chứ ở Úc thì không có. Với bác sĩ ngoại khoa, giải phẫu là nghề nghiệp của họ, là nhiệm vụ (cũng như bác sĩ nội khoa phải khám bệnh, hay như người lính biên phòng có nhiệm vụ bảo vệ biên giới vậy), không có chuyện bồi dưỡng, phong bì, hay cho thêm. Nhưng con số 400-500 ngàn này đến từ đâu? Cơ sở tính toán là gì? Thường dân như chúng ta thì phát biểu như thế chẳng ai để ý, nhưng một người đứng đầu ngành y tế mà “nói khơi khơi” như thế thì thật là ngạc nhiên.

Quan điểm

Quan điểm của ông Bộ trưởng về Quốc hội không hẳn là một nghị trường quốc gia, mà là trận chiến. Khi được hỏi “Như vậy, những bộ trưởng không có kinh nghiệm ở HĐND như ông sẽ bị căng thẳng hơn khi trả lời chất vấn của Quốc hội”, ông nói: “Rõ ràng một anh lính chiến trận nhiều bao giờ cũng gan dạ, can trường hơn, tôi không nghĩ các ông ấy yếu hay kém, nhưng có người đến lúc làm bộ trưởng chỉ ở một bộ ấy thôi, còn tôi, số vất vả, xông pha trận mạc nên có 4 khóa HĐND, 3 khóa Thành ủy và 2 khóa UBND TP, trong đó một khóa làm phó chủ tịch và một khóa làm chủ tịch nên có thực tiễn nhiều.” Hình như ông thể hiện tính “hồn nhiên” của ông. Miễn bình luận!

Quan điểm của ông về chức vụ Bộ trưởng cũng làm tôi suy nghĩ. Khi được hỏi “Có bao giờ ông nghĩ giá mình vẫn làm Chủ tịch Hà Nội thì sung sướng hơn bao nhiêu?” Ông trả lời: “Hai nơi đường trơn như nhau cả thôi. Làm Chủ tịch HN thì thích chứ, sắp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long rồi. Nhưng Đảng, Nhà nước phân công thì mình phải thực hiện, mà lên đây cũng có nhiều niềm vui, khi sửa xong 621 bệnh viện huyện, rồi bệnh viện tỉnh nữa chẳng hạn.” Nói cách khác, ông thấy chức vụ của mình là một niềm vui! Không thấy nói đến cái buồn, cái làm ông mất ăn mất ngủ.

Và lời hứa nổi tiếng

Còn nhớ hồi năm ngoái, khi vấn đề an toàn thực phẩm trở thành đề tài thời sự nóng bỏng, Quốc hội chất vấn ông Bộ trưởng giải quyết ra sao, thì ông phát biểu như sau (nguyên văn): “Câu chuyện về an toàn thực phẩm là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, chưa biết hồi kết đến bao giờ. Ông Thích Ca 2.552 năm đã kêu gọi từ bi. Chúa Jesus cũng thế thôi, đến chủ nghĩa Mác - Lênin cũng kêu gọi đấu tranh giữa thiện và ác, bây giờ vẫn phải tiếp tục. Tức là anh làm tiêu cực, là hình ảnh xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe, đó là cái ác, cái thiện là chúng ta phải bảo vệ nhân dân.” Một bài giảng về đạo đức! Nhưng tôi ngờ rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là về giai cấp, đấu tranh giai cấp, chứ đâu có dính dáng gì đến thiện và ác đâu.

Khi ông mới nhậm chức Bộ trưởng Y tế, vấn đề quá tải (hai ba bệnh nhân nằm một giường bệnh) rất được xã hội quan tâm, rồi khi được phóng viên hỏi ông có biện pháp gì để khắc phục thì ông đưa ra sáng kiến sử dụng các phòng họp, nhà ăn, khoảng trống để kê thêm giường. Ông còn cho biết phương án đó trước đây đã được triển khai ở Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội) rất có hiệu quả. Từ kinh nghiệm ban đầu đó, ông tin rằng tình trạng một giường hai, ba bệnh nhân nằm sẽ được khắc phục trong vòng 2-3 năm. Có báo tỏ vẻ không tin nên đặt cái tít “Chỉ mong Bộ trưởng nhớ giữ lời”.

Nhưng cho đến nay, sau 2 năm lời hứa đó nói ra, thì tình trạng vẫn chưa được khắc phục. Sẵn đây xin kể các bạn một câu chuyện khá vui. Tháng 12 rồi, tôi có dịp làm thông dịch viên bất đắc dĩ cho một VIP của tổ chức năng lượng quốc tế đến thăm Bệnh viện Kiên Giang. Ông VIP này người Ý, và cũng là một chuyên gia về tim mạch. Trong một buổi trình bày về tình hình y tế của tỉnh, anh Đ (giám đốc bệnh viện) cho biết bệnh viện có 1200 giường và 1500 bệnh nhân. Ông VIP quay sang tôi nói nhỏ: “Bác sĩ Đ nói lầm hả ông? 1500 giường và 1200 bệnh nhân chứ?” Tôi cười nói nhỏ với ông ta: “Không, Bs Đ không lầm đâu, chút xíu nữa ông sẽ thấy”. Sau đó, anh Đ, vài đồng nghiệp khác, và tôi dẫn ông đi vòng vòng bệnh viện để biết sự tình. Bệnh nhân đông nghẹt người. Đến khu outpatient, ông ấy hỏi một ngày một bác sĩ ở đây khám bao nhiêu bệnh nhân? Trả lời: khoảng 80. Ông ấy há hốc nói: “Nhiều như thế mà không sai sót thì chắc là phép lạ.” Đến các khu nội khoa, ông thấy phía ngoài bệnh viện người ta nằm la liệt, thậm chí có người ngủ dưới gốc cây, ông hỏi họ là ai, tôi nói họ là thân nhân. Đến khu bệnh nhân thấy có nhiều giường mà 2 người nằm chung giường, rồi phía dưới là ghế bố cũng có bệnh nhân, ông ấy mới quay sang tôi nói: bây giờ thì tôi hiểu câu ông nói rồi và Bs Đ không lầm. Sau buổi ghé thăm, ông tỏ ra lo lắng, không vui. Ông nói với tôi bằng tiếng Anh là ông không ngờ tình trạng quá thê thảm như thế, ông cảm thấy “upset”. Chữ upset ở đây không có nghĩa là giận, mà là cảm xúc buồn rầu. Người nước ngoài mà còn như thế. Ấy thế mà người đứng đầu ngành y tế nước ta xem tăng lương cho bác sĩ là mục tiêu số 1! Hồn nhiên? Hay là lời hứa đó của ông đã có cánh ...

Thursday, January 29, 2009

Vương Trí Nhàn bàn về tư duy người Việt

Hôm nay đọc trên tuanvietnam một bài phỏng vấn Vương Trí Nhàn mà tôi cho là rất hay. Đã lâu lắm rồi mới có một người nói ra những ý này mà tôi cũng ấp ủ nhưng chưa đủ chữ nghĩa hệ thống hay thì giờ để viết ra. Bài phỏng vấn dài, nhưng có những câu (trích dưới đây) mà tôi đọc cứ như là nhạc vào tai mình. Cám ơn Vương Trí Nhàn nhiều nhiều lắm! NVT

===

Nâng trình độ sống để thích nghi - phát triển
Trong sự thích nghi có sự buông trôi bất lực

Chiến tranh từng bòn rút tất cả sức lực, kéo cuộc sống chậm lại. Mở cửa, ta lại lao vào làm ăn với bất cứ giá nào, sức khỏe kém đi, con cái không người dạy dỗ, cũng hư hỏng đi.

Nhìn cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội đều bị xói mòn mà không khỏi xót xa.

Người Việt xưa tới giờ khổ quá, đến khi ra với thế giới thì mắt như bị chói, cái gì cũng thèm thuồng. Hết gồng mình lên chiến đấu nay lại gồng mình lên để hưởng thụ. Cha mẹ cứ cái gì ngon nhất, đẹp nhất là lo dành cho con. Trong gia đình, ta cúi mặt xuống chiều chuộng nhau mà không dám đặt ra yêu cầu cao với nhau.

Làm kinh tế bằng tư duy chiến tranh
[…]

Nghịch lý là ở chỗ do mang tâm thức tự ti đó, khi quay lại nhìn bản thân, ở nhiều người - không ai bảo ai - sinh ra tâm lý tự huyễn hoặc. Rằng so ra ta cũng ghê gớm lắm; rằng không có cái phần hơn hẳn thiên hạ nhưng mình lại có cái khác: di sản thế giới (thực chất phần nhiều là di sản thiên nhiên, đâu phải là văn hóa), văn hóa ẩm thực...

Bình tĩnh lại để nghĩ sẽ thấy cái để VN khoe ra với thiên hạ thường chỉ là phần trời cho mà không phải phần con người làm ra, chỉ là những gì bản năng mà không phải là phần của trí tuệ: Ta không có cuốn sách, bức họa nào ở tầm thế giới. Trong âm nhạc, phần khó nhất của nó là hòa âm thì nhạc VN lại kém, lấy đâu ra tác phẩm lớn.

[…]

Chiến tranh cho phép người ta bất chấp quy luật miễn là được việc; chỉ lo hiệu quả, còn cái giá của nó thì không cần biết. Trong chiến tranh, nhất là chiến tranh ở VN, cứ chờ có những điều kiện cần và đủ thì không ai dám làm gì. Phải liều. Phải duy ý chí. Cách làm đó nay vẫn được ta áp dụng.

Nói tóm lại, nếu trong chiến tranh ta phá với bất cứ giá nào thì nay ta xây với bất cứ giá nào. Trên báo chí luôn có những tin đại loại cây cầu này sang năm phá năm nay vẫn cứ thi công vì đã vào kế hoạch rồi, hoặc xây nhà máy ào ào mà chả chú ý gì tới tác hại của nó với môi trường. Thì đó là kiểu tư duy chiến tranh chứ còn gì nữa?!

Bản thân chiến tranh VN lạ, không giống ai. VN thắng được trong chiến tranh là nhờ chơi theo luật VN, tuy nhiên, trong làm kinh tế, thì phải chơi theo luật chung của thế giới.

Tâm lý tiểu nông tư duy tiểu nông
[…]

Tôi trộm nghĩ, ở ta, một khi nếp sống làng xã còn ngự trị khắp nơi thế này, không có triết học ghê gớm cao xa gì tồn tại nổi, chỉ tư tưởng tiểu nông chi phối tất cả.



[…]

Là một nước nông nghiệp nhưng cho tới lúc này, VN hầu như không có sách nào tổng kết kinh nghiệm trồng lúa, còn nói chi tới các nghề khác.

Nghề buôn thì lại càng bị coi thường khinh rẻ. Mọi người cho đó là nghề lừa lọc và thường bảo nhau "Thật thà như thể lái trâu". Bản thân người làm nghề buôn cũng làm ăn trong thế quẩn quanh lặt vặt, sản xuất càng lụn bại thì họ càng có cơ hội để bắt chẹt người có nhu cầu.

[…]

Về tác động xã hội, bản thân truyền thống kinh doanh yếu kém là dấu hiệu của một xã hội chưa trưởng thành. Xã hội phát triển tự nó sẽ đặt ra các nhu cầu mới, trong khi với VN hình như chỉ cần tàm tạm là được, cải tiến mà làm gì. Khi không có quá nhiều những nhu cầu phải thỏa mãn thì sự phát minh, sáng chế cũng như đổi mới việc phân công lao động lại trở thành xa xỉ. Tóm lại ta không chuẩn bị để bước vào thế giới hiện đại.

E sợ khi bước ra với thế giới
[…]

Đọc lịch sử sẽ thấy nền ngoại thương của VN bây giờ không khác các thế kỷ XVII-XVIII là bao. Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, ở Đàng ngoài, chúa Trịnh nói chung cấm cửa lái buôn ngoại quốc, sợ họ vào gây náo loạn nhân tâm. Nhưng ngồi nghĩ, lại tiếc, nên chính sách cứ khi thò khi thụt, dùng dằng, dang dở, nay thế này mai thế khác. Mà chính sách càng tuỳ tiện đỏng đảnh, quan lại càng dễ đi đêm để hưởng lợi.

[…]

Ta quen sống co lại, ít có khao khát ra với thế giới, hiểu thế giới. Trong tiếp xúc ít có khả năng đặt mình vào địa vị người khác, không có thói quen và kinh nghiệm quan hệ với bên ngoài, lảng tránh là hơn.

Càng co lại ta càng đánh mất đi khả năng phát triển, càng không đủ bản lĩnh để ra với thế giới và hiểu thế giới.

Nhìn ở một tầng sâu hơn, có thể nói quan hệ kinh tế của VN với thế giới trong thời gian vừa qua không dựa trên cơ sở văn hoá chắc chắn. Đại khái thấy ai làm mình cũng làm theo, khi thất bại mới ngớ ra thì đã muộn. Định bán hàng cho người ta nhưng không hiểu gì về lịch sử tâm lý dân tộc cách sống của người ta, cái gu của người ta thì bán sao được?

[…]

Một xã hội chưa trưởng thành
Một xã hội chỉ phát triển được nếu biết ứng xử khôn ngoan với thiên nhiên, vừa khai thác vừa làm giàu thêm thiên nhiên. Đằng này chúng ta quen với tư duy hái lượm, thâu nhặt từ thiên nhiên, hơn là cấy trồng, tổ chức sản xuất tạo ra của cải. Một ví dụ, so với đất đai, VN có tỉ lệ bờ biển khá dài. Nhưng người Việt gần như không biết khai thác biển, khái niệm kinh tế biển còn quá xa lạ.

