Tuesday, March 31, 2009

Vitamin D và gãy xương

Hôm qua tôi bàn về chuyện "người đẹp và thông minh", nhưng có người phàn nàn rằng đề tài đó chẳng có ích gì, mà còn nhảm nhí. Nhảm khí hay không thì tôi không chắc, vì thấy họ bỏ ra cả 10 năm trời để đo IQ hàng vạn người, nên cũng muốn nói vài câu như là một entry trong nhật kí điện tử này. Đề tài đó lúc nào cũng gây chia rẽ, nên hôm nay tôi bàn chuyện thiết thực hơn: đó là chuyện vitamin D.

Mối liên hệ giữa vitamin D và gãy xương càng ngày càng “nóng” trên các diễn đàn y khoa quốc tế. Có hai phái trong sự tranh luận về lợi ích của vitamin D đến loãng xương. Một bên là những chuyên gia tên tuổi tin rằng bổ sung vitamin D sẽ làm giảm nguy cơ gãy xương. Một bên cũng gồm những chuyên gia có uy tín cao lại cho rằng bổ sung vitamin D chẳng đem lại lợi ích gì đáng kể cho xương. Nhưng cả hai phe đều nhất trí vitamin D không có hại, mà có thể đem lại nhiều lợi ích cho việc phòng chống các bệnh mãn tính khác như ung thư, tiểu đường, tim mạch, v.v…

Tuần này, một nghiên cứu mới công bố lại châm ngòi cho sự tranh luận về mối liên hệ giữa vitamin D và gãy xương. Một nhóm nghiên cứu ở Đại học Zurich và Đại học Harvard thực hiện một phân tích tổng hợp (meta-analysis) tất cả những nghiên cứu lâm sàng trong quá khứ về hiệu quả của vitamin D trong việc phòng chống gãy xương. Họ tìm được 12 nghiên cứu randomized controlled clinical trials (RCTs) với 42,279 bệnh nhân. Kết quả phân tích (khá phức tạp) cho thấy:

(a) Vitamin D giảm nguy cơ gãy xương ngoài xương đốt sống khoảng 14% (RR 0.85, 95%CI 0.77 -- 0.96).

(b) Đối với cổ xương đùi, vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 9%, nhưng không có ý nghĩa thống kê vì 95%CI dao động từ 0.78 đến 1.05.

(c) Có 9 nghiên cứu sử dụng liều lượng vitamin D cao (400 IU/ngày) và kết quả cho thấy viatmin D giảm nguy cơ gãy xương 20% (RR 0.80; 95% CI 0.72 – 0.89). Đối với cổ xương đùi, có 5 nghiên cứu, và kết quả là RR 0.82 (95%CI 0.69 – 0.97). Danh sách 9 nghiên cứu đó tôi copy lại dưới đây để làm tư liệu (quí).

Họ kết luận “Nonvertebral fracture prevention with vitamin D is dose dependent, and a higher dose should reduce fractures by at least 20% for individuals aged 65 years or older”.

Một kết luận đầy tự tin! Họ dám sử dụng chữ “should”! Lại còn “at least 20%” (tối thiểu 20%) nữa chứ! Hiếm thấy có nhóm nghiên cứu nào can đảm như thế!

Chúng tôi (tôi và Nguyên) thử phân tích lại bằng mô hình Bayesian thì thấy xác suất mà vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 20% trở lên chỉ bằng 0.44; đối với gãy cổ xương đùi, xác suất mà vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 20% trở lên chỉ 0.36. Nếu lấy tiêu chí giảm 20% để phát biểu có hiệu quả lâm sàng thì kết quả trên đây cho thấy vitamin D tuy giảm nguy cơ gãy xương, nhưng ảnh hưởng rất khiêm tốn.

Chúng tôi sẽ có một vài hàng bình luận về công trình này cho tập san Archives of Internal Medicine.

NVT

Ref: Bischoff-Ferrari H, et al. Prevention of nonvertebral fractures with oral vitamin D and dose dependency. Arch Int Med 2009; 169:551-61.

Bạn nào muốn kiểm tra xem họ phân tích đúng hay sai có thể sử dụng R để kiểm chứng số liệu dưới đây. Bảng 1 là số liệu về nonvertebral fractures; bảng 2 là hip fracture.

Nonvertebral fractures:
Lyons (2007): 202/1725 209/1715
Jackson (2006): 146/11448 186/11412
Flicker (2005): 25/313 35/312
Pfeifer (2008): 9/121 16/121
Trivedi (2003): 43/1345 62/1341
Chapuy (2002): 97/393 55/190
Pfifer (2000): 3/70 6/67
Dawson-Hughes (1997): 11/187 26/202
Chapuy (1994): 255/1176 308/1127


Hip fracture:
Lyons (2007): 112/1725 104/1715
Jackson (2006): 146/11448 186/11412
Trivedi (2003): 21/1345 24/1341
Chapuy (2002): 27/393 21/190
Chapuy (1994): 137/1176 178/1127

Mỗi bảng số liệu được liệt kê qua 4 cột. Cột 1 là tên tác giả đầu; cột 2 là năm thực hiện; cột 3 là số ca gãy xương / số bệnh nhân của nhóm được bổ sung vitamin D; cột 4 là số ca gãy xương / số bệnh nhân của nhóm placebo.

Làm thử:

library(rmeta)
library(meta)
fx.vitd = c(202, 146, 25, 9, 43, 97, 3, 11, 255)
n.vitd = c(1725, 11448, 313, 121, 1345, 393, 70, 187, 1176)
fx.control = c(209, 186, 35, 16, 62, 55, 6, 26, 308)
n.control = c(1715, 11412, 312, 121, 1341, 190, 67, 202, 1127)
nonvertfx = data.frame(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control)
meta = metabin(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control, sm="RR", meth="I")
print(meta)
metabias(meta)

# hip fx
fx.vitd = c(112, 146, 21, 27, 137)
n.vitd = c(1725, 11448, 1345, 393, 1176)
fx.control = c(104, 186, 24, 21, 178)
n.control = c(1715, 11412, 1341, 190, 1127)
hipfx = data.frame(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control)
meta = metabin(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control, sm="RR", meth="I")
print(meta)
metabias(meta) # test for bias in funnel plot
plot(meta)

Monday, March 30, 2009

Người đẹp và thông minh

Giới khoa học xã hội đã từ lâu biết rằng con người nói chung cảm nhận rằng người có sắc diện hấp dẫn là những người thông minh và giỏi giang trong công việc. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong quá khứ để xem cảm nhận này có đúng hay không, và kết quả thường cho thấy quả thật có mối tương quan thống kê giữa sự đánh giá tính hấp dẫn và đánh giá thông minh. Nhưng tại sao người ta (hay chúng ta) lại có cảm nhận này?



Đặc tính hấp dẫn là một yếu tố quan trọng trong việc chọn bạn, và có bằng chứng cho thấy những quan tâm về việc chọn bạn không phải là lí do để chúng ta nghĩ rằng người đẹp là người thông minh. Chúng ta có vài bằng chứng cho phát biểu đó:

(a) Trước hết, trẻ em trong độ tuổi mầm non cũng cảm nhận về mối tương quan giữa sắc đẹp và khả năng. Khi được hỏi các em chọn giữa hai cô giáo, một người có sắc diện dễ nhìn (hay đẹp) hơn người kia, thì phần lớn các em đều chọn cố giáo có sắc diện đẹp, bởi vì các em nghĩ rằng cô ấy có khả năng hơn và dễ thương hơn.

(b) Thứ hai, và có lẽ quan trọng hơn, là ở người lớn, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc đẹp và khả năng chẳng những hiện hữu trong mỗi giới và còn giữa hai giới nam và nữ. Không phải chỉ có đàn ông mới tin rằng phụ nữ đẹp thông minh hơn phụ nữ kém đẹp, hay phụ nữ nghĩ rằng đàn ông dễ nhìn thông minh hơn đàn ông xấu xí, mà ngay cả đàn ông cũng tin rằng đàn ông đẹp trai thông minh hơn đàn ông không đẹp trai, và phụ nữ cũng nghĩ rằng giữa họ với nhau, người đẹp thường thông minh hơn người kém đẹp.

Bởi vì trẻ em 5 tuổi không có khái niệm về chọn bạn tình, và phần lớn chúng ta là người không đồng tính luyến ái, cho nên những bằng chứng trên đây cho biết ngoài lí do chọn bạn ra, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc diện và thông minh còn chịu ảnh hưởng của yếu tốc khác.

Các nhà xã hội học và tâm lí học, có lẽ do lí do “phải đạo” nào đó, tin rằng sắc đẹp chỉ là bề ngoài da và tùy thuộc vào cảm nhận cá nhân (Người Anh có câu “beauty is in the eye of the beholder”), nên họ không chấp nhận kiểu đánh giá đẹp hay thông minh, và cho đó là sự “rập khuôn” không có cơ sở khoa học. It is a stereotype that beautiful people are more intelligent. Nhưng trong thực tế thì quả thật cảm nhận của phần đông chúng ta cũng có cơ sở khoa học đấy.

Lấy kết quả của công trình National Longitudinal Study of Adolescent Health làm ví dụ. Đây là nghiên cứu do một nhóm khoa học gia thuộc Đại học North Carolina (Chapel Hill) thực hiện trên 15,197 người với tuổi trung bình là 22. Trong nghiên cứu này, họ đo lường các chỉ số thông minh (IQ), chỉ số về sắc diện và thể diện. Sự hấp dẫn của đối tượng được đánh giá bằng một chỉ số gồm 5 giá trị (1 = rất ít hấp dẫn -- very unattractive, 2 = ít hấp dẫn -- unattractive, 3 = trung bình -- average, 4 = hấp dẫn -- attractive, and 5 = rất hấp dẫn – very attractive). Người đánh giá hoàn toàn không biết gì về chỉ số IQ. Biểu đồ sau đây cho thấy mối liên hệ giữa sắc diện và IQ.


Như có thể thấy, mối tương quan giữa sắc diện và thông minh gần như là một đường thẳng. Người được đánh giá là “rất ít hấp dẫn” có chỉ số IQ trung bình là 94.2; thấp hơn khoảng 6 điểm so với những người được đánh giá là “hấp dẫn” hay “rất hấp dẫn”.

Nhưng cả hai đặc tính hấp dẫn và thông minh có thể liên hệ với giới tính. Tính trung bình, nam có chỉ số IQ cao hơn nữ, và nữ có mức độ hấp dẫn hay lôi cuốn cao hơn nam. Do đó, các nhà nghiên cứu phải phân tích mối tương quan giữa sắc diện và IQ cho từng giới (xem 2 biểu đồ dưới đây).


Nhìn qua 2 biểu đồ này chúng ta thấy mối tương quan giữa sắc diện và IQ vẫn hiện hữu trong cả nam và nữ, nhưng không tuân theo một hàm số tuyến tính nữa. Phụ nữ “rất hấp dẫn” tính trung bình có chỉ số IQ cao hơn nữ “rất ít hấp dẫn” khoảng 6 điểm. Tương tự, đàn ông “rất hấp dẫn” có chỉ số IQ cao hơn đàn ông “rất ít hẫp dẫn” khoảng 8 điểm.

Nói tóm lại, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc diện và thông minh cũng có cơ sở thực tế. Cố nhiên, đây chỉ là những mối tương quan quần thể, chứ trong thực tế vẫn có người không hấp dẫn mà rất thông minh (cứ nhìn qua mấy nhà khoa học chúng ta ít thấy ai hấp dẫn), và ngược lại, có những cô gái rất xinh đẹp nhưng chỉ số IQ thì không mấy cao và ăn nói cũng không có duyên. Nhưng tính trung bình thì người có sắc diện dễ nhìn có vẻ có chỉ số IQ cao hơn người có sắc diện kém cân đối.

NVT

Saturday, March 28, 2009

Dự án bauxite ở Tây Nguyên

Chuyện Trung Quốc đi vòng quanh thế giới khai thác khoáng sản và năng lượng đã được thế giới quan tâm từ lâu. Một bản tin mới nhất hôm nay trên báo Úc cho biết bộ trưởng tài chính Úc bác bỏ một dự án lớn của Trung Quốc ở Úc vì lí do an ninh quốc gia.

Chính phủ Úc họ quan tâm đến an ninh quốc gia như thế, còn chính phủ Việt Nam thì sao? Có dấu hiệu cho thấy họ chẳng quan tâm. Một dự án lớn về khai thác bauxite ở Dak Nông (Tây Nguyên) với sự tham gia của các công ti Trung Quốc đang được tiến hành. Mấy tháng qua rất nhiều người lên tiếng quan tâm về tầm ảnh hưởng đến môi trường, xã hội, văn hóa, và nhất là an ninh quốc gia. Dù phần lớn phản biện mang màu sắc cảm tính, nhưng có ít nhất là hai phân tích có cơ sở thực tế và khoa học. Đại tướng Võ Nguyên Giáp dù ở tuổi gần 100 vì quá lo lắng nên đã viết một lá thư can ngăn dự án này.

