Saturday, February 28, 2009

Vitamin D và cảm cúm

Một nghiên cứu về mối liên hệ giữa vitamin D và cảm cúm mới công bố trên tập san Archives of Internal Medicine cho thấy vài sự thật hết sức thú vị, và theo tôi, cũng rất quan trọng.

Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu Mĩ đo lường nồng độ vitamin D (25D) ở 18,883 đối tượng (nam và nữ) tuổi từ 12 trở lên. Sau đó, họ hỏi mỗi tình nguyện viên trong nghiên cứu câu sau đây: “In the past few days, have you had a cough, cold, or other acute illness?” (Trong vài ngày qua, bạn có bị ho, cảm lạnh, hay một bệnh cấp tính nào khác”). Kết quả cho thấy trong số 18883 người, có 19% (95% CI: 18-20) bị cảm cúm. Không có khác biệt nào đáng kể giữa nam (18%) hay nữ (20%). Cũng chẳng có khác biệt nào đáng kể giữa người béo phì hay không béo phì. Như kì vọng, tỉ lệ bệnh cảm cúm cao trong mùa đông (26%) so với mùa xuân (18%), thu (21%), và mùa hè (13%).

Chúng ta biết rằng mùa hè là mùa mà nồng độ vitamin D trong máu tăng cao. Cho nên các nhà nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa tỉ lệ cảm cúm và nồng độ vitamin D. kết quả phân tích (bảng sau đây) cho thấy khi nồng độ vitamin D trong máu giảm, nguy cơ mắc bệnh cảm cúm tăng. Người có nồng độ vitamin D trong máu 30+ ng/mL trở lên có tỉ lệ bị cảm cúm thấp nhất (17%) so với người có nồng độ dưới 10 ng/mL (24%).

Ref:Ginde AA, et al. Association between serum 25-hydroxyvitamin D level and upper respiratory tract infection in the Third National Health and Nutrition Examination Survey. Arch Int Med 2009; 169:384-390.

“Câu chuyện” về vitamin D và bệnh truyền nhiễm đang trở thành một đề tài nóng trong y khoa, ít ra là trong ngành nội tiết. Ai cũng biết ảnh hưởng “cổ điển” của vitamin D là điều phối chuyển hóa của calcium, và do đó tác động trực tiếp đến xương. Từ thế kỉ 19, người ta thấy trẻ em thiếu vitamin D bị chứng còi xương. Khi các bệnh nhân còi xương được cho phới nắng, họ dứt bệnh. Liệu pháp điều trị trời cho!

Nhưng mấy năm gần đây, người ta phát hiện rằng thụ thể vitamin D (tức VDR) hiện diện khắp các mô và tế bào trong cơ thể. Vitamin D đóng vai trò kiểm soát và điều phối gần 1000 gien trong cơ thể chúng ta. Đây là một loại hormone bận rộn nhất.

Một phát hiện có lẽ “sensational” nhất là vitamin D đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch nội tại (tức là innate immunity), nhất là mối liên hệ giữa vitamin D và peptide chống siêu vi khuẩn cathelicidin. Trẻ em bị còi xương thường thiếu cathelicidin và hay bị cảm cúm. Có ít nhất 200 virút là thủ phạm gây cảm cúm, sổ mũi, và ho. Do đó, giả thuyết đặt ra là vitamin D có liên quan đến cảm cúm. Kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy giả thuyết đó có cơ sở thực tế.

Hiện nay, vài đồng nghiệp trong nước và tôi đang chuẩn bị tiến hành một nghiên cứu về vitamin D và một số bệnh nhiễm trùng hay gặp ở nước ta. Hi vọng rằng qua những nghiên cứu mới nhất, chúng ta sẽ có một biện pháp phòng chống cảm cúm và các bệnh truyền nhiễm hữu hiệu mà lại rẻ tiền. Nhưng thuyết phục bà con, nhất là nữ, phơi nắng ở nước ta không phải là chuyện đơn giản.

Riêng bạn nào thích phân tích dịch tễ học, tôi thấy nghiên cứu này là một cơ hội để thử xem các tác giả phân tích có đúng chưa. Dựa vào số liệu trong bảng trên, chúng ta có thể làm thử phân tích odds ratio của họ xem có đúng không? Nếu tính bằng risk ratio có thể kết quả sẽ khác. Làm sao để tính risk ratio?

NVT

Thursday, February 26, 2009

Đọc lại 12 điều y đức của Việt Nam

Vì mối liên hệ giữa người thầy thuốc và bệnh nhân, nguyên tắc đạo đức có một giá trị đặc biệt quan trọng trong việc hành nghề chữa bệnh. Ở đại học, chỉ có sinh viên nghành y phải đọc lời tuyên thệ Hippocrate trước khi tốt nghiệp. Lời thề Hippocrate có thể thay đổi đôi chút tùy theo văn hóa điạ phương và thời gian, nhưng bản chất và nguyên lí thì vẫn không thay đổi: không làm hại bệnh nhân. Lời thề Hippocrate cũng còn được lấy làm chuẩn mực đạo đức cho ngành y nói chung (hay còn gọi là “y đức”).

Y đức không phải là luật pháp, mà là những qui ước và nguyên tắc được các thành viên trong ngành chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các qui ước này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về các hành xử cho các tình huống khác nhau. Y đức, do đó, là một luật luân lí về hành vi của người thầy thuốc liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai.

Y đức Việt Nam

Để xác định được một hành động hay quyết định là tốt hay xấu, người quyết định phải so sánh những lựa chọn của họ với những chuẩn mực đạo đức và giá trị mà xã hội chấp nhận. Mỗi xã hội đều có cái “bóng” văn hóa, do đó y đức cũng thay đổi tùy theo văn hóa và điạ phương. Chẳng hạn như người theo đạo Hồi có những chuẩn mực y đức khác đôi chút so với người theo đạo Kitô.

Năm 1996, Bộ Y tế ban hành 12 điều y đức (hay “12 tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế”). Kể từ đó đến nay, 12 điều y đức được lồng kính và trịnh trọng treo ở các bệnh viện, trung tâm y tế, nhưng có lẽ ít người thuộc, và càng ít hơn số người thực hiện 12 điều y đức đó. Đã đến lúc chúng ta thử đọc lại những qui ước nước ta xem có gì khác với y đức quốc tế và có cần bổ sung hay sửa đồi?

Nói chung, 12 điều y đức nước ta cũng phù hợp với qui ước y đức của Tổ chức Y khoa Thế giới (World Medical Association), và cũng lấy bối cảnh văn hóa Việt Nam làm nền tảng. Tuy nhiên, cũng như phần lớn những chuẩn mực khác ở nước ta, 12 điều y đức của Việt Nam mang tính ôm đồm, bao quát, hiểu theo nghĩa cái gì người ta có thì chúng ta cũng có. Điều này dẫn đến một hệ quả là 12 tiêu chuẩn y đức trở nên rườm rà, thiếu tính logic và khúc chiết. Phần lớn các nguyên tắc y đức trên thế giới tập trung vào những khía cạnh như chuyên môn, bệnh nhân, luật pháp, và cộng đồng. Nhưng đọc qua 12 điều y đức của Việt Nam, tôi không thấy một cấu trúc logic như trên; thay vào đó là những câu văn dài nhưng thiếu tính liên tục.

Thật vậy, đọc kĩ 12 điều y đức của Việt Nam, tôi có cảm tưởng đó là một văn bản tập hợp nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau của những người tham gia soạn thảo, và kết quả là một sự nhân nhượng và thỏa thuận để đi đến 12 qui ước nhằm làm hài lòng mọi người! Điều này dẫn đến một số trùng lập, thừa, hay thậm chí mâu thuẫn.

Thừa và không cần thiết

Mở đầu bản y đức, Điều 1 viết “Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ.” Thật ra, câu văn này không thể xem là qui ước, điều lệ, hay nguyên tắc y đức, mà chỉ là phát biểu mang tính khẩu hiệu. Ngành nghề phục vụ nào cũng cao quí, chứ chẳng riêng gì ngành y tế. Quét đường hay hớt tóc cũng là những nghề cao quí.

Điều 1 còn nói đến “lời dạy của Bác Hồ” nhưng không một chỗ nào trong 12 điều y đức nói đến những lời dạy đó là gì! Theo tôi, đoạn này nên bỏ vì thừa và không cần thiết. Cần nhắc lại rằng trước đây (năm 1990), Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn cho trẻ 5-6 tuổi, trong đó có chuẩn “Biết thương yêu, kính trọng ông bà, cha mẹ, yêu kính Bác Hồ, những người lao động …”, nhưng nay chuẩn này cũng đã được loại bỏ vì thiếu thực tế.

Điều 1 còn yêu cầu người thầy thuốc chẳng những không ngừng học tập mà còn “tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn”. Đây là một yêu cầu thiếu thực tế (và khó thực hiện), bởi vì không phải bác sĩ hay y sĩ nào cũng có điều kiện nghiên cứu khoa học. Ngay cả việc học tập cũng khó khăn. Không một trường y hay bệnh viện nào ở nước ta có đủ sách vở và tập san y khoa để sinh viên và thầy cô tham khảo, thì làm sao đòi hỏi người thầy thuốc học tập liên tục được. Thật ra, có nhiều [nếu không muốn nói là phần lớn] y bác sĩ không có kĩ năng đọc và hiểu một bài báo khoa học, không phải vì vấn đề trình độ mà vì chưa được huấn luyện một cách có bài bản trong thời gian theo học trường y. Ở nước ngoài mà tôi biết (như Mĩ và Úc), không có qui ước này trong các nguyên tắc y đức. Do đó, tôi đề nghị bỏ điều này và thay vào một điều khác thực tế hơn, chẳng hạn như “Người thầy thuốc phải liên tục học hỏi và trao dồi chuyên môn, và duy trì các chuẩn mực của chuyên ngành ở mức cao nhất”.

Trùng lập, lượm thượm và mâu thuẫn

Điều 3 khuyên người thầy thuốc nên hành xử “lịch sự”, nhưng Điều 4 lại một lần nữa yêu cầu “thái độ niềm nở, tận tình, trang phục phải chỉnh tề”.

Thật ra, hai điều này rất lượm thượm, dài dòng, và chẳng có điểm gì mang tính khúc chiết. Chẳng hạn như Điều 3, phần đầu đề cập đến “Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân”, thì ngay câu sau đề cập đến “Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự.” Hai điều này hoàn toàn khác nhau, không thể nhập chung thành một điều được.

Ngoài ra, tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân là một chuyện, nhưng nếu bệnh nhân phạm tội hình sự và pháp luật có quyền yêu cầu bác sĩ cung cấp thông tin liên quan, thì có thể người thầy thuốc phải tuân thủ theo luật pháp địa phương. Qui ước y đức của Mĩ viết một cách gọn gàng mà đầy đủ: “Người thầy thuốc phải tôn trọng quyền của bệnh nhân, đồng nghiệp, và các nhân viên y tế khác, và phải bảo vệ sự riêng tư của bệnh nhân trong phạm vi luật pháp cho phép”.

Điều đáng ngạc nhiên là sau khi đề cập đến “Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội” (Điều 3), tức có phân biệt đối xử thành phần bệnh nhân, nhưng ngay sau đó lại yêu cầu “Không được phân biệt đối xử với người bệnh” (Điều 4)! Như thế là mâu thuẫn. Mọi thành phần trong xã hội, kể cả người mất quyền công dân, đều có quyền bình đẳng trước việc được chữa trị và tiếp cận dịch vụ y tế. Qui ước về “diện chính sách ưu đãi xã hội” chẳng những khó hiểu (và dễ bị lạm dụng) mà còn mang dáng dấp của thời bao cấp. Theo tôi, cần phải bỏ đoạn phân biệt đối xử này khỏi qui ước y đức Việt Nam.

Những điều không giống ai

Tham khảo qui ước y đức của Hiệp hội Y khoa Thế giới và Mĩ, và so sánh với 12 điều y đức của Việt Nam tôi thấy một số điều … không giống ai. Chẳng hạn như Điều 5 viết “Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh” chẳng những quá tủn mủn mà còn không cần thiết. Tôi không thấy trên thế giới có điều lệ y đức này. Qui ước của Mĩ viết như sau: “Người thầy thuốc (ngoại trừ các trường hợp cấp cứu) trong điều kiện thích hợp, có quyền chọn lựa ai để phục vụ, ai cần liên hệ, và có quyền chọn môi trường để cung cấp dịch vụ y khoa.”

Tính tủn mủn còn thấy trong Điều 7 (“Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh”), Điều 8 (“Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe”) và Điều 9 (“Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết”) thật ra không phải là qui ước đạo đức, mà thực chất là những thủ tục hành chính và có chút giọng … lên lớp. Theo tôi, những điều này cần phải bỏ khỏi qui ước y đức.

Điều 10 yêu cầu người thầy thuốc phải “Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau” mang màu sắc thời bao cấp. Truyền thống “tôn sư trọng đạo” đáng được duy trì, nhưng không ai có thể kính trọng thầy cô làm sai hay thầy cô bất tài hay thiếu y đức. Do đó, khái niệm “đoàn kết” ở đây có thể bị lạm dụng để bao che cho những đồng nghiệp và bậc thầy thiếu tư cách và vô y đức. Thật ra, về mối quan hệ với đồng nghiệp, các qui ước y đức quốc tế cho phép người thầy thuốc báo cáo cho nhà chức trách biết những thầy thuốc thiếu tư cách, hay bất tài, hay liên đới đến những vụ lừa đảo. Theo tôi, điều này cần phải sửa và viết lại theo các chuẩn mực quốc tế.

Về Điều 11 (“Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước”) có lẽ chỉ có Việt Nam ta có, vì không thấy điều này trong bất cứ qui ước y đức nào. Tuy nhiên, có qui ước đề cập đến trường hợp bản thân người thầy thuốc nếu mắc bệnh thì cần phải tìm đồng nghiệp chữa trị.

Và những vấn đề thực tế

Điều 2 viết “Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.” Điều hai đề cập đến 2 vấn đề không liên quan mật thiết với nhau: tuân thủ pháp luật và thí nghiệm không theo nguyên tắc khoa học. Ở nước ngoài, người ta cũng có qui ước như “người thầy thuốc phải tôn trọng luật pháp địa phương” với hàm ý nói nếu các cơ quan công quyền theo luật địa phương yêu cầu người thầy thuốc cung cấp thông tin về bệnh nhân (để điều tra tội phạm) thì người thầy thuốc phải tuân theo. Tưởng cần nhắc lại về những tranh cãi chung quanh việc một số bác sĩ quân đội Mĩ tham gia vào những cuộc tra tấn tù nhân ở trại giam Guatemala, vì có người cho rằng dù bác sĩ làm theo lệnh của quân đội nhưng như thế là phạm y đức. Theo tôi, Điều 2 thừa, không cần thiết đặt trong phạm trù y tế địa phương.

Nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng là những lĩnh vực hoạt động quan trọng trong y khoa, vì y học tiến bộ nhờ vào nghiên cứu. Nghiên cứu cần đến sự tình nguyện của bệnh nhân. Không có bệnh nhân tình nguyện là không có nghiên cứu y học. Do đó, tất cả các nghiên cứu y khoa phải được tiến hành theo các tiêu chuẩn y đức của Tổ chức Y tế Thế giới và Tuyên bố Helsinki, mà theo đó, lợi ích của bệnh nhân phải được tuyết đối bảo đảm. Quan trọng nhất là bệnh nhân phải đồng thuận thì người thầy thuốc mới được phép thử nghiệm. Nhưng rất tiếc, trong thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu lâm sàng ở các nước đang phát triển, kể cả ở nước ta, được tiến hành không tuân theo các chuẩn mực đạo đức quốc tế này. Có nhiều trường hợp bệnh nhân không hề biết mình bị đưa vào các chương trình thử nghiệm mà kết quả đôi khi chỉ để phục vụ cho mục tiêu thương mại chứ không để nâng cao sức khỏe cho người dân.