Trong một tổng kết về chính quyền Hà Nội thời trung đại (in trong kỷ yếu hội thảo Quản lý và phát triển Thăng Long Hà Nội tháng 3/2008), tôi thấy người ta lưu ý là trong số các văn bản đưa ra, pháp lệnh về an ninh chiếm tới 65,56%, trong khi chỉ 16,42% văn bản ban hành là có liên quan tới sản xuất và kinh doanh, 8,96% liên quan tới quản lý văn hoá xã hội. Suốt thời phong kiến vai trò tổ chức làm ăn của chính quyền hầu như không có.

Ra ngoài hớt phần váng
[…]

Quan sát bề ngoài, người VN hôm nay thích nghi nhanh, học nhanh. Nhìn quần áo, đầu tóc, cách nghe nhạc cách chơi xe của người Việt, nhiều người nước ngoài phải kêu lên: sao mà Tây thế! Thế nhưng đó lại là cái học, cái thích nghi hời hợt, dễ dãi chứ không phải tiếp nhận ở bề sâu văn hóa. Thành ra nhiều khi chỉ hớt váng, hớt lấy cái phần hời hợt của người và hệ quả tất yếu là những rác rưởi của thế giới đã vào quá dễ dàng, cả rác công nghiệp và rác văn hoá.


Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/5898/index.aspx


Wednesday, January 28, 2009

Miền Tây của Sơn Nam, của bây giờ và mai sau

Đọc bài này thấy buồn cho ĐBSCL. Đúng là tốc độ đô thị hóa nhanh quá làm cho vùng đất này càng ngày càng biến dạng. Ngày xưa, tôi lái xe suốt từ thị xã Rạch Giá về nhà (quãng đường chừng 25 km) hai bên đường là đồng ruộng mênh mông, xanh rì. Hay vào mùa thu hoạch thì vui không tưởng được, vì hai bên đường người thì gặt lúa, người thì đập lúa, người thì làm rơm, người lo vác lúa xuống xuồng, v.v… Bây giờ hồi tưởng lại sao cảnh tượng đó cứ như là một bức tranh đồng quê tuyệt đẹp. Còn bây giờ thì ôi thôi, hai bên đường nhà cửa và hàng quán chiếm gần 70%. Cảnh quang có vẻ xô bồ, mất trật tự, thậm chí có phần nhếch nhác. Phía sau nhà hay quán vẫn là đồng ruộng đấy, nhưng nó không thơ mộng như thời xưa nữa.

Rồi vấn đề ô nhiễm môi trường. Tôi vẫn nghĩ vấn đề môi sinh là một nguy cơ “downfall” của nước ta. Con sông hiền hòa mà tôi thường nhảy xuống đó tắm thời tuổi thơ nay thì không ai dám tắm sông nữa, vì sợ bị … ngứa. Có tháng nước sông lợn cợn thuốc trừ sâu từ trên đồng thải xuống. Nạn đi cầu trên sông có đà giảm (dù vẫn còn), nhưng thay vào đó là rác. Có thể nói không ngoa rằng những con sông, kênh, rạch ở vùng ĐBSCL bây giờ là những bãi rác. Người dân xả rác một cách vô tư xuống sông mà chẳng cần suy nghĩ đến tương lai. Đồ ăn dư thừa? Xả xuống sông. Vật dụng trong nhà không dùng? Xuống sông. Gia cầm chết? Vứt xuống sông. Những con sông này đã và đang chết. Nhà nước hình như cũng thấy tình trạng này, nhưng cũng chưa có biện pháp hữu hiệu nào để ngăn chận cái chết của các con sông khác.

Tôi nghĩ có thể làm một cuộc vận động trên tivi hay đài báo để nói cho bà con biết đừng xem mấy con sông là bãi rác nữa. Hay phát động ngày vệ sinh sông mỗi năm để làm cho người dân ý thức được vấn đề. Ở bên Úc này tôi thấy họ có ngày dọn vệ sinh mỗi năm rất hay và rất thành công. Tôi nghĩ Việt Nam có thể học từ phong trào này, và đó cũng là một biện pháp y tế cộng đồng để ngăn ngừa bệnh tật vậy.

NVT

===



http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/14464/
Miền Tây của Sơn Nam, của bây giờ và mai sau

Lời của Lục cụ chùa Sóc Ven ám ảnh tôi suốt từ chuyến đi lần theo Hương Rừng Cà Mau: “Mình có lỗi với đất với nước. Đất và nước cho mình tất cả cuộc sống, mà mình lại làm nhiều điều không phải với đất, với nước”. Những thí dụ Lục cụ đưa ra đơn giản như “đái ỉa” xuống nước, là một trong nhiều hình thức gây ô nhiễm môi trường.

Hay xẻ những con kênh ngang dọc mặt đất, khiến đất bị xì phèn, nhiễm mặn, rồi cày cấy liên tục ba bốn mùa không cho đất nghỉ ngơi. Hay đắp đường, bờ bao cản dòng chảy của nước... Đất hiện nay đối với nhiều người là tài sản, tư hữu, thậm chí tư bản. Nước đương nhiên là tài nguyên, trong tương lai gần sẽ là hàng hóa giá cao.

Nhưng Lục cụ coi đất và nước như những sinh thể có thần phách, giận dữ vì những lỗi dại dột của con người, nhưng lại rất bao dung tha thứ con người, chẳng khác gì lòng người cha người mẹ. Sự bao dung, hào phóng của nước đã giúp con người tiếp tục sinh sống nhiều trăm năm trên mảnh đất phương Nam này, và... tái phạm lỗi lầm.

Hai chuyến đi về vùng U Minh của tôi cách nhau một phần tư thế kỷ cho tôi cảm giác mình đi qua hai vùng đất hoàn toàn khác nhau. Giữa thập niên 1980 hầu như chỉ có thể đi lại bằng đường thủy, bến đò ở Rạch Giá là đầu mối giao thông, nơi tôi đứng nhìn những chiếc đò cũ kỹ mang những chữ Thứ Bảy, Thứ Mười Một... mà nao nao trong lòng, tưởng tượng những phong cảnh mịt mờ ở cõi hồng hoang. Tháng 10-2008 thì chuyến đi của tôi hầu như được thực hiện trên những chiếc xe hơi đời mới chạy bon bon trên những con đường nhựa mới khánh thành.

Theo số liệu của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp vào năm 1996, đô thị chiếm 10% diện tích đất đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tập trung 30% dân số, đất nông nghiệp bao gồm cả thôn làng chiếm 83%, chừa lại 7% vùng sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, trong đó một phần ba là rừng tràm. Trong 12 năm qua, tốc độ đô thị hóa tăng chóng mặt, một con số tôi vừa đọc trên báo ước lượng chỉ còn 65% diện tích đất ĐBSCL còn hoạt động nông nghiệp.

Những người sống ở đất này, theo nhà văn Sơn Nam, là cháu con của những lưu dân, những người “chịu cực nhiều nhưng hưởng rất ít. Đó là thái độ bám sát đất nước, tin tưởng nơi khả năng của con người. Con người sẽ biến đổi bùn lầy ra cơm, sẽ lập đình chùa trên biển cỏ. Hoàn toàn tin tưởng vào thiên nhiên, cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên”. Nhờ vậy người Việt “giàu tinh thần dung hòa” đã trụ được trên “phần đất cay nghiệt đã từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng bao nền văn hóa” như vương quốc Phù Nam hay Thủy Chân Lạp, mặc dù “phù sa sông Cửu Long và biển Nam Hải có sức mạnh tiêu diệt những nhóm người lưu vong, ăn xổi ở thì, thiếu cá tính”. (Nói về miền Nam, Nhà xuất bản Trẻ).

Trong bài “Cá tính miền Nam”, Sơn Nam lưu ý: “Chúng ta nên nhìn kỹ và tránh những ảo tưởng cho rằng ĐBSCL quá phì nhiêu”. Phong cảnh nhiều nơi ở Long Xuyên - Châu Đốc, Đồng Tháp Mười, dài cho đến Rạch Giá, Cà Mau, theo Sơn Nam là “buồn bã”, chỉ có các đô thị là lộ vẻ phồn vinh vì “chính những người thành thị này đã hưởng lợi khá nhiều, trong khi đám lưu dân đã sản xuất quá nhiều nhưng hưởng không bao nhiêu”.

Tôi, đằng nào cũng là người thành thị, nên mỗi lần về quê xứ của ông, đều cố làm theo lời ông, nhóng nhìn qua những dãy nhà phố chợ, tìm cái thực sự là vấn đề cốt lõi của đồng bằng mà 50 năm trước ông đã nêu ra: Quan hệ người với thiên nhiên và quan hệ người với người.

Ở Sài Gòn, tôi như nhiều người khác, thỉnh thoảng biết qua phương tiện truyền thông những vấn đề miền Tây, bằng kiến thức và lương tri trung bình cảm thấy có điều bất ổn. Chẳng hạn, một số người tán thành việc phát triển tầng lớp “trung nông” có mười mấy mẫu đất trở lên đang diễn ra ở miền Tây, vì họ mới có điều kiện vốn liếng máy móc để sản xuất lúa phẩm chất cao và đồng nhất, thuận lợi cho nhu cầu xuất khẩu. Cứ mười người trở thành “trung nông” thì phải có vài trăm người mất đất (đất chỉ chuyển đổi sở hữu chứ không thể phát sinh thêm) và một hai người kinh doanh gạo giàu thêm. Quá trình tập trung tư bản này xảy ra nhiều trăm năm nay ở nhiều nơi trên thế giới, chứ không phải sáng tạo “đổi mới” ở xứ ta, và nó đang diễn ra bất chấp anh tán thành hay tôi phản đối. Còn những người nông dân, con cháu của những người mở đất, không sống nổi trên mảnh đất 5-7 công của họ, bán đất để làm mướn, hoặc trôi dạt tha phương cầu thực...

Ít nhất một phần tư dân số đồng bằng hiện nay là nông dân không ruộng đất, tức là khoảng 5-6 triệu bần nông vô sản. Sau ba thế kỷ đấu tranh khai mở và giữ gìn đất nước, cách mạng và cải tạo quan hệ xã hội, miền Tây đang có con số bần cố nông vô sản đông nhất trong lịch sử. Tình hình kinh tế hiện nay sẽ đẩy thêm nhiều nông dân đang nợ nần đến nước bán đất, mất đất. Miền Tây tôi đang ngồi xe máy lạnh chạy phom phom trên đường nhựa hôm nay “buồn bã” hơn cả thời tôi theo nhà văn Sơn Nam chèo ghe trên những con kênh đầy bông súng.

Hình ảnh “miền Nam sông rạch chằng chịt” giờ đây được bổ sung bằng đường sá mở mang, nhà cửa đông đúc. Việc đào kênh và mở mang đường sá đem lại những thay đổi kinh tế xã hội lạc quan: sản lượng lúa tăng, dân cư đông hơn với mức sống cao hơn. Nhưng nhìn bằng con mắt của những chuyên gia môi trường, họ thấy nhiều vấn đề bi quan: đào kênh nhiều khiến tình trạng nhiễm mặn và đất bị a xít hóa gia tăng, thiệt hại do lũ lụt hay bão tố ngày càng nghiêm trọng.

Những vùng trũng ở ĐBSCL có hai chức năng rất quan trọng là trữ nước lụt và lọc nước, nhưng các chức năng điều hòa sinh thái tự nhiên này đã không còn hiệu quả nữa. Cái lợi trước mắt liệu có bù được tai họa dài lâu? Những vùng đất trũng luôn ngập nước xưa kia là “quê xứ” của rất nhiều loại động thực vật, là một khu bảo tồn thiên nhiên hệ sinh thái đặc biệt của đồng bằng.

Cách đây một hai thập niên, nhờ sự đánh động, lẫn áp lực, của những tổ chức quốc tế bảo vệ môi trường và động thực vật hoang dã, dân chúng và chính quyền địa phương nhận thức phần nào giá trị của tài sản thiên nhiên ở xứ sở mình. Đến nay có thể thấy mọi nơi đều đã biết tận dụng tài sản đó: Phần lớn khu bảo tồn đang trở thành khu du lịch giải trí. Người ta thậm chí tạo ra, nhái theo “vườn chim” hay “rừng” hay “khu sinh thái”, để kinh doanh ăn uống và giải trí.

Một ngộ nhận phổ biến là dân miền Tây khoái lụt vì có cá ăn. Nước tràn đồng theo chu kỳ rồi rút dần ra biển quả thực là ân huệ của thiên nhiên đối với miền Tây vì nước giúp rửa phèn, cùng những chất có hại khác mà nông dân dùng trong ruộng đồng vào mùa trồng trọt, cũng như chất thải trong sinh hoạt của dân cư, và để lại phù sa màu mỡ trên đất. Cá và các thủy sản khác là một huê lợi “trời cho” vào mùa nước nổi.

Thực tế những công trình đô thị hóa (nhà phố), giao thông (đường nhựa) và thủy lợi (bờ bao) đã ảnh hưởng đến dòng nước tràn và đường nước rút khiến cho chỗ thì phù sa không lắng tụ được, chỗ thì nước lũ dâng quá đột ngột, quá cao, gây trở ngại cho cuộc sống, thậm chí nguy hiểm cho tính mạng dân chúng.

Người dân “quen” với lũ, “sống chung với lũ”, là sự cố gắng thích nghi môi trường để tồn tại. Dù sao nước ngọt tràn về vào mùa mưa vẫn tốt hơn là nước mặn lấn vô vào mùa khô. Chợ lại có nhiều cá tôm! Những sáng sớm tôi đi dạo chợ Cao Lãnh, lân la trò chuyện với những người bưng mấy cái chậu hay rổ cá rõ ràng mới đánh bắt, tôi nghe họ nói: “Không ruộng đất, mới trông mong nước nổi, đánh bắt (cá) mà qua ngày, cực khổ, sống chết không chừng, cá ngày càng ít, mà người đánh bắt ngày càng đông, không biết làm sao sống nữa?”.