Ấy thế mà hình như Chính phủ phớt lờ! Chính phủ cũng chẳng tham khảo gì người dân! Thật ra, theo tài liệu thì TBT Nông Đức Mạnh đã kí kết với phía Trung Quốc về dự án từ vài năm trước. Hình như chẳng có người dân nào biết đến sự “đi đêm” này. Và, hệ quả là Chính phủ VN đồng ý với dự án khổng lồ, đồng ý cho hàng vạn người Trung Quốc (theo như bài báo dưới đây) vào Tây Nguyên. Có câu hỏi đặt ra họ là công nhân hay lính trá hình ? Bao nhiêu năm đánh đuổi ngoại xâm, để nay rước kẻ thù về. Giới quân sự VN rất quan tâm đến sự có mặt của hàng vạn người TQ ở đây.

Hình như ít ai tin chính phủ Trung Quốc. Người Việt Nam chúng ta chắc cũng chẳng mặn mà gì với Trung Quốc, cái nước đàn anh lúc nào cũng lăm le tìm mọi cơ hội lấn chiếm mình. Họ đang làm áp lực trên biển, nay Việt Nam mời họ vào để đứng trên cái “xương sống” của mình! Đúng là không thể nào hiểu nổi người ta suy nghĩ gì!

Theo bài báo dưới đây thì Trung Quốc đem người của họ sang, họ chẳng thèm dùng / mua hàng Việt Nam. Đất nước này là của ai? Tại sao họ vào mà ngông ngênh không xem mình ra gì? Một người bạn tôi sau khi đọc tin này, anh viết: “Đầu tư Trung Quốc : Hủy diệt kinh tế VN ! Than ôi lâm nguy rồi các bạn ạ !”

NVT

====

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=308402&ChannelID=11

Thứ Bảy, 28/03/2009, 08:31 (GMT+7)
Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu

* Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào VN

TT(Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc...

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng - chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN - khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”...

Vừa đi cùng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục - vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ - công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người”. Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh - chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng VN - cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy ximăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc làm.

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy ximăng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” - ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai - viện phó Viện Kinh tế xây dựng - góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc...

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

CẦM VĂN KÌNH

Friday, March 27, 2009

“Kỹ năng mềm” cho nhà khoa học

Hồi cuối năm 2008, trong một chuyến đi nói chuyện ở VN, tôi có dịp ra Hà Nội nói chuyện ở Viện lão khoa về đề tài viết bài báo khoa học. Phạm Hiệp là người phụ trách bản tin của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội có nhã ý phỏng vấn tôi những chuyện chung quanh chủ đề này. Hôm đó, chúng tôi (Hiệp, NĐP bên Tia Sáng, và tôi) gặp nhau trong một quán cà phê nhỏ, mà NĐP và PH nói quán này là "quán tủ" của tụi sinh viên, và chắc chính vì thế mà cách thiết trí của quán cũng có tính văn hóa. Quán chỉ cách khách sạn Melia (nơi tôi ở) có vài bước đi bộ. Chúng tôi ngồi đó gần cả buổi sáng chỉ nói chuyện ... thế sự khoa học. Một kỉ niệm khó quên. Thật ra, tôi thấy Hà Nội cũng có cái nét quyến rũ của nó, nhưng còn vụ ăn uống thì chắc tôi cần phải có thời gian mới thích nghi được. Mà thôi, tôi lan man mất rồi. Mời các bạn theo dõi cuộc nói chuyện giữa chúng tôi ...

===

Kỹ năng mềm là khái niệm còn rất mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Nhà khoa học sẽ “chuyên nghiệp” và “thành công” hơn khi họ được trang bị kỹ năng này. Để hiểu rõ hơn về khia niệm này, Bản tin ĐHQGHN đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Văn Tuấn - Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc).

Trong tháng 12 vừa qua, ông có tham gia dạy một số khóa học liên quan đến các kĩ năng trình bày, viết báo cáo... cho các bác sỹ, dược sỹ tại Hà Nội. Ông có thể nói rõ hơn về khóa học này ?

Thật ra, đó chỉ là những buổi seminar về cách viết và công bố một bài báo khoa học trên các tập san y học quốc tế, và cách trình bày một nghiên cứu khoa học trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Những chủ đề này nằm trong một loạt bài tôi đã viết từ trên chục năm qua, và nay có dịp trình bày trước các đồng nghiệp trong nước.

Trong bài nói chuyện về cách viết bài báo khoa học, tôi nói về qui trình vận hành của một tập san khoa học, đằng sau quyết định đăng hay không một công trình nghiên cứu, cách cấu trúc một bài báo khoa học và trình bày dữ liệu như biểu đồ và số liệu sao cho thuyết phục, logic, và sau cùng là cách viết cũng như dùng chữ cho chính xác và hay.

Trong bài nói chuyện về cách trình bày một nghiên cứu khoa học, tôi nói về những nguyên tắc cơ bản trong việc chuyển giao thông tin khoa học đến người nghe một cách hữu hiệu, những nguyên tắc về việc chọn màu sắc sao cho thích hợp với từng loại diễn đàn, cách chọn chữ và thiết kế biểu đồ cũng như bảng số liệu sao cho gọn nhẹ nhưng nói lên được thông điệp mình muốn chuyển giao đến người nghe.

Nói tóm lại tôi chỉ nói về những kĩ năng cơ bản của một nhà khoa học. Vì có cơ duyên phục vụ trong ban biên tập của nhiều tập san khoa học trên thế giới, nên tôi hiểu được cách vận hành và làm việc của các tập san này, vì thế tôi có thể trình bày những vấn đề mà người nước ngoài họ không thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước.

Ðằng sau quyết định đăng một bài báo bao gồm những gì?

Khi bản thảo bài báo khoa học được nộp cho một tập san, tổng biên tập (editor-in-chief) đọc qua phần tóm lược (abstract), và dựa vào chuyên ngành của bài báo, sẽ giao cho một phó biên tập (associate editor) phụ trách, và người này chính là người có thẩm quyền quyết định “số phận” của bài báo. Thông thường, phó biên tập đọc qua bài báo, rồi quyết định xem có xứng đáng để gửi đi phản biện (peer review). Nếu bài báo có tiềm năng và xứng đáng, phó biên tập sẽ chọn 2 - 3 chuyên gia phản biện (phần lớn những chuyên gia này nằm trong ban biên tập của tập san). Sau 4 tuần (thời gian trung bình), các chuyên gia này gửi báo cáo phản biện cho phó biên tập. Nếu có một chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì thông thường phó biên tập sẽ gửi thư cho tác giả biết rằng tập san từ chối công bố bài báo.

Nếu tất cả chuyên gia phản biện không từ chối và yêu cầu sửa đổi, thì phó biên tập sẽ chuyển các phản biện này cho tác giả để chỉnh sửa (kể cả làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích…). Sau khi chỉnh sửa, tác giả gửi lại bản thảo mới (và kèm theo những trả lời cho các câu hỏi mà chuyên gia phản biện nêu) cho phó biên tập. Nếu phó biên tập thấy tác giả trả lời đầy đủ, thì sẽ quyết định đăng hay không đăng. Nếu phó biên tập thấy tác giả chưa trả lời đầy đủ, thì tất cả hồ sơ sẽ chuyển cho các chuyên gia phản biện một lần nữa, và chu trình bình duyệt lại bắt đầu. Thông thường, một bài báo phải qua 2 - 3 lần phản biện, nhưng cũng có trường hợp mà tác giả phải kinh qua 6 lần phản biện. Một khi bài báo đã được chấp nhận hay không chấp nhận cho công bố, phó biên tập sẽ thông báo quyết định của mình cho tổng biên tập biết. Tính trung bình, thời gian từ lúc nộp bài đến khi quyết định cho công bố tốn khoảng 6 tháng. Nhưng cũng có khi thời gian kéo dài cả 1 hay 2 năm. Cố nhiên, trong các trường hợp bài báo được đánh giá là không xứng đáng ngay thì lúc ban đầu thì thời gian đi đến quyết định chỉ trong vòng 1 tuần.

Như vậy nhà khoa học ngoài khả năng chuyên môn cần phải có những kiến thức và kĩ năng nào khác?

Bạn đang nói đến kĩ năng mềm phải không? Theo tôi thì có 2 kĩ năng mềm mà các nhà khoa học Việt Nam cần phải cải tiến và học hỏi, đó là: Kĩ năng thông tin và ngoại giao. Kĩ năng thông tin ở đây là khả năng truyền đạt thông tin khoa học đến đồng nghiệp trong và ngoài nước qua viết và nói chuyện. Viết trên các tập san khoa học quốc tế đòi hỏi những kĩ năng về tiếng Anh (vì phần lớn tập san khoa học ngày nay sử dụng tiếng Anh) và cách biện luận, mà các đồng nghiệp trong nước đều rất yếu. Ðiều này thì có thể hiểu được vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ và theo kinh nghiệm của tôi, ngay cả những người đã từng đi du học ở các nước nói tiếng Anh cũng chưa thể viết hoàn chỉnh một bài báo khoa học vì làm được việc này đòi hỏi một thời gian “cọ sát” khá lâu mới trở thành chuyên nghiệp được. Ngay cả những nghiên cứu sinh mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ cũng khó có thể viết một bài báo khoa học một cách chỉn chu.

Nói chuyện trong các hội nghị khoa học đòi hỏi những kĩ năng chẳng những về ngôn ngữ mà còn nghệ thuật. Tôi đã thấy nhiều đồng nghiệp trong nước nói chuyện trong các hội nghị khoa học quốc tế, và họ phạm phải những lỗi lầm hết sức cơ bản như chọn màu sắc không thích hợp, chọn font chữ sai, sử dụng quá nhiều hoạt hình màu mè, diễn giải không thông và logic, cách nói quá đơn điệu, không biết cách trả lời người chất vấn, v.v.… Có người nhầm lẫn giữa trả lời chất vấn và lên lớp, nên biến bài nói chuyện thành một buổi trao đổi thiếu tính chuyên nghiệp (nếu không muốn nói là khôi hài)!

Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.

Có nhiều nhà khoa học trong nước nghĩ rằng họ công bố kết quả nghiên cứu và thế là xong. Nhưng khoa học ngày nay cạnh tranh ác liệt, cạnh tranh để được ghi nhận. Trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào cũng có nhiều người cùng làm, và việc tương tác với đồng nghiệp để quảng bá nghiên cứu của mình là một kĩ năng rất cần thiết để thành đạt trong khoa học ngày nay. Tôi thấy đây cũng là một điểm yếu nhất của nhiều đồng nghiệp trong nước vì họ hầu như chẳng có ý niệm gì về lobby trong khoa học.

Lobby trong khoa học là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Ông có thể nói rõ hơn?

Nói ra ý này tôi cũng nghĩ làm nhiều đồng nghiệp ngạc nhiên, vì ít ai nghĩ rằng trong hoạt động khoa học mà cũng có lobby và vận động. Chúng ta có câu "hữu xạ tự nhiên hương", với hàm ý nói nếu công trình nghiên cứu của mình tốt thì đồng nghiệp sẽ trích dẫn và ghi nhận. Nhưng rất tiếc là ngày nay lí tưởng đó khó tồn tại trong thực tế khoa học, ít ra là trong ngành y học mà tôi đang làm. Trong khoa học, luôn có nhiều nhóm cùng làm nghiên cứu về một đề tài, nhưng tại sao có những nhà khoa học hay công trình khoa học được ghi nhận và nổi tiếng hơn các đồng nghiệp và công trình khác. Ngoài lí do về chất lượng và ý nghĩa của nghiên cứu, tôi nghiệm ra một phần của câu trả lời là kĩ năng ngoại giao của nhà khoa học. Do đó, khi nói lobby ở đây, tôi muốn nói đến những kĩ năng làm cho công trình nghiên cứu của mình được ghi nhận, được đề cập và trích dẫn, và qua đó gây ảnh hưởng trong chuyên ngành.

Muốn cho công trình của mình được nhiều người biết đến thì nhà khoa học phải biết cách “chào hàng” ý tưởng và công trình của mình trong các diễn đàn khoa học, phải biết tận dụng tất cả cơ hội (kể cả tranh thủ các tập san) để quảng bá nghiên cứu của mình đến cộng đồng khoa học. Những bài báo tổng quan (review), bình luận (commentary), chương sách… là những cơ hội lí tưởng để giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình đến đồng nghiệp quốc tế.

Nhưng để được mời viết những tổng quan hay bình luận thì cá nhân nhà khoa học phải có một vị thế uy tín trong môi trường khoa học và để tạo ra một vị thế đó, ngoài thành tích khoa học ra, cần phải có kĩ năng ngoại giao. Nói cách khác, nhà khoa học phải biết và tranh thủ ủng hộ của các nhà khoa học đàn anh, các nhóm nghiên cứu có tiếng trên thế giới để được nằm trong quĩ đạo của những người “elite” (tinh tú, xuất sắc - Bản tin ÐHQGHN).

Ông đánh giá kĩ năng của các nhà khoa học Việt Nam như thế nào?