Điều 12 viết “Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.” Điều này quá chi tiết vào lĩnh vực hẹp, không khái quát hóa chung cho tất cả thầy thuốc được; hơn nữa nó cũng là vấn đề toàn xã hội chứ chẳng riêng gì ngành y tế. Về quan hệ với quần chúng, qui ước y đức của Tổ chức Y khoa Thế giới viết: có trách nhiệm giáo dục công chúng về những khám phá mới trong y học, nhưng cần phải cẩn thận trong việc áp dụng các phương pháp còn trong vòng thử nghiệm.

Điều 6 viết “Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.” Theo tôi, điều này chưa đầy đủ. Người thầy thuốc cần phải tuyệt đối trung thành với bệnh nhân. Bất cứ khi nào phương pháp điều trị hay xét nghiệm ngoài khả năng của mình, người thầy thuốc phải giới thiệu đến một chuyên gia khác.

Điều 4 yêu cầu “Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị” là hoàn hợp lí và rất cần thiết trong tình hình y đức hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên, những bác sĩ phải khám 100 bệnh nhân một ngày chắc không dấu được cười mỉm khi đọc Điều này. Nếu một ngày làm 5 giờ khám (300 phút) và 100 bệnh nhân cũng có nghĩa là mỗi bệnh nhân chỉ có thể khám trong vòng 3 phút, thì lấy đâu thì giờ để giải thích cho bệnh nhân ?!

Do đó, không ngạc nhiên chút nào trước kết quả của một cuộc điều tra bỏ túi cho thấy 70% bác sĩ chỉ “nói qua loa”, thậm chí có đến 16% “chẳng nói gì”. Cố nhiên, viết ra những điều này không có ý bênh thầy thuốc, nhưng để chỉ ra rằng qui ước y đức của Bộ Y tế không mang tính thực tế.

Còn “lịch sự và thái độ tận tình”? Một cuộc điều tra nhanh cho báo Vnexpress thực hiện cho thấy gần 80% người trả lời cho biết hay bị nhân viên y tế quát mắng. Chỉ đọc qua những tựa đề về lối hành xử vô văn hóa của một số thầy thuốc và nhân viên y tế như “Ăn mắng” khi vào bệnh viện, Bác sĩ mắng bệnh nhân như mắng con, Tôi rất sợ đi bệnh viện, v.v… mà thấy “đắng nghét”. Có người thậm chí còn đặt câu hỏi: Nhà ghét hay nhà thương ?!

Có người biện minh rằng vì đồng lương quá thấp và áp lực công việc nên một số thầy thuốc có thái độ bất xứng và vô văn hóa với bệnh nhân. Nhưng tôi e rằng biện minh này không thuyết phục, nếu không muốn nói là ngụy biện, vì thu nhập chẳng có liên quan gì đến đạo đức. Không có cơ sở nào để nói vì nghèo hay vì thu nhập thua kém người khác, nên phải hành xử vô giáo dục và thất đức. Chợt nhớ đến ngày xưa, một danh y người Việt, Lê Hữu Trác (tức Hải Thượng Lãng Ông), từng liệt kê ra một danh sách các vấn đề y đức mà ông cho là “tội”, trong đó có các tội như tội như hóng hách, lười biếng, chẩn đoán qua loa và tội dốt. Theo ông, y sĩ mà thiếu đạo đức thì chẳng khác gì “bọn cướp”.

Khoảng 2 năm trước, một cuốn sách về y đức xuất bản ở Trung Quốc làm rúng động lương tâm dư luận một thời gian. Trong sách “Nỗi đau của Trung Quốc”, tác giả là một thượng nghị sĩ điều tra và mổ xẻ những vi phạm y đức tràn lan trong giới y bác sĩ Trung Quốc dưới hình thức lừa đảo, bòn rút tiền bệnh nhân, liên minh ma quỉ để khai thác bệnh nhân, điều trị “quá độ” (tức điều trị không cần thiết), hãm hại bệnh nhân, v.v… Nhưng trớ trêu thay, bệnh nhân chẳng biết gì, chỉ nằm nhà chờ chết và tự trách mình nghèo! Ở nước ta cũng không thiếu những trường hợp này, nhưng có lẽ chúng ta chưa đủ can đảm để vạch ra những mảng tối đang hoành hành xã hội hiện nay,

Nói cho cùng, những điều lệ y đức chỉ bề mặt, bề ngoài, áp dụng cho mọi người trong nghành y, nhưng đạo đức con người mới là biện pháp bề trong ở mỗi cá nhân. Bề ngoài, một người thầy thuốc có thể phạm y giới và bị kỉ luật, nhưng bề trong là chuẩn mực y đức làm kim chỉ nam để cá nhân người thầy thuốc ý thức được rằng hành động của mình là có hại cho bệnh nhân. Qui ước đạo đức nước ta đã trải qua 13 năm, và trong thời kì kinh tế hiện nay cùng với sự hội nhập của đất nước, đã đến lúc các qui ước y đức Việt Nam cần được soạn lại sao cho phù hợp với giá trị văn hóa Việt Nam và chuẩn mực y đức thế giới.

===

12 điều y đức
(Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế)
(Ban hành kèm theo quyết định số: 20881BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

1. Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.

5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.

6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh.

8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe.

9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

10. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

Qui ước đạo đức nghành y của Hiệp hội Y khoa Thế giới (World Medical Association)

Nhiệm vụ chung của người thầy thuốc: người thầy thuốc phải:

1. thực hành nghề nghiệp và duy trì chuẩn mực chuyên môn ở mức độ cao nhất.

2. tôn trọng quyền của bệnh nhân chấp nhận hay bác bỏ đề nghị của thầy thuốc.

3. không để cho phán xét cá nhân bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân hay phân biệt đối xử.

4. hết lòng trong việc cung cấp dịch vụ chuyên môn cho bệnh nhân.

5. hành xử thành thật với bệnh nhân và đồng nghiệp. Báo cáo cho giới chức có trách nhiệm biết những thầy thuốc thiếu y đức hoặc bất tài hoặc có hành vi lừa đảo.

6. không thuyên chuyển bệnh nhân hoặc ra toa thuốc để hưởng lợi ích tài chính hay quà cáp.

7. tôn trọng quyền và sự lựa chọn của bệnh nhân.

8. có trách nhiệm giáo dục công chúng về những khám phá mới trong y học, nhưng cần phải cẩn thận trong việc áp dụng các phương pháp còn trong vòng thử nghiệm.

9. cố gắng sử dụng tài nguyên y tế một cách sáng suốt nhằm đem lại lợi ích cho bệnh nhân và cộng đồng.

10. tìm người điều trị nếu mình mắc bệnh.

11. tôn trọng các chuẩn mực đạo đức địa phương và quốc gia.

Nhiệm vụ chung của người thầy thuốc đối với bệnh nhân: người thầy thuốc phải:

12. tôn trọng sinh mạng của con con người.

13. hành động vì lợi ích của bệnh nhân.

14. tuyệt đối trung thành với bệnh nhân. Bất cứ khi nào phương pháp điều trị hay xét nghiệm ngoài khả năng của mình, người thầy thuốc phải giới thiệu đến một chuyên gia khác.

15. tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân. Không tiết lộ bất cứ thông tin nào về bệnh nhân cho bất cứ ai, nếu không có sự đồng thuận của bệnh nhân.

16. cung cấp dịch vụ chăm sóc trong trường hợp khẩn cấp.

17. không quan hệ tình dục với bệnh nhân. Không lợi dụng mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân.

Nguồn: World Medical Association. International code of medical ethics. World Medical Association Bulletin 1949;1(3): 109, 111.


Lời thề Hippocrate
Nguyên tắc đạo đức y khoa
(Hội Y học Mĩ)

Người thầy thuốc phải tận tâm chăm sóc sức khỏe với sự cảm thông và tôn trọng danh dự và quyền con người.

Người thầy thuốc phải duy trì các chuẩn mực của chuyên ngành, thành thật trong tất cả các giao tiếp chuyên môn, và phấn đấu báo cáo nhà chức trách những thầy thuốc thiếu tư cách, hay bất tài, hay liên đới đến những vụ lừa đảo.

Người thầy thuốc phải tôn trọng luật pháp và nhận lãnh trách nhiệm theo đuổi những cải cách nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho bệnh nhân.

Người thầy thuốc phải tôn trọng quyền của bệnh nhân, đồng nghiệp, và các nhân viên y tế khác, và phải bảo vệ sự riêng tư của bệnh nhân trong phạm vi luật pháp cho phép.

Người thầy thuốc phải liên tục học hỏi, ứng dụng, và trao dồi kiến thức khoa học; duy trì học thuật y khoa; cung cấp những thông tin liên quan đến bệnh nhân, đồng nghiệp, và công chúng; tư vấn và sử dụng tài năng của các chuyên gia khác khi cần thiết theo chỉ định.

Người thầy thuốc (ngoại trừ các trường hợp cấp cứu) trong điều kiện thích hợp, có quyền chọn lựa ai để phục vụ, ai cần liên hệ, và có quyền chọn môi trường để cung cấp dịch vụ y khoa.

Người thầy thuốc phải nhận lãnh trách nhiệm tham gia vào các hoạt động nhằm cải thiện cộng đồng và y tế công cộng.

Người thầy thuốc trong khi chăm sóc bệnh nhân phải xem nhiệm vụ của mình đối vụ bệnh nhân là trên hết.

Người thầy thuốc phải ủng hộ mọi thành phần trong xã hội được quyền tiếp cận dịch vụ y khoa.

17/6/ 2001
Nguồn: AMA

Wednesday, February 25, 2009

Ôi chuyên gia!

Đọc bài sau đây (Chuyện hy hữu ở cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”) do một đồng nghiệp chuyển đến mà tôi không thể nào không thốt lên: Ôi, chuyên gia!

Câu chuyện đơn giản: một thí sinh tham dự cuộc thi giông giống như “Đố vui để học” thời xưa của tôi, được hỏi 6 hệ trong cơ thể con người là gì. Em trả lời đúng, trong đó có “hệ nội tiết”. Giám khảo cho rằng em trả lời sai. Để chắc ăn, “tổng đạo diễn Tùng Chi tiếp tục gọi điện thoại cho ba chuyên gia về y học là GS Nguyễn Việt Cồ - nguyên Viện trưởng Viện Lao và hai phó giám đốc bệnh viện lớn tại Hà Nội” hỏi có hệ nội tiết không, và cả ba khẳng định “chỉ có tuyến nội tiết chứ không có hệ nội tiết.”

Đọc lại lần nữa: không có hệ nội tiết, chỉ có tuyến nội tiết. Trời! Thiệt vậy sao? Gõ thử google “Endocrine system” thì thấy hàng ngàn trang web giải thích về hệ nội tiết. Để chắc ăn kiến thức của mình không bị bay theo mây gió, tôi ngó qua tủ sách thì thấy có cuốn “Endocrine System” – hệ nội tiết. Chẳng hiểu sao 3 vị chuyên gia này nói là không? Càng ngạc nhiên hơn, tuyến nội tiết là tuyến gì? Hồi nào đến giờ tôi chỉ nghe tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến yên, v.v… chứ chẳng nghe “tuyến nội tiết”. Chắc là một khám phá của các chuyên gia. Với khám phá này giải Nobel gần đến tay Việt Nam rồi …

Thật ra, tôi rất kị mấy câu hỏi là có bao nhiêu hệ thống, bởi vì câu trả lời còn tùy thuộc vào cách phân loại. Phân loại dựa vào chức năng cơ phận hay phân loại dựa vào sinh hóa? Hai cách phân loại sẽ cho 2 đáp số khác nhau. Ngay cả phân loại theo cơ phận cũng có thể cho ra kết quả khác nhau, tùy theo cách nhìn của trường phái. Chẳng hạn như có thể nói cơ thể có 9 hệ (tuần hoàn, da, tiêu hóa, nội tiết, cơ, thần kinh, tái sản sinh, hô hấp, và xương), nhưng cũng có thể 11 nếu ta thêm miễn dịch và bạch huyết cầu (lymphatic system).

Nói tóm lại, câu hỏi đã có vấn đề, thì trách gì câu trả lời có thể dao động. Nhưng sách dạy sao thì học sinh trả lời như thế; nếu có sai thì mấy người soạn sách giáo khoa phải chịu trách nhiệm. Nhưng câu chuyện đáng quan tâm là những chuyên gia mang hàm giáo sư mà còn không biết cơ thể có hệ nội tiết! Chẳng lẽ kiến thức của giáo sư y khoa mà nghèo như thế sao? Hi vọng câu chuyện đừng đến tai ngưòi ngoại quốc. Với chuyên gia kiểu này, chả trách sao sách giáo khoa nước ta đi từ sai này đến sai khác như hàng trăm lỗi trong sách sử.

NVT

http://vietnamnet.vn/giaoduc/2009/02/828336

Chuyện hy hữu ở cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”
(trích)

Sau buổi ghi hình cuộc thi chung kết quý III, thí sinh Bạch Đình Thắng (Trường chuyên Nguyễn Huệ, Hà Nội) đã khiếu nại về kết quả khiến Truyền hình Việt Nam (VTV) phải thay đổi kịch bản trận chung kết và bù thêm 5.000 USD tiền thưởng.

Thí sinh Bạch Đình Thắng cho rằng mình đã trả lời đúng câu hỏi về sáu hệ trong cơ thể người (có đặt điểm ngôi sao hi vọng).

Thầy Trần Hồng Hải, cố vấn sinh học của chương trình, cho rằng em Thắng chỉ trả lời đúng năm hệ. Hệ thứ sáu là hệ vận động chứ không phải hệ nội tiết như Thắng trả lời.

Để thuyết phục hơn, tổng đạo diễn Tùng Chi tiếp tục gọi điện thoại cho ba chuyên gia về y học là GS Nguyễn Việt Cồ - nguyên Viện trưởng Viện Lao và hai phó giám đốc bệnh viện lớn tại Hà Nội.
Và cả ba vị này vẫn tiếp tục giữ quan điểm như ban cố vấn là “không thể cho điểm” và khẳng định: Chỉ có tuyến nội tiết chứ không có hệ nội tiết.

Những lập luận bằng khoa học của các chuyên gia về y - sinh này được công khai ngay tại trường quay và ban tổ chức quyết định: Chiến thắng thuộc về thí sinh Hồ Ngọc Hân (Trường Quốc học Huế) với 275 điểm, còn thí sinh Bạch Đình Thắng nhận giải nhì và bị loại khỏi trận chung kết năm.

Sau đó một thời gian, VTV lại nhận được đơn khiếu nại của gia đình em Thắng, kèm theo cuốn sách Sinh học lớp 8 có ghi rõ: “Hệ nội tiết là một trong các hệ của cơ thể người”.

Trước chứng cứ này, VTV đã phải mời ban cố vấn, các chuyên gia y - sinh lẫn ban biên soạn sách giáo khoa Sinh học lớp 8 để thống nhất đáp án.