Môi trường thiên nhiên thay đổi là thực trạng ở ĐBSCL, vừa là quy luật của thiên nhiên vừa là nỗ lực của con người, là đặc điểm quy định đời sống của dân miền này. Ông bà ta đã phát triển những tập quán và kỹ thuật canh tác thích nghi để “sống chung” với sự biến đổi khắc nghiệt theo mùa, khi không đủ nước, khi lũ lụt, và ảnh hưởng theo mùa của điều kiện nhiễm mặn và nhiễm phèn.

Ông bà ta đã “tin tưởng vào thiên nhiên”. Nhưng chúng ta dường như đánh mất niềm tin đó, không nhận ra đất và nước như tấm lòng cha mẹ ta, nhắm mắt quơ quào, không cần biết đến tương lai cháu con. Cuộc biến đổi môi trường hiện nay tuy phần nào là biến đổi thiên nhiên (nước biển dâng, khí hậu thay đổi, thủy lưu sông Cửu Long thất thường) cộng thêm tác động thiếu tính toán khôn ngoan, đang tạo ra những nguy cơ vượt quá khả năng thích nghi của con người, khiến lời cảnh báo của nhà văn Sơn Nam về những nền văn hóa bị vùi chôn đáng nhắc lại.

LÝ LAN


Tuesday, January 27, 2009

Suy nghĩ về giải phẫu thẩm mĩ và văn hóa

Lúc còn ở trong quê tháng rồi tôi có đọc được một bài báo rất thú vị về xu hướng giải phẫu thẩm mĩ ở nước ta. Xu hướng này thật ra đã được ghi nhận trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng khá lâu rồi. Càng ngày người ta càng đi làm đẹp ở độ tuổi càng ngày càng nhỏ. Thú vị hơn là đàn ông Việt Nam cũng đi làm đẹp. Làm đẹp thì chẳng có gì để trách, vì giới phụ nữ đúng là có nhu cầu này, nhưng xu hướng giảm độ tuổi thì đáng bàn. Thế là tôi chấp bút viết bài này cho một tờ báo ở Sài Gòn nhân số Xuân Kỉ Sửu. Bây giờ tìm thấy và đăng lên đây để đọc nhân ngày mồng Ba Tết.

Các tác giả Thánh kinh có lẽ là những người soi kiếng dùm cho chúng ta, làm cho chúng ta thấy được dấu vết của đấng thiêng liêng trong xác thịt không biết mệt nhoài. Tác giả cuốn Genesis viết "Chúa tạo ra loài người theo hình ảnh của Ngài," hay quyển đầu của kinh Cựu ước viết "Chúa sáng tạo ra thế giới". Rồi có những câu như "Theo hình ảnh của Ngài, Chúa tạo ra loài người", "Tôi vinh danh Ngài," những người soạn Thánh ca còn nhắc nhở: "Bạn có biết không," Paul hỏi, "thể xác của bạn là một ngôi đền của Chúa?"

Trong xã hội ngày nay (và có thể cả trong thời tiền sử), rất hiếm có một người nào hài lòng và ca ngợi thân thể của chính mình. Hầu như trong mỗi chúng ta đều, không nhiều thì ít, không hài lòng với thể diện của mình. Một số thì thấy cái tai vểnh cao quá. Số khác thì lo lắng đến cái mũi quá dài hay quá thấp. Giới phụ nữ thì có người quan tâm đến bộ ngực của họ quá to; nhưng cũng có người ăn không ngon ngủ không yên vì thấy ngực của họ không to như mong muốn. Một số chúng ta cảm thấy không hài lòng, chỉ đơn giản vì là đối tượng thù ghét, dè bỉu của người khác.

Lịch sử của thân thể con người là một phần của lịch sử phấn đấu để vượt qua chính mình. Từ xa xưa, con người đã tranh đấu để xóa bỏ những hạn chế của thân thể qua chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, sinh đẻ, và [khi có thể], giải phẫu. Ngày nay, một số đông đàn ông và phụ nữ, trẻ cũng như già, đang tìm đến các nhà giải phẫu để giải quyết sự bất mãn của họ đối với sắc diện của mình.

Những con số thống kê trong vài năm gần đây cho ta thấy một kĩ nghệ rất phát đạt. Chỉ riêng tại Mĩ vào năm 1981, có 296.000 trường hợp giải phẫu thẩm mĩ; năm 1984, con số này tăng lên 477.700; mười năm sau (1994), 1,3 triệu. Năm 1995, có hơn 825.000 giải phẫu sửa mặt. Năm 1996, cứ mỗi 150 người thì có một người tìm đến giải phẫu thẩm mĩ. Ở nước ta, dù chưa có những con số thống kê chính thức, nhưng sự xuất hiện của hàng loạt cơ sở giải phẫu thẩm mĩ ở các thành phố lớn nhỏ, thậm chí thị xã, là một tín hiệu cho thấy sửa sắc đẹp là một kĩ nghệ đang phát triển rất nhanh, và chắc chắc con số khách hàng cũng tăng theo cấp số nhân trong thời gian qua.

Khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ hơn. Phụ nữ người Á châu ở Mĩ thường sửa mắt từ một mí thành hai mí. Một số gia đình coi việc sửa sắc đẹp cho con như một món quà sinh nhật, cũng giống như trong cộng đồng người Do Thái thời thập niên 1950s và 1960s thường sửa mũi cho con gái nhân ngày sinh nhật 16 tuổi. Ở Ba Tây (Brazil), nhiều gia đình giàu có thường khuyến khích con gái giải phẫu ngực (làm cho vú nhỏ hơn) để phân biệt với những thiếu nữ thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội. Giới cha mẹ hi vọng rằng những món quà giải phẫu này sẽ làm cho thân thể con gái mình được nhìn vào với một ấn tượng tốt đẹp, và góp phần làm cho con gái họ hạnh phúc hơn cũng như có lợi thế về kinh tế. (Mà quả như vậy, ở bất cứ xứ sở nào và bất cứ thời nào, kể từ ngày giải phẫu thẩm mĩ ra đời, các nhà giải phẫu thường sử dụng sự hạnh phúc và hài lòng của khách hàng để làm giải thích ý nghĩa cho việc làm của họ). Một quan điểm khá phổ thông trong việc giải phẫu thẩm mĩ là nó (phẫu thuật) cũng giống trang điểm chiếc xe, và ai cũng làm vậy cả.

Nhưng giới khoa học nhìn hiện tượng này khác hơn. Qua nhiều nghiên cứu và ví dụ về việc dùng các phẫu thuật thẩm mĩ để thay đổi những đặc tính liên quan đến chủng tộc, giới tâm lí học giải thích rằng giải phẫu thẩm mĩ được phát triển dựa vào lòng khát khao để vượt qua, để chinh phục. Vượt qua “khuyết tật” bẩm sinh để trở thành người da trắng, hay một người Tây phương; xóa bỏ tì vết của người Á đông, Ái Nhĩ Lan; hay hấp dẫn, hay trở thành son trẻ hơn.

Lòng khát khao vượt qua, tự nó, được bắt nguồn từ sự thống trị của một lí tưởng thẩm mĩ đang thịnh hành trong một sắc dân hay thành phần kinh tế và quyền lực nào đó. Điều này giải thích tại sao phụ nữ Á đông sống trong các xã hội Tây phương có khuynh hướng nhuộm tóc thành màu vàng, để tự đồng hóa mình với lí tưởng đẹp của phụ nữ bản xứ.

Qua nghiên cứu các sách giáo khoa về giải phẫu, tiểu thuyết, tác phẩm điêu khắc, và thậm chí các trang nhà trên mạng internet của các nhà giải phẫu hiện thời, giới tâm lí học có thể dựng lên một lịch sử về giải phẫu thẩm mĩ. Câu chuyện bắt đầu từ thế kỉ 16, khi một số nhà giải phẫu cố gắng hồi phục lại khuôn mặt của những bệnh nhân mà mũi bị biến dạng do bệnh giang mai. Thời đó chưa có thuốc khử trùng và gây mê, những phẫu thuật này rất nguy hiểm và cực kì đau đớn. Nhưng đối với xã hội thời đó, một ngừơi có khuôn mặt với mũi bị đục khoét do bệnh giang mai là thuộc thành phần xấu (cho dù nạn nhân chỉ bị bệnh vì di truyền), vì thế, nạn nhân không ngần ngại chịu đau và đối đầu với hiểm nguy để được giải phẫu. Những cuộc giải phẫu đầu tiên này đặt ra vấn đề phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ (cosmetic surgery) và giải phẫu tái thiết (reconstructive surgery).

Nhưng quá trình phát triển của kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ thực sự bắt đầu từ thế kỉ 19, với sự ra đời của thuốc khử trùng và kĩ thuật gây mê, và quan trọng hơn hết là sự ra đời của lí thuyết khoa học về chủng tộc. Trong một thời gian dài, các nhà cơ thể học Âu châu từng bị mê hoặc bởi cơ thể của các phụ nữ da đen ở Phi châu. Theo đà bành trướng của giới thực dân Âu châu, các nhà cơ thể học Pháp và Anh bắt đầu so sánh cơ thể của phụ nữ người da đen với cơ thể của những phụ nữ mà họ xem là "bình thường" (tức là phụ nữ người Âu châu).

Trong cuốn tiểu thuyết "Beloved", Tác giả Toni Morrison vẽ lên một cảnh tượng "khoa học" đau lòng khi bà mô tả một nhân vật nguyên là thầy giáo, nhưng cũng là người chủ nô lệ và một số đứa cháu ghê tởm của ông ta, nghiên cứu một người nô lệ tên là Sethe; ông phân tích và so sánh cái “nhân tính” với cái “thú tính” của cô. Cuối cùng, Sethe quyết định giết chết con gái của mình để tránh cho đứa trẻ không phải rơi vào những bàn tay tàn ác của của những con người nhân danh khoa học này. Sethe không muốn bất cứ ai trên hành tinh này liệt những đặc tính của con gái mình vào đặc tính thú vật trên giấy tờ. Không thể được.

Sự chủng tộc hóa của khoa học trong thế kỉ 19 qui định giá trị văn hóa cho mỗi bộ phận của cơ thể như mông, tai, vú, và đặc biệt là mũi. Người Ái Nhĩ Lan có mũi quá nhỏ, người Do Thái có mũi quá to, mũi người Phi châu quá thấp, v.v… Trong các sắc dân này, hình dạng của mũi không nằm trong mô hình cái “mũi lí tưởng” của người Âu châu. Quan điểm nhân chủng học này còn được kéo dài mãi cho đến thể kỉ 20: Hitler bị ám ảnh với tai của Stalin, ông bỏ công phân tích kĩ lưởng và tin rằng đặc tính này thể hiện gốc Do Thái của Stalin!

Nhưng nếu giả thuyết về sự vượt lên và hoà nhập vào một nền văn hóa thống trị là đúng thì người ta có thể đoán được rằng phần lớn những khách hàng giải phẩu thẩm mĩ phải là người Á châu hay Phi châu. Nhưng trong thực tế, một số rất lớn người da trắng thuộc giai cấp trung lưu hay thượng lưu lại là những khách hàng làm cho ngành giải phẫu thẩm mĩ phát triển. Tuy nhiên, sự chủng tộc hóa của khoa học vào thế kỉ 19 đã hình thành một quan điểm đương đại về cơ thể và những tiêu chuẩn được xem là đẹp và gợi cảm. Sự chủng tộc hóa về cái đẹp cùng với thời đại Khai sáng nhấn mạnh đến sự tự chủ và độc lập là những yếu tố đã làm cho kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ phát triển như ngày nay, và nó đã phát triển ra ngoài cái mục tiêu ban đầu là xóa bỏ sự khác biệt giữa chủng tộc. Một khi người ta đã xoá bỏ được những dị biệt chủng tộc, người ta phải suy nghĩ đến việc thay đổi những cơ phận khác trong cơ thể để chống lại lão hóa.

Hitler và Mussolini từng ra lệnh giải phẫu thẩm mĩ cho lính để nâng cao sức khỏe, kể cả sửa mí mắt. Kết hợp du lịch với giải phẫu cũng dần dần trở thành một kĩ nghệ. Ngày nay, người ta có thể di du lịch sang Ba Lan và sửa mặt, hay đi thám hiểm Phi châu và đồng thời sửa bộ phận sinh dục, hay sang Thái Lan để giải phẫu thay đổi giới tính!

Giải phẫu thẩm mĩ luôn luôn đi kèm với rủi ro, ngay cả trong thời đại gây mê và khử trùng. Một ca giải phẫu thẩm mĩ thường tốn nhiều thời gian, bệnh nhân phải tiêu ra một thời gian dài dưới sự theo dõi của bác sĩ và gây mê. Tình trạng rủi ro còn dính dáng đến vấn đề chuyên môn. Ngày nay, ở một số nơi, ai cũng có thể hành nghề giải phẫu. Báo chí mới tường thuật một trường hợp tử vong vì giải phẫu mí mắt mà nhà giải phẫu là một bác sĩ về mắt! Thậm chí, có nha sĩ tiến hành những ca giải phẫu thay tóc!

Một nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp, Orlan, đã từng đi giải phẫu ít nhất là 10 lần kể từ năm 1987. Bà còn làm phim để mô tả những ca giải phẫu của chính bà, để theo đuổi cái lí tưởng mà bà gọi là “Sự tái sinh của Thánh Orlan”. Orlan có một quan điểm hết sức cực đoan và ao ước có được một cơ thể hoàn hảo theo lí tưởng của cái đẹp Tây phương. Bà muốn có cái cằm của thần vệ nữ Venus, đôi mắt của Fountainbleu Diana, môi của Europa, mũi của Psyche, và lông mày của Mona Lisa.