Theo tôi thì câu trả lời là: Chưa. Các đại học nước ta chưa chuẩn bị tốt cho nghiên cứu sinh về các kĩ năng thông tin. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị, hội thảo, khoa học trong nước và có thể nói rằng hầu hết các nghiên cứu sinh, thậm chí cả các giáo sư, thiếu kinh nghiệm trình bày một nghiên cứu khoa học cho mạch lạc, chưa am hiểu những qui ước trong việc soạn thảo powerpoint và nhất là chưa nói tiếng Anh thông thạo. Như tôi nói, tiếng Anh thì có thể thông cảm được vì nó không phải là tiếng mẹ đẻ, nên nếu có vài sai sót thì chắc chẳng ai phàn nàn. Nhưng một nhà khoa học cấp giáo sư mà trình bày một nghiên cứu quá sơ sài, quá cẩu thả, và bất chấp qui ước khoa học thì khó mà chấp nhận được. Trong thực tế, tôi đã thấy (và báo chí cũng có lần phản ảnh) về các nhà khoa học hàng đầu nước ta khi nói chuyện trong hội nghị quốc tế làm cho chủ tọa cứ lắc đầu. Do đó, tôi nghĩ những kĩ năng cơ bản như kĩ năng thông tin cần phải được đưa vào chương trình học bắt buộc (compulsory subject) cho sinh viên đại học. Trong khi chưa có những chương trình giảng dạy như thế, tôi nghĩ chúng ta có thể tổ chức nhiều khóa học theo dạng workshop cho các đồng nghiệp trong nước để chúng ta nhanh chóng làm quen với “luật chơi” khoa học ở ngoài.

Thế còn ở Ðại học New South Wales nơi ông đang làm việc, người ta tổ chức bồi dưỡng những kĩ năng này cho các nhà khoa học như thế nào?

Ở Ðại học New South Wales và Viện Garvan, chúng tôi có những khóa học chỉ chuyên dạy về cách viết một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ, cách viết một đơn xin học bổng, cách trình bày một nghiên cứu khoa học cho nghiên cứu sinh. Tôi cũng từng tham gia giảng dạy và soạn tài liệu về cách viết một bài báo khoa học, nên qua đó cũng có thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước. Như vậy, muốn tiếp cận trình độ quốc tế, các nhà khoa học và các nhà quản lý đại học cần phải quan tâm đặc biệt đến kĩ năng mềm.

Theo ông, các đại học Việt Nam cần phải làm thế nào để các nhà khoa học có thể học hoặc tự học để nâng cao những kĩ năng này?

Ông bà ta có câu “Không thầy đố mày làm nên”. Nói đến “kĩ năng” là nói đến thực hành, và thực hành thì khó mà tự học được. Những bài giảng, kể cả bài giảng về cách viết bài báo khoa học, tràn ngập trên internet, nhưng không phải có những bài giảng đó là có thể viết một bài báo khoa học được. Bất cứ kĩ năng nào cũng cần phải học và tiếp cận với những người có kinh nghiệm.

Qua làm việc thực tế với các bạn trong nước, tôi thấy cái khó khăn lớn nhất là các đại học Việt Nam chúng ta thiếu những người có kinh nghiệm về các kĩ năng mềm này, đơn giản vì nhiều giáo sư và nhà khoa học nước ta chưa từng công bố các nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Tuy ngày nay các đại học nước ta cũng có một số nhà khoa học được đào tạo từ nước ngoài, nhưng khả năng độc lập mà họ có thể công bố một công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế vẫn còn rất hạn chế. Do đó, chỉ có một cách hữu hiệu nhất là mời các chuyên gia nước ngoài về trực tiếp giúp trang bị các kĩ năng mềm này cho các nhà khoa học trong nước.

Một kinh nghiệm mà tôi thấy cần học từ các nước láng giềng như Thái Lan và Nhật là ở một số đại học lớn tại các nước này, người ta có hẳn một hay hai người ngoại quốc nói tiếng Anh chuyên làm nghề biên tập khoa học (scientific editor) cho trường. Khi nhà khoa học soạn xong một bản thảo, họ trực tiếp làm việc với các chuyên gia này để hoàn chỉnh bản thảo trước khi gửi đi nộp cho một tập san khoa học. Tôi thấy đây cũng là một mô hình thực tế có thể giúp nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.

===


Một số nguyên tắc khi đặt tựa đề cho bài báo khoa học

1. Nên cố gắng đặt tựa đề với một thông điệp mới. Làm được như thế rất dễ gây sự chú ý của người đọc. Ví dụ: “A novel relationship between osteocalcin and diabetes mellitus”, ở đây chữ novel có tác dụng gợi ra một cái mới và làm cho người đọc thấy thích thú.

2. Không nên viết tựa đề theo kiểu phát biểu (statement). Khoa học không có gì là bất biến và “sự thật” hôm nay có thể sai trong tương lai. Do đó những tựa đề như “Smoking causes cancer” nó chẳng những cho thấy sự ấu trĩ hay ngây thơ trong khoa học của tác giả mà còn làm cho người đọc cảm thấy rất khó chịu.

3. Không bao giờ sử dụng viết tắt trong tựa đề bài báo. Mỗi công trình nghiên cứu thường tập trung vào một vấn đề chuyên sâu nào đó, và nếu chúng ta sử dụng viết tắt thì chỉ những người trong ngành mới hiểu, còn người ngoài ngành không hiểu và đó là một thiệt thòi cho nghiên cứu của mình.

4. Không nên viết tựa đề theo kiểu nghịch lí. Những tựa đề nghịch lí là “Yếu A ảnh hưởng xấu đến X, nhưng tác động tốt đến Y”. Những tựa đề kiểu này có thể làm cho người đọc khó chịu, và có khi làm lẫn lộn vấn đề của nghiên cứu.

5. Tựa đề không nên quá dài hay nhiều chữ. Tựa đề có nhiều chữ làm khó đọc và làm cho người đọc… dễ quên. Thông thường, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề dưới 20 chữ. Có nhiều bài báo mà tựa đề có khi chỉ một chữ!

Một số nguyên tắc khi trình bày Power Point báo cáo khoa học

1. Nên dùng font chữ không có chân và Sans Serif như Arial hay Tahoma để khán giả dễ đọc. Những font chữ có chân như Times New Roman hay Courier làm cho khán giả tốn nhiều thời gian hơn để theo dõi.

2. Nên dùng cỡ chữ từ 18 trở lên, vì chữ nhỏ hơn làm cho người có tuổi khó đọc, còn chữ quá lớn thì tốn nhiều không gian.

3. Tránh viết toàn bộ bằng chữ in hoa vì rất khó đọc, và gây ấn tượng là diễn giả đang la hét!

4. Nên chọn chữ tối trên nền sáng cho giảng dạy hay nói chuyện trong giảng đường nhỏ.
5. Nên chọn chữ sáng trên nền tối cho các báo cáo khoa học và trong các giảng đường rộng. Tránh chữ màu xanh lá cây trên nền màu đỏ vì dễ gây "ngộ độc màu" cho người theo dõi.

6. Không nên cho âm thanh chạy theo chữ. Không nên sử dụng hoạt hình quá nhiều, vì nó gây ấn tượng diễn giải là… trẻ con.

7. Không nên nhồi nhét quá nhiều thông tin và hình ảnh trong một slide, vì nó làm giảm sự chú ý và gây lẫn lộn cho diễn giả.

8. Không nên đọc slide! Ðọc slide gây ấn tượng “trả bài” và làm cho người nghe không có hứng thú theo dõi.

Một số yếu tố làm cho người nghe chán

Kết quả nghiên cứu trên 159 khán giả về những yếu tố làm cho người nghe cảm thấy chán và sao lãng vấn đề.

1. Diễn giả đọc slide (60%)
2. Chữ quá nhỏ (51%)
3. Câu dài và không có gạch đầu dòng (48%)
4. Chọn màu khó đọc (37%)
5. Chữ chạy lòng vòng, hoạt cảnh nhiều (25%)
6. Dùng âm thanh đệm vào chữ (22%)
7. Biểu đồ, hình minh hoạ quá phức tạp (22%)

Phạm Hiệp (thực hiện) [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 216, 2009)
http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1483/C1636/2009/03/N24427/?1

Phạm Duy và Ngày trở về

Bây giờ đôi khi ngồi điểm lại danh sách (vâng, tôi có hẳn một danh sách) những ca khúc mà tôi ưa thích, tôi mới phát hiện rằng gần 80% là những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi mê nhạc của ông từ lúc còn học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó. Trong một chuyến đi picnic, tôi cầm đàn hát những bài dân ca trong cuốn nhạc [tôi nhớ] màu xám, kích thước cỡ nửa tờ giấy A4 bây giờ. Hát say sưa. Chắc hồi đó tôi muốn gây ấn tượng cho mấy cô bạn học cùng trường chăng? Hồi đó tôi không để ý nhạc sĩ nào cả. Sau này tôi mới phân biệt nhạc của Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Lê Thương, Thẩm Oánh, v.v… và sau nữa là Từ Công Phụng và Vũ Thành An. Không có một cuốn sách nào về Phạm Duy mà tôi bỏ qua cả. Bốn tập hồi kí của ông tôi “nuốt” hết. Nói tóm lại, tôi là fan của ông nhạc sĩ mà tôi không ngần ngại nói là hạng thiên tài. Càng nghe nhạc của ông tôi càng thán phục tính phong phú và kĩ thuật điêu luyện trong sáng tác.

Sau này ra hải ngoại tôi có dịp gặp người nhạc sĩ tôi ngưỡng mộ tại nhà ông ở Midway City, California. Lúc đó (năm 1998) ông cũng già yếu lắm rồi, nhưng vẫn hăng say nói về ý định làm tập nhạc Kiều. Bẵng đi một thời gian sóng gió, ông quyết định về sống bên Việt Nam. Anh em biết ông đều mừng cho ông, vì ông đã bày tỏ ý định về VN, nếu tôi không lầm, từ những năm trong thập niên 1980s! Nhưng ông đi đến đâu cũng đều gây dư luận. Người chống kẻ bênh. Nhưng những người không ưa ông hình như chỉ dựa vào huyền thoại và lời đồn đại chứ không dựa vào thực tế. Thật ra, tôi cũng chẳng biết bao nhiêu lời đồn đại là thật và bao nhiêu là giả tạo. Nhưng tôi thích nhạc của ông chứ còn cá nhân ông thì ăn nhằm gì. Tôi thông cảm là nghệ sĩ ông cũng có thể “trăng hoa” đôi chút, nhưng đó là chuyện cá nhân của ông.

Rồi mấy hôm nay tôi thỉnh thoảng theo dõi những tin liên quan buổi trình diễn nhạc ngày 27/3 tại Hà Nội đến nhạc sĩ Phạm Duy. Đọc bài sau đây thấy mừng cho ông đã mãn nguyện được trở về làm một show nhạc trang trọng ngay tại nơi ông sinh ra và ra đi. Hi vọng rằng nhạc của ông sẽ thổi một luồng gió mới vào cái không khí nhạc chẳng mấy hay ho hiện nay ở trong nước.

NVT

===

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/03/838470/

Nhạc sĩ Phạm Duy: Ngày xưa tôi là đứa con hư ...

Có cảm giác rằng sâu thẳm trong ông vẫn rạo rực cái mà người ta gọi là “tình dân tộc”. Và cuối đời, cái “tình” ấy đã lôi kéo ông trở về quê nhà. Ông có muốn chia sẻ với lớp trẻ VN bây giờ về “tình dân tộc”?

- Tuổi thanh niên bây giờ có những ưu tư vì đất nước không giống chúng tôi ngày còn trẻ. Tôi không dám cả gan khuyên họ điều gì cả. Vấn đề là, trong địa hạt của tôi, khi tôi hát tình dân tộc thì lúc đó tình dân tộc đã lên rất lớn. Từ lúc chúng ta trong vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhờ có cuộc cách mạng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng lúc đó thì tất cả mọi người mới đi theo. Tình dân tộc không phải do tôi đánh thức, mà do hoàn cảnh xã hội, chúng tôi bị lôi cuốn theo. Văn Cao, tôi hay Trịnh Công Sơn đều thấu hiểu điều đó.

Bài tình tự đầu tiên của tôi là "Tình ca", lúc đó mới có bản sắc quốc gia, lúc đó mới thấy người VN khác người Trung Quốc, Ấn Độ, người Tây phương... ở tiếng nói, cảnh vật và con người. Trong khi mọi người hãy còn đi vào tân nhạc với những tình khúc viết về tình yêu đôi lứa, tôi đã thấy đây là cơ hội độc nhất để tôi khóc cười với dân tộc tôi.

Tôi tin người Việt Nam luôn có tự hào dân tộc. Tôi xa quê hương lâu rồi, không theo dõi kỹ hết được âm nhạc Việt Nam sau này. Nhưng tôi vẫn biết có những ca khúc như Quê hương (Nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân). Nghe bài hát đó tôi nghĩ có người đồng cảm với mình. Nếu không có t"ình tự dân tộc" thì không thể sống.