Cuộc tranh luận vẫn không thể ngã ngũ khi các bên đều bảo vệ quan điểm. Cuối cùng, VTV đành phải chấp nhận câu trả lời của em Thắng với quan điểm: học thế nào thì trả lời thế ấy.

Quyết định của VTV đã giúp Thắng có thêm 60 điểm, có tổng điểm bằng điểm với người chiến thắng.

Người vợ gốc Pháp của Bs Phạm Ngọc Thạch

Hôm nay, thấy trên báo Công An có bài này rất thú vị. Bài nói về người vợ gốc Pháp của Bs Phạm Ngọc Thạch. Đây là điều mới với tôi, vì trước đây đọc sách báo, ít khi nào nghe nói đến gia đình ông. Ngay cả trên trang wikipedia cũng chỉ có vài hàng tiểu sử, chẳng thấy nói gì về thân thế (như sinh quán ở đâu):

Phạm Ngọc Thạch học Đại học Y Hà Nội từ nǎm 1928, tốt nghiệp bác sĩ ở Paris nǎm 1934. Thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939), ông tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn. Tháng 3 năm 1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành một thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên Tiền phong, tham gia cướp chính quyền tháng 8 nǎm 1945.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được phân công là Bộ trưởng Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ủy viên Ủy ban Nhân dân Nam Bộ, rồi lần lượt thứ trưởng Phủ Chủ tịch, trưởng phái đoàn chính phủ tại Nam Bộ (1948-1950), chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, trưởng ban Y tế của Đảng Lao Động Việt Nam, thứ trưởng Y tế (1954-1958), từ 1958 là Bộ trưởng Y tế. Ngày 7 tháng 11 nǎm1968, Phạm Ngọc Thạch hy sinh trên chiến trường miền Nam Việt Nam
.”
Ngày nay, trường đại học y thứ hai của TPHCM mang tên Phạm Ngọc Thạch. Chẳng biết có bao nhiêu sinh viên biết chuyện gia đình của người mà trường mình mang tên. Chắc không nhiều. Thành ra, tôi copy về đây để làm tư liệu.

NVT

===

http://antg.cand.com.vn/vi-VN/tulieu/2009/2/68748.cand

Người vợ thầm lặng của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch

Qua những lần trò chuyện, nghe BS Phạm Ngọc Thạch kể về quê hương, Marie Louise vừa ngỡ ngàng, vừa bắt đầu hiểu ra còn có những vấn đề rất nặng nề, phức tạp giữa những người nắm quyền ở nước Pháp và thuộc địa. Lòng nhiệt thành, tài năng và sự tận tụy của BS Thạch đã thuyết phục cô. Tự bao giờ, trái tim cô đã dành cho người đàn ông Việt Nam hiếm hoi hành nghề bác sĩ trên nước Pháp...

Một ngày đầu tháng 12/2008, Bác sĩ, Anh hùng lao động Đoàn Thúy Ba - nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế gọi điện cho tôi, báo tin: “Tháng 5/2009 là 100 năm ngày sinh của cố Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch. Alain Phạm Ngọc Định từ Pháp mới vừa về nước. Lần này, Định ở lại Việt Nam khá lâu, bàn kế hoạch kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch...”.
Ngừng một lúc, bà nói thêm: “Định muốn kể về mẹ, bà Marie Louise - vợ của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch...”. Sau đó, bà Đoàn Thúy Ba nhiệt tình trao cho tôi số liên lạc của anh Định.



Bs Phạm Ngọc Thạch (thời còn ở Pháp)

Ngôi nhà gắn liền với lịch sử

Sống giữa Sài Gòn, nhiều lần đi qua lại con đường trung tâm, vậy mà mãi đến giờ tôi mới biết đến tòa nhà mang đậm tính lịch sử, gắn liền với tên tuổi BS Phạm Ngọc Thạch. Sau khi du học từ Pháp trở về Việt Nam, BS Phạm Ngọc Thạch thuê căn biệt thự này làm phòng mạch 202 đường Stratégique (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Tại đây, ông đã khám và chữa căn bệnh hiểm nghèo cho I-đa; tên trùm mật vụ Nhật Bản.

Năm xưa, cũng chính nơi này, ông đã khám, chữa bệnh, nuôi giấu, che chở cho những cán bộ lãnh đạo cao cấp của cách mạng. Và cũng chính tại đây, BS Phạm Ngọc Thạch đã trải qua bao đêm trắng suy nghĩ về thế cuộc. Ông bị giằng xé bởi những câu hỏi “tồn tại hay không tồn tại”, liệu nước Đức Hitler có đánh bại Liên Xô? Một ách Pháp ta bẻ không gãy, giờ hai ách Pháp - Nhật chồng lên cổ, ta còn hy vọng gì?!

Chính tại căn biệt thự này, ông đã đi đến một quyết định quan trọng. Sau khi đảo chính Pháp, Nhật muốn thiết lập và củng cố bộ máy cai trị bằng cách nắm lấy lực lượng thanh niên. Nhật cử I-đa đến gặp BS Thạch, ngỏ lời mời ông đứng ra thành lập tổ chức thanh niên. Ông đã cho liên lạc với Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu báo cáo tình hình I-đa đề nghị ông đứng ra làm thủ lĩnh thanh niên Sài Gòn.

Nhận định đây là một cơ hội tốt, cần lợi dụng thế hợp pháp của Nhật để xây dựng lực lượng, ông Trần Văn Giàu khuyên ông nhận lời. Chỉ trong vòng hai tuần, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cùng kỹ sư Kha Vạn Cân, Nguyễn Văn Thủ, Thái Văn Lung và Huỳnh Văn Tiểng đã phân công chạy cùng khắp các tỉnh Nam Bộ, tổ chức xong hệ thống Thanh niên Tiền Phong có các “thủ lĩnh” ở mỗi cấp và tập hợp thanh niên biểu dương lực lượng, luyện tập quân sự, mít tinh tuyên thệ, biểu tình, tổ chức biểu diễn ở tỉnh (Long Xuyên, Cần Thơ) rồi ở Sài Gòn...

Đêm 24 rạng ngày 25/8/1945, Việt Minh nhanh chóng giành được chính quyền, Ủy ban Hành chính lâm thời được thành lập, cử BS Phạm Ngọc Thạch làm Ủy viên phụ trách ngoại giao. Và khi thực dân Pháp núp bóng quân Đồng minh quay trở lại chiếm lại tòa nhà Phủ toàn quyền, Trần Văn Giàu viết lời hiệu triệu đồng bào Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống lại quân Pháp, BS Phạm Ngọc Thạch từ biệt phòng mạch từng gắn bó với ông suốt nhiều năm vào chiến khu. Từ đó, ông dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng.

Ông được Đảng và Chính phủ giao thêm nhiều trọng trách, trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế khi ra miền Bắc... Rồi ông lại đi ngược vào phương Nam, bị thôi thúc mãnh liệt được “sống” trực tiếp tại chiến trường nóng bỏng...

Ngày 8/11/1968, BS Phạm Ngọc Thạch trút hơi thở cuối cùng bởi chứng bệnh sốt rét ác tính nghiệt ngã. Ông được đồng đội đưa về nơi an nghỉ cuối cùng tại cánh rừng bên tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, dưới cơn mưa lâm râm... Bên cạnh ông lúc cuối đời chỉ có đồng chí, đồng đội. Ông hy sinh không có một người thân bên cạnh. Vợ và hai con của ông ở xa tít phía trời Tây...

Mối tình không biên giới

Anh Alain Phạm Ngọc Định - con trai út của BS Phạm Ngọc Thạch không ngăn được những dòng nước mắt khi nói về cha mình: “Cha tôi là một người anh hùng. Đó là một sự thật. Chúng tôi tự hào về người cha anh hùng của mình. Nhưng chúng tôi là những đứa con thiệt thòi, chịu nhiều mất mát. Đó cũng là một thực tế. Song hành trong niềm tự hào về người cha anh hùng là nỗi buồn sâu thẳm khi nhớ về những năm tháng tuổi thơ không hề có cha bên cạnh...”.


Bà Marie Louise - Phu nhân bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thời trẻ

Tôi không ngờ người đàn ông ở tuổi gần 70, từng là một giáo sư toán học của một trường đại học danh tiếng ở Pháp lại đa cảm như thế khi nhắc về cha mẹ. Cùng với những giọt nước mắt, ký ức về cha mẹ tuôn trào trong anh...

Những giọt nước mắt của Alain Phạm Ngọc Định giúp tôi hiểu được cội nguồn sâu thẳm của dòng họ Phạm Ngọc. Dù sống ở Pháp nhưng vị giáo sư toán học Trường Orleaus vẫn đau đáu tìm về cội nguồn. Để giải mã những bí ẩn về cuộc đời của một người con mẹ Pháp lai Việt, anh đã gõ nhiều cánh cửa, đã “xâm phạm” cả những bí mật riêng tư của mẹ, thậm chí đã từng chất vấn mẹ, đã thốt lên những câu mang tính “phản biện” để mẹ anh mở lòng... Nhờ vậy, nhiều câu hỏi anh thắc mắc, đeo mang được sáng tỏ...



Bà Marie Louise cùng hai con Colette Như Mai và Alain Phạm Ngọc Định trước ngôi nhà 202 đường Stratégique - Nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai.



Tiến sĩ toán học Alain Phạm Ngọc Định và vợ bên chiếc xe đạp quen thuộc khi về Việt Nam, năm 2008.

Anh kể về cơ duyên mối hôn nhân giữa một bác sĩ Việt Nam và một người phụ nữ Pháp. Tôi thực sự bất ngờ khi anh lý giải cơ duyên ấy có một nguồn gốc xa xưa, sâu thẳm. Nhờ những giọt nước mắt đa cảm của anh mà tôi được biết bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mồ côi mẹ khi mới lên 2. Rồi không bao lâu cha ông qua đời.


Bà Phạm Thị Ngọc Diệp - chị gái của Phạm Ngọc Thạch may mắn lấy được người chồng giàu có, vốn là một dược sĩ thời Pháp thuộc. Nhờ vậy, bà Diệp có điều kiện nuôi nấng, giúp đỡ em trai học lên bác sĩ.

Sau thời gian học Đại học Y khoa ở Hà Nội, Phạm Ngọc Thạch quyết sang Pháp du học, chuyên sâu về bệnh lao phổi. Sau 2 năm miệt mài học tập, ông được thăng chức làm giám đốc bệnh viện lao vùng núi phía đông nước Pháp, vừa là bác sĩ chuyên khoa tại Viện Điều dưỡng Haute Ville.
Tại Bệnh viện Lao, ông gặp gỡ Marie Louise, một cô gái Pháp xinh đẹp, tận tụy, gương mẫu trong vai trò một nữ y tá. Qua những lần trò chuyện, nghe BS Phạm Ngọc Thạch kể về quê hương, cô vừa ngỡ ngàng, vừa bắt đầu hiểu ra còn có những vấn đề rất nặng nề, phức tạp giữa những người nắm quyền ở nước Pháp và thuộc địa.

Lòng nhiệt thành, tài năng và sự tận tụy của BS Thạch đã thuyết phục cô. Tự bao giờ, trái tim cô đã dành cho người đàn ông Việt Nam hiếm hoi hành nghề bác sĩ trên nước Pháp. Đem lòng yêu BS Thạch, cô cũng bắt đầu tìm hiểu và dành cho đất nước Việt Nam một tình cảm đặc biệt.

Đầu năm 1936, BS Phạm Ngọc Thạch quyết định trở về Việt Nam. Đọc được trong mắt Marie Louise một nỗi buồn sâu thẳm, ông thẳng thắn nói với cô: “Chúng mình có thể tạo nên một cuộc sống bên nhau. Nhưng trước khi em quyết định, em phải biết là cuộc đời tôi ưu tiên cho cuộc đấu tranh giành lại độc lập cho Tổ quốc tôi. Nếu em chấp nhận tôi ở ý nghĩa này thì em có thể gặp lại tôi ở Sài Gòn, sau vài tháng”.

Trong đáy lòng, ông không nghĩ Marie Louise đi đến quyết định rời Pháp đến Việt Nam. Thật ra, với Marie Louise, một cô gái được sinh ra trong một gia đình truyền thống ở Pháp, đó không phải là một quyết định dễ dàng. Nhưng trái tim cô luôn bị thôi thúc được gặp lại ông, dù phía trước với cô là một đất nước xa xôi, bất ổn với các khuynh hướng chính trị.

Anh Định nói: “Khi xách vali xuống tàu là mẹ tôi đã can đảm “bước một bước lớn” hơn 10.000 cây số từ Pháp đến Việt Nam. Vì vậy, khi nhận được điện của mẹ tôi báo tin sẽ đến Việt Nam, cha tôi cũng không tin đó là sự thật. Ông vừa ngỡ ngàng, vừa thấy tràn ngập hạnh phúc đón mẹ tôi. Papa tôi vô cùng xúc động khi nhận ra mẹ tôi chỉ mua vé lượt đi mà không có khứ hồi. Phải có một tình yêu mãnh liệt, bà mới dám “phiêu lưu” như vậy. Lúc đó, bà chỉ có một thứ vũ khí duy nhất là tin vào sự thôi thúc của trái tim mình.

Papa tôi đưa bà đến Tòa Thị chính làm giấy hôn thú. Mẹ tôi thoáng buồn vì không thuyết phục được ông làm đám cưới ở nhà thờ theo lễ nghi đạo Công giáo. Bù lại, ông dành cho mẹ tôi một tình yêu sôi nổi, chân thành.

Thời gian đầu cha mẹ tôi thuê một căn biệt thự ở đường Sương Nguyệt Ánh. Sau đó ông thuê biệt thự số 202 đường Stratégique (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) mở rộng phòng mạch. Tôi đã từng có những năm tháng tuổi thơ gắn bó với tòa nhà này...”.

Tại ngôi biệt thự này, từ năm 1936 cho đến trước khi cuộc Cách mạng tháng Tám diễn ra ở Sài Gòn, Marie Louise đã trải qua những năm tháng tràn ngập hạnh phúc. BS Thạch nhanh chóng giàu có nhờ chuyên sâu nghiên cứu bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y đang hoành hành ở Việt Nam những năm trước 1930.

Nhờ những mối quan hệ rộng, ông cũng biết đầu tư sinh lời. Ông dành tiền mua hàng ngàn mẫu đất ở miền Tây, mua nhiều biệt thự ở Đà Lạt, liên tục đổi xe hơi. Vào ngày nghỉ, ông tự tay lái xe đưa vợ con đi Đà Lạt, Vũng Tàu “đổi gió”. Chính tại ngôi nhà này, bà đã biết được mối quan hệ của chồng với những người bạn thân thiết của ông như luật sư Thái Văn Lung, kỹ sư Kha Vạn Cân, BS Nguyễn Văn Thủ...Bà biết được mối quan hệ của ông với những người làm “quốc sự” lật đổ chính quyền thực dân. Bà biết được cả mối quan hệ phức tạp giữa BS Thạch và tên trùm mật vụ I-đa với “người giấu mặt” là những cán bộ cao cấp của Cộng sản. Bà biết tất cả nhưng lặng lẽ quan sát, lặng lẽ ủng hộ chồng.

Tuesday, February 24, 2009

Nên nhường bước cho thế hệ trẻ!