Nhưng có phải giải phẫu thẩm mĩ là biểu hiện của một sự từ chối ý muốn của Thượng đế hay không? Những ca giải phẫu và tái giải phẫu của Orlan thực ra được thực hiện không chỉ muốn từ chối sự hiện hữu của một đấng thiêng liêng, mà còn nhân danh nghệ thuật và hiện thực văn hóa. Đàn ông cũng như phụ nữ liên tục tìm đến giải phẫu để tìm đến một sự hoàn hảo. Một kì giải phẫu lần này sẽ dẫn đến một kì giải phẫu kế tiếp, và kế tiếp. Và, trong xu hướng khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ, chu kì giải phẫu thẩm mĩ sẽ còn kéo dài và nhiều hơn trong tương lai. Với cái giá khá đắt của giải phẫu thẩm mĩ, cơ thể con người dần dần trở thành, không phải như là một món quà huyền nhiệm, nhưng là một công trình, một dự án đầy thử thách.

Những dấu vết, những lằn phía ngoài cơ thể là một yếu tố có thể làm cho người ta không hạnh phúc, và có khi là hàng rào cản trở trong quan hệ xã hội hàng ngày. Trong một xã hội hiện đại, nhiều khi chúng ta được đánh giá qua ấn tượng về cơ thể của chúng ta mà người khác tiếp nhận. Do đó, giải phẫu thẩm mĩ có thể xem như một cách thức chăm sóc nhu cầu của cơ thể con người. Trong thực tế, cái đường ranh phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ và giải phẫu tái thiết càng ngày càng khó nhận ra, đặc biệt là khi các nhà giải phẫu mô tả công việc của họ như là “chữa trị” cái phần tâm thần qua việc điều chỉnh cơ thể.

Giải phẫu thẩm mĩ có thể là một món quà huyền diệu của khoa học. Nhưng món quà đó cần phải được đặt trong lí tưởng thẩm mĩ và bối cảnh văn hóa của một dân tộc, hơn là một sản phẩm lai căng của sự đầu hàng trước một văn hóa ngoại lai.

NVT

Suy nghĩ về giải phẫu thẩm mĩ và văn hóa

Lúc còn ở trong quê tháng rồi tôi có đọc được một bài báo rất thú vị về xu hướng giải phẫu thẩm mĩ ở nước ta. Xu hướng này thật ra đã được ghi nhận trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng khá lâu rồi. Càng ngày người ta càng đi làm đẹp ở độ tuổi càng ngày càng nhỏ. Thú vị hơn là đàn ông Việt Nam cũng đi làm đẹp. Làm đẹp thì chẳng có gì để trách, vì giới phụ nữ đúng là có nhu cầu này, nhưng xu hướng giảm độ tuổi thì đáng bàn. Thế là tôi chấp bút viết bài này cho một tờ báo ở Sài Gòn nhân số Xuân Kỉ Sửu. Bây giờ tìm thấy và đăng lên đây để đọc nhân ngày mồng Ba Tết.

Các tác giả Thánh kinh có lẽ là những người soi kiếng dùm cho chúng ta, làm cho chúng ta thấy được dấu vết của đấng thiêng liêng trong xác thịt không biết mệt nhòi. Tác giả cuốn Genesis viết "Chúa tạo ra loài người theo hình ảnh của Ngài," hay quyển đầu của kinh Cựu ước viết "Chúa sáng tạo ra thế giới". Rồi có những câu như "Theo hình ảnh của Ngài, Chúa tạo ra loài người", "Tôi vinh danh Ngài," những người soạn Thánh ca còn nhắc nhở: "Bạn có biết không," Paul hỏi, "thể xác của bạn là một ngôi đền của Chúa?"

Trong xã hội ngày nay (và có thể cả trong thời tiền sử), rất hiếm có một người nào hài lòng và ca ngợi thân thể của chính mình. Hầu như trong mỗi chúng ta đều, không nhiều thì ít, không hài lòng với thể diện của mình. Một số thì thấy cái tai vểnh cao quá. Số khác thì lo lắng đến cái mũi quá dài hay quá thấp. Giới phụ nữ thì có người quan tâm đến bộ ngực của họ quá to; nhưng cũng có người ăn không ngon ngủ không yên vì thấy ngực của họ không to như mong muốn. Một số chúng ta cảm thấy không hài lòng, chỉ đơn giản vì là đối tượng thù ghét, dè bỉu của người khác.

Lịch sử của thân thể con người là một phần của lịch sử phấn đấu để vượt qua chính mình. Từ xa xưa, con người đã tranh đấu để xóa bỏ những hạn chế của thân thể qua chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, sinh đẻ, và [khi có thể], giải phẫu. Ngày nay, một số đông đàn ông và phụ nữ, trẻ cũng như già, đang tìm đến các nhà giải phẫu để giải quyết sự bất mãn của họ đối với sắc diện của mình.

Những con số thống kê trong vài năm gần đây cho ta thấy một kĩ nghệ rất phát đạt. Chỉ riêng tại Mĩ vào năm 1981, có 296.000 trường hợp giải phẫu thẩm mĩ; năm 1984, con số này tăng lên 477.700; mười năm sau (1994), 1,3 triệu. Năm 1995, có hơn 825.000 giải phẫu sửa mặt. Năm 1996, cứ mỗi 150 người thì có một người tìm đến giải phẫu thẩm mĩ. Ở nước ta, dù chưa có những con số thống kê chính thức, nhưng sự xuất hiện của hàng loạt cơ sở giải phẫu thẩm mĩ ở các thành phố lớn nhỏ, thậm chí thị xã, là một tín hiệu cho thấy sửa sắc đẹp là một kĩ nghệ đang phát triển rất nhanh, và chắc chắc con số khách hàng cũng tăng theo cấp số nhân trong thời gian qua.

Khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ hơn. Phụ nữ người Á châu ở Mĩ thường sửa mắt từ một mí thành hai mí. Một số gia đình coi việc sửa sắc đẹp cho con như một món quà sinh nhật, cũng giống như trong cộng đồng người Do Thái thời thập niên 1950s và 1960s thường sửa mũi cho con gái nhân ngày sinh nhật 16 tuổi. Ở Ba Tây (Brazil), nhiều gia đình giàu có thường khuyến khích con gái giải phẫu ngực (làm cho vú nhỏ hơn) để phân biệt với những thiếu nữ thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội. Giới cha mẹ hi vọng rằng những món quà giải phẫu này sẽ làm cho thân thể con gái mình được nhìn vào với một ấn tượng tốt đẹp, và góp phần làm cho con gái họ hạnh phúc hơn cũng như có lợi thế về kinh tế. (Mà quả như vậy, ở bất cứ xứ sở nào và bất cứ thời nào, kể từ ngày giải phẫu thẩm mĩ ra đời, các nhà giải phẫu thường sử dụng sự hạnh phúc và hài lòng của khách hàng để làm giải thích ý nghĩa cho việc làm của họ). Một quan điểm khá phổ thông trong việc giải phẫu thẩm mĩ là nó (phẫu thuật) cũng giống trang điểm chiếc xe, và ai cũng làm vậy cả.

Nhưng giới khoa học nhìn hiện tượng này khác hơn. Qua nhiều nghiên cứu và ví dụ về việc dùng các phẫu thuật thẩm mĩ để thay đổi những đặc tính liên quan đến chủng tộc, giới tâm lí học giải thích rằng giải phẫu thẩm mĩ được phát triển dựa vào lòng khát khao để vượt qua, để chinh phục. Vượt qua “khuyết tật” bẩm sinh để trở thành người da trắng, hay một người Tây phương; xóa bỏ tì vết của người Á đông, Ái Nhĩ Lan; hay hấp dẫn, hay trở thành son trẻ hơn.

Lòng khát khao vượt qua, tự nó, được bắt nguồn từ sự thống trị của một lí tưởng thẩm mĩ đang thịnh hành trong một sắc dân hay thành phần kinh tế và quyền lực nào đó. Điều này giải thích tại sao phụ nữ Á đông sống trong các xã hội Tây phương có khuynh hướng nhuộm tóc thành màu vàng, để tự đồng hóa mình với lí tưởng đẹp của phụ nữ bản xứ.

Qua nghiên cứu các sách giáo khoa về giải phẫu, tiểu thuyết, tác phẩm điêu khắc, và thậm chí các trang nhà trên mạng internet của các nhà giải phẫu hiện thời, giới tâm lí học có thể dựng lên một lịch sử về giải phẫu thẩm mĩ. Câu chuyện bắt đầu từ thế kỉ 16, khi một số nhà giải phẫu cố gắng hồi phục lại khuôn mặt của những bệnh nhân mà mũi bị biến dạng do bệnh giang mai. Thời đó chưa có thuốc khử trùng và gây mê, những phẫu thuật này rất nguy hiểm và cực kì đau đớn. Nhưng đối với xã hội thời đó, một ngừơi có khuôn mặt với mũi bị đục khoét do bệnh giang mai là thuộc thành phần xấu (cho dù nạn nhân chỉ bị bệnh vì di truyền), vì thế, nạn nhân không ngần ngại chịu đau và đối đầu với hiểm nguy để được giải phẫu. Những cuộc giải phẫu đầu tiên này đặt ra vấn đề phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ (cosmetic surgery) và giải phẫu tái thiết (reconstructive surgery).

Nhưng quá trình phát triển của kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ thực sự bắt đầu từ thế kỉ 19, với sự ra đời của thuốc khử trùng và kĩ thuật gây mê, và quan trọng hơn hết là sự ra đời của lí thuyết khoa học về chủng tộc. Trong một thời gian dài, các nhà cơ thể học Âu châu từng bị mê hoặc bởi cơ thể của các phụ nữ da đen ở Phi châu. Theo đà bành trướng của giới thực dân Âu châu, các nhà cơ thể học Pháp và Anh bắt đầu so sánh cơ thể của phụ nữ người da đen với cơ thể của những phụ nữ mà họ xem là "bình thường" (tức là phụ nữ người Âu châu).

Trong cuốn tiểu thuyết "Beloved", Tác giả Toni Morrison vẽ lên một cảnh tượng "khoa học" đau lòng khi bà mô tả một nhân vật nguyên là thầy giáo, nhưng cũng là người chủ nô lệ và một số đứa cháu ghê tởm của ông ta, nghiên cứu một người nô lệ tên là Sethe; ông phân tích và so sánh cái “nhân tính” với cái “thú tính” của cô. Cuối cùng, Sethe quyết định giết chết con gái của mình để tránh cho đứa trẻ không phải rơi vào những bàn tay tàn ác của của những con người nhân danh khoa học này. Sethe không muốn bất cứ ai trên hành tinh này liệt những đặc tính của con gái mình vào đặc tính thú vật trên giấy tờ. Không thể được.

Sự chủng tộc hóa của khoa học trong thế kỉ 19 qui định giá trị văn hóa cho mỗi bộ phận của cơ thể như mông, tai, vú, và đặc biệt là mũi. Người Ái Nhĩ Lan có mũi quá nhỏ, người Do Thái có mũi quá to, mũi người Phi châu quá thấp, v.v… Trong các sắc dân này, hình dạng của mũi không nằm trong mô hình cái “mũi lí tưởng” của người Âu châu. Quan điểm nhân chủng học này còn được kéo dài mãi cho đến thể kỉ 20: Hitler bị ám ảnh với tai của Stalin, ông bỏ công phân tích kĩ lưởng và tin rằng đặc tính này thể hiện gốc Do Thái của Stalin!

Nhưng nếu giả thuyết về sự vượt lên và hoà nhập vào một nền văn hóa thống trị là đúng thì người ta có thể đoán được rằng phần lớn những khách hàng giải phẩu thẩm mĩ phải là người Á châu hay Phi châu. Nhưng trong thực tế, một số rất lớn người da trắng thuộc giai cấp trung lưu hay thượng lưu lại là những khách hàng làm cho ngành giải phẫu thẩm mĩ phát triển. Tuy nhiên, sự chủng tộc hóa của khoa học vào thế kỉ 19 đã hình thành một quan điểm đương đại về cơ thể và những tiêu chuẩn được xem là đẹp và gợi cảm. Sự chủng tộc hóa về cái đẹp cùng với thời đại Khai sáng nhấn mạnh đến sự tự chủ và độc lập là những yếu tố đã làm cho kĩ nghệ giải phẫu thẩm mĩ phát triển như ngày nay, và nó đã phát triển ra ngoài cái mục tiêu ban đầu là xóa bỏ sự khác biệt giữa chủng tộc. Một khi người ta đã xoá bỏ được những dị biệt chủng tộc, người ta phải suy nghĩ đến việc thay đổi những cơ phận khác trong cơ thể để chống lại lão hóa.

Hitler và Mussolini từng ra lệnh giải phẫu thẩm mĩ cho lính để nâng cao sức khỏe, kể cả sửa mí mắt. Kết hợp du lịch với giải phẫu cũng dần dần trở thành một kĩ nghệ. Ngày nay, người ta có thể di du lịch sang Ba Lan và sửa mặt, hay đi thám hiểm Phi châu và đồng thời sửa bộ phận sinh dục, hay sang Thái Lan để giải phẫu thay đổi giới tính!

Giải phẫu thẩm mĩ luôn luôn đi kèm với rủi ro, ngay cả trong thời đại gây mê và khử trùng. Một ca giải phẫu thẩm mĩ thường tốn nhiều thời gian, bệnh nhân phải tiêu ra một thời gian dài dưới sự theo dõi của bác sĩ và gây mê. Tình trạng rủi ro còn dính dáng đến vấn đề chuyên môn. Ngày nay, ở một số nơi, ai cũng có thể hành nghề giải phẫu. Báo chí mới tường thuật một trường hợp tử vong vì giải phẫu mí mắt mà nhà giải phẫu là một bác sĩ về mắt! Thậm chí, có nha sĩ tiến hành những ca giải phẫu thay tóc!