Ông có đồng cảm với đồng nghiệp trẻ tài ba của ông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, về một “vòng tay lớn” thật sự của lớp trẻ không? Làm gì để có cuộc “nối vòng tay lớn” đó? Nhiều người hay so sánh ông và NS Trịnh Công Sơn. Bản thân ông thấy Trịnh giống và khác ông như thế nào?

- Trịnh Công Sơn không khác gì tôi hay Văn Cao. Chúng tôi thao thức về tình tự dân tộc, thấy vòng tay cần nối lại trong lúc đảo điên. Tôi không thể tưởng tượng tôi còn sống đến bây giờ, để thấy ngày vòng tay lớn kết nối lại với như cuộc "trở về". Tôi nghĩ tôi về đây không phải vì mục đích cá nhân, không phải hoài bão riêng của một người. Nhiều người muốn trở về Việt Nam nhưng vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, nên muốn về lắm mà chưa về đựơc.

Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ có tài, có được sự nghiệp rất lớn. Nhiều người đã nói về sự thật đó rồi, tôi không cần nhắc lại làm gì. Nếu so sánh giữa chúng tôi với nhau thì có khác nhau: Trịnh Công Sơn sáng tác tuỳ hứng, còn tôi thì làm việc có chương trình hẳn hoi. Nếu không có chiến tranh thì không có Trịnh Công Sơn như người nghe được biết với những "Ca khúc da vàng". Tôi thì, khi chưa có chiến tranh, mới đi từ Hà Nội vào Nam tôi đã ý thức ngay phải làm nhạc về tình quê hương, tình dân tộc. Theo kháng chiến, tôi đã nói được vinh quang của dân tộc cũng như khổ đau của dân tộc. Tôi làm việc có chương trình, có hoạch định, chứ không phải nổi hứng lên thì làm. Tôi đúng hay sai, tôi hay hoặc dở thì tôi không dám "tự kiêu", nhưng tôi là thế.

Tôi là chứng nhân của thời đại, rất tự nhiên, lúc làm thì trong đầu không nghĩ sẽ bán được nhạc của mình. Tôi theo đúng câu châm ngôn "Âm nhạc không bao giờ nuôi được người làm ra nhạc". Tôi biết khai thác những gì tôi đã làm ra nhưng tôi cũng nghèo thôi. Người ta là triệu phú còn tôi chỉ trăm phú thôi.

Bài hát "Tình ca" đã được rất nhiều người yêu thích hơn nửa thế kỷ qua, ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của nó và nó có nằm trong kế hoạch sáng tác như ông vừa nói không?

- Về bài hát "Tôi yêu tiếng nước tôi" sáng tác năm 1953, thì không cần ai khen vì chính tôi cũng phải khen tôi rồi. Hồi đó tôi đã có ý thức sáng tác một bài hát về bản sắc dân tộc. Ta đã đánh Tây bao lâu rồi, đã có Chính phủ rồi thì phải có cái gì là bản sắc quốc gia. Khi làm thì không ngờ lại thành công như vậy, dài dòng văn tự mà lại được yêu thích như vậy.

Ông đã từng nhận xét về NS Văn Cao là "Thấp bé hơn tôi nhưng tài hoa thì hơn tôi rất nhiều". Ông có thể kể một kỷ niệm nào đó về thời gian ông và NS Văn Cao sống ở Hải Phòng, cái thời mà ông đã kể lại là ông thì ăn nói văng mạng còn Văn Cao thì lại ăn nói nhỏ nhẹ...

- Tôi học được ở ông ấy rất nhiều. Ông ấy làm thơ hay lắm, còn tôi không làm được thơ. Ông ấy vẽ tranh đẹp lắm, ông ấy vẽ tôi bức chân dung đẹp lắm nhưng tôi làm mất rồi, thật tiếc. Ông ấy làm Thiên Thai, Trương chi tới 99 khuông nhạc, còn tôi chỉ ba mươi mấy khuông là hết rồi. Tôi lúc nào cũng kính trọng ông ấy.

Không những sống chung ở Hải Phòng mà nhữngnăm 1945, 1946, trước ngày Toàn quốc kháng chiến, tối đến chúng tôi kéo nhau đi chơi, tôi thường đùa chúng tôi là những con vạc sống về đêm. Rất nhiều kỷ niệm, như tôi với ông ấy cùng yêu một người con gái chẳng hạn. Thời đó tôi còn hung hăng lắm, ông ấy điềm tĩnh và đứng đắn hơn tôi nhiều.

Tôi có viết rất nhiều về Văn Cao. Tôi là người đầu tiên nói được tất cả những gì ông ấy đã làm trong nhóm của Hoàng Quý, những bài hưóng đạo sinh như Gió núi tôi phải tìm kiếm rất công phu mới được. Ông ấy viết Thăng Long hành khúc, Lịch sử ca... vậy ông ấy đi trước hay ngang Lưu Hữu Phước?

Thưa Nhạc sĩ Phạm Duy, người ta ví ông như con chim bách thanh, nhạc của ông đa dạng, phong phú. Hơn nữa ông có khoảng thời gian sáng tạo rất dài... Sau mọi thử nghiệm, ông ưng ý nhất với đề tài nào, phong cách nào, giai đoạn nào? Ông có dự định nào trong thời gian tới không?

- Tôi có may mắn là ham sống và sống dai, sống qua nhiều thời khác nhau. Có những nhạc sĩ chỉ có một thời, không chuyển sang thời khác được. Tôi có may mắn là rất tham lam, không chịu đứng một chỗ. Chạy chỗ này chỗ nọ, luôn luôn bị bà tiên âm nhạc ám ảnh. Lúc nào tôi cũng nghĩ tôi chưa có vợ, kể cả đến khi có vợ và 8 con cũng vẫn bị bà tiên âm nhạc hành hạ. Tôi chủ truơng ngay khi bắt đầu cầm đàn đi hát thì phải phản ánh lại xã hội tôi sống. Tôi "cover" được nhiều tâm trạng, tình cảm của con người. Tôi có tình ca cho sinh viên thị thành, sinh viên trường làng, tình yêu chiến sĩ, tình vợ chồng, rồi tình hờ...

Tất cả nhạc của tôi, dù dưới hình thức tân ca thì cũng là tình ca, tình người. Tôi không thể phê bình nhạc nào của tôi cả, việc đó xin dành cho người thưởng thức.

Thời gian tới, tôi dự định "làm thinh". Con người ta phải có lúc làm, lúc nghỉ. Tôi làm thinh 10 năm nay vì mải theo đuổi nàng Kiều của Nguyễn Du. Khi tôi dự định trở về, tôi có nhiều cảm hứng, làm 10 bài Hương ca, nói về quê hương năm 2000 thì sẽ khác. Đã phổ biến được 5 bài rồi.

Người ta thường nói: có tài có tật. Vậy ông có TẬT nào không? Yêu nhiều có phải là xấu không vì thật sự đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim...

- Tôi có nhiều tật lắm. Ăn tham, chơi cũng hết sức dữ dội. Nhưng đó là dĩ vãng, giờ tôi ngoan rồi. Ngày xưa tôi là người con hư.

Tôi không giản dị như câu nói "đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim" đâu. Tình yêu của tôi khác, tình yêu là đẹp nhất, không có tình yêu thì không có cuộc đời, chuyện yêu đương là tuyệt vời chứ không phải là xấu. Nếu yêu đương mà không gìn giữ sẽ loạn, nên phải có "Khổng Tử" ngồi trên vai chỉ huy mình, chứ thật sự ngoài tình yêu ra thì với vợ con tôi có trách nhiệm, với tất cả người tình tôi rất kính trọng. Không phải người đàn bà nào tôi cũng chơi bời đâu, không hợp duyên thì chia tay thôi. Tôi đã kết luận "người tình tuyệt vời", yêu một người như yêu vạn người, yêu vạn người như yêu một người.

Căn bản âm dương nên trên đời phải có đàn ông, đàn bà. Đàn ông, đàn bà suốt đời đi kiếm nhau đó là điều hết sức thiêng liêng. Đó là tật xấu hay là nết tốt?

Tôi gặp và yêu người tình không phải chỉ vì "tật dục". Nhưng vì cái gì thì tôi không cắt nghĩa được.Nếu cắt nghĩa được thì tên tôi là "Phạm Giới" rồi, may mà không cắt nghĩa được.

Rất nhiều khán giả yêu bài hát Ngày xưa Hoàng Thị, xin hỏi, người con gái trong bài hát này có phải là mối tình đầu của ông không?

- Cô gái đó là người tình của Phạm Thiên Thư chứ không phải người tình của tôi. Phạm Thiên Thư làm bài thơ nói đến người còn gái đẹp, không có cái tên hoa mỹ mà tên cô là Hoàng Thị Ngọ. Tôi thích lắm. Bài đó trong sáng, gợi cho tôi vài ba kỷ niệm cũ. Ông ấy làm những bài thơ hay đến thế, tôi phải phổ nhạc thôi. Bài này tôi sáng tác năm 1970, tôi và ông ấy gặp nhau trong nhà thương khi cùng đến gặp một người bạn. Nhờ tôi mà ông ấy có ý nghĩ viết 10 bài Đạo ca, như 10 bức tranh về đạo. Trước tôi có nhiều thành kiến, gặp ông ấy tôi cởi mở hết.

Trở về Việt Nam, ông đã đi lại "con đường cái quan" của mình chưa? Có bao giờ ông nảy ý định làm tiếp một "Con đường cái quan" của ngày hôm nay không?

- Tôi đã đi 2 lần rồi. Nếu xét lại thì 30 năm ngoại quốc, sự đi của tôi được Nguyên Sa ghi là "kỷ lục thế giới", đi khắp nơi chỉ còn Bắc cực và Nam cực vì lạnh quá không đi được. Con đường cái quan không chỉ từ Bắc vô Nam, nó là mơ ước phá tan ranh giới để đi và tôi cũng thực hiện được rồi.
Nhưng thôi, giờ 90 tuổi rồi, không đủ sức làm "con đường cái quan" nữa. Ai cũng sợ cái chết, tôi có 5, 7 bài nói về cái chết. Tôi viết ra hết sức thản nhiên: Những gì sẽ mang theo vào cõi chết, Ru người hấp hối, Tạ ơn đời, Chủ nhật buồn...

Xin cảm ơn nhạc sĩ về cuộc trò chuyện thú vị này

Wednesday, March 25, 2009

Loãng xương ở đàn ông

Bài này in bên Canada, nhưng chẳng hiểu sao có nhắc đến tôi. Công trình về ung thư tiền liệt tuyến (PC) và gãy xương thật ra công bố từ năm 2007, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người nhắc đến. Có lẽ vì chuyện đàn ông ít ai nói, nên giới báo chí tìm cách khai thác.

Nói đến PC làm tôi nhớ đến hai bài trên New England Journal of Medicine cho thấy truy tìm PC chẳng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân. Đây là 2 nghiên cứu khác, một lần nữa, cho thấy truy tầm ung thư ở đàn ông có thể gây tác hại hơn là giúp họ. Thế nhưng, kĩ nghệ truy tầm ung thư vẫn phát triển phây phây. Tôi sẽ quay lại chủ đề này trong một bài khác.

GL Andriole, et al. Mortality Results from a Randomized Prostate-Cancer Screening Trial. NEJM 2009; 360:1310-1319.
url: http://content.nejm.org/cgi/content/full/360/13/1310

FH Schröder, et al. Screening and Prostate-Cancer Mortality in a Randomized European Study. NEJM 2009; 360:1320-8.
url: http://content.nejm.org/cgi/content/full/360/13/1320

NVT


http://www.readersdigest.ca/health/cms/xcms/update-on-osteoporosis_2143_a.html

Update on Osteoporosis

Researchers are making some important discoveries about osteoporosis, including the fact that one in three men over 60 are affected by the disease.

The latest findings about this disease are looking at the connection between diet, over the counter heartburn drugs and how we are still not getting enough calcium in our diets.

Acid vs. Calcium

You might already know that you need plenty of calcium and vitamin D to keep your bones strong. But new research suggests there is another dietary move that is just as important. A diet heavy in carbs and low in fruits and veggies may lead to bone loss, according to a new study from Tufts University in Boston. It’s a matter of chemistry. When you digest carbs, the process turns your innards slightly acidic. And a high-acid environment leaches calcium from bones, says Tufts University researcher Bess Dawson-Hughes. In contrast, fruit and vegetables create a skeleton-friendly alkaline environment.In her study, Dawson-Hughes says an alkaline supplement lowered the amount of calcium that volunteers excreted by 20 percent. That supplement isn’t currently available outside the lab but, you can get the same benefit by tweaking your diet, she says.

Good Substutions

Include at least two vegetable or fruit servings at every meal and eat no more than two daily servings of carbs such as bread, cereal and pasta. To keep your bones even stronger, substitute acid-producing foods with more alkali-boosting foods. Substitute:

* Pasta for potatoes
* Fizzy drinks for fruit juices
* Meat and poultry for tofu
* Beer for wine
* Peanuts for raisins

Drug Update

Good news for osteoporosis sufferers locked into taking weekly or monthly pills: Aclasta is a new bisphosphonate that’s administered by once-a-year injections. It’s just as effective at preventing hip and spine fractures as other bisphosphonates. You should consult with your doctor before taking this drug and be aware of the Health Canada advisory regarding this new drug.