Mỗi năm, Nhà nước chi ra khoảng 400 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. Phần lớn ngân sách này dành cho xây dựng cơ sở vật chất, hơn là tài trợ trực tiếp cho các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, năng lực khoa học của nước ta vẫn còn quá thấp so với các nước trong vùng. Trong năm 2008 (tính đến tháng 10), các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 910 bài báo khoa học trên 512 tập san khoa học quốc tế (so với 5553 bài của Singapore và 3310 của Thái Lan, hay 2194 bài của Mã Lai). Trong khi đó, nhiều nhà khoa học trẻ phàn nàn rằng tình trạng kém cỏi của khoa học Việt Nam là hệ quả của vấn đề quản lí ngân sách, và “lực cản” từ những “cây đa, cây đề” đang cầm chịch nền khoa học nước nhà nhưng không có khả năng hội nhập quốc tế, và bám theo tư duy và lề lối làm việc thời bao cấp.

Cuối tháng 12/2008, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố thành lập Quĩ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (gọi tắt là NAFOSTED) với mục tiêu nâng cao khả năng lực nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, và tăng số lượng công trình khoa học trên các tập san quốc tế. Một tiến bộ trong Quĩ NAFOSTED là tính minh bạch và qui định người chủ nhiệm đề tài nghiên cứu phải có công trình công bố trên các tập san quốc tế trong vòng 5 năm qua. Cụm từ “tạp san quốc tế” ở đây đề cập đến những tập san khoa học được liệt kê trong danh sách của Viện thông tin khoa học ISI (Institute for Scientific Information, chứ không phải “Thomson Institute of Information”) [1]. Qui định này thể hiện một bước tiến mới trong chiều hướng tích cực, nhằm từng bước đưa các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động khoa học ở nước ta.

Nhưng mới đây, có ý kiến phản bác qui định trên của NAFOSTED. Trong một lá thư gửi cho Bộ KH&CN, nhân danh một hiệp hội khoa học, một vị giáo sư cho rằng qui định trên không hợp lí, vì:

(a) Đánh giá của ISI không phải là đánh giá chuyên gia mà thiên về tính thống kê.

(b) Có nhiều nước có trình độ nghiên cứu cơ bản vào hàng đầu thế giới nhưng không được tổ chức này đánh giá cao như Nga, Pháp, Đức, … thể hiện ở chỗ nhiều Tạp chí có tiếng của các nước này không được kể đến.”

Lí do đầu đưa ra vừa tối nghĩa vừa có phần đánh tráo vấn đề. Tối nghĩa là vì không ai biết “tính thống kê” là gì. Đánh tráo vấn đề ở chỗ đánh giá thành tựu một chuyên gia cần đến các con số thống kê. Viện thông tin khoa học không đánh giá một chuyên gia nào; họ chỉ cung cấp sản phẩm dưới hình thức thống kê về số lượng bài báo và chỉ số trích dẫn để nhà quản lí đánh giá thành tựu của một nhà khoa học hay một trung tâm nghiên cứu. Giới quản lí đặc biệt quan tâm đến các chỉ số trích dẫn mà công trình của chuyên gia đó được đồng nghiệp quan tâm (mà tôi đã giải thích trong một bài trước). Chỉ số trích dẫn chính là con số thống kê. Chỉ số trích dẫn có thể trích ra từ cơ sở dữ liệu của ISI.

Cho rằng các nước như Nga, Pháp, Đức, v.v… không được đánh giá cao để xem thường ISI là hoàn toàn sai. Đánh giá nền khoa học của một nước không phải dựa vào con số tập san khoa học nước đó có trong ISI, mà là dựa vào năng lực và tầm ảnh hưởng của khoa học nước đó. Năng lực được phản ảnh qua số lượng công trình khoa học, bằng sáng chế, giải thưởng quốc tế, và đội ngũ nhà khoa học. Tầm ảnh hưởng thể hiện qua chỉ số trích dẫn.

Bảng sau đây (trích từ bài phân tích trên tập san Nature) cho thấy Nga nằm trong các nước hàng đầu về khoa học, nhưng không thể đứng chung với các nước Bắc Mĩ hay Tây và Bắc Âu được. Trong thời gian 1997-2001, Nga công bố 123.629 bài báo khoa học (so với 342.535 từ Anh, 318.286 từ Đức, 336.858 từ Nhật, và 232.058 từ Pháp). Mỗi bài báo của Nga được trích dẫn chỉ 2,5 lần, so với 5-9 lần của các bài báo từ các nước Bắc Mĩ và Tây Âu. Tính theo chỉ số ảnh hưởng, khoa học Nga đứng hàng 16, còn sau cả Do Thái. Do đó, cố tình “nhét” Nga vào danh sách tương đương với Pháp và Đức (tại sao thiếu Anh) theo tôi là không hợp lí. Nói tóm lại, cáo buộc rằng ISI không đánh giá cao Nga là hoàn toàn không có cơ sở.




Chú thích: Hạng của từng quốc gia được xếp dựa vào số công trình được trích dẫn nhiều nhất (top 1%). Nguồn: DA King. The scientific impact of nations. Nature 15/7/2004, trang 311-316.

Nói tóm lại, những nhận xét của vị giáo sư đầu ngành không đúng với thực tế và cũng chẳng hợp lí. Không có lí do gì Bộ KH&CN nghe theo những tư vấn thiếu cơ sở khoa học như thế.

Trong thời gian qua, chúng ta đã tiêu quá nhiều thời gian và công sức để thảo luận những điều quá hiển nhiên. Đã làm nghiên cứu khoa học, bất kể là khoa học cơ bản hay ứng dụng (thực ra sự phân chia này hoàn toàn không cần thiết), thì phải có “sản phẩm”. Sản phẩm phải thể hiện qua các bài báo khoa học công bố trên các tập san được giới khoa học quốc tế công nhận, qua bằng sáng chế, hay qua thành tựu được đưa vào ứng dụng thực tế. Đó là điều hiển nhiên. Ngân sách của nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học là một sự đầu tư, và không có nhà nước nào muốn bỏ đồng tiền ra mà không thu được lợi phẩm.

Nước ta hiện nay có 38.217 giảng viên dạy đại học; trong số này có 303 giáo sư, 1805 phó giáo sư, 5643 tiến sĩ. Thế nhưng năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp so với các nước trong vùng Đông Nam Á (chứ chưa dám so với các nước như Hàn Quốc hay Đài Loan). Hiện nay, con số ấn phẩm khoa học ở nước ta (khoảng 900 bài / năm) chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 1/5 của Singapore. Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, 20 năm nữa, con số bài báo khoa học nước ta có thể chỉ 2500 bài, tức chỉ bằng phân nửa con số của Singapore hay 20% thấp hơn Thái Lan của năm 2008. Ai là người đứng ra nhận lãnh trách nhiệm cho tình trạng tụt hậu này? Thiết tưởng, những “cây đa, cây đề” từng cầm chịch và chi phối nền khoa học nước nhà trong một thời gian dài nên cuối đầu nhận lãnh một phần trách nhiệm, có một lời xin lỗi thế hệ đàn em và xin lỗi người dân.

Để nâng cao thực lực khoa học, yếu tố quan trọng số 1 là con người. Cho dù Việt Nam có nhập những thiết bị khoa học hiện đại, nhưng nếu không có các nhà khoa học có kinh nghiệm sử dụng thì những thiết bị đó vẫn là một đống kim loại vô dụng. Do đó, Quĩ NAFOSTED, dù vẫn còn vài hạn chế về qui chế, là một chương trình có tiềm năng nâng cao năng lực khoa học và góp phần từng bước đưa nền khoa học nước ta hội nhập quốc tế. Nhìn qua bảng số liệu trên, chúng ta dễ dàng thấy các nước chung quanh ta tiến nhanh như vũ bão: ấn phẩm khoa học của Hàn Quốc tăng gấp 2 lần, Trung Quốc và Singapore tăng gần 70%, Đài Loan tăng gần 40%. Trong khi các nước khác tiến nhanh như thế, ta chỉ loay hoay bàn chuyện có nên công bố quốc tế hay không!? Đã đến lúc khoa học và quản lí khoa học cần đổi mới, và những “cây đa, cây đề” nên nhường bước cho thế hệ trẻ.

Ghi thêm:

[1] Trong thư, tác giả viết “Thomson Institute of Information”, nhưng có lẽ đây là một hiểu lầm, vì không có viện nào với tên đó. Xin nhắc lại ISI là viết tắt của “Institute for Scientific Information”, do Eugene Garfield sáng lập vào năm 1960 chuyên đo lường năng lực khoa học. Sau này viện được công ti Thomson mua lại và nay được biết đến như là Thomson Scientific, một bộ phận thương mại của tập đoàn Reuters.


Trích thư của vị giáo sư:




Monday, February 23, 2009

Lội ngược dòng

Gần đây, Bộ KH & CN lập ra Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (gọi tắt là NAFOSTED) nhằm nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học ở nước ta. Trong Quỹ này có qui định mới như người chủ trì đề tài nghiên cứu phải có công trình công bố trên các tập san quốc tế (được liệt kê trong danh sách của Viện thông tin khoa học ISI). Qui định này là một bước mới trong chiều hướng tích cực, nhằm nâng cao sự hiện diện của khoa học trên trường quốc tế, bởi vì mấy năm qua chúng ta có quá nhiều nhà khoa học mà họ chẳng công bố gì cả, chẳng ai biết họ làm gì!

Nhưng ngạc nhiên thay một vị giáo sư tiến sĩ khoa học, đã nghỉ hưu nhưng vẫn nắm chức chủ tịch một hiệp hội khoa học, tạm gọi là Gs T kịch liệt phản đối qui định này. Vị giáo sư này không tranh luận trên báo chí, nhưng gửi một lá thư cho Bộ KH&CN, trong đó ông viết:

(a) Đánh giá của ISI không phải là đánh giá chuyên gia mà thiên về tính thống kê.

(b) Có nhiều nước có trình độ nghiên cứu cơ bản vào hàng đầu thế giới nhưng không được tổ chức này đánh giá cao như Nga, Pháp, Đức, … thể hiện ở chỗ nhiều Tạp chí có tiếng của các nước này không được kể đến.

Rồi từ đó, ông đề nghị nên “dịch mốc đăng ký năm 2009 một ít”.

Đọc qua thư của vị giáo sư thuộc vào hàng “cây đa cây đề” này, bất cứ ai quen với phong cách nghiên cứu khoa học đều phải lắc đầu thất vọng. Không một lí giải nào của ông có thể thuyết phục hay logic cả. Hình như ông cũng không biết ISI là ai, vì ông thậm chí viết sai là “Thomson Institute of Information”! Xin nhắc lại ISI là viết tắt của “Institute for Scientific Information”, Viện Thông tin Khoa học. Viện này do Eugene Garfield sáng lập vào năm 1960, sau này công ti Thomson mua lại và nay được biết đến như là Thomson Scientific, một bộ phận thương mại của tập đoàn Reuters.

Ông viết rằng ISI “không phải là đánh giá chuyên gia mà thiên về tính thống kê” vừa tối nghĩa vừa không đúng. Ý của câu này là ISI không đánh giá một chuyên gia hay một nhà khoa học, mà chỉ làm thống kê thôi. Nhưng nói như thế là đánh tráo vấn đề, bởi vì để đánh giá một chuyên gia, người ta phải dựa vào số lượng và chất lượng công trình khoa học của chuyên gia đó. Giới quản lí đặc biệt quan tâm đến các chỉ số trích dẫn mà công trình của chuyên gia đó được đồng nghiệp quan tâm (mà tôi đã giải thích trong một bài khác). Chỉ số trích dẫn chính là con số thống kê. Chỉ số trích dẫn có thể trích ra từ cơ sở dữ liệu của ISI.

Còn cho rằng các nước như Nga, Pháp Đức, v.v… không được đánh giá cao là hoàn toàn sai. Đánh giá nền khoa học của một nước không phải dựa vào con số tập san khoa học nước đó có trong ISI, mà là dựa vào năng suất và tầm ảnh hưởng của khoa học nước đó. Năng suất phản ảnh qua số lượng công trình khoa học, bằng sáng chế, giải thưởng quốc tế, và đội ngũ nhà khoa học. Tầm ảnh hưởng thể hiện qua chỉ số trích dẫn. Bảng sau đây (trích từ bài phân tích trên Nature) cho thấy các quốc gia hàng đầu (top 10) về khoa học là (theo thứ tự) Mĩ, Anh, Đức, Nhật, Pháp, Canada, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan, Úc. Xin đừng nói rằng ISI không đánh giá cao Đức và Pháp nhé!

Bạn đọc có thể hỏi tại sao có Nga trong danh sách này ngang hàng với Pháp và Đức nhỉ? Tại vì vị giáo sư này từng được Nga đào tạo. Chứ trong thực tế, khoa học của Nga không thể so sánh với các cường quốc như Mĩ, Anh, Đức, Canada, Nhật, v.v… Năm 1993-1997, Nga công bố 121,505 bài báo khoa học (so với 309,683 từ Anh, 268,393 từ Đức, và 203,814 từ Pháp). Mỗi bài báo của Nga được trích dẫn 4.2 lần, so với chỉ số trích dẫn của Đức là 13.3 lần. So sánh bất cứ chỉ tiêu nào, khoa học của Nga vẫn không ở thế “thượng phong” so với các cường quốc Tây phương. Do đó, cố tình “nhét” Nga vào danh sách tương đương với Pháp và Đức (tại sao thiếu Anh) theo tôi là không hợp lí.

Nói tóm lại, những nhận xét của vị giáo sư TSKH đó không đúng và cũng chẳng hợp lí. Không có lí do gì Bộ KH&CN nghe theo lời khuyên của vị này, vì làm như thế là một bước lùi cho khoa học Việt Nam.

NVT

===

PS. Viết xong entry này thì thấy bài của Gs Nguyễn Ngọc Châu phản bác lá thư của vị giáo sư nọ trên Tia Sáng. Tựa đề bài viết quá chính xác, nên tôi lấy làm tựa đề cho entry này.

Lội ngược dòng
02:40-23/02/2009

Đọc lá thư gửi Bộ trưởng Bộ KH&CN của một nhà khoa học “nhớn” ngành Cơ học, tôi cảm thấy buồn và thất vọng. Không buồn và thất vọng sao được khi đến thời điểm này mà vẫn có người “tâm huyết” đề nghị xem xét lại tiêu chí đánh giá của ISI. Không buồn sao được khi đã có hơn 5 năm (kể từ khi Nghị định 122/2003 của Chính phủ về thành lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia) công khai bàn thảo với sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng khoa học để đến nay mới ra đời được Quy chế hoạt động của Quỹ trong sự đồng tình của hầu hết những người làm khoa học chân chính thì vẫn có những người cố tình lội ngược dòng.

Nếu như trước đây chúng ta đã từng ngạc nhiên khi nghe nói có một số nhà khoa học lớn của ta bị bệnh “dị ứng” với công bố quốc tế và không thích cách đánh giá của ISI thì nay ta đã biết họ là ai. Chỉ có điều, chắc chắn: họ thừa biết những ý kiến như vậy là đi ngược lại xu hướng khách quan, đi ngược lại cộng đồng khoa học chân chính nên họ không lộ diện trên các diễn đàn thảo luận công khai mà chỉ tích cực tuyên truyền miệng và chỉ thích hành động trong bóng tối. Nay nghe chừng, đi đêm “đánh du kích” không xong, họ mới quyết tâm lộ diện chính thức, nhân danh một Hội khoa học để tác động vào bộ máy cao nhất đang vận hành NAFOSTED. Đến lúc này, khi được chứng kiến những dòng kiến nghị đầy “tâm huyết” của họ chúng ta mới tin những gì TS. Phạm Đức Chính (một người trong cuộc) đã nói không ít hơn một lần về Hội của những cây đa cây đề trong làng Cơ học, hay Hội của những người quen làm giả ăn thật là hoàn toàn có lý.