Một nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp, Orlan, đã từng đi giải phẫu ít nhất là 10 lần kể từ năm 1987. Bà còn làm phim để mô tả những ca giải phẫu của chính bà, để theo đuổi cái lí tưởng mà bà gọi là “Sự tái sinh của Thánh Orlan”. Orlan có một quan điểm hết sức cực đoan và ao ước có được một cơ thể hoàn hảo theo lí tưởng của cái đẹp Tây phương. Bà muốn có cái cằm của thần vệ nữ Venus, đôi mắt của Fountainbleu Diana, môi của Europa, mũi của Psyche, và lông mày của Mona Lisa.

Nhưng có phải giải phẫu thẩm mĩ là biểu hiện của một sự từ chối ý muốn của Thượng đế hay không? Những ca giải phẫu và tái giải phẫu của Orlan thực ra được thực hiện không chỉ muốn từ chối sự hiện hữu của một đấng thiêng liêng, mà còn nhân danh nghệ thuật và hiện thực văn hóa. Đàn ông cũng như phụ nữ liên tục tìm đến giải phẫu để tìm đến một sự hoàn hảo. Một kì giải phẫu lần này sẽ dẫn đến một kì giải phẫu kế tiếp, và kế tiếp. Và, trong xu hướng khách hàng giải phẫu càng ngày càng trẻ, chu kì giải phẫu thẩm mĩ sẽ còn kéo dài và nhiều hơn trong tương lai. Với cái giá khá đắt của giải phẫu thẩm mĩ, cơ thể con người dần dần trở thành, không phải như là một món quà huyền nhiệm, nhưng là một công trình, một dự án đầy thử thách.

Những dấu vết, những lằn phía ngoài cơ thể là một yếu tố có thể làm cho người ta không hạnh phúc, và có khi là hàng rào cản trở trong quan hệ xã hội hàng ngày. Trong một xã hội hiện đại, nhiều khi chúng ta được đánh giá qua ấn tượng về cơ thể của chúng ta mà người khác tiếp nhận. Do đó, giải phẫu thẩm mĩ có thể xem như một cách thức chăm sóc nhu cầu của cơ thể con người. Trong thực tế, cái đường ranh phân biệt giữa giải phẫu thẩm mĩ và giải phẫu tái thiết càng ngày càng khó nhận ra, đặc biệt là khi các nhà giải phẫu mô tả công việc của họ như là “chữa trị” cái phần tâm thần qua việc điều chỉnh cơ thể.

Giải phẫu thẩm mĩ có thể là một món quà huyền diệu của khoa học. Nhưng món quà đó cần phải được đặt trong lí tưởng thẩm mĩ và bối cảnh văn hóa của một dân tộc, hơn là một sản phẩm lai căng của sự đầu hàng trước một văn hóa ngoại lai.

NVT

Ngày mồng Ba Tết

Đúng là dòng thời gian cứ trôi chảy. Mới đó mà hôm nay đã là ngày mồng Ba Tết rồi! Thế là một cái Tết sắp qua đi, mọi người lại bước vào năm con trâu, quay về với những toan tính tương lai thiên hình vạn trạng.

Nhớ lại ngày xưa (âu cũng là triệu chứng của việc lên 1 tuổi) ở dưới quê Ba tôi thường lấy đĩa cúng trên bàn thờ xuống để xem cặp chân gà đã bị hóa kiếp từ hôm 30 Tết, để xem biết vận hội năm mới ra sao. Không biết “thủ tục” này có từ thời nào, và tại sao lại xem những gân, da của chân gà để đoán chuyện tương lai. Mới nghe qua thì đúng là phi khoa học!

Hồi xưa tết nhứt còn mang tính truyền thống, theo qui ước (như trong 3 ngày tết không được quét nhà, không làm bất cứ cái gì với hình thức vứt ra khỏi nhà), nhưng theo thời gian thì mấy “thủ tục” này cũng phai mờ dần. Nhưng mấy năm sau này tôi thấy người dân dưới quê chỉ ăn Tết có một ngày mồng Một là chính, còn mấy ngày sau là quay về với công việc đồng áng rồi.

Còn tôi bên này thì bận … xin tiền. Mùa này ở đây, những người như tôi đều bận rộn còng lưng viết đơn xin tài trợ cho năm tới. Hi vọng năm tới sẽ có nhiều điều thú vị để tường thuật lại với các bạn. Riêng các bạn ở Việt Nam thì xin báo trước là năm tới chúng tôi sẽ có một hội nghị về osteoporosis và nội tiết vào tháng 8, và trước đó là một workshop 4 ngày về di truyền học sẽ tổ chức tại Đại học Y Dược. Tôi sẽ tái bản cuốn sách EBM, và hi vọng cho ra đời một cuốn sách khác về dịch tễ học. Chỉ nghĩ đến bao nhiêu việc đó là cũng … ná thở rồi.

NVT

PS. Đêm qua đi ăn tiệc về thì thấy một thư chúc Tết của ông bạn bên Mĩ. Ông bạn Bắc kì của tôi hóm hỉnh chúc Tết mà kèm theo một lời khuyên như vầy (tôi trích nguyên văn): “Tôi thấy ông nên đóng của mục comment là vừa. Ông trích lời nói của ông D mà ông đâu có làm theo lời nói đó! Ông D ấy thấy mục comment là nơi người đi đường thả lựu đạn, còn tôi thấy đó là cái chợ. Ở chợ người ta khi vui thì chúc tụng nhau, khi kiếm chuyện thì phun nước miếng, khi ghét nhau thì chửi đổng. Cũng có sạch, mà cũng có bẩn. Ở cái chợ như thế thì đằng nào thì ông cũng bị thua. Hay nhất là ông đóng cửa cho xong.” Tôi ngẩm nghĩ lời khuyên này và đi đến quyết định … nửa vời. Tôi khóa mục comment, nhưng vẫn để phần các bạn có thể đăng kí góp ý hay phê phán hay viết email cho tôi. Tôi biết là quyết định này sẽ tạo nên những lời ra tiếng vào. Có thể đoán được là sẽ có người nói tôi làm như thế mất vui khi không có cơ hội trao đổi trực tiếp; vài bạn có lẽ sẽ nghĩ tôi không thích bị chỉ trích, nhưng tôi nói ngay rằng: sai. Thật vậy, đối với những người làm khoa học như tôi thì nhận chỉ trích và phê phán hàng ngày. Vì đã quá quen với những “comments” của “reviewers" như thế nên tôi không còn xúc cảm trước những chỉ trích nữa. Nhưng tôi không chấp nhận (hay khinh thì đúng hơn) cái thói mà người Anh gọi là smear, một thói xấu hay thấy ngoài xã hội.

Monday, January 26, 2009

Nàng Kiều bao nhiêu tuổi?

Nàng Kiều lúc gặp Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bao nhiêu tuổi? Đó là một câu hỏi thú vị mà Gs Nguyễn Tài Cẩn giải đáp trong bài trên ZĐ. Theo Gs Cẩn thì lúc đó nàng Kiều 21 tuổi. Nhưng một ông bạn của tôi bình luận bài đó và nhất quyết cho rằng nàng chỉ 19 tuổi. Xin mời các bạn đọc chơi cho vui ngày Xuân.

NVT

===

Nàng Kiều nhất định ở tuổi teen!

Đọc bài GS Nguyễn Tài Cẩn "Về chuyện tuổi tác ba chị em Thuý Kiều, Thuý Vân, Vương Quan" thật thú vị nhưng ... tức anh ách!

Vì GS suy ra nàng gặp chàng Kim năm 21 tuổi! Ở tuổi đó, tôi sợ rằng nàng hơi bị già! Chỉ thế hệ các cụ đầu thế kỷ 20, mười tám lấy chồng cũng đã là trễ! Tuổi cập kê là 15, đến tuổi trăng tròn 16, giai nhân tài sắc như nàng Kiều thì hẳn vương tôn, công tử đã dập dìu đầy nhà, Vương bà đuổi đi không kịp! Năm, sáu năm sau nàng vẫn còn kén, thì hẳn các cụ Vương lo quay lo quắt cho cô con gái rượu.. ế chồng!

Không!

Quyết chẳng phải thế!

Hãy thử.. mặc cả với GS NTC về tuổi tác nàng Kiều xem nào!
Này nhé: GS căn cứ trên Kim Vân Kiều Lục
"Năm Gia Tĩnh TAM NIÊN Triều Minh (1524) thiên hạ thái bình...Vợ Vương Viên ngọai đi cầu đảo, mộng thấy một cụ già cho 3 cành đào..Vương Viên ngọai đoán trời sẽ cho 1 trai 2 gái ...
Non 1 năm sau (không rõ sau sự việc nào nêu trên đây, nhưng chắc vẫn là trong năm 1524) quả nhiên bà Viên ngọai bắt đầu lần lượt sinh con : đầu tiên là 2 gái rồi 1 trai."

Tôi nghĩ chưa chắc nàng sinh vào năm 1524! Nếu Vương bà cầu đảo từ tháng 4 trở đi thì sao?

Cộng chín tháng mười ngày thì nàng Kiều hẳn sinh vào năm sau!

Vả lại, năm Gia Tĩnh thứ ba (1524) là năm giáp thân.

Làm thế nào có thể chấp nhận người đẹp của chúng ta sinh vào năm ... con khỉ!

Vậy tôi quả quyết rằng nàng sinh ra năm ất dậu(1525), năm con gà hẳn dễ thương hơn biết chừng nào.

Như thế, chúng ta đã bớt cho nàng được một tuổi. Tức là 20. Vẫn còn già!

Vậy nàng gặp chàng Kim năm nào? Cũng căn cứ trên Kim Vân Kiều Lục "Đến năm Gia Tĩnh 24 (1545) xẩy ra chuyện đi chơi Thanh Minh, chị em Kiều thăm mộ Đạm Tiên rồi gặp Kim Trọng."

Chết thôi! Viết rõ thế! "Gia Tĩnh 24" thì làm thế nào bây giờ?

Tôi chợt nhớ rằng các tiết trong âm lịch du di khoảng chừng 15 ngày. Tiết Thanh Minh có khi là trong tháng hai, có khi trong tháng ba.Lại nhớ câu Kiều "Thanh Minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ hội là đạp xuân".A Ha! Mấu chốt ở đây rồi!Tôi lục âm lịch trên internet (http://www.sinica.edu.tw/~tdbproj/sinocal/luso.html) xem tiết Thanh Minh ở tháng nào?

Vừa lục vừa khấn như các cụ bói kiều ngày xuân.
"Lạy vua Từ Hải,
Lạy vãi Giác Duyên,
Lạy tiên Thúy Kiều ...
Cho con một quẻ"

A đây rồi! Quả nhiên! Linh thế!

Năm Gia Tĩnh 24 tiết Thanh Minh là ngày 24 tháng hai! Năm này là năm nhuận, có hai tháng giêng!

Muốn "Thanh Minh trong tiết tháng ba", ta phải lùi lại:
Năm 1544, Gia Tĩnh 23, ngày 14 tháng ba.
Năm 1543, Gia Tĩnh 22, ngày 2 tháng ba.
Như thế, chắc hẳn Kim Vân Kiều Lục in lầm!

Thế là, ta bớt cho nàng thêm ít ra được một tuổi.

Như thế: Nàng gặp chàng Kim vào ngày 14 tháng ba, Gia Tĩnh 23, năm Giáp Thìn (1544, năm con rồng!), lúc nàng 19 chín tuổi, đầy mộng mơ!

Mười chín! Tức tuổi teen!

Và tôi thầm khấn:
"Lạy tiên Thúy Kiều,
GS Nguyễn Tài Cẩn quên câu 'Không bao giờ đoán tuổi một người đàn bà'
và bảo cô những 21 tuổi!
Con ăn bớt được cho cô những hai tuổi!
Năm mới, cô phù hộ cho con nhé.. và đừng giận bác Cẩn!"

Nguyễn Lê

Khai bút đầu năm: trả lời báo Bình Định

Thật ra, đây không phải là khai bút đầu năm, mà là cách đây hai tháng tôi có trả lời phỏng vấn cho báo Bình Định về việc làm bên này. Người phỏng vấn (anh Lê Viết Thọ) hỏi nhiều câu thú vị, và kèm theo đây là những câu tôi trả lời. Có lẽ khi đăng báo thì họ biên tập lại rồi, nhưng đây là bản gốc. Hôm nay đi ăn tiệc cũng nhiều quá, nhưng chẳng hiểu sao vẫn nhớ nhà nên post bài này như là một khai bút đầu năm ... Hi vọng qua bài này các bạn trẻ sẽ có vài kinh nghiệm sau này trong việc học hành.
NVT

===

1. Nguyên quán ở Bình Định, nhưng lớn lên ở Kiên Giang và định cư tại Australia. Quê hương trong ký ức của ông? Liệu hình ảnh quê hương và tính cách con người ở đó (quê nội và quê ngoại của ông) có ảnh hưởng đến ông trong quá trình học tập, làm việc?

NVT: Ba tôi lúc sinh tiền ít nói lắm, nhưng mỗi khi ông nói thì lúc nào cũng nhắc đến quê ngoài Bình Định, như gián tiếp nhắc cho tôi biết nguyên quán mình ở đâu. Mà, tôi nghĩ mỗi người Việt Nam, dù là ở trong nước hay ngoài nước, đều có một cái quê trong người. Tôi cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Cái quê trong tôi là một làng quê Chàm Chẹt nằm ven cánh đồng và bên con sông hiền hòa nơi mình sinh ra, là cái thôn Cảnh Vân, xã Phước Thành nơi Ba tôi xuất thân và bà con vẫn còn ở đó, là huyện Phù Mỹ nơi ông ngoại tôi sinh ra và sau này cũng “Nam tiến” như Ba tôi. Tất cả những địa phương này đều có chung một đặc điểm: đó là cái nghèo. Cái nghèo đó thật sự là động cơ để tôi vươn lên trong học tập và làm việc. Thú thật, lúc nào tôi cũng nghĩ (hay mơ ước) làm gì để một ngày nào đó người dân dưới quê tôi ở Kiên Giang không còn “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, không còn cảnh mấy người em họ tôi ngoài Bình Định phải gánh gồng những viên đá nặng chịch hay tùy thuộc vào mấy con bò để mưu sinh hàng ngày.