Heartburn Medication Alert

Medications used for heartburn, such as Losec and Nexium, can be a problem if taken long term. In a University of Pennsylvania study, patients who used these for more than a year had a 44 percent higher risk of hip fracture. Dr Yu-Xiao Yang, author of the study, says the drugs may interfere with the absorption of dietary calcium and vitamin B12, both of which are needed to stop bone loss.

“It’s important to carefully weigh the risks and benefits. If a patient is truly benefiting from the drug, they should use the lowest effective dose,” he says. “And ensure they’re getting adequate calcium and vitamins.”

Connection to Prostate Cancer

One in three men over 60 are affected by osteoporosis and, if they suffer a hip fracture, they are more likely than a woman to die because of it.

Now, research from Sydney’s Garvan Institute shows that men who develop prostate cancer face a 50 percent higher risk of fracture, which increases to nearly a doubled risk if they are receiving androgen deprivation therapy (ADT). Interestingly, most of the men who developed prostate cancer started out with a higher-than-average bone mineral density (BMD).

“Obviously the higher BMD did not protect them against fracture,” says Associate Professor Tuan Nguyen, who led the study. “Men with prostate cancer should be checked for osteoporosis, particularly if they are being treated with ADT.

Online Calculators

Getting enough calcium is the key to preventing fractures, but how do we know we’re getting enough? To find out if your diet’s lacking, try the Calcium Calculator from Informed Health Online.

Over 60 and want to find out your risk of suffering a fracture in coming years? Check out the Garvan Institute’s new Fracture Risk Calculator.

Tuesday, March 24, 2009

Giải thưởng

Hôm nay là một ngày vui của tôi, hay nói chính xác hơn là cho nhóm của tôi. Thông thường cuối hội nghị quốc tế, người ta trao các giải thưởng. Giải cao quí nhất là công trình xuất sắc nhất trong năm (outstanding research award), đến giải cho nhà nghiên cứu trẻ, giải sự nghiệp dành cho nghiên cứu sinh sau khi xong tiến sĩ có thể đi thực hành một chỗ khác (gọi là Jack and Christine Martin award), v.v…

Một postdoc trong nhóm của tôi vừa chiếm giải công trình xuất sắc nhất trong năm, kèm theo $1,000 tặng thưởng. Một nghiên cứu sinh khác của tôi chiếm giải thưởng sự nghiệp với $15,000 để sau khi tốt nghiệp tiến sĩ cô ấy có quyền đi bất cứ lab nào trên thế giới học hỏi thêm. Cả hai đều là người Việt.

Mấy năm gần đây nhóm của tôi thường chiếm giải thưởng trong các hội nghị tổ chức bên Mĩ và Âu châu, nhưng chưa bao giờ chiếm giải trên “sân nhà”, và điều này làm tôi hơi … mất kiên nhẫn. Đến nay mới chiếm giải trên sân nhà! Chậm còn hơn không.

NVT

vertebroplasty và kyphoplasty

Mấy hôm nay, bận chuyện “cơm áo gạo tiền”, mà cụ thể là phải đi “phó hội”, nên không có dịp lên mạng ghi nhật kí. Hội nghị về xương do hai hội ANZBMS và IBMS tổ chức diễn ra từ ngày thứ Bảy (21/3/09) đến nay 25/3/09, với khoảng 1000 người trên khắp thế giới tề tụ tại Sydney để bàn thảo các vấn đề liên quan đến xương. Có lẽ nhiều người ngạc nhiên hỏi xương có gì mà nhiều chuyện để bàn như thế. Một đồng nghiệp trong nước có lần nói với tôi là khi anh ta bày tỏ ý định theo đuổi nghiên cứu về xương thì bị một người thẩy nói: xương có gì mà nghiên cứu? Anh bạn tôi ngạc nhiên về nhận xét này, nhưng cũng không muốn cãi với người cao tuổi mà thiếu thông tin. Câu chuyện thật vui!

Tôi hân hạnh tiếp xúc vài bạn từ Hà Nội và Sài Gòn sang đây dự hội nghị, nhưng không có dịp nói chuyện nhiều. Mấy năm gần đây, càng ngày càng có nhiều tên Việt trong danh sách tác giả công trình nghiên cứu. Khoảng 18 năm trước khi tôi mới bắt đầu vào ngành, chỉ có 1 hay 2 “Nguyen”, nhưng nay thì chẳng những có “Nguyen”, mà còn có “Tran”, “Pham”, “Lam”, “Ho”, “Hoang”, v.v… Năm nay có một cô nghiên cứu sinh tên Lam với công trình về OsVDR rất thú vị, nhưng thái độ của cô ta gây cho tôi một ấn tượng tốt. Cô ta tỏ ra là một người lanh lẹ, hoạt bát và khẳng định trong việc bảo vệ luận điểm của mình. Nói cách khác, cô ta tin vào chuyện cô ta làm, và tôi nghĩ đó là một điểm rất tốt của một người làm khoa học.

Trong hội nghị có nhiều bài giảng hay từ các chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Chẳng hạn như hôm qua có một diễn giả từ Mayo Clinic (Mĩ) trình bày kết quả độc đáo của một nghiên cứu về điều trị gãy xương đốt sống bằng phẫu thuật. Theo tôi, nghiên cứu này cũng độc đáo. “Câu chuyện” có thể tóm lược như sau: Đối với các bệnh nhân bị gãy xương đốt sống theo dạng vertebral compression fractures (VCF) thì có 2 phẫu thuật không mấy xâm phạm: đó là vertebroplasty kyphoplasty. Tôi không biết dịch sang tiếng Việt mình là gì nên để y như thế. Với phương pháp vertebroplasty, họ bơm xi măng vào chỗ xương bị gãy. Còn với phương pháp kyphohplasty, họ dùng kim để cho một cái bong bóng vào chỗ xương bị gãy để làm cho hình dạng xương giống như bình thường, rồi sau đó họ bơm xi măng vào và lấy bong bóng ra.

Phương pháp nào tốt hơn? Giới phẫu thuật vẫn còn tranh cãi gay gắt về câu hỏi này. Người nào có kinh nghiệm với phương pháp nào đó thì họ nghĩ phương pháp đó tốt hơn, và nhạo báng người làm với phương pháp khác. Để trả lời câu hỏi phương pháp nào tốt hơn, các chuyên gia tại Mayo Clinic làm một nghiên cứu độc đáo. Họ chia bệnh nhân ra làm 3 nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm 1 được điều trị bằng vertebroplasty, nhóm 2 với kyphoplasty, và nhóm 3 là … placebo. Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên làm sao họ có thể điều trị phẫu thuật bằng giải phẫu giả (placebo)? Họ giải thích thế này: bệnh nhân được gây mê, họ cũng mổ nhưng chỉ nhấn dao xuống dưới da, rồi làm bộ lấp lại như là mổ thiệt (bệnh nhân có biết gì đâu) rồi cũng cho thuốc uống khi xuất viện.

Nếu vertebroplasty hay kyphoplasty có hiệu quả lâm sàng, chúng ta kì vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy hai nhóm này có tỉ lệ bình phục cao hơn nhóm placebo (nhóm chứng). Nhưng kết quả rất bất ngờ. Sau 3 tháng theo dõi, 3 nhóm đều bình phục như nhau. Hoàn toàn không có khác biệt nào giữa 3 nhóm cả.

Có nhiều cách diễn giải kết quả này. Những người tiến hành nghiên cứu thì diễn giải rằng phương vertebroplasty hay kyphoplasty đều có hiệu quả, vì rõ ràng là giảm đau, bệnh nhân đi lại được. Nhưng nếu so sánh với nhóm placebo thì rõ ràng cả vertebroplasty và kyphoplasty đều chẳng có gì hay ho cả!

Bài học về khoa học mà tôi thấy rất quí báu là bất cứ nghiên cứu nào cũng cần nhóm chứng, bởi vì không có nhóm chứng rất khó mà diễn giải kết quả ra sao. Trước đây, tôi cũng thấy nhiều nghiên cứu ở Việt Nam, nhất là những nghiên cứu liên quan đến phẫu thuật, đều không có nhóm chứng. Thật ra, phần lớn chỉ là những “exercise” (làm bài tập) chứ không phải study = nghiên cứu, bởi vì người ta chỉ lấy số liệu từ bệnh nhân sẵn có, rồi phù phép với các phân tích để cho ra một vài kết quả. Xin nói thêm rằng khi tôi nói như thế, tôi không có ý nói rằng làm exercise là vô dụng; ngược lại, những exercise như thế cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin trong khi chưa làm được nghiên cứu với nhóm chứng đàng hoàng.

Tôi vẫn bận tâm không hiểu tại sao ủy ban y đức Mayo Clinic phê chuẩn nghiên cứu đó. Dựa vào lí giải đạo đức nào hay bằng chứng khoa học gì mà họ cho phép bác sĩ điều trị bệnh nhân bằng cách mổ … dỏm? Ngoại trừ họ nghĩ rằng cả vertebroplasty và kyphoplasty đều vô dụng như không điều trị nên xác suất 50/50 và đó là lí do để phê chuẩn cho công trình nghiên cứu.

Ảnh hưởng giả dược (placebo effect) là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị. Một cái nhìn thiện cảm, một cái sờ tay thân mật, một lời nói cảm thông, v.v… đều có hiệu quả lâm sàng đáng kể. Nhiều người đã nhận xét như thế. Tôi diễn giải nghiên cứu này là do ảnh hưởng placebo. Nếu điều này đúng thì tất cả những ca giải phẫu vertebroplasty và kyphoplasty trong quá khứ cũng chẳng khác gì so với các phương pháp của giới mà nhiều bác sĩ mỉa mai gọi họ là lang băm.

NVT

Monday, March 16, 2009

Cuộc chiến không cân sức giữa giới học giả VN và TQ

Đọc bài này (“’Cuộc chiến’ không cân sức giữa giới học giả VN và TQ”) làm tôi nhớ đến câu chuyện “công bố quốc tế” mà tôi (và vài người khác) đã nêu ra từ lâu trong hoạt động khoa học ở Việt Nam. Sự thật là các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chẳng có ai chú ý, vì đại đa số đều chỉ ta nói cho ta nghe, tức là chỉ công bố trên các tạp chí tiếng Việt. Các tạp chí này đều có đặc điểm chung là chất lượng thấp. Vì chất lượng thấp, nên chẳng ai quan tâm. Vì chẳng ai quan tâm, nên những vấn đề của Việt Nam chẳng ai biết đến. Và, thế là chúng ta thua thiệt dài dài ...

Cái khó khăn là Việt Nam không có những nhà nghiên cứu chịu công bố những lí luận và nghiên cứu của họ một cách nghiêm chỉnh trên các tạp chí quốc tế. Trong mấy mươi năm qua, con số bài báo khoa học về xã hội học từ VN chỉ đếm đầu ngón tay. Mới đây, có vài bài từ một số nhà nghiên cứu trẻ từ Việt Nam, nhưng họ viết theo quan điểm của ... Mĩ. Chúng ta chỉ giỏi Mẹ hát con khen hay, giỏi “nói với nhau”, mà không nói cho người ngoài nghe. Trên báo chí và truyền thông đại chúng, các nhà khoa học ta nói rất nhiều và có khi cũng rất hay, nhưng khi xem xét lại họ có công bố gì trên các tập san quốc tế hay không thì con số gần như là zero. Họ rất nổi tiếng ở nhà, nhưng vô danh ở ngoài. Chẳng biết tình trạng này có phù hợp với câu “khôn nhà dại chợ” không?

Chẳng hạn như chuyện chất độc da cam, ảnh hưởng lớn như thế và nghiêm trọng như thế, mà suốt mấy mươi năm trời chỉ có 4 bài báo khoa học từ Việt Nam, và tất cả 4 bài đều do người Mĩ đứng tác giả đầu! Các nhà khoa học Việt Nam nói oang oang là họ có nghiên cứu, nhưng hỏi công bố ở đâu thì họ chỉ mấy tạp chí ở Việt Nam! Do đó, khi ra tòa, thì tòa chỉ đơn giản tuyên bố “không có bằng chứng”, và thế là vụ kiện thất bại. Hết thất bại này đến thất bại khác. Thất bại không phải vì chúng ta không có chính lí, mà là không có bằng chứng khoa học. Báo chí Việt Nam đăng rất nhiều bài phóng sự đầy cảm tính (đó là nghề của giới báo chí), đưa ra những hình ảnh (chẳng dính dáng gì đến chất độc da cam), thì làm sao thuyết phục được dư luận quốc tế?