Thực ra, Quy định của NAFOSTED, mặc dù cũng còn vài vấn đề nhỏ có thể cần cải tiến, hoàn thiện hơn, nhưng về cơ bản nó đã đi đúng xu hướng phát triển để hội nhập quốc tế. Về cơ bản nó đã tạo ra bước ngoặt cho khoa học và công nghệ Việt Nam: không những quốc tế hóa tiêu chuẩn để được tài trợ mà còn công khai, minh bạch các tiêu chuẩn của cả người tham gia xin tài trợ và cả những người sẽ được mời thẩm định đề tài và tư vấn cho Quỹ tài trợ.

Cái mới và linh hồn của cách làm mới của NAFOSTED chính là tạo ra một sân chơi mới cho các nhà khoa học muốn làm khoa học thực sự. Nghĩa là Quỹ tạo điều kiện cho những người “làm thật’ được “ăn thật”, đó là những người có công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín trong 5 năm gần đây và yêu cầu sản phẩm đầu ra cũng là công bố quốc tế. Đương nhiên, cách làm mới này cũng sẽ loại bỏ những ai xưa nay quen lối “làm giả” nhưng lại “ăn thật”. Vì vậy, không ngạc nhiên khi thấy các phản ứng trái chiều trong cộng đồng khoa học khi đón nhận các tiêu chí tài trợ mới và cách quản lý mới của NAFOSTED. Trong khi, phần lớn những người làm khoa học chân chính, trong đó có nhiều người trẻ tiếp nhận cách làm mới một cách hào hứng, phấn khởi thì cũng không ít “cây đa”, “cây đề” phải ngậm ngùi nói lời chia tay với cách làm mới. Cũng chẳng ngạc nhiên khi một số quan chức khoa học quen “ăn trên, ngồi trốc” vẫn cố tình ngăn cản hoặc tìm cách làm chậm tiến trình đổi mới bằng việc công kích, gây nhiễu hoặc làm rối khái niệm công bố quốc tế có uy tín (peer reviewed jourrnals) của ISI với lý lẽ mơ hồ rằng ISI chỉ là đánh giá của một tổ chức tư nhân, chỉ mang tính chất thống kê chứ không phải đánh giá của chuyên gia, hay: đánh giá của ISI là không khách quan vì ISI chỉ chú trọng các tạp chí của Anh, Mỹ xuất bản bằng tiếng Anh mà ít hoặc không quan tâm đến các tạp chí khác.

Có lẽ cũng cần nhắc lại rằng, mặc dù việc đánh giá của ISI (Institute of Scientific Information) dựa trên hệ số tham khảo của các công bố khoa học cũng còn một số hạn chế như một số ý kiến đã phân tích (1), nhưng có lẽ cũng không hy vọng có một phương cách đánh giá nào hoàn hảo có thể thay thế ISI. Thực chất đánh giá của ISI không đơn thuần chỉ là thống kê đơn thuận mà dựa theo hệ số tham khảo, theo đó ISI đã xếp các tạp chí có hệ số tham khảo cao là các tạp chí có uy tín thuộc 2 danh sách là danh sách các tạp chí Scientific Citation Index (SCI) là những tạp chí có hệ số ảnh (impact factor) và danh sách mở rộng (Scientific Citation Index Expanded-SCIE) mặc dù không thống kê IF nhưng cũng thuộc danh sách tạp chí có uy tín. Thực tế danh sách xếp hạng ISI không chỉ là các tạp chí tiếng Anh mà cả các tạp chí công bố ngoài tiếng Anh, mặc dù không nhiều. Trong danh sách hàng chục ngàn tạp chí SCI và SCIE ngoài các các tạp chí xuất bản ở Mỹ, Anh cũng có khá nhiều tạp chí xuất bản ở các nước và khu vực khác nhau trên thế giới.

Tiêu chí đánh giá và thống kê của ISI đã được hầu hết các tổ chức KHCN (viện nghiên cứu, trường đại học) sử dụng làm nguồn tham khảo chính để đánh giá, xếp hạng năng lực nghiên cứu KHCN của một viện, một trường đại học hay một nước. Ngay cả các nhà khoa học ở các nước không nói tiếng Anh như Nga, Pháp Đức v.v. cũng chấp nhận các tiêu chí này. Hiện nay có khá nhiều tạp chí tiếng Anh xuất bản ở Nga có mặt trong danh sách SCI và SCIE. Ngay cả các nhà khoa học Nga nhận tài trợ của Quỹ Nghiên cứu Khoa học Nga (Russian Foundation for Basic Research-RFBR) cũng được khuyến khích có các công bố trên các tạp chí SCI (2).

Thực tế, trong quy định của NAFOSTED về tạp chí quốc tế có uy tín, không chỉ bao gồm các tạp chí SCI, SCIE mà còn cả một số tạp chí khác tương đương, nghĩa là ngay cả tạp chí chưa có trong danh mục SCI nhưng nếu được Hội đồng thẩm định xác nhận đó là tạp chí có uy tín thì vẫn có thể chấp nhận như SCI. Ngay cả thời gian tính có công bố quốc tế trong 5 năm cũng đã là một quy định khá rộng, cho phép nhiều nhà khoa học còn khiêm tốn với công bố quốc tế cũng có thể tham gia nhận tài trợ của Quỹ. Chắc chắn trong thời gian tới, khi công bố quốc tế của Việt Nam trở nên phổ biến hơn thì cái thời hạn 5 năm mới có một công bố quốc tế cũng trở nên lỗi thời.

Đọc văn bản kiến nghị của nhà khoa học “nhớn” ấy, tôi đồ rằng ông không hiểu ý nghĩa đích thực của SCI là gì và danh sách SCI/SCIE gồm những gì (đâu chỉ các tạp chí Anh, Mỹ), hoặc mới hiểu ISI là Thompson Institute of Information như trong văn bản của họ đã thể hiện. Và mong rằng nếu ông thực sự “tâm huyết” với sự phát triển KHCN của nước nhà thì đừng lội ngược dòng với những thay đổi tích cực trong quản lý KHCN của nước nhà theo chuẩn mực thực tế.
--------------
(1). VietnamNet, 2007-2008 đã đăng hàng loạt bài viết của các GS Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Duy Hiển và Phạm Đức Chính về vấn đề này./
(2). Người viết bài này đã và đang có đề tài đối tác với RFBR và vừa đi thăm RAS năm 2008.

Nguyễn Ngọc Châu

Tuesday, February 17, 2009

Văn miếu Princeton

Hôm nay nhận được một cái email ngộ nghĩnh từ Princeton Global Registry (email: info@princetonmembers.com) với lời lẽ rất kêu:

Hello Tuan, [nghe thân mật nhỉ?]
It is a privilege to inform you that you are being considered for inclusion into the 2009/2010 Princeton Premier Honors Edition Registry. [considered? Tôi nộp đơn hay có hỏi han gì đâu mà considered cà?]
This recognition is an honor shared by only the most accomplished professionals who have demonstrated excellence within their careers and communities. [rồi gì nữa?]
Inclusion into the Princeton Premier global network is considered a benchmark of achievement. [chà, oai nhỉ? Benchmark of achievement!] Once accepted, your successes are documented and preserved for all time in the hardcover registry, which is distributed throughout the world. [vang danh thế giới! Cám ơn.]
There is no cost [thiệt hông?] to be included in the registry. Simply complete your application form and submit it within five business days to be considered for publication.
You may access our application form using the following link:
http://www.formdesk.com/pgn/form2 [ủa, sao website chẳng có gì princeton hết trơn vậy cà? nghi quá!]
On behalf of the entire Princeton Premier community, best wishes for continued success.
Sincerely,
Jay Harris
Managing Director
Princeton Premier


Đại khái họ mời tôi ghi danh vào cái gọi là Princeton Premier Honors Edition Registry (dịch sao nhỉ?). Không tốn tiền gì cả.

Đây là một chiêu tiếp thị (marketing) khá tinh vi, vì họ mời những người nào, nhất là những người đã có vài công trình đăng trên các tập san khoa học, muốn “lưu danh hậu thế” vào cái danh sách những người xuất sắc gì đó của họ. Danh sách này thường có tên rất kêu, kiểu như “Những nhân vật của thế kỉ”, “Tài năng vĩ đại của thế kỉ”, “Who is Who in the World”, v.v…

Vì có tên trong sách đó nên đương sự có động cơ mua sách (chắc vài trăm USD). Hai bên cùng có lợi. Bên bán sách kiếm được tiền, bên mua thì có tên trong đó. Thử tính toán, cuốn sách có 3000 người, và họ có thể bán 3000 cuốn với giá 300 USD/cuốn, thì số tiền dễ dàng lên đến 900.000 USD. Chẳng cần office gì ráo trọi, chẳng cần nhân viên chi cho tốn tiền, chỉ cần một cái computer nối mạng là có thể thành một doanh nghiệp hợp pháp.

Người nào nghĩ ra chiêu tiếp thị này cũng thuộc loại thông minh, vì họ đánh trúng vào tâm lí hám danh của giới khoa học, nhất là người Tàu và người Việt mình. Viết đến đây chợt nhớ đến đề nghị làm Văn miếu hiện đại gì đó ở trong nước mà tôi có lần bình luận. Nhưng rất tiếc họ chỉ làm tiền được với người nào khác kìa, chứ tôi thì không ham có tên trong sách này. Tôi viết cái entry này để cảnh báo các bạn nào nhận được email kiểu này thì biết mình phải làm gì. Nói trắng ra là bấm nút “delete”!

NVT

Vài nhận xét từ kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2005-2008

Hôm nay lên net đọc báo thấy bài phân tích tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của tôi trên Tia Sáng với cái tựa đề mới “Vài nhận xét từ kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2005-2008”. Bài này tôi gửi cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhưng họ nói là không hợp cho tờ báo. Nhưng tôi ngờ rằng đó chỉ là lời từ chối [không khéo mấy] mà thôi, vì trước đây họ từng đăng những bài phân tích dài về tình trạng giáo dục. Tôi hơi thất vọng với cách từ chối của họ. Đáng lẽ họ phải nói thẳng “chúng tôi không thích bài của anh” thì tôi không có vấn đề gì; đằng này họ nói theo kiểu … thiếu logic và thiếu nhất quán.

Quay trở lại bài trên Tia Sáng, đọc đoạn đầu làm tôi giật mình vì hình như bài đã được biên tập “thấy thương”. Ngay đoạn đầu có câu “Trong bài này, hai câu hỏi cụ thể được đặt ra và giải đáp là: (1) Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) có thay đổi trong thời gian qua? [...]", nhưng tìm hoài không thấy câu hỏi thứ hai là gì! Đơn giản vì nó đã bị cắt bỏ!

Đáng lẽ nếu cắt thì cũng biên tập sao cho ăn khớp như “câu hỏi cụ thể là …” blah blah blah chứ. Tôi nghĩ có lẽ bạn nào biên tập không chịu đọc lại tác phẩm biên tập của mình, và thế là tôi phải lãnh đủ. Nếu tôi là người đọc, chắc tôi sẽ cười mỉm “thằng cha này đúng là quên trước quên sau”. Tội cho tôi quá! Bản đầy đủ có thể thấy ở đây.

Nhân đây xin giới thiệu một bổ sung cho bài viết về sự phân phối của bệnh thành tích. Một bạn đọc (PVH ở Dak Lak) vẽ dùm tôi biểu đồ sau đây. Mấy tỉnh với màu đỏ là bệnh thành tích "nặng", còn màu xanh có nghĩa là bệnh "nhẹ" hơn. Rất thú vị, vì nó cho thấy bệnh này phổ biến ở các tỉnh phía Bắc hay Bắc Trung Bộ. Xin cám ơn H.

Sẵn đây xin nói thêm vài số liệu trong bài viết. Tôi sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK) trong các năm 2005, 2006 và 2007. Còn số liệu 2008 là của Bộ GDĐT. Bột GDĐT còn có số liệu tốt nghiệp trung học phổ thông từ 2006 đến 2007. Nhưng điều làm tôi bận tâm không một con số nào trong kho dữ liệu của Bộ GDĐT ăn khớp với kho dữ liệu của TCTK! Không một con số nào ăn khớp cả. Tính trung bình thì như thế này: tỉ lệ tốt nghiệp năm 2006, Bộ GDĐT nói là 92%, nhưng TCTK thì 91.7%, tuy bề ngoài là không khác nhau mấy, nhưng hệ số tương quan giữa hai số liệu chỉ 0.77! Còn năm 2007, tỉ lệ tốt nghiệp từ số liệu của Bộ GDĐT là 63%, nhưng TCTK thì 78%; hệ số tương quan giữa số liệu của TCTK và Bộ GDĐT là 0.76. Chẳng biết tin vào ai. Nhưng qua vài thủ thuật kiểm tra bằng thống kê tôi thấy số liệu của TCTK có độ hợp lí hơn, và tôi sử dụng số liệu của họ.

NVT

Sunday, February 15, 2009

Ca ngợi kẻ thù ?

Tôi ít khi nào bàn chuyện “chính chị chính em”, nhưng đọc bài viết trên Hà Nội Mới khen ngợi Hứa Thế Hữu nên ngứa tay viết vài hàng. Ông này là người chỉ huy đánh Việt Nam vào năm 1979. Ông ấy có thể đối với người TQ là anh hùng, là tướng tài, hay gì gì đó, nhưng với người Việt Nam và những người Việt đã hi sinh trong trận đó thì ông ấy là một kẻ thù. Xin nhắc lại: kẻ thù. Báo Hà Nội Mới ca ngợi kẻ thù! Nhưng định viết thì thấy Huy Đức đã có một bài bình luận nói hết những gì tôi muốn nói. Vậy tôi “chôm” về đây để cho các bạn đọc (sợ bác ấy lấy xuống thì uổng).
NVT

===

http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4

Khi tôi viết bài Cuộc Chiến 1979 Và Hoàng Sa có nhắc đến chi tiết ngày 9-12-1978, lệnh đánh Việt Nam đã được trao tới tay Hứa Thế Hữu. Ngay sau đó, anh Đỗ Thái Bình, một cộng tác viên, chuyển cho tôi bài Thu Phục Tướng Tài đăng trên báo Hà Nội Mới viết về tướng Hữu.

Khi nhận lệnh xâm lược Việt Nam, Hứa Thế Hữu là tư lệnh quân khu Quảng Châu, đảm trách địa bàn tác chiến từ Cao Bằng tới Móng Cái. Trong khi, tướng Dương Đắc Chí đánh từ Lao Cai ngược sang Phong Thổ, Lai Châu. Mãi tới đầu tháng 2-1979, Dương Đắc Chí mới được điều về làm tư lệnh quân khu Côn Minh thay thế Vương Tất Thành. Có lẽ vì Đặng muốn sử dụng một người có kinh nghiệm trận mạc và am hiểu Việt Nam chỉ huy cuộc chiến. Dương Đắc Chí là tư lệnh “quân chí nguyện” Trung Quốc thời chiến tranh Nam- Bắc Triều Tiên (1953) và năm 1967 đã cầm đầu một phái đoàn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam. Cánh quân của Dương Đắc Chí đã bắn giết thường dân sáng 17-2 ở Bát Xát; trong khi, quân của Hứa Thế Hữu tàn phá thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn và chặt đầu thường dân ở thôn Tổng Chúc.