2. Từ một chân phụ bếp rồi phụ tá trong bệnh viện để mưu sinh, ông đã tự vươn lên trở thành một người có tiếng trên trường quốc tế về chuyên môn. Ông có thể tiết lộ quá trình tự vươn lên của mình và bí quyết để ông vươn lên trong cuộc sống cho các bạn trẻ quê nhà?

NVT: Thật ra thì không có bí quyết gì cả. Tùy hoàn cảnh mỗi người mà ứng phó thôi. Khi tôi mới sang Úc, tiếng Anh thì rất lôm côm, công việc thì chưa có, làm gì để vươn lên là một câu hỏi lớn. Tôi rửa chén, làm phụ bếp mà đầu thì lúc nào cũng hỏi phải làm gì để thoát khỏi cái cảnh này. Tôi nghiệm ra một điều đơn giản là: phải học và phải nắm lấy tiếng Anh. Bây giờ nhìn lại quãng đường mình đi qua, tôi thấy có thể chia sẻ một số kinh nghiệm với các bạn trẻ và những người đi sau. Kinh nghiệm của tôi thì như thế này:

Phấn đấu vượt trội. Đối với một người đến từ một đất nước nghèo và chiến tranh triền miên như Việt Nam, mà lại xuất thân từ nông thôn, thì ấn tượng mà giới trung lưu ở phương Tây có trong đầu sẽ là một kẻ tầm thường, không đáng chú ý. Do đó, tôi tự đặt cho mình một cái chuẩn khắt khe hơn: tôi phải hơn họ ít nhất là hai cái đầu. Tôi nghĩ hơn họ một cái đầu vẫn chưa đủ. Phải phấn đấu hơn họ, làm hơn họ thì họ mới không xem thường mình được.

Hi sinh vài nhu cầu cá nhân. Để vượt trội hơn người khác thì chỉ có 2 cách: một là làm việc có hiệu quả và thông minh hơn họ, và hai là nếu không thông minh hơn thì phải làm việc nhiều thì giờ hơn họ. Để có nhiều thì giờ cho công việc, tôi nghĩ chúng ta cần phải hi sinh một số nhu cầu cá nhân, hạn chế những tiệc tùng, giao tiếp cá nhân không cần thiết. Nói cách khác, đôi khi cũng cần phải tự đóng cửa, tự cô lập mình để hoàn thành những dự án, những dự tính mà mình đã đặt ra.

Mục tiêu rõ ràng và kiên trì. Trong cuộc sống và công việc tôi thấy đôi khi tôi bị thu hút bởi những chuyện không đâu, và tốn nhiều thời gian không cần thiết. Cho nên, bài học cá nhân của tôi là làm việc gì cũng phải có mục tiêu cụ thể, phải biết việc mình đang làm sẽ dẫn đến thành quả gì. Rồi từ đó, vạch định việc làm cho từng thời gian cụ thể. Tôi có thói quen mỗi sáng ngồi xuống viết ra những việc mình cần làm hôm nay, và lúc nào cái danh sách dự án cũng trên bàn nhắc nhở mình đã và đang đi đến đâu trong tiến trình của việc đạt mục tiêu. Phải kiên trì theo đuổi mục tiêu cho đến cùng, chứ không nên bỏ dở giữa chừng.

Nắm lấy phương pháp. Tôi để ý thấy nhiều đồng nghiệp họ nói rất hay và có khi rất nổi tiếng, nhưng khi được hỏi về những chi tiết phương pháp thì họ lúng túng. Rất tiếc, đó là tình trạng khá phổ biến ngày nay. Do đó, một trong những chỉ tiêu tôi đặt ra là phải nắm lấy phương pháp, vì có phương pháp trong tay cũng có nghĩa là mình có một thế đứng bậc trên khi cạnh tranh với người khác. Nói cho cùng, nói đến khoa học là nói đến phương pháp. Chính vì thế mà tôi khuyên nghiên cứu sinh của mình ngoài việc suy nghĩ về vấn đề, còn phải làm chủ cho được phương pháp, để mai đây mốt nọ ra trường có thể trở thành độc lập nhanh chóng trong nghiên cứu khoa học.

Tìm thầy giỏi và một trung tâm tốt. Ông bà ta có câu “không thầy đố mày làm nên” hay “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Tôi vẫn thấy hai câu này rất thực tế và cũng là một lời khuyên rất có ích. Để thành công trong khoa học, mỗi người cần phải chọn cho mình một người thầy có tiếng trên trường quốc tế. Những người thầy có tiếng thường chỉ làm những nghiên cứu lớn, và do đó, làm cho họ cũng có nghĩa là chúng ta làm quen với cách suy nghĩ lớn, chứ không tủn mủn như những nhóm nghiên cứu khác. Ngoài ra, một trung tâm nghiên cứu nổi tiếng là một môi trường khoa học rất tốt để giao lưu cùng những nhà khoa học giỏi. Do đó, cần tìm đến “đầu quân” cho những trung tâm này để học hỏi từ họ, học hỏi từ cách tổ chức và làm việc, đến những vấn đề chuyên môn.

Làm việc theo nhóm (teamwork) và hợp tác. Tôi chưa thầy ai thành công trong khoa học mà làm việc đơn lẻ. Trong hoạt động khoa học ngày nay, người ta tập trung nhau thành từng nhóm. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nghiên cứu khoa học ngày nay đòi hỏi sự đóng góp của nhiều người từ nhiều ngành nghề khác nhau. Làm việc theo nhóm có một lợi thế là các thành viên cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi phương pháp lẫn nhau, và nhất là phát triển ý tưởng mới liên ngành, và qua đó có thể nâng cao “năng suất” khoa học.

Tiếng Anh. Ngay từ những ngày đầu tiên mới định cư ở Úc, tôi nhận ra tiếng Anh là phương tiện để tồn tại trong xã hội này. Trong khoa học, tôi có thể không ngần ngại nói rằng tiếng Anh là một chìa khóa thành công, bởi vì phần lớn các tập san khoa học ngày nay đều sử dụng tiếng Anh làm phương tiện thông tin. Không rành tiếng Anh thì khó mà thành công trong khoa học, cho dù nhà khoa học giỏi cỡ nào. Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp tác giả có những nghiên cứu rất hay, nhưng khi trình bày thì do tiếng Anh quá kém nên làm nãn lòng đồng nghiệp. Nhưng giỏi tiếng Anh như thế nào để thành công? Tôi nhớ đến lời khuyên của ông Mười Hương, một thượng cấp của tướng Phạm Xuân Ẩn (một nhà tình báo tài ba) khi ông Ẩn được cử sang Mĩ học: sang bên ấy, cậu phải luyện tiếng Anh cho tốt, phải nói, viết và hành xử như người Mĩ, chứ không phải như người Việt. Nói cách khác, phải hội nhập với đồng nghiệp bằng thứ ngôn ngữ của họ, với cách nói và viết của họ chứ không phải cách diễn tả của người Việt.

3. Ai hay điều gì ảnh hưởng lớn nhất đến những sự lựa chọn của ông?

Tôi nghĩ đến hai người: Ba tôi và người thầy thời tiểu học. Ba tôi rất ít nói chuyện với con cái, nhưng mỗi lần tôi đi học xa về và có dịp ngồi nói chuyện, thì Ba tôi thường hay nhắc là Ba và Má rất ít học nên muốn cho con cái phải học đến nơi đến chốn. Tôi thì nhìn Ba tôi như là một tấm gương phấn đấu. Ngày Ba tôi bị thương, mất hết một cánh tay, giải ngũ về làm ruộng, bà con ai cũng ngao ngán lo cho tương lai gia đình chẳng biết sẽ ra sao. Ba tôi phải miệt mài tập làm việc bằng tay trái, và ông đã thành công. Cho đến ngày nay, cả làng tôi khi nhắc đến “Ông Ba Ý” ai cũng phục là ông có thể phác cỏ, đào đất, viết chữ bằng tay trái, mà làm chẳng kém ai. Từ một người thương binh, Ba tôi đã tạo dựng được một cơ ngơi có thể nói là vững vàng về mặt kinh tế để anh em tôi có thể đi học. Trong cuộc sống tinh thần, Ba tôi cũng là một tấm gương: ông trung thành với lí tưởng chính trị của ông, dù bị tù đày tra tấn ông vẫn không tiết lộ thông tin làm hại đồng chí ông. Ba Má tôi còn nhận nhiều con nuôi, cho đi học nghề để sau này mở cơ xưởng riêng. Ba tôi cho tôi một bài học lớn là có thể vươn lên và vượt qua nghịch cảnh. Má tôi cho tôi một bài học là phải sống tử tế với mọi người.

Người thứ hai ảnh hưởng đến tôi là thấy giáo Phát, thầy dạy thời tiểu học. Nay thì Thầy đã qua đời khá lâu, nhưng tôi vẫn nhớ Thầy là một nhà giáo đúng mực, một nhà giáo tiêu biểu. Thầy rất nghiêm nghị nhưng công bằng và rất tận tụy với học trò. Dù ở trong quê, nhưng mỗi khi lên lớp là Thầy vận quần áo nghiêm chỉnh (áo bỏ vô quần, mang giầy), câu đầu tiên của bài giảng lúc nào cũng là đạo đức học. Bây giờ tôi mới biết đó là những bài Thầy trích tứ Quôc văn Giáo khoa thư. Ở Thầy, tôi còn thấy một sự phân định rạch ròi giữa cá nhân con người và chức phận. Thầy có những đam mê cá nhân (như thích đá gà) có thể ngày nay không được xem là hay lắm, nhưng về mặt chức phận Thầy là một người làm tròn nhiệm vụ nhà giáo. Thầy gieo cho tôi đạo đức xã hội và mẫu mực của một nhà giáo.

4. Là nhà khoa học, nhà giáo, người viết văn, viết báo, biên khảo… Nhiều nghề tay trái như vậy, trong thâm tâm, ông xác định chỗ đứng của mình là ở lĩnh vực nào?

Có một triết gia (hình như là Jean Paul Sartre) có nói một câu như thế này: trí thức là người làm những việc chẳng liên quan gì đến họ, nhưng đó là chuyện mà họ thấy là của họ. Bây giờ nhìn lại những chuyện mình làm, như anh nói nào là viết văn, viết báo, sưu khảo, v.v… là những chuyện tôi thấy là chuyện … của mình. Về khía cạnh này tôi thấy mình là đồ đệ của cụ Nguyễn Khắc Viện, vì cụ ấy cũng làm những việc ít liên quan đến chuyên ngành của cụ. Trong tôi có 2 con người: một con người xã hội và một con người chuyên ngành. Con người xã hội của tôi nó thôi thúc mình tranh luận và phản biện những vấn đề như giáo dục, văn hóa, văn học, khoa học, y tế, môi sinh, xã hội, chất độc da cam, v.v… nhưng con người chuyên môn thì chỉ biết có loãng xương. Hai con người nhưng là một: đó là con người Việt Nam.

5. Làm việc tại Úc, nhưng lại rất gắn bó với quê nhà thông qua những bài báo rất cập nhật tình hình thời sự trong nước, đăng trên các báo, tạp chí trong nước. Ông thu nhận thông tin về quê nhà bằng con đường nào? Lý do gì thôi thúc ông viết và gửi in trên báo chí ở quê nhà, trong khi ông có thể gửi đăng báo nước ngoài hay chỉ tập trung vào con đường nghiên cứu khoa học?

Về chất độc da cam thì tôi thu thập thông tin từ các tập san khoa học chuyên môn. Thậm chí, có khi tôi phải bỏ tiền túi ra để mua những thông tin này. Còn những vấn đề thời sự trong nước thì tôi thu thập qua internet là chính. Nhưng trong nhiều chuyến vế quê tôi cũng mua rất nhiều sách báo để tham khảo. Vì thế, trước một vấn đề nằm trong tầm radar của mình, tôi có khá nhiều thông tin để viết. Tôi có cái lợi thế là tôi được đào tạo trong môi trường khoa học và có thể xử lí thông tin khoa học nhanh và chính xác hơn so với các anh chị trong báo chí. Tôi lại có thói quen của người làm khoa học là lúc nào cũng có dữ liệu làm cơ sở cho phát biểu của mình chứ không suy luận linh tinh.

Nhưng những bài báo mà tôi gửi cho các báo trong nước chỉ là những ý kiến bình luận hay phản biện. Ngay cả những bài có vẻ “khoa học” thì tôi chỉ xem là loại khoa học thường thức, những việc mình làm vì trách nhiệm xã hội. Còn về nghiên cứu khoa học thì tôi xem đó là việc làm chính của mình, là nghĩa vụ khoa học. Viết cho các tập san khoa học rất khác với viết cho báo chí đại chúng. Những bài báo đại chúng không phải và chưa bao giờ là những “viên gạch” cho sự nghiệp khoa học của tôi; vì thế nghiên cứu loãng xương vẫn là nhiệm vụ số 1 và ưu tiên số 1 trong cuộc đời và sự nghiệp của tôi.

Tôi thấy hai việc làm (việc cá nhân và việc công) nó bổ sung cho nhau. Tôi cũng giúp một số đồng nghiệp làm nghiên cứu y khoa ở trong nước, cho nên những vấn đề thời sự trong nước cung cấp cho tôi một cái nhìn chung để tìm ý tưởng cho nghiên cứu.