Rồi đến chuyện tranh chấp với TQ về vụ Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta cũng chỉ nói cho chúng ta nghe, chứ tài liệu khoa học về chuyện này trên quan điểm Việt Nam trên trường quốc tế thì rất hiếm. Các nhà-gọi-là nghiên cứu xã hội học của Việt Nam thật ra chẳng có tiếng vang gì trên thế giới, vì họ chỉ nói cho người mình nghe. Do đó, nếu một ngày nào đó, chúng ta ra tòa quốc tế với “bọn” TQ, chúng ta ở thế yếu (cũng y chang như vụ chất độc da cam). Hô hào “Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam” có thể làm cho chúng ta cảm thấy có “hào khí”, nhưng không thể thuyết phục được ai. Chúng ta cần lí lẽ chính đáng, cần dữ liệu khoa học, cần dữ liệu lịch sử. Chúng ta có tất cả những dữ liệu đó, nhưng hình như chưa ai “xử lí” dữ liệu một cách có hệ thống và công bố cho dư luận quốc tế biết.

Bài này nói "Việt Nam yếu thế", nhưng tôi nghĩ không hẳn vậy. Cần phân biệt giữa chất lượng và số lượng. TQ có thể có nhiều học giả lên tiếng trên trường quốc tế, nhưng lí lẽ của họ có thể chẳng có chất lượng gì. Do đó, chúng ta cần biện luận với chất lượng cao. Trong khoa học, một bài báo có chất lượng cao trên một tạp chí có uy tín có giá trị gấp trăm lần bài báo xoàng trên các tạp chí dỏm.

Chúng ta cần một thế hệ nghiên cứu xã hội học mới giúp cho Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế và có tiếng nói trên trường quốc tế về những tranh chấp giữa nước ta và nước khác.

NVT

http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6361/index.aspx

"Cuộc chiến" không cân sức giữa giới học giả VN và TQ

Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.

Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.
Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc "chiếm sóng"

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.

Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

Việt Nam… yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)...

Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.
Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.

Đoan Trang

Những tựa đề báo chí buồn cười

Đọc mấy tựa đề tin tức hôm nay làm tôi thấy buồn cười quá. Chẳng hiểu sao giới phóng viên bây giờ có vẻ cẩu thả quá.

Bài thứ nhất có tựa đề “14 du khách Nga lên máy bay đặc chủng về nước”, tôi tự hỏi “máy bay đặc chủng” là máy bay gì? Tôi nghĩ viết “chuyên cơ y tế” thì chắc có nhiều người hiểu hơn, vì chuyên cơ hàm ý nói đến các trang bị trên máy bay cho mục tiêu y tế.

Còn bài này, cũng trên Vietnamnet, “Việt Nam- một trong số ít nước châu Á tăng trưởng dương”, lại càng buồn cười hơn. Nếu chúng ta so sánh tỉ lệ phát triển kinh tế giữa hai năm thì có ba tình huống xảy ra: giảm, không thay đổi, và tăng. Cụ thể hơn, gọi p1 là chỉ số phát triển của năm 2008, và p2 là chỉ số phát triển của năm 2009. Hiệu số d = p2 – p1 phản ảnh xu hướng thay đổi giữa 2 năm. Nếu giảm thì chắc chắn d phải là số âm; nếu không thay đổi thì d phải là 0; và nếu tăng thì d phải cao hơn 0 (tức dương). Thành ra, nói “tăng trưởng dương” là thừa.



NVT

Sunday, March 15, 2009

Ông Động “boléro”

Một câu chuyện cảm động về một người mù nuôi con đi học đến nơi đến chốn. Về Việt Nam lần nào tôi cũng gặp nhiều cảnh như mô tả trong bài này. Ngay cả ở dưới quê, thỉnh thoảng đi chợ làng, ngồi quán uống cà phê, tôi cũng thấy có người mù đàn ca. Người ca sĩ mù tôi gặp năm ngoái khoảng 50 tuổi, quần áo xốc xếch, tay cầm đàn guitar điện, miệng ngậm kèn, có một giọng ca rất khỏe (chắc chắn hơn những ca sĩ karaoke trong các DVD ca nhạc bên Bolsa). Ông vừa ca vừa bán kẹo kéo (người bán kẹo chắc là bà xã ông). Cũng như ông Động trong bài dưới đây, ông tuyệt đối không xin xỏ ai. Tôi thật sự kính trọng những người này. Nhưng cái khó là chẳng biết ai thật và ai giả.

Hình như sở trường của các ca sĩ mù là nhạc boléro. Không biết có phải vì họ biết được “thị trường” loại nhạc này trong giới bình dân, hay vì thể loại nhạc này chuyên chở được những tâm sự mà họ muốn gửi gắm cho mọi người, nhưng dù sao đi nữa, thì việc đem lời ca tiếng hát làm vui đời hay gửi gấm tâm sự mình cho đời cũng đều đáng quí.

Thú thật, dù thỉnh thoảng vẫn nghe loại nhạc boléro, nhưng tôi chưa bao giờ là fan của loại nhạc này (cũng như tôi chưa bao giờ là fan của Khánh Ly khi chị ta ca nhạc TCS; nghe chị ấy ca một hay hai bài thì được, nhưng nghe một loạt 5 bài thì chịu thua). Ấy thế mà khi nghe người mù ca loại nhạc này, tôi lại thấy thích! Có lần ở một quán cà phê dưới quê, tôi yêu cầu một ca sĩ mù hát bài “Trường cũ tình xưa”, và ông đáp ứng yêu cầu tôi một cách tuyệt vời. Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ / Nhiều nét đổ thay tường mái rêu mờ / Bên hiên hằng giờ tìm những bạn xưa / May ra có còn đôi đứa / Vẫn yên vui sống đời học trò ... Bâng khuâng đợi chờ người sao chẳng đến / Hỏi lá hỏi hoa chỉ thấy im lìm / Cây dương đầu trường còn khắc hàng tên / Hoa leo phũ phàng đan kín / Tiếng ve ru nghe gợi buồn thêm … Bạn cũ xa rồi, có người về đất buôn xuôi / Năm ba đứa bạt phương trời / Hai thằng chờ đầu quân năm tới … Ve ơi, hát gì điệu nhạc lâm ly Khóc người biền biệt. Chỉ với cái đàn điện, và nhiều nhạc cụ tự chế (kể cả loa) ông thể hiện ca khúc làm tôi gần khóc, vì cách đó chỉ vài bước là trường tiểu học tôi theo học từ hồi còn nhỏ.

NVT

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=306272&ChannelID=89

Thứ Hai, 16/03/2009, 04:25 (GMT+7)

Ông Động “boléro”

TT - Những khúc nhạc buồn boléro dường như lạc lõng giữa những âm thanh ồn ào của thực khách. Đêm nay, ông Động hát khá nhiều nhưng xấp vé số trên tay ông sao vẫn còn nhiều.
Đêm dần về khuya, ông vẫn say sưa hát như một nghệ sĩ boléro đường phố đích thực. “Kiếp này xin làm người hát rong, để cho đời không chê trách…” - giọng ông trở nên nghẹn lại khi chợt nhớ ngày mai đến thời hạn đóng học phí cho con rồi...

Đã đi gần hết cuộc đời nhưng ông Nguyễn Vũ Động vẫn chưa một lần nhìn thấy mặt vợ và những đứa con thân yêu của mình. Hai mắt mù lòa đã đẩy ông vào cuộc sống của bóng đêm. Gần 30 năm làm nghề hát rong, ông vật lộn với một cuộc đời không ánh sáng để chắt chiu từng đồng tiền bán vé số nuôi đàn con khôn lớn, vào đại học.

“Nốt nhạc” cuộc đời

Cứ đến hạn đóng học phí cho con là người tôi như lên cơn sốt. Nhiều lúc kẹt tiền không biết mượn ai. Mù lòa như tôi chẳng có ai dám cho mượn. Chỉ ráng lo hát, bán vé số mà lo cho con. Nhiều khi tôi thấy mình như một bóng ma của cuộc đời. Nhưng cuộc đời đã sắp đặt và ban tặng cho mình đàn con ngoan thì mình phải ráng sống cho đàng hoàng”, ông nói.

Ngày nào cũng vậy, cứ chạng vạng tối người ta đã thấy ông có mặt ở quán bánh xèo 46A Đinh Công Tráng, quận 1, TP.HCM bắt đầu cho một đêm hát rong, bán vé số mưu sinh của mình. Mỗi đêm ông đi bộ không dưới hàng chục cây số từ các quán ăn, quán nhậu trên con đường này, vòng qua các quán ăn trên đường Pasteur rồi quanh xuống bờ kè Trần Khánh Dư, lại trở về các quán nhậu đường Nguyễn Công Trứ, Hải Triều… Hầu như hằng đêm ông về tới phòng trọ khi trời đã gần hừng sáng.

Mới lên 4 tuổi, căn bệnh đậu mùa đã cướp mất ánh sáng của đời ông. Nhà nghèo, cha mẹ đông con, cậu bé mù được một người quen tốt bụng của gia đình đưa từ vùng quê Bình Thuận lên Sài Gòn học trường dành cho người mù. “Tôi may mắn được cho học tại Trường dạy nam sinh mù, sau đó học chữ nổi ở Trường Lasan. Năm 1972 thì đậu tú tài 2 rồi học môn tâm lý học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn được một năm thì miền Nam giải phóng” - ông kể.

Việc học dở dang, ông không biết phải làm nghề gì kiếm sống nên đành lần mò bỏ phố về lại vùng quê Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận. Chàng trai khiếm thị quay về quê cuốc đất trồng cải. “Cứ cuốc một nhát thì phải đưa chân đá một cái cho đất vỡ ra. Nhiều khi đá hụt vì không thấy đường”, ông nhớ lại. Một cô gái tình cờ đi ngang thấy lạ, hỏi ra mới biết ông bị mù. Không ngờ lại có duyên nợ. Cô gái ấy sau này trở thành vợ ông.

“Căn nhà” hai vợ chồng ông ở là một cái chòi giữa đồng không mông quạnh, cách con đường làng nhỏ khoảng 3km bờ ruộng ngoằn ngoèo. Dưới gầm giường quanh năm cỏ và lúa mọc um tùm, rắn vào tận giường để ở.

Khó khăn trăm bề, ông đi cuốc đất mướn nhưng mù lòa không ai thuê. Thêm đứa con nữa chào đời. Cuộc sống cơ cực quá nên ông không còn lựa chọn nào khác là trở lại Sài Gòn. May mắn có người bạn học cũ ở trường dạy nam sinh khiếm thị ngày trước cho ngủ nhờ qua đêm, còn ban ngày ông đi bán vé số dạo kiếm tiền gửi về cho vợ nuôi con.

Mỗi tháng về thăm nhà một lần là ông lại ứa nước mắt khi nghe hai con nhỏ kể chuyện phải đi bộ một mình vài cây số đến trường mẫu giáo. Giữa đường bị trẻ em cùng lứa ăn hiếp, bị đánh thường xuyên và bị giễu cợt chỉ vì cái tội “cha nó bị mù”.

Ông khóc rồi khuyên con nếu thương cha thì phải cố gắng chịu đựng mà lo học. “Nhất định cực khổ mấy cũng phải chấp nhận để nuôi đàn con khôn lớn, ăn học thành tài”, ông tự hứa với lòng như vậy. Mỗi ngày ông chỉ ăn một lon gạo và 2.000 đồng dưa leo với muối để tiết kiệm tiền gửi về lo cho con.

Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đã ban cho, ta cám ơn trời dù sống thương đau…”, giọng ca trầm buồn của ông Động vừa cất lên khiến dãy phòng trọ tồi tàn trở nên im ắng và sang trọng lạ thường. Ông bảo: “Làm nghề này lúc người ta xua đuổi thì buồn lắm. Nhưng con người ta đều có lòng tự trọng. Khách không đồng ý thì mình rút lui liền. Quán nào chủ cho vào thì chúng tôi tri ân nhiều lắm. Mình chỉ hát phục vụ và mời gọi mọi người mua vé số ủng hộ, chứ tuyệt đối không bao giờ nhận tiền bố thí hay xin xỏ. Làm nghề gì cũng phải có lòng tự trọng của mình”.

“Mỗi khi gặp khách thích văn nghệ mời hát thì tôi vui lắm. Tôi hát suốt đêm cũng được. Tôi mê những bản nhạc và điệu nhạc boléro trầm buồn như chính cuộc đời mình” - ông kể. Có lẽ vậy mà bạn bè còn gọi ông là ông Động “boléro”. Thỉnh thoảng gặp khách “sộp” mời hát cả chục bài, rồi biếu ít tiền thù lao bồi dưỡng. Sáng hôm sau nhất định ông sẽ mua cái gì đó gửi về cho con. Khi thì cặp sách, khi thì bộ quần áo. “Hạnh phúc nhất là khi lo xong mọi khoản chi tiêu cho mình và học phí cho con, gom được ít đồng gửi về quê cho các con ăn một bữa tưng bừng”, ông hồ hởi, khoe.