Theo link được GS Trần Hữu Dũng đưa lên Viet-studies.info, tôi vào xem lại bài Thu Phục Tướng Tài, thấy, đây là một bài phỏng dịch được Hà Nội Mới đưa lên từ 19-9-2008 và nó vẫn tồn tại trên bản online cho đến hôm nay (16-2). Hà Nội Mới là tờ báo của Thành ủy Hà Nội, không biết ca ngợi Hứa Thế Hữu có nằm trong định hướng thắt chặt tình hữu nghị giữa hai đảng. Tổng biên tập báo Hà Nội Mới vốn là một đại tá quân đội, không biết có phải ông cũng thành tâm ngưỡng mộ một vị tướng, theo Hà Nội Mới, là có tài. Nhưng, cho dù ý định của tờ báo thế nào thì tôi nghĩ, người đọc cũng rất cần biết thêm chi tiết tướng Hứa Thế Hữu là người trực tiếp chỉ huy đội quân Trung Quốc đánh chiếm Lạng Sơn và Cao Bằng hồi 17-2-1979.

Tôi nhớ, năm 1997, khi Đặng Tiểu Bình chết (19/2/1997), các báo Việt Nam đều viết bài, nhưng chỉ có Tổng Biên tập Võ Như Lanh của tờ Thời báo Kinh Tế Sài Gòn cho đăng tin nói rõ Đặng là kẻ chủ mưu cuộc chiến chống Việt Nam năm 1979. Không thể phủ nhận vai trò của Đặng đối với lịch sử hiện đại của Trung Quốc và phải thừa nhận chính sách của Đặng ít nhiều ảnh hưởng tới Việt Nam. Nhưng, việc Đặng đã ra lệnh đánh Việt Nam và sau đó, ra lệnh thảm sát sinh viên Trung Quốc biểu tình ở Thiên An Môn cũng là sự thật mà khi đề cập tới ông thì không nên né tránh. Khen hoặc chê Hứa Thế Hữu là tùy thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi người, nhưng vai trò tư lệnh đội quân xâm lược Việt Nam trong ngày 17-2 của Hữu là một sử thật lịch sử mà báo Hà Nội Mới không nên né tránh.

Blog Osin

Đọc tập san Nghiên cứu Y học

Một bạn ở trong nước gửi cho các đồng nghiệp mấy phê bình của vài nghiên cứu sinh về mấy bài báo trên một tập san y học trong nước (Tập san Nghiên cứu Y học của Đại học Y Hà Nội).

Tôi thấy những phê bình của mấy em nghiên cứu sinh đều hợp lí. Nhưng hình như họ vẫn còn chú trọng phần hình thức (như tài liệu tham khảo) mà ít xem phần nội dung, mà theo tôi còn “thê thảm” hơn nữa. Nó phần nào nói lên chất lượng các bài báo trên các tập san y học trong nước. Dịch tài liệu nước ngoài rồi “quên” tác giả thì rất khó chấp nhận được. Tôi thấy chuyện này hình như trở thành một “văn hóa” ở một số người rồi.

Trước đây, chính tôi cũng bỏ ra nhiều thì giờ để đọc và thậm chí viết thành một bài chỉ ra những sai sót và thiếu sót trong các “nghiên cứu” ở trong nước và góp ý nữa. Bài đăng trên Tập san Thời sự Y học và có bản trên net ở đây.

Nhưng tôi nghĩ đây là dịp để mình giúp cho các tập san này khá lên. Trước hết là cần kiện toàn ban biên tập (BBT), lập ra “luật chơi” mới, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, và minh bạch trong việc bình duyệt. Nói thì dễ, nhưng làm thì chắc chắn khó hơn nhiều, vì nếu kiện toàn ban biên tập thì chắc có khối “cây đa cây đề” sẽ mất chân trong BBT. Luật chơi mới sẽ làm cho tập san không có (hay ít) bài để đăng! Nhưng vẫn phải làm. Thà chịu đau giai đoạn đầu để khỏe về sau, chứ nếu cứ tình trạng này thì sẽ còn thua thiên hạ dài dài …

NVT

Trích dẫn vài phê bình của các nghiên cứu sinh ở đây:
http://www.sinhhocvietnam.com/forum/archive/index.php?t-1079.html

Mấy hôm nay Hoàng Đức Minh giới thiệu mấy bài viết của Tạp chí Nghiên cứu Y học của ĐH Y Hà Nội, ngoài 1 số bài đã được chỉ ra sai sót trong SHVN, tui dò tìm trang chỉ của tạp chí này và coi lướt qua 1 số bài, dĩ nhiên tui kô phải ngành Y nên đọc kô phải đọc để chữa bệnh, chẳng qua là tui tò mò xem coi có thể học hỏi gì thêm từ TC này hay kô. Nhưng càng đọc càng thất vọng cho trình độ 1 tạp chí nc y học của VN.

Công nghệ sinh học y học ở Việt NamNguyễn Văn Tườnghttp://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b12-03-05.pdf
Lỗi viết TLTK tuỳ tiện, kô đúng quy chuẩn. Đây là một bài đánh giá tổng quan về lĩnh vực công nghệ y sinh học của việt nam. Nội dung bài viết không quá đặc sắc nhưng vẫn có thề dùng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên ngành sinh học, công nghệ sinh học. Tuy nhiên điều đáng bàn trong bài báo này là tác giả viết tài liệu tham khảo tùy tiện, cẩu thả không theo một quy chuẩn nào. Toàn bài có 14 TLTK thì hết 10 TLTK là sai quy chuẩn.Ví dụ TLTK số 5. Biotechnology in Malaysia, 2002; người đọc không thể biết đây là sách hay bài báo từ một tạp chí nào đó; nếu là sách thì phải có tên tác giả, năm xuất bản, nhà xuất bản, số trang được trích, ...; nếu là bài báo từ một tạp chí thì cũng phải có thông số tương tự. Lỗi này cũng nằm trong TLTK số 7 và 13.
TLTK số 2 ghi là Genene Therapy, 2, 1995. Tờ Genee Therapy là một ấn bản nằm trong tập đoàn Nature rất nổi tiếng, mỗi năm xuất bản 12 issue tương ứng 12 tháng của năm và tất cả gói gọn trong 1 volume (http://www.nature.com/gt/archive/index.html?showyears=2006-1997-). Volume đầu tiên của tờ Gene Therapy xuất bản năm 1994, do đó nếu tác giả ghi Genene Therapy, 2, 1995 tức là tác giả đọc toàn bộ gần 1500 trang của Volume thứ 2. Điều này vẫn có thể xảy ra nhưng để trích và đưa vào bài viết của mình, tác giả bắt buộc phải chỉ rõ đã đọc tham thao cụ thể bài nào trong issue nào volume nào chứ không thể tuỳ tiện như vậy.
Trường hợp này cũng xảy ra với trường hợp TLTK số 6 Biotechnology progress: Washinton:New York 1995-2002, lại càng không thể chấp nhận là tác giả đọc trọn vẹn liên tục 7 volume của tạp chí này mà chỉ ghi 1995-2002. Lỗi này cũng thấy ở TLTK số 9,12, 14. Sự cẩu thả đến mức cùng cực.

Phương pháp chuyên gen mới tăng triển vọng sử dụng ASNi trong liệu pháp điều trị gen Tạ Thành Vănhttp://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b13-03-05.pdf

Bài này mang tính tổng kết, review, nhưng TLTK chỉ có 3, trong đó 2 của VN và 1 của nước ngoài, một là tác giả tự trích dẫn bài của mình, một từ một bài tổng quan khác của tác giả trong nước và một từ một tờ báo thương mại y sinh học (tờ Gene Engineering News http://www.genengnews.com/). �Trong bài, TLTK số 1 được nhắc ở phần tóm tắt, TLTK số 2 được nhắc ở đoạn đầu tiên còn TLTK số 3 không thấy chỉ định rõ trong bài. Với lượng TLTK cực kỳ nghèo nàn như trên thì người đọc có toàn quyền cho rằng đây là một bài tổng quan không đạt chất lượng để đăng trên TCNCYH.

Giải thưởng Nobel về hoá học năm 2004Vũ Triệu Anhttp://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b14-03-05.pdf

GS An mắc lỗi là khi dịch và viết lại từ bào nào đó trong đó người ta có viết trích dẫn tên tác giả kèm năm xuất bản, GS AN đã viết vô bài mình cứ như GS đã trực tiếp đọc bài báo đó. Lỗi này là trích dẫn của dịch thuật thường rất hay gặp trong các bài viết của VN. Lỗi này kô nhẹ đâu.

Activation-Induced Cytidine deaminase (AID) - phát minh mới về cơ chế phân tử của quá trình tổng hợp kháng thể.TS. Tạ Thành Văn.http://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b21-02-2004.pdf
Bài này đáng để đọc để mở mang kiến thức nhưng nó buồn cười ở chỗ TIẾN SỸ TẠ THÀNH VĂN hình như cố tình kô biết khi mà ông ta tự trích dẫn mình lại viết luôn cả họ lẫn tên. ông ta tự trích dẫn mình thì kô có gì sai, nhưng quy tắc là ông ta chỉ cần viết HỌ nếu là người nước ngoài hoặc Tên nếu ông ta muốn theo VN, chứ cớ sao lại viết thẳng đuột TẠ THÀNH VĂN và cộng sự???

Béo phì - bệnh của thế kỷ 21GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền.http://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b20-02-2004.pdf

Tui thấy tựa hay, cũng đáng để đọc, lại ký tên GS.TSKH mà hỡi ơi, nhìn TLTK mà não nề.

Tế bào gốc và ứng dụng trong y sinh học.PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà.http://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b03-06A-2004.pdf
Bài viết có chất lượng khá, đáng để đọc nhưng tác giả lại vô tình hay cố ý "đãng trí" kô chỉ rõ đoạn nào trong bài viết được trích dẫn từ đâu. Lỗi này ngay SV năm 4 là bị "khõ vào đầu" rồi.

Goenzym Q10 cung cấp năng lượng và bảo vệ chống oxy hoáGS.TSKH. Hoàng Tích Huyềnhttp://www.hmu.edu.vn/TiengViet/tapchiyh/Tapchi/b17-01-2003.pdf
Một lần nữa GSTSKH Hoàng Tích Truyền chơi trò đánh độ độc giả khi ghi TLTK là Medline 1995-2002.

Trời cho nắng, sao ta chưa phơi!

Vitamin D đang là đề tài “nóng” trong ngành nội tiết học. Nhớ thời thập niên 1990s tụi tôi làm về lĩnh vực này, nhưng lúc đó ít ai chú ý, vì họ mãi mê chạy theo các markers khác thời thượng hơn. Thế rồi mấy năm gần đây, vitamin D trở nên thời sự quá khám phá rất quan trọng là vitamin D có thể phòng chống ung thư và các bệnh nhiễm trùng. Bài viết sau đây muốn giới thiệu câu chuyện vitamin D cho bạn đọc trong nước. Bài viết đã được biên tập, nhưng biên tập rất hay, tôi rất thích bản này vì nó thích hợp cho công chúng hơn là bản cũ rất khô khan.

Có lần, một đồng nghiệp nước ngoài đến VN đi chơi một vòng, ông ấy hỏi tôi: “người Việt Nam theo đạo gì?” Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng nói “Đạo Phật và thờ cúng ông bà”. Ông ấy nói tưởng theo đạo Hồi chứ, vì thấy người đi đường mặc khẩu trang kín mít! Tôi không biết ông ấy châm biếm hay nói thật, nhưng nhìn nụ cười thì chắc ông ấy nói chuyện vui. Tôi lại nghĩ người đi đường theo “đạo giao thông”. Người mình, nhất là nữ, thích giữ làn da trắng, nên họ trùm kín mít từ đầu đến chân. Nhưng tôi nghĩ thói quen này không tốt cho việc hấp thu vitamin D. Nói thì nói thế, chứ thuyết phục họ không phải dễ.

Trong khi người mình thích làn da trắng (bệch) thì người Tây bây giờ thích làn da bánh ích mật. Đây là câu chuyện về giai cấp và tâm lí xã hội mà hi vọng tôi sẽ quay lại bàn tiếp.

NVT

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=301295&ChannelID=12
Thứ Năm, 12/02/2009, 08:30 (GMT+7)
Trời cho nắng, sao ta chưa phơi!

TT - Hầu như không có bệnh mãn tính nào không liên quan vitamin D. Việc bổ sung vitamin D tương đối rẻ tiền và cũng không gây ra những ảnh hưởng phụ nguy hiểm. Tuy vậy, 40% dân số thế giới vẫn thiếu nó!

Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những người sống ở các vùng với độ vĩ tuyến cao (như các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ) mắc bệnh ung thư, xơ cứng bì, viêm khớp, đái tháo đường, tim mạch, tai biến, hay bị nhiễm trùng… Những vùng này cũng là những vùng thiếu vitamin D trầm trọng.

Mới đây, có nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thiếu vitamin D trong dân số ở các nước Bắc Âu và Bắc Mỹ lên đến 50-70%. Các giới chức y tế ở đây xem đó là một vấn nạn y tế công cộng, nên họ có chính sách bổ sung vitamin D trong thực phẩm như bơ sữa, nước cam và bánh mì.

Vì vitamin D được sản xuất từ ánh nắng mặt trời, người ta thường lầm tưởng rằng ở những nước nhiệt đới như nước ta không có vấn đề thiếu vitamin D. Sự thật là ngược lại: một tỉ lệ lớn dân số trên thế giới, kể cả các nước nhiệt đới, thiếu vitamin D. Theo ước tính của các chuyên gia, 40-50% dân số trên thế giới thiếu vitamin D. Nghiên cứu ở Thái Lan và Malaysia cho thấy cứ 100 người thì có khoảng 50 người thiếu vitamin D. Riêng ở Nhật và Hàn Quốc, tỉ lệ thiếu vitamin D lên đến 80-90%!

Thực phẩm chưa đủ

Ở nước ta, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về tình trạng thiếu vitamin D trong cộng đồng. Nếu các nghiên cứu trong vùng là những tín hiệu, chúng ta có thể đoán rằng tỉ lệ thiếu vitamin trong dân số khoảng 40%.

Liều lượng vitamin D mà cơ thể con người cần là 3.000-5.000 IU/ngày (IU là đơn vị quốc tế để đánh giá liều lượng vitamin D), nhưng liều lượng tiếp thu từ thức ăn hằng ngày chỉ bằng 10% nhu cầu. Thực phẩm chúng ta dùng hằng ngày chứa rất ít vitamin D. Các loại cá giàu chất dầu như cá hồi, cá tuyết, cá thu, cá trích có lượng vitamin D cao hơn những cá khác. Nấm phơi khô chứa nhiều vitamin D hơn nấm tươi. Một bữa ăn trung bình với cá và nấm chỉ có 400-500 IU vitamin D.
Vitamin D thường được xem là “vitamin trời cho”, bởi vì như đề cập trên, 90-95% hàm lượng vitamin D được sản xuất qua phơi nắng.