Có người thấy tôi viết nhiều như thế nên hỏi đùa rằng tôi có ngủ không. Thật ra, viết những bài bình luận hay phản biện tôi có thể viết rất nhanh, chỉ 1 hay 2 giờ là xong. Có bài bàn về tiêu chuẩn chất lượng đại học, người ta nghĩ tôi chắc phải tiêu ra cả tuần để viết, nhưng trong thực tế bài đó tôi viết chưa đầy 4 giờ đồng hồ. hay như bài xã luận vầ chất độc da cam cho báo Tuởi Trẻ trước đây tôi viết trong khi đi xe đò về quê.

6. Ông bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về chất độc da cam, dioxin. Lý do ông quan tâm đến đề tài này? Kết quả và điều tâm huyết nhất mà ông thâu nhận qua quá trình nghiên cứu?

Nhiều ngưòi hỏi tôi về động cơ viết cuốn sách đó. Tuổi thơ và ấn tượng tuổi thơ lúc nào cũng theo đuổi mình và là một trong những động cơ làm việc. Thuở còn nhỏ khi đi tản cư tránh giặc tôi chứng kiến cảnh chất độc màu da cam diệt cỏ như thế nào. Rồi khi lớn lên qua tìm hiểu mới biết đó là một chất mà thế giới lên án. Thế là tôi tự hỏi: một chất mà thế giới lên án như thế tại sao họ lại đem sang sử dụng ở nước ta. Tôi tìm hiểu về “câu chuyện da cam” này suốt hơn 10 năm trời, thu thập đủ dữ liệu và viết thành sách. Tôi rất hài lòng vì những dữ liệu đó đã giúp ích cho nạn nhân chất độc da cam, và gióng lên được một tiếng nói trên thế giới về tác hại của nó ở Việt Nam. Tôi có trả lời phỏng vấn cho tập san Science của Mĩ rằng tôi hi vọng công lí sẽ đến với nạn nhân ở Việt Nam, và hi vọng sẽ không có một câu chuyện da cam trong tương lai nữa.

7. Ông có hay theo dõi thông tin về quê nội, quê ngoại (Bình Định)? Nếu có đóng góp cho Bình Định, ông sẽ làm gì? Ông có ý kiến gì đề xuất với Bình Định trong quá trình phát triển?

Tôi có nhiều bạn bè gốc Bình Định, và vẫn theo dõi phát triển ở đó, kể cả … những chuyện lem nhem tiêu cực. Tôi thật sự thấy vui nừng khi biết tỉnh đã và đang có những dự án phát triển kinh tế (như cầu Thị Nại chẳng hạn), tạo công ăn việc làm cho người dân. Tôi vẫn tự hỏi: mình có thể làm gì để giúp quê? Và, thú thật cho đến nay tôi vẫn chưa có câu trả lời, bởi vì tôi rất bận với những nơi khác. Tôi nghĩ đóng góp cho quê nhà thì chỗ nào cũng được, chẳng nhất thiết phải là tại nguyên quán. Tuy nhiên, tôi chỉ mong một ngày nào đó, tôi có dịp ghé thăm quê nội và ngoại, và sẽ nói với các bạn sinh viên về những bài học và kinh nghiệm của mình. Thật ra thì ngày đó cũng rất gần.

8. Ở trường ông đang dạy có học viên Việt Nam không? Nếu có, ông nhận xét gì về họ hay những bạn trẻ Việt Nam khác mà ông đã được gặp?

Tôi ít dạy, chỉ làm nghiên cứu là chính. Trong số các nghiên cứu của tôi cũng có vài người Việt Nam. Tôi nghĩ tôi may mắn có được những nghiên cứu sinh xuất sắc từ Việt Nam (một trong những người đó cũng nguyên quán Bình Định và đang làm hậu tiến sĩ cho tôi), tôi rất tự hào về họ. Thật ra, ngay cả sếp tôi cũng nể phục nghiên cứu sinh Việt Nam của tôi, và ông ấy nói công khai chứ chẳng phải “ngoại giao” gì cả.

Nhưng tôi cũng thấy một số điểm yếu của các sinh viên Việt Nam. Lúc mới ra ngoài, họ thiếu tự tin, một phần vì thiếu thông tin chuyên môn, và một phần vì cách dạy thụ động ở trong nước. Một số sinh viên Việt Nam thiếu tính độc lập trong học tập; có lẽ họ đã quen với kiểu học “cầm tay chỉ việc”, và đó là một thiệt thòi đáng kể. Sinh viên Việt Nam rất kém về kĩ năng tranh luận và trình bày quan điểm của mình trước diễn đàn khoa học, một phần do kém tiếng Anh nhưng một phần do truyền thống không dám cãi với thầy cô. Một số sinh viên thì bị chi phối bởi những chuyện linh tinh, những cám dỗ cuộc sống như rượu bia và tình cảm. Phần lớn những khiếm khuyết này bắt nguồn từ hệ thống giáo dục và cách giảng dạy ở các trường đại học trong nước, nên tôi nghĩ phải có một thời gian dài mới thay đổi được.

Sunday, January 25, 2009

Đón xuân này nhớ xuân xưa

26/1/2009. Đối với tôi hôm nay là một ngày đặc biệt. Ngày Mồng Một Tết. Còn ở Úc là ngày “Australia Day”, hay ngày Quốc khánh (1). Hôm nay cũng là ngày kỉ niệm tôi đến Úc 27 năm về trước: 26/1/1982. Hai mươi tám năm qua, ngày Tết chỉ xảy ra trong ngày thường hay ngày cuối tuần, chứ chưa bao giờ xảy ra vào ngày Quốc khánh Úc. Thế là năm nay tôi có thêm một ngày nghỉ để hưởng cái Tết xa nhà. Trong ngày này, bên nhà chắc mọi người quay quần trong gia đình chúc thọ, ăn uống, nhật nhẹt, và bàn tán chuyện trong năm đã qua. Còn ở bên này thì không có Tết, nhưng là ngày nghỉ, nên tôi cũng hồi tưởng chuyện của mình gần 30 năm về trước và những bước đường đời đầu tiên trên đất Úc …

Sau 9 tháng lưu lại trong 3 trại tị nạn Thái Lan (Budi, Songkhla, và Panatnikhom) và sau khi đã được chính phủ Úc cấp visa tị nạn, qua sự dàn xếp của tổ chức ICM (Inter-governmental Committee for Migration), tôi và 54 người đồng cảnh ngộ rời Bangkok đi Sydney trên chuyến bay của hãng hàng không Qantas.

Thật ra, chuyến đi được tổ chức từ 3 ngày trước. Ngày 22/1/1982, khi còn ở trại tị nạn Panatnikhom, tôi nhận được thông báo là sẽ đi Úc vào ngày 26/1, nhưng phải đi Bangkok vào ngày mai để chuẩn bị thủ tục. Đối với những người tị nạn, tin đi định cư là một tin mừng. Tất cả ai ở trại tị nạn đều muốn rời trại càng sớm càng tốt để làm lại cuộc đời, vì cuộc sống trong trại có quá nhiều khó khăn. Cảnh sát Thái Lan canh giữ trại không cần dấu thái độ kì thị của họ đối với người Việt trong trại (nhưng lại có cảm tình với người Miên và Lào), và họ rất tàn ác với những người Việt vi phạm qui định của trại. Có người ví cuộc sống ở trại tị nạn là một cuộc sống địa ngục. Do đó, đi tị nạn cũng có nghĩa là thoát khỏi cái địa ngục trần gian này, thoát khỏi cái môi trường ngột ngạc và đầy thù hận trong trại. Đêm đó, chúng tôi – những người có trong danh sách đi Bangkok – tổ chức tiệc ăn mừng. Nói “tiệc” là cho oai, chứ thực ra thì chỉ là những món “gà lựu đạn” và món ăn mà trại cung cấp. Gà lựu đạn là cụm từ dùng để chỉ những con gà chỉ còn xương như bị đạp lựu đạn, là món ăn mà trại cung cấp. Đáng lẽ theo qui chế của Liên hiệp quốc thì trại phải cung cấp thịt gà đàng hoàng cho người tị nạn, nhưng vì người Thái họ cũng ăn chận và hối lộ nên chỉ cung cấp cho mấy con gà lựu đạn này, còn thịt thì chắc họ bán ra ngoài thị trường. Có lẽ nhiều người khi nghe qua ăn cơm trọng trại tị nạn mà có gà thì ngạc nhiên lắm, nhưng sự thật là họ nấu cho tập thể ăn, cho nên nói "gà lựu đạn" là một đống xương gà được nấu một cách hỗ lốn, mà nhìn vào thì người ta khó phân biệt đó là thức ăn cho heo hay cho người. Tuy nhiên, khi nhận phần cơm về, với những tài chế biến khéo léo của người Việt, cái phần ăn kinh khủng đó trở thành những món ăn tương đối ngon miệng. Chúng tôi đã có một đêm ăn uống vui vẻ, mà cũng có phần lưu luyến, nhất là những người có người yêu chưa có tên trong danh sách đi định cư.

Sáng sớm ngày 23/1, chúng tôi đã chỉnh tề chờ xe bus đi Bangkok. Theo “truyền thống”, trại thường phát thanh ca khúc Biển nhớ của Trịnh Công Sơn (có đoạn “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”) để tiễn đưa chúng tôi lên đường. Chuyến xe khởi hành lúc 6 giờ sáng. Trên đường đi Bangkok, tôi quan sát cảnh nông thôn của Thái Lan và thấy chẳng khác gì Việt Nam mình, nên càng làm cho nỗi nhớ nhà thêm da diết. Nếu có khác biệt thì chỉ có xa cộ nhiều hơn và đường xá ở đây quá tốt so với bên Việt Nam. Còn những cánh đồng, nhà cửa, vườn tượt, cây cối, v.v… thì hoàn toàn là cảnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 2007 khi tôi đi dự hội nghị loãng xương ở Pattaya thuộc tỉnh Chonburi, tôi hỏi anh tài xế là Panatnikhom ở đâu, thì ngạc nhiên thay, anh ấy nói ngay tại tỉnh này: tỉnh Chonburi. Anh ta cho biết Panatnikhom là tên của một huyện xa của tỉnh Choburi. Có lẽ đúng là “huyện xa” vì tôi còn nhớ lúc đó ở trong trại cứ như là ở giữa nơi đồng không hiu quạnh, hay “middle of nowhere”. Không ngờ mấy chục năm trước mình ra đi từ đây và nay lại quay về đây. Cuộc đời đúng là “một cõi đi về”!

Sau khoảng 5 giờ đường, chúng tôi đến thành phố Bangkok. Sau cả năm trời bị giam cầm trong các trại tị nạn ở rừng sâu núi thẳm, tôi đến Bangkok bằng một tâm trạng của một người nhà quê ra tỉnh. Lần đầu tiên trong đời thấy xa lộ chồng chéo lên nhau và xe ôtô chạy như mắc cửi, tôi mới thấy “Hòn ngọc Viễn Đông” Sài Gòn của Việt Nam quá ư là lạc hậu và thậm chí bé nhỏ!

Xe chở chúng tôi vào một trung tâm tạm trú mà sau này tôi mới biết đó là một nhà tù dành cho người nước ngoài. Tuy là nhà tù, nhưng tôi thấy tiện nghi thì khá hơn gấp trăm lần so với trại tị nạn. Có nước tắm đầy đủ (chứ không phải 20 lít nước/ngày như ở Panatnikhom), ăn uống cũng đầy đủ hơn, và cảnh sát ở đây cũng lịch sự hơn nhiều so với mấy người ở trại tị nạn. Tuy nhiên, chúng tôi không được phép ra ngoài trại. Trong thời gian ở đây, nhân viên sứ quán Úc vào làm thủ tục định cư cho chúng tôi.

Đến ngày 26/1 thì chúng tôi lên một chiếc xe bus khác để ra phi trường. Một lần nữa, tôi ngạc nhiên về sự trù phú của Bangkok, mà trong lòng thì buồn cho Sài Gòn của mình. Tôi tự hỏi chẳng biết bao giờ Sài Gòn mới được như Bangkok, và cũng không có câu trả lời, vì chút nữa đây tôi sẽ càng xa quê hương.

Ngồi trong phòng chờ đợi ở phi trường, trong lòng tôi lúc đó buồn vui lẫn lộn. Tôi không bao giờ có cảm tình (nếu không muốn nói là ghét) chính phủ Thái Lan, vì thái độ làm ngơ và bất nhẩn của họ trước thảm nạn trên biển Đông, nhưng dù sao đi nữa, đất Thái cũng đã cưu mang tôi trong thời gian khó khăn nhất, và vì đã có một sự gắn bó như vậy, tôi cảm thấy buồn buồn khi phải chia tay Thái Lan. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn! Vui là vì tôi biết sắp tới đây mình sẽ được tự do, được sang một xứ sở “văn minh”, và nhất là không còn bị giam cầm trong các trại tị nạn nữa. Tôi mường tượng ra vài giờ nữa đây, tôi sẽ đặt chân lên một nước rất đẹp, nơi có những thắng cảnh như nhà con sò và cầu cảng Sydney. Tôi sẽ làm gì ở đất nước đó vẫn là một câu hỏi lớn …

Đang miên man chuyện tương lai thì nhân viên ICM cắt dòng suy nghĩ của tôi. Họ lùa chúng tôi lên chiếc máy bay khổng lồ (mà sau này tôi biết là Boeing 747) thuộc hãng hàng không QANTAS của Úc, và được sắp xếp ngồi ở những hàng ghế sau cùng trong máy bay. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay to lớn như thế. Đang loay hoat tìm cái thắt dây an toàn thì tiếp viên đem đến cho chúng tôi khăn lau mặt thơm phức và li nước cam vàng tươi vô cùng mát mắt. Sau nhiều tháng bị đối xử như tù nhân, đây là lần tôi được phục vụ và đối xử tốt. Tôi đã thật sự xúc động và ngạc nhiên không hiểu sao họ lại tử tế với mình như thế!