“Con là ánh sáng đời cha”

Niềm vui lớn nhất của đời ông là các con ông đều học rất giỏi. Cô con gái thứ hai Nguyễn Vũ Trúc Vũ vừa tốt nghiệp đại học loại giỏi khoa công nghệ thực phẩm của Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, và cũng vừa mới thử việc tại một công ty cổ phần trên đường Cao Thắng, quận 10.
Trúc Vũ nổi tiếng là học sinh giỏi từ lớp 1-12, từng giành giải ba kỳ thi giỏi tiếng Anh cấp tỉnh, thi tốt nghiệp phổ thông cả năm môn đều trên 9 điểm. Còn lên đại học Vũ đã giành được học bổng Rencontres du Vietnam dành cho sinh viên nghèo vượt khó.

Người con trai đầu lòng của ông là Nguyễn Vũ Lê Vũ cũng mới tốt nghiệp Trường cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng, vừa được ký hợp đồng làm việc tại Công ty Toyota Đông Sài Gòn với mức lương 1,2 triệu đồng/tháng. Cô con gái thứ ba là Nguyễn Vũ Xuân Vũ đang học kế toán tại Trường ĐH Bình Dương. Nguyễn Vũ Ánh Vũ, người con gái thứ 4, đang học lớp 12 Trường THPT Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

Còn cô con út Nguyễn Vũ Vi Vũ cũng đang là học sinh lớp 9 của trường này. Ông bảo Vi Vũ là niềm hi vọng lớn nhất của ông khi cháu là học sinh giỏi từ lớp 1-9. “Tôi mong con gái út sẽ đậu vào Đại học Y khoa nên sẽ tiếp tục hát rong, bán vé số cho đến khi nào cháu tốt nghiệp đại học mới thôi”, ông đầy hi vọng nói.

Thương cha mù lòa, đi bán vé số cực khổ, ngoài giờ học các con lớn của ông tranh thủ đi làm thêm gia sư phụ cha lo học phí, trang trải việc học hành. Khi đã ra trường có việc làm, hai con lớn của ông đề nghị cha thôi bán vé số để các con phụng dưỡng. Nhưng ông nhất định không chịu: “Cha còn khỏe thì còn đi hát, bán vé số nuôi tiếp mấy đứa em tụi con học lên ĐH. Tụi con thương cha thì làm việc tốt, phụ cha lo cho em là tốt rồi. Các con là ánh sáng đời cha mà”.

“Ba là niềm tự hào của tụi em. Nếu không có ba thì không biết cuộc đời của tụi em bây giờ sẽ ra sao nữa. Cả đời ba hát rong khổ cực chỉ để tụi em được nên người”, Lê Vũ và Trúc Vũ bật khóc khi nói về cha mình. Nếu có một ước mơ thì các con của ông đều nói chỉ mong cho ba mình được về quê sống với mẹ vì ông cũng đến tuổi thất thập cổ lai hi rồi.

“Bang chủ cái bang”

Ông Động nói: “Tôi còn khỏe thì còn đi hát dạo, bán vé số nuôi con nên người” - Ảnh: Nguyệt Biều
Dãy phòng trọ ở căn nhà 2C/D9 cư xá Cửu Long, phường 22, quận Bình Thạnh nơi ông Động cư ngụ đã trở thành “làng mù boléro” của Sài Gòn khi có đến năm người mù sống bằng nghề hát rong, bán vé số hằng đêm tại các quán ăn. Mỗi căn phòng trọ chỉ rộng chưa tới 9m2, chật chội nhưng ấm áp tình bạn. Ông Nguyễn Vũ Động được bạn bè mù gọi vui là “bang chủ cái bang” vì ông là người đàn anh luôn đứng ra cưu mang, giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ.

Mỗi sáng thức dậy ông luôn gọi bạn bè ngồi lại, khi cùng nhau uống ly trà, hỏi han, chia sẻ với từng người để nếu có chuyện hữu sự thì giúp đỡ. Khi thì ông cho bạn bè túng thiếu vay ít tiền mà ông dành dụm đóng học phí cho con để trang trải cuộc sống lúc khó khăn. Lúc lại đứng ra vận động những người cùng cảnh ngộ góp tiền giúp “đồng nghiệp” đau ốm. Ông cũng truyền dạy miễn phí ngón đàn, lời ca cho khá nhiều “đồng nghiệp” cùng cảnh ngộ mới vào nghề.

NGUYỆT BIỀU

84 tuổi vẫn đạp xe đi dạy tiếng Anh


Một câu chuyện đẹp làm sao! Một ông giáo làng, 84 tuổi, vẫn cọc cạch đạp xe (không phải xe Honda nhé) đi dạy tiếng Anh cho học trò quê. Đọc xong bài này tôi cứ tưởng tượng cảnh thầy giáo Anh đạp xe trên con đường làng, băng ngang qua những hàng bông bụp, hàng dừa mé sông, để lên lớp cho đám học trò mắt to há hốc nghe. Tôi chợt ước gì khi về già mình có một công việc như ông cụ này: dạy tiếng Anh cho bọn con cháu trong làng.

NVT


===

ThầyAnh, 84 tuổi


http://dantri.com.vn/c25/s25-313456/84-tuoi-van-dap-xe-di-day-tieng-anh.htm


84 tuổi vẫn đạp xe đi dạy tiếng Anh


(Dân trí) - Hơn 70 tuổi ông mới cắp sách đi học tiếng Anh. Sau 3 năm miệt mài, ông lấy được bằng B và bằng C tiếng Anh “hết sức ngon lành”. Ở tuổi 84, ông vẫn đạp xe đi dạy ngoại ngữ cho lũ học trò nhỏ ở Mỏ Cày, Bến Tre.

Gặp ông, chúng tôi quá đỗi bất ngờ khi hiển hiện trước mắt là một ông già 84 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn rất mạnh khỏe, nhanh nhẹn và đặc biệt có trí nhớ tốt cũng như đôi mắt còn rất sáng.

Ông Anh vẫn còn nhớ như in những năm tháng tuổi thơ và quá trình đầy khó khăn đến với cái nghề dạy học của mình. Ông Anh kể, từ nhỏ ông đã đi học một chương trình học do người Pháp dạy và cho đến năm 1943 ông tốt nghiệp bằng thành trung tiếng Pháp. Sau đó đi học bằng tú tài nhưng do tình hình lúc bấy giờ khó khăn nên ông không học được Đại học. Tuy nhiên ông vẫn tiếp cận được một số sách báo, kiến thức từ một số người thân quen khác.

Năm 1945, ông được đi học lớp cán bộ tuyên huấn tỉnh ủy Bến Tre và sau đó tham gia kháng chiến đến năm 1954. Lúc này có việc đưa lực lượng đi Bắc chiến đấu nhưng do ông có vợ và 2 con nhỏ nên ông không đi và năm 1955 ông bắt đầu đi dạy học. Ông Anh cho biết, đây là mốc rất quan trọng cho nghề nghiệp của mình lúc đó và cả sau này. Vì lúc này ông cũng là một cán bộ bí mật nhưng được dạy học công khai. Năm 1968 ông liên lạc lại được với cách mạng vì trước đó đã mất liên lạc với lý do an toàn cho ông. Lúc này ông tham gia vào Hội nhà giáo bí mật của thị xã Bến Tre.

Từ đó đến năm 1969, ông vừa dạy học nhưng cũng vừa tự học và ông thi đậu vào Đại học Văn khoa Sài Gòn rồi học Đại học và sau đó tốt nghiệp thì chuyển sang dạy môn Văn cấp 3. Trong giai đoạn 1969-1973, ông là Hiệu trưởng của trường cấp 3 Thạnh Phú - Bến Tre. Năm 1975-1990, ông tiếp tục dạy học và sau đó thì nhà nước cho nghỉ hưu ở tuổi 65, lãnh lương hưu một lần là 7 chỉ vàng (tương đương khoảng 1 triệu 400 đồng tiền thời đó).

Sau khi về hưu, ông Anh về làm vườn cùng vợ để nuôi con cái ăn học. Ông Anh có tất cả 8 người con đều học hết lớp 12. Nhưng do hoàn cảnh còn rất khó khăn cho nên chỉ có 3 người học lên tiếp Cao đẳng và hiện giờ là những giáo viên cấp 2.

Còn riêng ông Anh thì ông bắt đầu đi dạy kèm cho nhiều học sinh vào năm 1995. Ông mở lớp dạy tiếng Anh vỡ lòng (vì trước đó dù ông học tiếng Pháp là chính nhưng ông cũng được học 2 năm tiếng Anh nên ít nhiều ông cũng biết tiếng Anh) tại nhà và cho vài đứa trẻ trong xóm.

Ông Anh tâm sự: “Mình cũng phải nghiên cứu giáo án dạy sao cho bọn trẻ tiếp nhận nhanh nhất. Mình dạy cũng là để noi gương tự lực, yêu nghề, biết chữ nghĩa thì phải gởi lại cho lớp trẻ sau này chứ già rồi chết mang xuống mồ uổng lắm”.

Ông Anh dạy lớp vỡ lòng tiếng Anh cho đến năm 1999 thì ông lại đi học thêm tiếng Anh. Lúc bấy giờ, ông cũng đã 74 tuổi nhưng “sáng ông làm thầy giáo, tối làm học trò” trong suốt 3 năm trời. Tối nào ông cũng đạp xe gần 10 cây số từ nhà ở xã Tân Phú Tây (Mỏ Cày) đến Trung tâm ngoại ngữ Bến Tre (thị xã Bến Tre) để học tiếng Anh.

Ông cười nói: “Lúc đó, nhiều thầy cô giáo và nhiều người đến học đáng tuổi con cháu của tôi rất bất ngờ khi thấy một ông già hơn 70 tuổi nhưng vẫn còn có thể đi học”. Sau 3 năm “miệt mài kinh sử” ông Anh cũng lấy được bằng B và bằng C tiếng Anh “hết sức ngon lành” ở cái tuổi mà “không biết ngày mai ra sao”.

Hiện giờ, ông Anh đang dạy cho gần 20 em học sinh lớp vở lòng, lớp 6, lớp 8, lớp 9 môn tiếng Anh ở các xã Phước Mỹ Trung, Tân Phú Tây. Ông cho biết, lâu lâu cũng dạy cho các em cấp 3 nhưng số này là rất ít vì thời gian rất hạn chế. Ông cũng cho biết thêm, dạy cho các em nhưng mình cũng thu chút ít tiền học phí để lo cho tuổi già.

Khi chúng tôi hỏi về sức khỏe ở cái tuổi hơn 80, ông Anh bộc bạch là ông thường xuyên tập thể dục để giữ gìn sức khỏe và từ ngày hành nghề dạy học thêm cho đến nay ông chưa một lần bị ốm đau hay tuổi già hành hạ những khi trái gió trở trời. Quả thật, ông Anh còn rất khỏe, mắt còn sáng để đọc rành rọt từng câu chữ một bài báo nào đó, ông vẫn còn rất nhanh nhẹn khi đi xe đạp đây đó. Ông cho biết, thời gian của ông hiện giờ là “rất kín” vì phải dạy nhiều chỗ nên từ 6g30 sáng cho đến 19g tối hàng ngày là không thể gặp ông ở nhà.

Nhiều em học sinh từng học tiếng Anh với ông giờ cũng có rất nhiều người thành công như có em đang học Đại học Sư phạm Đồng Tháp, Đại học Cần Thơ… Những em này ông Anh thường dạy từ lớp vỡ lòng cho đến cả cấp 3 môn tiếng Anh.

Ông tâm sự, còn khỏe thì còn đi dạy, chừng nào đi không nổi thì thôi chứ ông nhất quyết không chịu “gác kiếm” nghề dạy học của mình. Nhiều học trò của ông cho biết, ông rất ít khi bỏ dạy và nếu có nghỉ thì đa số là do các em có việc riêng nên xin ông nghỉ.

Không chỉ dạy học, ông Anh còn là một “nhà thơ”. Sau khi về hưu, ông cũng làm thơ khá nhiều nói về quá trình đến với nghề dạy học, rồi luyến tiếc những ngày tháng đã qua, rồi những việc thế sự ở đời. Thơ của ông cũng được đăng trên các tạp chí văn nghệ huyện, tỉnh Bến Tre. Và đương nhiên sự nghiệp giáo dục được ông đặt lên hàng đầu như trong bài thơ “Giã biệt” của ông có đoạn: “Về dưới mái tranh dừa mát rượi / Nâu sồng, thanh đạm vậy mà vui / Sống nghĩa là cho, cho nhân nghĩa / Cho mầm non thêm nhánh thêm chồi”. Đó cũng là mong muốn của ông Anh, nhưng ở cái tuổi 84 thì không biết ông còn có thể “cho…” đến khi nào? Một tấm lòng giáo dục rất đáng được trân trọng.

Ông cho biết, hiện ông đang làm hồ sơ để xin được cấp trợ cấp như cho một giáo viên về hưu nhưng vẫn chưa được xã xem xét.

Friday, March 13, 2009

Một vụ "Madoff" trong y khoa: Lại một ngôi sao y khoa rơi rụng!

Lại một ngôi sao y khoa rơi rụng!