Nhưng ngày nay nhiều người có lẽ do muốn giữ làn da trắng nên thường bao kín mít tay, chân, mặt để… chống nắng. Thói quen này có thể dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D trong cơ thể nghiêm trọng.

“Kỷ nguyên vitamin D”

Có nhiều nghiên cứu cho thấy vào mùa hè chỉ cần phơi nắng trong vài phút (10-20 phút), lúc đó cơ thể chúng ta đã sản xuất được trung bình 20.000 IU vitamin D (nhưng ở một số người mức độ có thể dao động 10.000 - 50.000 IU). Do đó, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần bỏ ra vài phút ngoài nắng để nạp đầy đủ vitamin D và cũng là một cách phòng chống bệnh tật.

Trong thời gian gần đây, bệnh truyền nhiễm thường xuyên bộc phát, và trong thực tế vẫn còn là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu. Ngoài bệnh truyền nhiễm, các bệnh liên quan đến hiện đại hóa như tim mạch, tai biến mạch máu não, ung thư, viêm khớp, loãng xương, đái tháo đường… càng ngày càng tăng.

Tất cả bệnh này đều liên quan đến vitamin D. Thật ra, hầu như không một bệnh mãn tính nào không có liên hệ với vitamin D! Trong một hội nghị về vitamin D diễn ra ở Mỹ năm ngoái, một chuyên gia hàng đầu cho rằng y học thế giới đang ở trong “kỷ nguyên vitamin D”.

Trong kỷ nguyên vitamin D, vẫn còn một loạt câu hỏi cần được đặt ra và cần nghiên cứu thêm ở nước ta. Những câu hỏi thông thường nhất là: có bao nhiêu người Việt trong tình trạng thiếu vitamin D, nồng độ vitamin D bao nhiêu là tối ưu cho người Việt, mối liên hệ giữa các bệnh nhiễm trùng, dịch tả và vitamin D như thế nào, tại sao trẻ em ở thôn quê phơi nắng ít bị cảm cúm so với trẻ em ở thành thị?…

Giải đáp những câu hỏi này chẳng những làm sáng tỏ vai trò của vitamin D trong việc phòng chống bệnh tật và giảm tử vong trong cộng đồng, mà còn thể hiện một đóng góp quan trọng cho y học quốc tế.

Box

Đủ vitamin D, sống khỏe hơn

Kết quả nghiên cứu lâm sàng mới công bố trên một tập san y khoa ở Mỹ cho thấy phụ nữ được bổ sung vitamin D và calcium giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư gần 80%. Quan trọng hơn, nồng độ vitamin D trong máu càng cao, nguy cơ mắc bệnh ung thư càng thấp; và ngược lại, những người có nồng độ vitamin D thấp thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng cao.

Vitamin D không phải là một sinh tố bình thường (như sinh tố A, B, C), mà thực chất là một loại hormon hay kích thích tố.

Vitamin D được biết đến như là một hoạt chất có ảnh hưởng đến sự phát triển và duy trì xương. Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu khoa học gần đây, các nhà khoa học phát hiện nhiều mối liên hệ quan trọng. Thiếu hụt vitamin D không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư, mà còn tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương, tim mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, vảy nến, viêm đường ruột, viêm khớp, viêm gan, nhiễm trùng, lao phổi...

Người thiếu vitamin D thường bị đau nhức cơ bắp, hay bị té ngã và dễ bị gãy xương. Ở những phụ nữ lúc mang thai, thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ sinh con với chấn thương não, thậm chí dị tật.
Một nghiên cứu trên 13.000 người Mỹ tuổi trên 20 cho thấy những người có nồng độ vitamin D thấp có nguy cơ tử vong tăng 26% so với những người có nồng độ vitamin D bình thường.

Một số nghiên cứu gần đây còn cho thấy vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hệ thống miễn nhiễm.

Friday, February 13, 2009

Phân tích tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông và bệnh thành tích

Tôi mới rị mọ làm xong phân tích tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông ở nước ta, dựa vào số liệu của Bộ GDĐT và tổng cục thống kê. Có vài “phát hiện” cũng thú vị. Tôi tính thử “chỉ số bệnh thành tích” để xem tỉnh nào mắc bệnh này nhiều hơn tỉnh nào. Tôi định sử dụng các thuật phân tích Empirical Bayes, nhưng nghĩ số liệu chưa tốt mấy nên chưa muốn tốn thì giờ cho thuật này.

Bài viết có vài biểu đồ và bảng số liệu nhưng tôi không biết cách nào post lên trang blogspot được, nên đành upload vào một trang web khác ở Diễn Đàn và ở đây (chú ý file pdf nhé).

Mời các bạn đọc chơi và cho ý kiến.

NVT

Bàn thêm về hàm lượng đạm trong sữa

Một bạn đọc lưu ý tôi rằng tất cả các loại sữa mà Viện y tế công cộng xét nghiệm là sữa khô (sữa bột) nên mới có hàm lượng đạm cao như thế, chứ sữa nước thì không. Tôi muốn nhân dịp này bàn thêm về những con số đằng sau phần trăm hàm lượng đạm.
NVT

===

Trong tuần qua báo chí rầm rộ đưa tin một số sữa đang được bày bán tại Việt Nam có hàm lượng đạm thật thấp hơn hàm lượng ghi trên bao bì. Phần lớn những bản tin này đều xuất hiện dưới dạng “sản phẩm ABC ghi thành phần đạm trên bao bì là 30% nhưng kiểm nghiệm thực tế chỉ có 6%”. (Hai con số này tôi chỉ lấy làm ví dụ). Vì mức độ chênh lệch quá lớn như thế, không ngạc nhiên khi thấy công chúng phẫn nộ trước sự thiếu thành thật của một số doanh nghiệp. Nhưng khi hỏi con số 30% hay 6% đề cập đến khía cạnh gì hay có ý nghĩa gì thì không ít người lúng túng.

Ở đây, tôi không bàn đến vấn đề chênh lệch giữa hàm lượng thật và hàm lượng quảng cáo trên bao bì, mà chỉ muốn nhân cơ hội bàn về ý nghĩa của con số phần trăm hàm lượng đạm trong sữa, và hi vọng qua đó, giới báo chí cẩn thận hơn trong việc cung cấp những thông tin khoa học.

Ai cũng biết con số phần trăm là kết quả của một tính toán gồm hai phần tử số và mẫu số. Trong trường hợp này, chúng ta biết rằng tử số là trọng lượng đạm tính bằng gram (g). Nhưng còn mẫu số? Trong rất nhiều bài báo, tôi không tìm thấy thông tin chính xác về mẫu số của tính toán là gì, thậm chí đơn vị của mẫu số là gì cũng không rõ ràng. Do đó, rất khó biết con số 30% hay 6% có nghĩa là gì. Để hiểu rõ những con số phần trăm này, có lẽ cần phải phân biệt một số loại sữa trên thị trường.

Ba đơn vị định lượng đạm trong sữa

Sữa nguyên chất (whole milk), như sữa bò chẳng hạn, có thể tách ra thành hai thành phần: kem và “skim”. Phần kem chiếm khoảng 80-90% trọng lượng sữa nguyên chất, phần còn lại là skim. Skim là sữa đã được lấy hết hay gần hết chất béo ra khỏi sữa nguyên chất. Khi thành phần skim được tách ra khỏi sữa và qua một công nghệ phun thành bột, cho ra sữa bột (powder milk). Do đó, có thể chia các loại sữa công nghiệp trên thị trường thành hai nhóm: sữa lỏng và sữa khô (sữa bột). Lượng sữa lỏng được tính (dĩ nhiên) bằng đơn vị millilitre (mL), còn sữa bột tính bằng gram.

Sữa là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, vì hàm chứa năng lượng và một số dinh dưỡng tố. Năng lượng được tính bằng đơn vị calorie hay joule (1 joule bằng 0,2390 calorie). Các dinh dưỡng tố có thể chia thành 4 nhóm chính: đạm, chất béo, carbohydrate, và chất khoáng (bao gồm calcium và các sinh tố A, C và phosphorus). Đơn vị của các dinh dưỡng tố là gram hay milligram. Do đó, hàm lượng đạm và các dinh dưỡng tố trên đây có thể tính trên :

(a) 100 g cho sữa bột;
(b) 100 mL cho sữa lỏng; và
(c) Kilocalorie (kcal).

Hàm lượng đạm do đó rất khác nhau giữa hai loại sữa nước và sữa bột. Chẳng hạn như sữa nguyên chất chứa khoảng 3,2 g cho mỗi 100 g trọng lượng (hay 3%). Nếu là sữa bột, tính trên trọng lượng khô thì đạm chiếm khoảng 25%, nhưng sữa bột tách gần hết chất béo thì có thể hàm chứa khoảng 30-38% chất đạm.

Nhưng sữa là loại thực phẩm chủ yếu để uống. Vì thế sữa bột vẫn phải pha với nước để sử dụng hàng ngày. Do đó, hàm lượng các chất dinh dưỡng, kể cả đạm, thường được tính trên mỗi 100 mL. Hàm lượng đạm trong sữa có thể dao động từ 1,5 đến 4,0 g/100 mL (xem bảng dưới đây). Hàm lượng đạm trong một số sữa ở Việt Nam cũng dao động trong khoảng 1,4 đến 3,7 g/100 mL.

Cần nói thêm rằng sở dĩ hàm lượng đạm tính trên 100 g trọng lượng sữa bột lên đến 20-38% là vì nhà sản xuất muốn đạt được độ đạm từ 1,4 đến 3,7 g trên mỗi 100 mL dung tích sữa.

Trong y khoa và nghiên cứu lâm sàng, vì lí do chuyển hóa nội tiết, người ta thường định lượng hàm lượng đạm trên 100 kcal năng lượng (thay vì trên 100 mL). Phần lớn sữa lưu hành trên thị trường có khoảng 1 đến 2 g đạm trên mỗi 100 kcal.

Cần nói thêm rằng đạm bao gồm hai thành phần: đạm whey và đạm casein. Đạm whey có khi còn được gọi ví von là “đạm huyết thanh của sữa” vì bao gồm một số thành phần hóa học cơ bản như lactoglobulin, albumin, immunoglobins, v.v… Đạm casein ít hòa tan trong nước, có khi gọi nôm na là đạm phó-mát vì từ casein xuất phát từ tiếng Latin có nghĩa là phó-mát. Trong sữa mẹ, khoảng 50-60% là đạm whey, nhưng trong sữa công nghiệp hàm lượng đạm whey chỉ chiếm 20% tổng số hàm lượng đạm.

Hàm lượng đạm cao hay thấp

Do đó, khi báo chí đưa tin hàm lượng đạm của một loại sữa ghi trên bao bì là 34%, và xét nghiệm thì kết quả chỉ 1,34%, chúng ta không biết chính xác những con số phần trăm này đề cập đến lượng đạm trên 100 mL, 100 gram, hay 100 kcal. Tuy nhiên, nếu là sữa bột, có lẽ con số 34% đề cập đến hàm lượng đạm trên 100 gram trọng lượng, dù trong thực tế thì chỉ 1,34 g / 100 g trọng lượng. Như vậy hàm lượng đạm của sữa này chỉ (ước tính) khoảng 0,10 g / 100 mL, hay chỉ bằng 1 phần 10 hàm lượng “chuẩn” của phần lớn sữa trên thị trường.

Dựa vào danh sách công bố, tôi ước tính hàm lượng đạm trên 100 mL của một số sản phẩm sữa (xem bảng dưới đây). Trong số 26 sản phẩm sữa trong danh sách này, chỉ có 2 sản phẩm có thể xem là đạt tiêu chuẩn đạm, phần còn lại đều có hàm lượng đạm dưới mức 2 g / 100 mL! Nhưng ngay cả cách tính này vẫn dựa vào (và chỉ đúng nếu) giả định là hàm lượng sữa như báo chí đưa tin thật sự là g trêm mỗi 100 g sữa bột.

Một nhà xã hội học nổi tiếng người Mĩ từng nói rằng con số thống kê giống như bộ đồ tắm (bikini), những gì nó phô bày thì hấp dẫn đấy, nhưng những gì nó dấu kín mới thực sự quan trọng. Mượn cách nói đó, con số phần trăm, nhất là phần trăm đạm trong sữa, cũng rất dễ bị hiểu lầm, nếu không rõ loại sữa và đơn vị tính toán. Qua sự việc này, chúng ta có thêm một bài học về thông tin khoa học: cần biết đơn vị tính toán!

Wednesday, February 11, 2009

200 năm Darwin

Bài này là bản dài hơn so với bản trên Tuổi trẻ “200 năm Darwin”.

Hôm nay (12/2/2009) là ngày kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Charles Robert Darwin (12/21809 – 19/4/1882), một nhà khoa học có thể nói là vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học từ cổ chí kim. Trên thế giới có hơn 300 thành phố và địa phương tổ chức ngày kỉ niệm Darwin và những di sản khoa học vô cùng to tát mà ông để lại cho đời. Để hiểu thêm về nhân vật xuất chúng này, tôi sẽ bàn qua vài nét chính vế hai công trình làm nên tên tuổi của ông và cũng gây ra nhiều tranh luận dai dẳng cho đến ngày hôm nay: đó là lí thuyết tiến hóa chọn lọc tự nhiên.

Thân thế

Charles Robert Darwin sinh ra tại làng Shrewsbury, hạt Shropshire (Anh) trong một gia đình trưởng giả gồm 6 anh chị em (ông là người thứ năm). Cha ông là bác sĩ Robert Darwin, và ông nội là Erasmus Darwin, cũng là một bác sĩ, triết gia, nhà thơ, và nhà tự nhiên học có tiếng. Năm 1825, tức mới 16 tuổi, Darwin thực tập nghề y, làm phụ tá cho cha ông điều trị những người nghèo ở hạt Shropshire. Sau đó, ông theo học y khoa tại trường Đại học Edingburgh. Học một thời gian ông cảm thấy chán nản, rồi bắt đầu bỏ bê học hành, nhưng ông lại tìm được một sở thích mới là đọc sách về các loài vật. Cha ông rất giận khi biết Charles bỏ bê học hành theo đuổi một thú vui mà cha ông cho là vô bổ đó.

Theo lời của cha, ông chuyển từ Đại học Edingburgh đến Đại học Cambridge để học văn khoa, với kì vọng trở thành tu sĩ sau này. Năm 1828 ông đến Cambridge, nhưng thay vì chú tâm theo học, ông lại chạy theo những thú vui mới như cưỡi ngựa và săn bắn. Ở đây ông quen với một nhà tự nhiên học rất nổi tiếng đương thời là Giáo sư John Stevens Henslow. Đến kì thi năm 1831, Darwin đạt kết quả tốt, đứng hạn 10 trong số 178 sinh viên.

Năm 1831, qua giới thiệu của Giáo sư Henslow, Charles Darwin được tham gia chuyến viễn du trên tàu Beagle. Chuyến du hành thám hiểm dự trù chỉ 2 năm, nhưng trong thực tế kéo dài đến 5 năm trời qua gần 65.000 km. Khi đến Brazil ông kinh ngạc và thích thú trước sự đa dạng của rừng Amazon, nhưng rất ghét thái độ của những tay thực dân đối với người nô lệ bản xứ. Có người cho rằng chính vì ông ghét thái độ kì thị người bản xứ của người Âu châu đã nung nấu ý chí để ông chứng minh rằng những người da trắng này có cùng nguồn gốc với người nô lệ địa phương. Trong một trang nhật kí nổi tiếng, ông viết rằng: “Theo tôi, chúng ta phải ghi nhận rằng một người dù với những phẩm chất vương giả của mình … vẫn mang trên người cái dấu ấn không thể xóa bỏ của một cội nguồn cấp thấp.”