Sau tám giờ bay, máy bay đang hạ dần cao độ, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố Sydney đã hiện ra trong tầm mắt. Tôi sắp tới Úc. Cái ý tưởng đó lại làm cho tôi bồi hồi, xúc động một cách khó tả. Trên máy bay, cô tiếp viên nói trên loa câu “Chào mừng các bạn đến Sydney, Úc Đại Lợi” (Welcome to Sydney, Australia) và thông báo cho chúng tôi biết hôm nay là ngày 26 tháng 1 năm 1982, ngày Quốc khánh của Úc. Cô ta còn cho biết nhiệt độ hôm nay là 42 độ C.

Sau khi làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng, tôi ra ngoài hành lang phi trường. Tôi chưa có khái niệm về nhiệt độ 42oC như thế nào, nhưng khi ra phi trường trong cái nóng hừng hực tôi mới bị sốc. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng nước Úc đang ở vào mùa hè! Một rừng người Tây đang chờ thân nhân. Tôi thấy mình lạc lõng làm sao. Người thì ốm tong teo trong khi ai cũng có vẻ hồng hào phương phi. Người ta thì hành lí sang trọng, còn tôi thì chỉ có cái vỏ vải trên vai chứa đúng hai bộ quần áo. Tôi chỉ có đôi dép bata và cái áo trắng với cái quần tây màu xanh đen dài lòng thòng, trông chắc như Hai Lúa lên thành. Thật ra, Hai Lúa còn hơn tôi nữa, vì lúc đó tôi chẳng có một đồng xu trong túi.

Trong đám đông người Tây, có một đoàn người Á châu đi đón người thân tị nạn. Trong đoàn người đó, có anh Trường và con anh ấy đi đón tôi. Con gái của anh (lúc đó chắc chỉ 10 tuổi gì đó) cầm một bó hoa đưa cho anh em tôi như là một lời chào mừng đến Sydney. Tôi đang lúng túng chẳng biết làm gì với cái bó hoa đó, thì nhân viên ICM đã hối chúng tôi lên xe bus về hostel. Nghe chữ “hostel” tôi đã ngạc nhiên, vì hồi nào đến giờ chỉ nghe “hotel” chứ có nghe hostel bao giờ đâu. Mãi sau này tôi mới biết hostel là một loại hotel cho “host” (khách) – viết ghép – ở dài hạn.

Chúng tôi lên xe bus đi về một trung tâm tạm cư ở vùng ngoại ô phía Tây Nam Sydney có tên là Cabramatta. Trên đường từ phi trường đến vùng ngoại ô Cabramatta, tôi để ý không thấy nhà cửa cao vút trời như ở Bangkok, mà chỉ toàn là nhà gạch đỏ ao, không sơn phết phía ngoài như nhà ở Việt Nam. Có lúc xe chạy ngang qua những khu cây cối um tùm mà tôi tưởng như đang đi trong rừng. Lúc đó, tôi đã hơi thất vọng, vì nước Úc không như mình nghĩ trong tâm tưởng là một xứ với nhà lầu cao trọc trời, văn minh, hiện đại. Xe bus đổ bến Cabramatta Hostel, tôi đã thấy vài anh chị đang nằm trên bãi cỏ xanh rì đọc sách hay ngắm nhìn trời xanh ... Tôi để ý thấy đủ sắc dân ở đó mà sau này tôi được biết là họ đi từ Campuchea, Lào, Hồng Kông, Nam Dương, Ba Lan, Nam Tư, Tiệp Khắc, Liên Xô, v.v…

Nhìn hostel từ phía ngoài qua màu gạch có vẻ cũ kĩ, nhưng phía trong phòng lại đầy đủ tiện nghi như phòng trong khách sạn. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng người Úc không chú trọng bề ngoài nhưng lại rất quan tâm đến phía trong. Theo qui định của hostel, chúng tôi không được nấu nướng trong phòng mà phải ăn ở phòng ăn của nhà bếp. Phòng ăn và nhà bếp rất lớn, có khả năng phục vụ cả vài trăm người. Lần đầu tiên vào phòng ăn, tôi bị choáng ngộp trước lượng thức ăn và sự dư thừa của thịt cá và trái cây ở đây. Tất cả thức ăn đều được bày đặt một cách cực kì ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả thức ăn đều do người Úc nấu theo kiểu [dĩ nhiên là] Úc. Mỗi ngày nhà bếp phục vụ ba buổi ăn: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối. Mặc dù thức ăn đầy rẩy, tôi vẫn không ăn được gì nhiều, một phần do nhớ nhà, một phần vì thức ăn không hợp khẩu vị (không có nước mắm hay các món như kho ...). Mà cũng chẳng riêng tôi, hầu như người Á châu nào cũng có cùng cảm tưởng. Cứ mỗi lần họ phục vụ món thịt trừu thì phòng ăn có đầy người Tây phương và vắng mặt người Á châu; nhưng nếu bữa ăn có món thịt gà thì lại thấy hiện diện của nhiều "đầu đen". Sau này, nhà bếp họ biết khẩu vị của người Á châu, nên họ thuê hẳn đầu bếp Á châu vào nấu, và thế là chúng ta có những bữa ăn ngon.

Vì mới tới trại, chưa đủ thời gian để chính phủ trợ cấp an sinh xã hội, nên Hội Chữ Thập Đỏ lúc đó phát cho chúng tôi mỗi người 20 đô-la và một vé đi mua quần áo cũ ở tiệm của Hội. Tôi mừng lắm, lần đầu tiên cầm trên tay 20 đô và cũng chẳng biết phải làm gì với số tiền này. Tôi bèn cuốc bộ đến cửa hàng mua hai bộ đồ cũ và một đôi giày cũ để thay đổi. Tất cả chỉ tốn chỉ 2 đô-la! Nói là đồ cũ nhưng thực ra thì chất lượng còn rất tốt đối với tôi. Tôi còn dư đến 18 đô.

Sau vài ngày quen nước quen cái, tôi tìm đường cuốc bộ ra phố và thấy có một tiệm thực phẩm có tên là Hồ Vị An và một tiệm phở Quê Hương. Tôi mừng húm vì có thể vào mua mì gói về "nhà" nấu ăn (dĩ nhiên là dấu ban quản trị hostel) mà không phải ăn thịt trừu nữa. Nhưng tôi vẫn chưa dám vào quán phở ăn, vì thấy một tô phở giá tới 2 đô-la, tức tương đương giá hai bộ quần áo và đôi giày của tôi!

Tôi đã có những ngày sung sướng nhất ở đây, những ngày thực sự tự do, không còn phải lo âu vì những lần chuyển trại, chẳng ai quấy rầy hay khủng bố tinh thần. Tôi viết thư về nhà báo cho Ba Má và các em biết là đã đến bến bờ tự do, nhưng ở nhà chỉ nhận một ít thư của tôi do chế độ kiểm duyệt khắc nghiệt lúc đó. Sau này tôi mới biết là sau lần anh em tôi vượt biên, Ba tôi đã phải trình diện hàng ngày trong sáu tháng liền với công an xã để nghe họ giảng giải về chính sách của cách mạng. Tất cả thư từ tôi gửi về nhà hoặc bị tịch thu, hoặc Ba tôi phải đọc trước các ông công an xã. Có lần Ba tôi nổi nóng không đi đọc thư cho họ nghe nữa, và thế là họ buông tha.

Tôi ghi danh đi học tiếng Anh. Nhưng tôi lại thất vọng về cách dạy ê a của thầy cô ở đây, và chỉ một tuần sau tôi lại nghỉ học. Tôi quyết định tự học tiếng Anh. Nhưng tôi cần một cuốn từ điển. Tôi mạo hiểm đón xe lửa ra thành phố (downtown) Sydney, ghé một nhà sách khổng lồ có tên là Dymock nằm trên đường Georges. Tôi bước vào nhà sách tìm mua cuốn từ điển Oxford và cuốn sách văn phạm tiếng Anh Practical English Usage của soạn giả Michael Swan (mà tôi đã từng dùng tự học hồi ở trại tị nạn). Tôi đinh ninh là chữ Ford (đọc là "fo.d"), vậy thì Oxford phải đọc là "ox.fo.d". Nghĩ thế, tôi nói với anh bán hàng là tôi tìm mua cuốn từ điển "ox.fo.d"; anh ta trố mắt nhìn tôi không hiểu tôi nói từ điển gì, và lịch sự kêu tôi đánh vần cụ thể. Tôi bèn viết ra trên giấy chữ "Oxford"; anh ta ồ lên một tiếng rồi vui vẻ chỉ tôi cách đọc là "ox.fớd". Nhớ suốt đời! Ôi! Tiếng Anh sao mà rắc rối quá!

Tôi tự học tiếng Anh từ đó. Cách học tiếng Anh của tôi rất đơn giản: Mỗi ngày tôi học chỉ một chữ. Nhưng tôi học cẩn thận, ngoài nghĩa của chữ, tôi còn tìm hiểu nguồn gốc của chữ này đến từ đâu, những biến thể của nó, và cách sử dụng những biến thể này như thế nào. Chẳng hạn như chữ produce, tôi phải tìm hiểu produce (động từ và danh từ), biến thể production, product, productive, v.v… phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ. Mỗi ngày tôi tìm báo để đọc, và chữ nào không biết thì xem từ điển, chữ nào chưa biết cách phát âm thì chờ đến chiều khi đài truyền hình họ truyền đi những bản tin tức này và để ý họ phát âm mấy chữ mình chưa rành ra sao. Tôi thấy học như thế có hiệu quả rất cao về từ vựng. Còn về văn phạm thì cuốn Practical English Usage của Swan đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Tôi học văn phạm bằng cách … dịch sách. Để phân biệt cách chia và sử dụng động từ, tôi dịch những phần liên quan trong cuốn sách sang tiếng Việt. Tôi phát hiện rằng cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và dịch sang tiếng Việt là cách học tuyệt vời nhất.

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi thành thật nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn có kiến trúc hơi lạ có tên là “Belmore Hotel”. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent's đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent's toạ lạc, để xin việc. Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây do thành thật, kì này tôi làm gan nói dối là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. "Làm ở đâu?" Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là thái củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi nui xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả. Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và cắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi, vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà .. .

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất to, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tôi phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của anh mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Anh có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã nói dối về chuyện làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Ramsey và thú nhận là tôi đã nói dối bà ta về kinh nghiệm nhà bếp hôm phỏng vấn. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có vài tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v… cũng có cùng số phận như tôi. Những người này đã từng là chuyên viên lành nghề, nhà khoa bảng, luật sư, bác sĩ, v.v... ở nước họ, nhưng sang đây vẫn phải làm việc tay chân, vì bằng cấp của họ không được công nhận tại Úc. Và tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 600 giường, với độ 400 bệnh nhân. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xáo nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái, chẳng ai nói gì. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn! Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cấm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê, gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v… Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác. Thằng Trạng là đứa em đi vượt biên chung với tôi cũng xin vào khách sạn làm nhà bếp, nhưng nó chỉ được nhận là nghề rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ mà thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi làm việc ca đêm.

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đo-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. (Thời đó giá cả còn rẻ lắm, một lít xăng chỉ có 15 cent chứ không phải 1.10 đô như bây giờ). Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (cửa hàng bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng. Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977, giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nổi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Nhưng tai nạn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s. Đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặct đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe. Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tính xong, ông hỏi tôi có luật sư không, thì tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Thật ra, trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.” Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì có biết ông tòa nói gì đâu. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”! Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và hình phạt là tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe.

Tôi sớm nhận ra mình phải thoát khỏi cái công việc này, vì nó chẳng dẫn mình đến đâu. Tôi quyết chí tìm con đường đi học lại, và quá trình học lại của tôi là một câu chuyện dài cần phải có thì giờ để thuật lại.

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam, nên ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Có người còn sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi. Làm cái gì cũng nhớ lại bên nhà. Ra phố đông người mà thấy mình lạc lõng làm sao. Lạc lõng không phải vì tiếng Anh kém, mà vì tâm trạng nhớ nhà. Lúc nào tôi cũng nghĩ phải chi mình mua cái này cái kia để gửi về nhà. Thành ra, có một ca khúc tôi còn nhớ đến nay trong đó có đoạn: Ôi me yêu ơi, con lang thang giữa phố đông người / Tuy phố đông người, nhưng con lạc loài một bóng đơn côi. Ngay cả cái nóng của Sydney vào mùa hè làm tôi nhớ đến cái nóng bên nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!
Một mình anh lê bước trên đời
Nắng nơi đây cũng là nắng ấm
Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương

Những lời nhạc trên đây đã được viết ra từ 30 năm về trước mà cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp Tết.

Chú thích

(1) Ngày 26/1/1788, đoàn thuyền gồm 11 chiếc dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Arthur Philip do Đế quốc Anh gừi sang chinh phục Úc. Trước đó 18 năm (1770), thuyền trưởng James Cook đã từng ghé đây. Việc đế quốc Anh quyết định chinh phục Úc là một hành động mở rộng lãnh thổ sau khi thất bại ở châu Mĩ. Sau này, các chính phủ liên bang quyết định lấy ngày 26/1 làm ngày Quốc khánh, có khi còn gọi là ngày lập quốc (Foundation Day). Nhưng đối với người thổ dân, những cư dân địa phương đã có mặt ở đây cả mấy chục ngàn năm, thì ngày đó là ngày xâm lăng – Invasion Day.