Giáo sư Scott S. Reuben, 50 tuổi, là một chuyên gia và giám đốc bộ môn gây mê của Trung tâm Y khoa Baystate (bang Illinois, Mĩ), và trường Y thuộc Đại học Tufts. Ông là một “ngôi sao” trong chuyên ngành gây mê, với những công trình nghiên cứu giảm đau sau phẫu thuật. Ông đã công bố 72 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san y khoa hàng đầu trong ngành gây mê như Anesthesiology, Anesthesia and Analgesia, Journal of Clinical Anesthesia, v.v… Do đó, không ngạc nhiên khi thấy những công trình nghiên cứu này gây tiếng vang và ảnh hưởng đến chuyên ngành gây mê ở Mĩ.

Một trong những lĩnh vực nghiên cứu ông theo đuổi và có ảnh hưởng lớn là “trường phái điều trị đa phương” bằng cách sử dụng nhiều thuốc chống đau để giảm tối đa những phẫu thuật mang tính xâm phạm. Từ năm 2000, bằng các nghiên cứu của mình, ông thuyết phục các bác sĩ giải phẫu chấn thương chỉnh hình sử dụng các thuốc như Celebrex, Vioxx, và Bextra để giảm dau (thay vì sử dụng NSAIDS như trước đó). Ông còn cho rằng phối hợp các thuốc trên và thuốc can thiệp hệ thần kinh (neuropathic agents) có hiệu quả cao hơn thuốc mô phỏng theo thuốc phiện (opioids). Có người cho rằng nhờ những nghiên cứu của Reuben mà những thuốc giảm đau như Celebrex, Vioxx có thị trường hàng tỉ đô-la mỗi năm.





GS Scott S. Reuben

Giới khoa học xem đây là một trường hợp gian lận khoa học lớn nhất trong lịch sử y khoa Mĩ. Thật vậy, hiếm thấy trong lịch sử y khoa có một nhà khoa học nào ngụy tạo số liệu trong một thời gian dài như thế, và nhờ những ngụy tạo đó mà “leo” đến chức giáo sư y khoa! Chẳng những ngụy tạo dữ liệu, giáo sư Reuben còn ngụy tạo cả … tác giả. Theo giáo sư Evan Ekman (chuyên gia phẫu thuật chấn thương chỉnh hình ở Columbia) cho biết tên của ông xuất hiện trong 2 bài báo của Reuben, nhưng ông Ekman chẳng biết gì cả! Thật là hi hữu!

Còn nhớ trước đây, vào năm 2004, tiến sĩ Hwang woo-suk tuyên bố rằng ông đã thành công tạo ra dòng tế bào gốc từ phôi thai nhân bản, đem lại biết bao hi vọng cho bệnh nhân nan y, nhưng đến cuối năm 2005, qua nhiều tháng điều tra chúng ta biết rằng ông chỉ ngụy tạo dữ liệu! Năm ngoái, cũng ở Hàn Quốc, giáo sư Kim Tae kook cũng bị phát giác là ngụy tạo dữ liệu và phân tích dữ liệu trong hai công trình công bố trên tập san Science vào năm 2005 và Nature Chemical Biology vào năm 2006.
Giả tạo dữ liệu là một vi phạm nghiêm trọng về đạo đức khoa học, bởi vì nó làm sức mẻ niềm tin giữa các nhà khoa học với nhau, và giữa công chúng và nhà khoa học. Trong khi làm nghiên cứu, nhà khoa học thu thập dữ liệu, xử lí dữ liệu theo những phương pháp chuẩn mà cộng đồng khoa học chấp nhận, và công bố những kết quả phân tích đó trong một bài báo khoa học. Khi nộp bài báo khoa học cho một tập san, không ai có quyền chất vấn dữ liệu đó giả tạo hay không (vì làm như thế là một xúc phạm lớn), do sự tín nhiệm giữa các nhà khoa học với nhau. Trong thực tế, cũng có nhà khoa học sai sót trong quá trình thu thập và xử lí dữ liệu, nhưng đó là những sai sót mang tính bất cẩn, vô ý thức. Còn giả tạo số liệu theo giả thuyết của mình đặt ra không phải là sai sót, mà là một tội phạm. Tội phạm mà Gs Reuben phạm phải còn nghiêm trọng hơn, vì uy tín của ông và những ảnh hưởng mà nghiên cứu của ông gây ra trong chuyên ngành. Quan trọng hơn là những ảnh hưởng này liên quan đến bệnh nhân, và do đó, ông phạm thêm một tội khác: vi phạm y đức. Điều này chẳng khác nào cố ý điều trị bệnh nhân bằng một liệu pháp kém hiệu quả chỉ để thỏa mãn ý muốn và giả thuyết cá nhân. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy những người phạm tội trong khoa học đều bị xử phạt nặng.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Ở VN chưa có trường hợp gian lận khoa học dưới hình thức giả tạo số liệu được phát hiện, nhưng điều này không có nghĩa là các nhà khoa học nước ta đều "thánh thiện" cả. Chợt nhớ đến vấn đề nghiên cứu về chất độc da cam, một nhà nghiên cứu Mĩ nhận xét về các nghiên cứu ở VN đại khái như sau: không hiểu họ làm nghiên cứu như thế nào, mà kết quả lúc nào cũng "positive". Trong khoa học, đặc biệt là y học, không bao giờ có những kết quả hoàn hảo. Chúng ta vẫn hay nghe nghiên cứu A nói uống trà xanh tốt cho xương, nhưng nghiên cứu B cho thấy ngược lại. Hiếm có vấn đề nào mà kết quả nhất quán 100%. Do đó, cách nói của người đồng nghiệp Mĩ là một cách nói lịch sự: "tôi không tin vào nghiên cứu của anh".

Gian lận khoa học xảy ra bất cứ ở đâu và lúc nào. Cái khác là có nước có cơ chế xử lí và qui chế quản lí vấn đề. Còn ở nước ta, theo tôi biết chẳng có cơ chế nào hay qui chế nào để quản lí vấn đề gian lận và vi phạm đạo đức khoa học cả. Đã đến lúc cơ quan chức năng có một cơ chế để giải quyết vấn đề khi chuyện không hay xảy ra.

NVT

Danh sách 21 bài báo của Gs Reuben mà dữ liệu là hoàn toàn giả tạo.




http://www.sciam.com/article.cfm?id=a-medical-madoff-anesthestesiologist-faked-data

A Medical Madoff: Anesthesiologist Faked Data in 21 Studies

A pioneering anesthesiologist has been implicated in a massive research fraud that has altered the way millions of patients are treated for pain during and after orthopedic surgeries

By Brendan Borrell

Over the past 12 years, anesthesiologist Scott Reuben revolutionized the way physicians provide pain relief to patients undergoing orthopedic surgery for everything from torn ligaments to worn-out hips. Now, the profession is in shambles after an investigation revealed that at least 21 of Reuben's papers were pure fiction, and that the pain drugs he touted in them may have slowed postoperative healing.

"We are talking about millions of patients worldwide, where postoperative pain management has been affected by the research findings of Dr. Reuben," says Steven Shafer, editor in chief of the journal Anesthesia & Analgesia, which published 10 of Reuben's fraudulent papers.

Paul White, another editor at the journal, estimates that Reuben's studies led to the sale of billions of dollars worth of the potentially dangerous drugs known as COX2 inhibitors, Pfizer's Celebrex (celecoxib) and Merck's Vioxx (rofecoxib), for applications whose therapeutic benefits are now in question. Reuben was a member of Pfizer's speaker's bureau and received five independent research grants from the company. The editors do not believe patients were significantly harmed by the short-term use of these COX2 inhibitors for pain management but they say it's possible the therapy may have prolonged recovery periods.

Baystate Medical Center in Springfield, Mass., began investigating Reuben's findings last May after its chief academic officer, Hal Jenson, discovered during a routine audit that Reuben had not received approval from the hospital's review board to conduct two of his studies. Reuben "violated the trust of Baystate, the community and science," Jenson says. The story of the investigation was first reported by Anesthesiology News late last month.

Reuben, 50, has been stripped of his research and educational duties and has been on medical leave since May. He received his medical degree from the State University of New York at Buffalo School of Medicine & Biomedical Sciences in 1985 and did his residency at the Mount Sinai Medical Center in New York City. In 1991, he joined Baystate, which serves as the western campus for Tufts University School of Medicine, and has worked as a staff anesthesiologist and the director of acute pain management.

His lawyer, Ingrid Martin of Dwyer & Collora, LLP, in Boston, told ScientificAmerican.com that Reuben has cooperated with the investigation and that he "deeply regrets that all of this happened." She added that "with the [investigating] committee's guidance, he is taking steps to ensure this never happens again." She declined to answer any further questions, and Reuben did not respond to an e-mail request for comment.

Beginning in 2000, Reuben, in his now-discredited research, attempted to convince orthopedic surgeons to shift from the first generation of nonsteroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDs) to the newer, proprietary COX2 inhibitors, such as Vioxx, Celebrex, and Pfizer's Bextra (valdecoxib). He claimed that using such drugs in combination with the Pfizer anticonvulsant Neurontin (gabapentin), and later Lyrica (pregabalin), prior to and during surgery could be effective in decreasing postoperative pain and reduce the use of addictive painkillers, such as morphine, during recovery. A 2007 editorial in Anesthesia & Analgesia stated that Reuben had been at the "forefront of redesigning pain management protocols" through his "carefully planned" and "meticulously documented" studies.

Many orthopedic surgeons, however, were slow to adopt COX2 inhibitors due to animal studies that showed short-term use might hinder bone healing. Then, in 2004, Vioxx and Bextra were pulled from the market because of their link to an increased risk of heart attacks and strokes, leaving Pfizer's Celebrex as the only COX2 inhibitor available. Celebrex sales plunged 40 percent after a study that same year suggesting that it, too, posed a heart attack risk. Despite this, Reuben continued to present "findings" in research funded by Pfizer that trumpeted Celebrex's alleged benefits and downplayed its potential negative side effects.

He apparently hoped to erase doubts by persuading orthopedic surgeons to co-author papers with him based on his bogus data. In 2005 he and Evan Ekman, an orthopedic surgeon at Southern Orthopaedic Sports Medicine in Columbia, S.C., published a study on the use of Celebrex to control pain in back surgery patients. "The short-term administration of celecoxib," they wrote in the paper published in The Journal of Bone and Joint Surgery, "results in no significant deleterious effect on bone or ligament healing or cardiovascular outcomes."

Three years later, Reuben's career would begin to unravel as Ekman began to suspect foul play. In addition to collaborating with Reuben on the now-retracted Celebrex study, Ekman agreed to review a Reuben manuscript on surgery on the anterior cruciate ligament (ACL) in the knee. But when he asked the anesthesiologist for the name of the orthopedic surgeon on the study, Reuben ceased communication with him.

Then, last year, Ekman was invited by Pfizer to give a talk. While there, he was handed a version of the very manuscript Reuben had asked him to review, which had subsequently been published in Anesthesia & Analgesia. To his surprise, and horror, he was listed as a co-author: Reuben had forged his signature on the submission form, Ekman says.

By then, Editor in Chief Shafer had already put several Reuben manuscripts on hold after learning that Baystate had initiated a probe into the validity of his research. The investigation later identified 21 articles based on patient data that had been partially or completely doctored. Although Pfizer funded Reuben's research between 2002 and 2007, Baystate has no records of those payments and says that the research funds could have been paid directly to Reuben. Such an arrangement would be "highly unusual," Shafer notes. "It's just a little frustrating," Baystate spokesperson Jane Albert says. "I don't know how many dollars went to Dr. Reuben or his group."

Pfizer spokesperson Sally Beatty insists the grants were properly disbursed to Baystate in accordance with Pfizer policy. "Pfizer is not familiar with the records retention policies of Baystate Medical Center," she says, "However, independent investigator-initiated research grant agreements were executed between Pfizer and Baystate Medical Center." Beatty was unable to provide information on the dollar amount of the grants, but editor White says they typically range between $10,000 to $100,000.

The question is: Why did it take 12 years before a "routine audit" revealed Reuben's widespread data fabrication? "Baystate publishes about 200 [studies] every year, and of those [articles], the audit rate might only be 5 percent," Baystate's Jenson says, acknowledging that ultimately "Baystate is responsible" for making sure that research done there is properly conducted and reported. He says that the hospital has been trying to strengthen its oversight program over "the past few years" and that it is in the process of applying for accreditation from the Association for the Accreditation of Human Research Protection Programs (AAHRPP) in Washington, D.C., which provides an independent evaluation of an organization's ethical standards and oversight. The lack of accreditation is not unusual because the nonprofit program was not established until 2001 and only recently has grown to include 159 hospitals, academic institutions and other organizations.

In hindsight, Anesthesia & Analgesia editors Shafer and White admit that it should have been a "red flag" that Reuben's studies were consistently favorable to the drugs he studied. White, who has also received drug company educational grants, says that such funding comes with "subtle pressure" to give the companies the results they want. For now, at least, neither the drug companies nor Reuben's co-authors are officially sharing in the blame, but that's expected to change. "There's a lot of responsibility to pass around," White says, "It's all being focused on Scott Reuben, but the reality is there are many other responsible parties."