Trong thời gian thám hiểm và tàu ghé qua nhiều địa điểm khác nhau, ông quan sát hàng loạt hiện tượng và thu thập rất nhiều di vật. Nơi gây ấn tượng sâu sắc nhất cho ông là quần đảo Galapagos (cách đất liền Nam Mĩ khoảng 500 km), vì ở đây ông tìm thấy những con rùa khổng lồ, thằn lằn to lớn, sư tử biển, cua, v.v… mà ông không thấy ở bên Âu châu. Điều đặc biệt thú vị là các sinh vật này cũng có mặt ở một vài đảo chung quanh những với hình dạng khác chút ít. Ông ghi chú rất chi tiết, cẩn thận, phân biệt rõ cái nào là quan sát thực tế, và cái nào là do ông suy luận. Thỉnh thoảng ông gửi các hiện vật này về Đại học Cambridge cùng với nhật kí cho gia đình biết ông đang làm gì và ở đâu.

Thời gian tham gia đoàn thám hiểm cũng chính là lúc ông nhận ra rằng những gì ông đọc trong Kinh Thánh không phù hợp với thực tế của thế giới tự nhiên, và ông thai nghén lí thuyết tiến hóa từ đó. Ngay từ lúc đó ông đã lí giải rằng hình thể đất đai ngày nay đã trải qua những quá trình thay đổi lớn; các sinh vật tồn tại và sẽ thay đổi hình dạng trong các thế hệ sau; và các sinh vật này không phải được một đấng tối cao nào sáng tạo ra một cách độc lập, mà chúng tiến hóa từ các sinh vật khác.

Khi tàu Beagle về London vào ngày 2/10/1836, Darwin đã nổi tiếng trong giới khoa học, vì trước đó một năm giáo sư Henslow hay sử dụng những hiện vật của Darwin để thuyết giảng trong các hội nghị khoa học. Trong thời gian ở London, ông đọc cuốn sách nổi tiếng về dân số của Linh mục Thomas Malthus, cũng là một nhà dân số học tài tử, mà trong đó ông lí giải rằng dân số sẽ được quân bình hóa do các yếu tố bệnh tật, hạn chế tài nguyên, và chiến tranh. Chịu ảnh hưởng cách lí giải đó, Darwin suy luận rằng một cơ chế tương tự cũng vận hành trong thế giới tự nhiên, và ông gọi đó là “natural selection” – chọn lọc tự nhiên.

Lí thuyết tiến hóa

Ngày 18/6/1858 khi Darwin viết gần phân nửa cuốn sách vế lí thuyết chọn lọc tự nhiên, ông được người bạn cũ là Alfred R. Wallace gửi cho đọc luận văn cũng cùng chủ đề, Darwin thấy sốc vì có người có cùng ý tưởng! Darwin dừng viết sách và lập tức đề nghị Wallaces cùng với ông soạn một bài báo công bố trước. Ngày 1/7/1858, Hội Linnean ở London [1] trình bày một cách khiếm diện bài báo khoa học 18 trang của Charles Darwin và Alfred Wallace về lí thuyết chọn lọc tự nhiên, nhưng sau này người ta chỉ nhớ đến Darwin, ít ai nhắc đến Wallace [2]. Thật ra, Darwin là một nhà khoa học đích thực và xứng đáng là người phát triển lí thuyết chọn lọc tự nhiên [3].

Ngày 22/11/1859 (tức 150 năm trước), Darwin cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “On the Origin of Species” (có khi gọi tắt là Origin tạm dịch: “Về nguồn gốc các loài vật”). Cuốn sách chỉ in 1250 bản, nhưng bán hết ngay trong ngày xuất bản! Sau đó (và cho đến nay), sách được in rất nhiều lần và vẫn là một trong những cuốn bán chạy nhất. Sự ra đời của cuốn sách và lí thuyết chọn lọc tự nhiên, nói như nhà sinh vật học Stephen Jay Gould, là một cuộc cách mạng cơ bản nhất trong tất cả cuộc cách mạng tri thức của lịch sử nhân loại, một phát kiến quan trọng nhất trong thiên niên kỉ.

Trong cuốn Origin ông quan sát thấy các loài vật biến đổi theo từng vùng và thời gian. Ngày nay, sự biến đổi đó được gọi là “tiến hóa” (evolution), có nghĩa là sự thay đổi về đặc tính di truyền của các nhóm sinh vật qua nhiều thế hệ. Dựa vào sự thật của tiến hóa, ông tìm một lí thuyết tiến hóa để giải thích những gì ông quan sát được. Lí thuyết tiến hóa được dựa trên 6 phát biểu mang tính “nền tảng” sau đây:

1. các sinh vật (kể cả con người) sản sinh ra nhiều con, và số con sống sót nhiều hơn số chết;
2. những đứa con có khác biệt về chút ít về hình thể, nhưng những biến dạng này có ích cho sự sinh tồn mai sau;
3. các sinh vật đấu tranh (như tìm thực phẩm và nơi cư trú) để tồn tại;
4. những sinh vật nào thích ứng với môi trường sống sẽ sống và tái sản sinh;
5. các đặc tính có ích cho sự tồn tại và tái sản sinh sẽ được lưu truyền cho thế hệ kế tiếp;
6. cơ chế của tiến hóa là chọn lọc tự nhiên.

Chọn lọc tự nhiên thực ra là một nguyên lí hết sức đơn giản (nhưng cũng dễ gây hiểu lầm). Toàn bộ nguyên lí có thể minh họa bằng một ví dụ như sau: nếu những người với gien A có nhiều con cái hơn những người với gien B, thì về lâu về dài gien A sẽ trở nên phổ biến trong dân số hơn gien B, và gien B sẽ dần dần trở nên hiếm trong dân số. Do đó, nói đến chọn lọc tự nhiên là nói đến (a) sự biến thiên về thông tin chứa trong gien làm nên những khác biệt về đặc tính của loài vật; (b) sự khác biệt về khả năng tái sản sinh của loài vật, do hệ quả của (c) thay đổi thông tin trong gien qua nhiều thế hệ.

Nhiều người hiểu lầm rằng thuyết của Darwin cho rằng con người xuất phát từ khỉ. Thật ra, Darwin chưa bao giờ nói hay viết như thế. Darwin viết rằng khỉ, vượn, và người nhất định phải có cùng một nguồn cội (tổ tiên) vì họ rất giống nhau so với các sinh vật khác như người với cá chẳng hạn. Thật vậy, ngày nay, qua phân tích di truyền học, chúng ta thấy trong bất cứ gien nào hay chuỗi DNA nào được khảo sát, con người và loài tinh tinh có cấu trúc gien và DNA giống nhau hơn là giữa tinh tinh với khỉ. Nếu so sánh DNA của con người và DNA của tinh tinh, sự trùng hợp lên đến 98.4%, tức chỉ khác biệt 1.6%. Phân tích chuỗi DNA trong hệ thống máu globin, mức độ trùng hợp giữa con người hiện đại và tinh tinh là 98.76%, tức chỉ khác biệt trên dưới 1%. Chính vì sự trùng hợp di truyền này, nhiều nhà nhân chủng học đề nghị xếp loại tinh tinh thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm Pan troglodytes (hay những tinh tinh ‘thường’), nhóm 2 gồm Pan paniscus (còn gọi là bonobo hay pygmy chimpazee – tinh tinh nhỏ), và nhóm 3 là ... chúng ta, tức Homo sapiens, người thông minh. Có thể nói rằng chúng ta và linh tinh hay khỉ có cùng tổ tiên, nhưng qua tiến hóa thì bây giờ chúng ta “văn minh” hơn người anh em họ tinh tinh kia. Darwin không bao giờ nói khỉ là tổ tiên của con người.

Ảnh hưởng

Tại sao lí thuyết chọn lọc tự nhiên được các nhà khoa học đánh giá là một ý tưởng cách mạng vĩ đại của thiên niên kỉ? Tại vì lí thuyết này là nền tảng của nền y sinh học hiện đại, nó cung cấp cho chúng ta một phương tiện để hiểu về thế giới tự nhiên; một sự hiểu biết sâu hơn (dù chưa hoàn hảo) về hành vi của con người, về nguồn cội của chúng ta đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Bất cứ ai làm trong ngành y sinh học đều có thể thấy lí thuyết của Darwin hoàn toàn hợp lí.

Trong phần cuối của cuốn Origin, Charles Darwin tiên đoán rằng công trình của ông sẽ dẫn đến nhiều nghiên cứu quan trọng trong một tương lai gần. Sau 200 năm, lời tiên đoán của Darwin đã thành sự thật. Ngày nay, trong y khoa có một bộ môn học gọi là Darwinian Medicine hay Evolutionary Medicine (y học tiến hóa) để giải thích tại sao chúng ta mắc những bệnh như ung thư, tiểu đường, xơ vữa động mạch, phiền muộn, ho, cảm cúm, nhiễm trùng, v.v… Thuyết tiến hóa chẳng những được sử dụng để lí giải về sự đa dạng của các loài vật, mà còn được áp dụng để hiểu hành vi con người (như tại sao phụ nữ thích đàn ông có chiều cao cao, hay đàn ông thích phụ nữ có mông nở, ngực to và khuôn mặt cân đối); tâm lí, và làm nền tảng cho hàng loạt các bộ môn khoa học xã hội khác. Mới đây, thuyết tiến hóa còn được sử dụng làm mô hình giải thích các hiện tượng xã hội như chiến tranh và tranh chấp quân sự giữa các quốc gia hay các vùng trong một quốc gia. Các nhà kinh tế có hẳn một trường phái kinh tế tiến hóa (evolutionary economics) ứng dụng thuyết tiến hóa để giải thích phát triển kinh tế, tiếp thị, và thị trường chứng khoáng.

Charles Darwin để lại cho đời chỉ 3 công trình khoa học (dưới dạng 3 cuốn sách) và một số bài báo khoa học, nhưng cũng đủ để thay đổi thế giới một cách vĩnh viễn. Cứ mỗi năm, các nhà khoa học lại tìm thấy ứng dụng mới của lí thuyết tiến hóa. Công trình Origin của Darwin có thể xem là một trong những tác phẩm trụ cột của thế giới, và đặt ông vào hàng của những “đại thụ” như Aristotle, Thánh Augustine, William Shakespeare, Charles Dickens, Fyodor Dostoevsky, Honoré de Balzac, Victor Hugo, những tác gia đặt nền móng cho văn minh phương Tây. Charles Darwin, qua công trình Origin, đã và sẽ còn thay đổi thế giới.

Box 1 – chú thích

[1] Nay là một phần của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Anh. Hội Linnean là một hội sinh học lâu đời nhất trên thế giới, danh xưng của hội lấy từ tên của nhà sinh vật học nổi tiếng người Thụy Điển Carl Linnarus.

[2] Nhiều người cho rằng Darwin ăn cắp ý tưởng của Wallace, nhưng khi xem xét bằng chứng giả thiết này không đúng. Wallace có gửi bài báo của mình cho Darwin đọc, và Darwin thấy những ý tưởng trong đó trùng hợp ý tưởng của mình nên đề nghị cả hai bài báo công bố cùng một lúc. Tuy nhiên, Darwin hơn Wallace một bậc: đó là ông có công thu thập dữ liệu và bằng chứng dồi dào để làm nền tảng cho lí thuyết của mình, còn Wallace thì chỉ nói suông. Có ý tưởng là một chuyện, nhưng phải có bằng chứng là một chuyện khác.

[3] Xem qua các bài báo và nhật kí của Darwin chúng ta thấy ông là một nhà khoa học thật sự, hiểu theo nghĩa có tư duy phân tích, cẩn thận, và phát biểu có bằng chứng. Bất cứ phát biểu nào ông cũng có bằng chứng làm cơ sở. Ngay cả sau khi phát triển một giả thuyết, ông cũng tìm bằng chứng để tự bác bỏ ý tưởng đó, hoặc tìm bạn bè phản biện dùm.

Ông thậm chí còn dùng tư duy phân tích để đánh giá lợi và bất lợi nếu lập gia đình. Trong nhật kí ông phân tích như sau: Lợi? Có một người phối ngẫu lúc nào cũng bên mình trong cuộc đời, một người bạn lúc tuổi xế chiều, và làm cho cuộc sống ý nhị hơn. Còn bất lợi? Mất tự do đi đứng theo ý mình, giảm thì giờ để đọc sách, giảm thì giờ đi thăm viếng bạn bè và bà con, phải tiêu tiền để nuôi con cháu thay vì để mua sách. Cuối cùng ông quyết định … cưới vợ. Ngày 29/1/1839 (lúc đó ông 30 tuổi) ông thành hôn với người chị họ là Emma Wedgwood (lớn hơn ông khoảng 1 tuổi). Hai người có 10 con.

Sau khi lập gia đình, ông biến cả nhà thành một trung tâm khoa học. Ông nhờ vợ đánh đàn piano cho một đám giun nghe (chứa trong chậu) để ông quan sát xem chúng có phản ứng với nhạc không. Ông báo cáo rằng không có con giun nào phản ứng với nhạc cả! Ông nhờ mấy người con ném bột trên một đàn ong để ông theo dõi đường bay của ong. Nhưng chẳng thấy ông báo cáo có đứa con nào bị ong chích hay không. Ông còn là một nhà sáng chế. Vì phòng làm việc tương đối rộng và chứa nhiều hiện vật, nên mỗi khi ông di chuyển tương đối tốn thời gian, và thế là ông gắn bánh xe vào chân ghế để tiết kiện … vài phút.


Box 2 – Vài nét phác họa về Charles R. Darwin

Sinh tử: 12/2/1809 tại hạt Shrewsbury (Anh). Tạ thế ngày 19/4/1882 tại Downe, Kent (Anh).

Gia đình: Thành hôn với người chị họ là Emma Wedgewood. Hai người có tất cả 10 con.

Học vấn: Học y khoa tại Đại học Edinburgh trước khi bỏ học và chuyển sang học văn khoa tại Christ's College thuộc Đại học Cambridge với ý định trở thành giáo sĩ.

Sự nghiệp

1831 Được Giáo sư John Stevens Henslow mời tham gia chuyến du hành trên tàu HMS Beagle đến Nam Mĩ để nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của Hoàng gia Anh.

1838-1843 Biên tập và đóng góp cho cuốn sách về khoa học tự nhiên vật và động vật học (The Zoology of the Voyage of HMS Beagle). Phát triển học thuyết lựa chọn tự nhiên.

1859 Công bố cuốn sách nổi tiếng “On the Origin of Species” (Về nguồn gốc các loại vật).

1871 Công bố cuốn sách nổi tiếng khác "The Descent of Man” “Selection in Relation to Sex”

1872 Công bố cuốn sách “The Expression of the Emotions in Man and Animals”.

Câu phát biểu nổi tiếng:

“Theo tôi, chúng ta phải ghi nhận rằng một người dù với những phẩm chất vương giả của mình … vẫn mang trên người cái dấu ấn không thể xóa bỏ của một cội nguồn cấp thấp” (Charles Darwin)

Đánh giá:

“Học thuyết tiến hóa cung cấp cho chúng ta một tầm nhìn phong phú và ngoạn mục hơn bất cứ tôn giáo nào” (Giáo sư Richard Dawkins)